8 Phải là người yêu quê hương , đất nước da diết mới có thể vẽ lên mọi vật trong trí nhớ mình rõ nét đến như vậy , điều này cho thấy , hình ảnh quê hương chưa bao giờ phai mờ trong tâm h
Trang 1Cảm nhận về 2 câu thơ sau :
"Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió "
( 1) Quê hương - khái niệm trừu tượng, thiêng liêng nhưng lại hết sức bình dị, thân thiết với mỗi chúng ta , đó là mảnh đất chôn nhau cắt rốn, nơi
ấy có ông bà, cha mẹ, nơi ta tha thiết gắn bó khi gần và quay quắt nhớ lúc chia
xa, mỗi một miền quê đều có một nét riêng, ta gọi đó là hồn quê, có khi đó là lũy tre xanh, là hàng dừa trước ngõ, là con đường đất đỏ đến trường… (2)Với Tế Hanh, chàng trai mười tám tuổi xa quê, nhớ về quê hương, một làng chài giáp sông, ven biển của mình, ông lại nhớ:
Cánh buồn giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng, bao la thâu góp gió
(3)Đây là hai câu thơ đẹp, Tế Hanh đã viết bằng cả tấm tình mến yêu tha thiết làng quê mình (4)Nhà thơ đã sử dụng, nghệ thuật so sánh, cánh buồm trên con thuyền ra khơi với mảnh hồn làng (5) Cánh buồm là một vật cụ thể hữu hình được ví với mảnh hồn làng , hồn vía của làng chài : cái trừu tượng với cái vô hình vô ảnh; cái cụ thể với cái trừu tượng, cái vật chất với cái tinh thần, cái bình
dị với cái thiêng liêng (6)Nhà thơ đã linh hồn hóa cánh buồm, thể hiện sự cảm nhận tinh tế, chính xác về hồn quê hương, gợi rất đúng hồn quê thân thuộc, với ông thuở mười tám tuổi, hình ảnh chiếc buồm ra khơi dường như mang hơi thở, nhịp đập, quê hương.(7) Một cánh buồm rướn thân trắng bao la thâu góp gió thật đẹp trong dáng vẻ cường tráng, sức vóc tung tỏa của nó (8) Phải là người yêu quê hương , đất nước da diết mới có thể vẽ lên mọi vật trong trí nhớ mình rõ nét đến như vậy , điều này cho thấy , hình ảnh quê hương chưa bao giờ phai mờ trong tâm hồn người con yêu nước Tế Hanh
Cảm nhận về 4 câu thơ cuối bài thơ " Khi con tu hú "
(1)Tố Hữu - một cánh chim đầu đàn của thơ ca Việt Nam , một tác phẩm của ông đều gắn liền với một chặng đường cách mạng và " Khi con tu hú "
là một trong những bài thơ đó (2) Nổi bật lên trong bài thơ , ấn tượng nhất với
em là 4 câu thơ đầu , nó đã lột tả được tâm trạng uất ức ngột ngạt của nhà thơ trong chốn lao tù (3Văn học trung đại Việt Nam trải qua mười hai thế kỉ từ thế
kỉ Xuân Hương đến hết thế kỉ XIX Đây là thời kì dân tộc ta đã thoát khỏi ách thống trị nặng nề của phong kiến phương Bắc hơn một ngàn năm Nền văn học trung đại Việt Nam gắn liền với quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Về nội dung văn học thời kỳ này mang hai đặc điểm lớn đó là: Cảm hứng yêu nước và cảm hứng nhân đạo Cảm hứng yêu nước và cảm hứng nhân đạo thực ra không hoàn toàn tách biệt nhau Bởi yêu nước cũng là phương diện
cơ bản của nhân đạo
Tuy vậy cảm hứng nhân đạo cũng có những đặc điểm riêng Nó bao gồm những nguyên tắc đạo lí làm người, những thái độ đối xử tốt lành trong các mối quan hệ giữa con người với nhau, những khát vọng sống, khát vọng về hạnh phúc Đó còn là tấm lòng cảm thương cho mọi kiếp người đau khổ, đặc biệt là với trẻ em, với phụ nữ và những người lương thiện bị hãm hại, những người
Trang 2hồng nhan mà bạc mệnh, những người tài hoa mà lận đận…Những nội dung nhân đạo đó đã được thể hiện ở trong toàn bộ văn học trung đại, những biểu hiện tập trung nhất là ở trong các tác phẩm văn học nửa
sau thế kỉ XVIII và nửa đầu thế kỉ XIX, đặc biệt là trong những tác phẩm thơ Nội dung cảm hứng nhân đạo của văn học trung đại có ảnh hưởng sâu sắc từ tư tưởng từ bi bác ái
của đạo phật và học thuyết nhân nghĩa của đạo Nho
Trong thơ trung đại Việt Nam có thể kể ra rất nhiều những tác phẩm
mang nội dung nhân đạo như: Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, Truyện Kiều của Nguyễn Du, Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu, Trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi đó là tư tưởng nhân nghĩa gắn liền với
tư tưởng yêu nước và độc lập tự do của Tổ quốc
Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.
Nhà nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
Trước hết đó là tấm lòng cảm thông của tác giả dành cho những con người nhỏ bé bất hạnh trong xã hội đã bị bọn giặc ngoại xâm đàn áp dã man:
Nướng dân đen lên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.
Ở Truyện Kiều của Nguyễn Du, Cung oán ngâm khúc của Nguyền
Gia Thiều đó là việc lên án chế độ phong kiến chà đạp lên quyền sống của người phụ nữ, lên những số phận tài hoa Xã hội đó đã tước đoạt đi những quyền sống thiêng liêng mà lẽ ra con người phải có Đặc biệt các tác giả nói lên tiếng nói bênh vực người phụ nữ những người chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội
Không chỉ lên tiếng đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho con người
mà các tác giả còn cất lên tiếng nói nhân đạo phản đối những cuộc chiến tranh phi nghĩa đã cướp đoạt đi những quyền sống thiêng liêng mà lẽ ra con người phải có Đặc biệt các tác giả nói lên tiếng nói bênh vực người phụ nữ những người chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội
Không chỉ lên tiếng đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho con người
mà các tác giả còn cất lên tiếng nói nhân đạo phản đối những cuộc chiến tranh phi nghĩa đã cướp đi biết bao nhiêu cảnh sống yên vui, chia lìa bao nhiêu đôi
lứa Qua lời của người chinh phụ trong tác phẩm Chinh phụ ngâm - Đặng Trần
Côn muốn lên án cuộc chiến tranh phong kiến phi nghĩa đó là nỗi nhớ người chồng nơi chiến trường gian khổ
Buồn rầu nói chẳng nên lời
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.
Gà eo éc gáy sương năm trống
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên
Khắc giờ đằng đẵng như niên
Nỗi sầu dằng dặc tựa miền biển xa.
Những cuộc chiến tranh này thực chất chỉ là việc tranh quyền đoạt lợi
Trang 3của các tập đoàn phong kiến và phủ lên nó là một bầu trời đầy tang thương Thế lực đồng tiền cũng đã phủ mờ đi những nét truyền thống tốt đẹp của xã hội đó là với trường hợp nàng Kiều Trong xã hội trung đại, thế lực đồng tiền cũng rất đáng lên án vì nó đã vùi lấp và nhấn chìm đi biết bao những con người tài hoa, những người có khát vọng hoài bão lớn muốn đem sức lực nhỏ bé của mình cống hiến cho sự nghiệp của dân tộc
Văn học trung đại đã chứng minh cho tinh thần nhân đạo cao cả của dân tộc Việt Nam Đó là một dân tộc có những truyền thống tốt đẹp Quay trở lại
với bài Đại cáo bình Ngô, sau khi đánh thắng quân xâm lược nhà Minh, quân và
dân ta đã mở đường hiếu sinh cho kẻ thù chứ không phải đuổi cùng giết tận, việc làm nhân đạo đó chẳng những đã thể hiện tinh thần nhân đạo cao cả của dân tộc
mà còn thể hiện niềm khát vọng được sống trong hòa bình của nhân dân
Nhìn chung cảm hứng nhân đạo trong thơ trung đại chủ yếu được thể hiện qua những nét chủ yếu sau: Trước hết đó là tiếng nói của tác giả, đó là tình cảm của tác giả dành cho những con người nhỏ bé chịu nhiều thệit thòi trong xã hội qua đó mà đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho họ, có được tình cảm như vậy, các tác giả thơ thời kì này mới viết được những dòng thơ, trang thơ xúc động đến như thế Thơ trung đại còn thể hiện ở tiếng nói bênh vực giữa con người với con người, đề cao tình bạn, tình anh em, tình cha con, thể hiện mong muốn được sống trong hòa bình Thơ trung đại đã thể hiện bước đi vững chắc của mình trong hơn mười thế kỉ, đó là sự tiếp nối bước đi của nền văn học dân gian Tuy văn học dân gian thời kì này vẫn phát triển nhưng dấu ấn không còn như trước Thơ trung đại đã thể hiện những truyền thống tốt đẹp của dân tộc đó
là chủ nghĩa yêu
nước và tinh thần nhân đạo qua đó mà làm tiền đề cho sự phát triển văn học các thời kì sau đó )