“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển, sáng tạo chủ nghĩa Mac-Lênin và
Trang 1ÔN TẬP TƯ TƯỞNG HCM HK2
Câu 1: - Khái niệm tư tưởng HCM
Trang 2• Câu 1: Khái niệm tư tưởng HCM Khái niệm tư tưởng HCM.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII ( tháng 6-1991), Đảng ta đã khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mac – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động Văn kiện của Đại hội định nghĩa: “tư tưởng Hồ Chí Minh chính là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mac-Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta và trong thực tế tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của cả dân tộc Sau đó Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4-2001) và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 1-2011) xác định khá toàn diện và có hệ thống những vấn đề cốt yếu thuộc nội hàm khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của
sự vận dụng và phát triển, sáng tạo chủ nghĩa Mac-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, thừa kế và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.”
Trong định nghĩa này, Đảng ta đã làm rõ:
Một là, bản chất cách mạng, khoa học và nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh: Đó là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, phản ánh những vấn đề có tính qui luật của cách mạng Việt Nam; tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mac-lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động của Đảng và dân tộc Việt NamHai là, nguồn gốc tư tưởng, lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh: chủ nghĩa Mac-Lênin, giá trị văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại
Ba là, giá trị, ý nghĩa, sức hấp dẫn, sức sống, lâu bên của tư tưởng Hồ Chí Minh: là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi
“ Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mac-Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.”- các nhà khoa học đã đưa ra định nghĩa dự trên định hướng cơ bản các văn kiện đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh được nhìn nhận với tư cách là một hệ thống lý luận, có cấu trúc logic chặt chẽ và có hật nhân cốt lõi/ Đó là tư tưởng về độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; độc lập dân tộc gắn liền với chủa nghĩa xã hội nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người
• Ý nghĩa của việc học tập, nghiên cứu tư tưởng HCM
Trong thời kỳ đẩy mạnh CN hóa, hiện đại hóa đất nước thì việc học tập và nghiên cứu tư tưởng Hcm ngày càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhất là đối với đối tượng sinh viên, những mầm non tương lai làm chủ đất nước
Trước hết, sinh viên tham gia học tập tư tưởng HCM để nâng cao năng lực tư duy lý luận và phương pháp công tác Cụ thể, thông qua việc làm rõ và truyền thụ nội dung hệ thống quan điểm lý luận của
Trang 3HCM về những vấn đề cơ bản của CM Việt Nam giúp cho sinh viên nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của tư tưởng HCM đối với đời sống CM Việt Nam, làm cho tư tưởng của Người ngày càng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của thế hệ trẻ nước ta
Thông qua học tập, nghiên cứu tư tưởng HCM để bồi dưỡng, củng cố cho sinh viên, thanh niên lập trường, quan điểm cách mạng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xh, tích cực, chủ động đấu tranh, phê phán những quan điểm sai trái, bảo vệ chủ nghĩa Mác LN, tư tưởng HCM, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta, biết vận dụng tư tưởng HCM vào giải quyết các vấn đề đặt ra trong cs
Bên cạnh đó, tư tưởng HCM còn giúp sinh viên bồi dưỡng phẩm chất đạo đức CM và rèn luyện bản lĩnh chính trị Cụ thể như sau:
Tư tưởng HCM giáo dục đạo đức, tư cách, phẩm chất CM cho cán bộ, đảng viên và toàn dân biết sống hợp đạo lý, yêu cái tốt, cái thiện, ghét cái ác, cái xấu Học tập tư tưởng Hcm giúp nâng cao lòng
tự hào về Người, về Đảng Cộng sản, về Tổ quốc VN, tự nguyện “Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại.”
Như vậy, trên cơ sở kiến thức đã được học, sinh viên vận dụng vào cs, tu dưỡng, rèn luyện bản thân, hoàn thành tốt chức trách của mình, đóng góp thiết thực và hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng theo con đường mà chủ tịch HCM và Đảng ta đã lựa chọn
Câu 2: Cơ sở và các giai đoạn hình thành, phát triển tư tưởng HCM
a Cơ sở hình thành tư tưởng HCM
Tư tưởng HCM được hình thành dựa trên những cơ sở khách quan và những tiền đề tư tưởng,
Hai là sự thay đổi trong kết cấu giai cấp, bao gồm 4 giai cấp là nông dân, địa chủ, công nhân,
tư sản và một tầng lớp tiểu tư sản tri thức
Ba là mâu thuẫn cơ bản trong xã hội, bao gồm mâu thuẫn giữa nông dân VN với giai cấp địa chủ và mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc VN và thực dân Pháp Song, mâu thuẫn cơ bản chủ yếu thời điểm này vẫn là mâu thuẫn thứ hai Bởi lẽ toàn thể giai cấp trong xh bị biến thành nô lệ của nước khác Trong khi trong mâu thuẫn thứ nhất vốn đã là mâu thuẫn đương thời hàng trăm năm, chỉ âm ỉ, chưa phát sinh bùng nổ Sự mâu thuẫn bị đè thêm 1 cấp bậc cho mâu thuẫn lớn hơn là mâu thuẫn thứ 2 luôn trong tình trạng gay gắt cần giải quyết triệt để
Như vậy, trong thời kì này nhiều phong trào đấu tranh của nhân dân VN đã nổ ra với nhiều đường lối khác nhau nhưng đều thất bại Cách mạng VN rơi vào khủng hoảng về đường lối cứu nước Tuy điều này thể hiện phần nào tinh thần quật cường của nhân dân ta, song vẫn không thể nào phủ nhận một sự thật, rằng: Cách mạng VN lúc này thật sự bị bế tắc Trước tình cảnh đó, Hồ Chí Minh đã ra đi tìm đường cứu nước ms cho dân tộc
Trang 4Trong khi đó, bối cảnh thời đại cũng diễn ra hàng loạt sự kiện lớn Một là, nền kinh tế hàng hóa TBCN phát triển rực rỡ khiến cho nhu cầu về thị trường ngày càng cao Các nước đế quốc bắt đầu cuộc xâm lược thuộc địa dẫn đến bùng nổ phong trào đấu tranh dân tộc để tự giải
phóng khỏi ách thực dân bùng phát dữ dội Hai là Cách mạng Tháng Mười Nga thành công vào năm 1917 Sự kiện này đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào CM trên thế giới chống CN Đế quốc Một sự kiện khác cũng đáng chú ý là Quốc tế Cộng Sản được thành lập vào tháng 3 năm
1919 Từ đây, Quốc tế Cộng Sản trực tiếp đề ra phương hướng đấu tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức
Bên cạnh đó, tư tưởng HCM còn được hình thành dựa trên những tiền đề tư tưởng, lý luận sau: Một là giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc VN Lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời đã hình thành nên những giá trị truyền thống hết sức đặc sắc và cao quý của dân tộc Việt Nam, trở thành tiền đề tư tưởng, lý luận xuất phát hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh Trong những giá trị đó, chủ nghĩa yêu nước truyền thống là tư tưởng, tình cảm cao quý, thiêng liêng nhất, là cội nguồn của trí tuệ sáng tạo và long dũng cảm của người Việt Nam, cũng là chuẩn mực đạo đức cơ bản của dân tộc Chính sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước đã làm động lực thúc giục HCM ra đi tìm đường cứu nước và giải phóng dân tộc
Hai là khi nói đến nét đặc sắc trong quá trình hình thành tư tưởng, nhân cách và văn hóa
HCM, không thể không kể đến sự kết hợp những tinh hoa giá trị truyền thống của văn hóa phương Đông với các thành tựu hiện đại của văn minh phương Tây Đối với văn hóa phương Đông: đó là các triết lí hành động, tư tưởng nhập thế, hành đạo, giúp đời, đó là ước vọng về một xã hội bình trị, hòa mục, hòa đồng, là triết lí nhân sinh, tu thân dưỡng tính, đề cao văn hóa
lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học Chẳng hạn như tư tưởng từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn của Phật giáo hay Chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn với dân quyền tự do, dân sinh độc lập Còn đối với văn hóa phương Tây: Người trực tiếp đọc và tiếp thu các tư tưởng về tự do, bình đẳng, bác ái qua các tác phẩm, người tiếp thu các giá trị của bản Tuyên ngôn nhân quyền
và dân quyền của Đại cách mạng Pháp, các giá trị về quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của Tuyên ngôn độc lập ở Mỹ năm 1776
Ba là chủ nghĩa Mác –Lê nin- cơ sở thể giới quan và phương pháp luận của tư tưởng HCM Nó cung cấp cho HCM phương pháp duy vật biện chứng Từ khi tiếp cận chủ nghĩa Mác Lê-nin,
tư tưởng HCM có sự phát triển về chất Toàn bộ quan điểm của HCM về CM Việt Nam được hình thành trên cơ sở nền tảng là CN Mác Lê-nin Người đã tiếp thu có chọn lọc và vận dụng một cách sáng tạo CN Mác LN vào hoàn cảnh cụ thể của VN Do đó, tư tưởng của Người thể hiện tính khoa học sâu sắc và tính CM triệt để Mục tiêu CM của HCM không chỉ dừng lại ở việc giải phóng dân tộc mà còn tiến đến giải phóng giai cấp đem lại tự do, ấm no thực sự cho nhân dân Có thể nói, Chủ nghĩa Mác LN là nguồn gốc lý luận trực tiếp quyết định bản chất tư tưởng HCM Mặt khác, HCM luôn có những đóng góp quan trọng nhằm bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác LN Đồng thời, Người luôn tranh đấu bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác
LN trước những luận điệu xuyên tạc, xét lại
Trang 5Bốn là nhân tố chủ quan từ khả năng tư duy, trí tuệ của Bác và phẩm chất đạo đức cùng năng lực hoạt động thực tiễn Trước hết, nói về khả năng tư duy và trí tuệ, trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh khám phá các quy luật vận động xã hội, đời sống văn hóa và cuộc đấu tranh của các dân tộc trong hoàn cảnh cụ thể để khái quát thành lý luận, đem lý luận chỉ đạo hoạt động thực tiễn và được kiểm nghiệm trong thực tiễn Nhờ vào con đường nhận thức chân lí như vậy mà lý luận của Hồ Chí Minh mang giá trị khách quan, cách mạng và khoa học Mặt khác, khi nói về phẩm chất đạo đức và năng lực hđ thực tiễn, phẩm chất, tài năng đó được biểu hiện trước hết ở tư tưởng độc lập, tự chủ, sáng tạo, cộng với đầu óc phê phán tinh tường, sáng suốt trong việc nhận xét, đánh giá các sự vật, sự việc chung quanh Phẩm chất đó còn được biểu hiện ở bãn lĩnh kiên định, luôn tin vào nhân dân, khiêm tốn, bình dị, ham học hỏi, nhạy bén với cái mới, có phương pháp biện chứng, có đầu óc thực tiễn Phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh còn biểu hiện ở sự khồ công học tập để chiếm lĩnh đỉnh cao tri thức nhân loại, là tâm hồn của một nhà yêu nước chân chính, một chiến sĩ cộng sản nhiệt thành cách mạng, một trái tim yêu nước thương dân, sẵn sang chịu đựng hi sinh vì độc lập tự do của tổ quốc, hạnh phúc của đồng bào.
b Giai đoạn hình thành và phát triển tư tưởng HCM
Thời kì trước năm 1911: Hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cứu nước
19/5/190: Bác sinh ra tại Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An Trong thời kì này, ở Hồ Chí Minh đã hình thành tư tưởng yếu nước, thương dân tha thiết, bảo vệ giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc, ham muốn học hỏi tư tưởng của nhân loại
Thời kì 1911-1920: Tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc
Năm 1911, Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc sang phương Tây tìm đường cứu nước Với lòng yêu nước nồng nàn, HCM kiên trì chịu đựng mọi khó khăn gian khổ Người chú ý xem xét tình hình các nước, suy nghĩ về những điều mắt thấy tai nghe, hang hái học tập, tham gia các cuộc diễn thuyết của nhiều nhà chính trị và triết học Năm 1919, thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, NAQ gởi “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” tới Hội nghị Véc – xây đòi chính phủ Pháp thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và bình đẳng của nhân dân VN Việc biểu quyết thành
Đệ tam Quốc tế (Quốc tế III), tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp (tháng 12/1920), trở thành người cộng sản VN đầu tiên, đã đánh dấu bước chuyển biến về chất trong tư tưởng NAQ, từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Lê – nin, từ giác ngộ dân tộc đến giác ngộ giai cấp, từ người yêu nước trở thành người cộng sản
- Thời kì 1921-1930: hình thành cơ bản tư tưởng về cách mạng Việt Nam
Cách mạng dân tộc trong thời đại mới phải đi theo con đường cách mạng vô sản và là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới Giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng nhân dân lao động, giải phóng giai cấp công nhân Cách mạng giải phóng dân tộc
ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc có mối quan hệ khắng khít với nhau nhưng không phụ thuộc vào nhau Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân chứ không phải việc của một vài người Vì vậy cần phải tập hợp, giác ngộ và từng bước
tổ chức quần chúng đấu tranh từ thấp lên cao Đây là quan điểm cơ bản đầu tiên của
Trang 6HCM về nghệ thuật vận động quần chúng và tiến hành đấu tranh cách mạng Trong 9 năm, tư tưởng HCM về CMVN đã hình thành cơ bản, Người đã kết hợp nghiên cứu xây dựng lý luận với tuyên truyền tư tưởng giải phóng dân tộc, vận động quần chúng tổ chức đấu tranh xây dựng tổ chức cách mạng, chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản VN
3/2/1930, thành lập ĐCSVN
- Thời kì 1930-1945: thời kì vượt qua thử thách, kiên trì giữ vững lậo trường cách mạngTrên cơ sở tư tưởng về con đường CMVN, đã hình thành về cơ bản, HCM đã thành lập được ĐCSVN, xây dựng cương lĩnh, định ra đường lối CMTS dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới cách mạng cộng sản, tổ chức quần chúng đấu tranh trong mấy năm đầu của những năm 30 HCM đã kiên trì giữ vững quan điểm cách mạng của mình, vượt qua khuynh hướng đang chia phối Quốc tế Cộng sản, chi phối BCH trung ương Đảng, phát triển thành chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc, xác lập tư tưởng độc lập tự do, dẫn đến thắng lợi của nước VN dân chủ cộng hòa vào 2/0/1945
- Thời kì 1945-1969: tư tưởng HCM tiếp tục phát triển và hoàn thiện
Xuất phát từ thực tiễn, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, tư tưởng HCM
về nhiều vấn đề đã tiếp tục được bổ sung và phát triển, hợp thành một hệ thống những quan điểm lý luận về CMVN Đó là: tư tưởng về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên CNXH, tư tưởng về Nhà nước của dân, do dân, vì dân; tư tưởng và chiến lược về con người; tư tưởng về Đảng Cộng sản và xây dựg Đảng với tư cách là Đảng cầm quyền…
Câu 3:
A Tư tưởng HCM về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp
Mác Ăng – ghen chưa có điều kiện nghiên cứu về vấn đề giai cấp vì trong thời kì ấy, việc 1 quốc gia có tiềm lực về tài chính và quân sự đi xâm chiếm quốc gia khác biến thành thuộc địa của mình chưa trở nên phổ biến Trong lòng xã hội châu Âu chỉ tồn tài 1 mâu thuẫn cơ bản có tính chất đối kháng gay gắt giữa vô sản và tư sản Do đó, Mác Ang –ghen tập trung nghiên cứu vạch
ra phương hướng đấu tranh cho phong trào công nhân đạt hiệu quả
Khi CNTB chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, một mâu thuẫn thứ 2 xuất hiện với tính chất đối kháng gây gắt không kém là mâu thuẫn giữa các dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa đế quốc Do đó, Lê – nin có điều kiện nghiên cứu về vấn đề dân tộc Tuy nhiên, xuất phát từ hoàn cảnh lich sư nước Nga, những nghiên cứu của Lê – nin về vấn đề giai cấp vẫn mang tính chất giai cấp
HCM tiếp thu có chọn lọc và vận dụng có sáng tạo CN Mác – Lê- nin vào hoàn cảnh cụ thể của
VN Người nhận thấy trong XH VN cùng tồn tại 2 vấn đề cần giải quyết Một là vấn đề dân tộc, gắn liền với 2 chữ “độc lập” nghĩa là phải đánh đổ chế độ thực dân chủ nghĩa trên nước VN Hai
là, vấn đế giai cấp gắn liền với 2 chữ “tự do”, nghĩa là phải đánh đổ chế độ phong kiến đã lỗi thời lạc hậu Từ thực tế ấy, HCM đã nêu ra quan điểm về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp như sau:
a Vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp có quan hệ chặt chẽ với nhau
HCM coi trọng độc lập dân tộc, đề cao sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, nhưng Người luôn đứng trên quan điểm giai cấp để nhận thức, giải quyết vấn đề dân tộc Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa vấn
Trang 7đề giai cấp và vấn đề dân tộc đó là: vai trò lịch sử của giai cấp công nhân, quyền lãnh đạo duy nhất của Đảng cộng sản Chủ trương đại đoàn kết dân tộc rộng rãi trên nền tảng lien minh công-nông-tri thức Lấy bạo lực cách mạng của quần chúng chống bạo lực cách mạng của kẻ thù; thiết lập nhà nước của dân, do dân, vì dân; gắn mục tiêu độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
b Giải phóng dân tộc là vấn đề trước hết, trên hết; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội:+ 1920, HCM chọn con đường cách mạng VN là cách mạng vô sản, có sự gắn bó thống nhất giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
+ Chỉ có xóa bỏ tận gốc chế độ áp bức, bóc lột, thiết lập nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân mới đảm bảo cho người lao động quyền làm chủ Phát triển hài hòa giữa cá nhân và xã hội, độc lập dân tộc với tự do, hạnh phúc của mỗi người Sauk hi giành độc lập phải tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm dân giàu, nước mạnh, nhân dân ấm no, hạnh phúc
c Giải phóng dân tộc tạo tiền đề giải phóng giai cấp
Giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân là điều kiện để giải phóng giai cấp Vì vậy lợi ích của giai cấp phải phục tùng lợi ích dân tộc
d Giữ vững độc lập dân tộc mình, đồng thời tôn trọng độc lập dân tộc khác
HCM đấu tranh cho độc lập dân tộc ở VN cũng như độc lập dân tộc của các dân tộc bị áp bức trên thế giới Người nhiệt liệt ủng hộ cuộc kháng chiến chống Nhật của nhân dân Trung Quốc, cuộc
kháng chiếng chống thực dân Pháp, đế quốc Mĩ của nhân dân Lào, Campuchia Tư tưởng HCM về vấn đề dân tộc mang tính khoa học và cách mạng sâu sắc, thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa dân tộc và giai cấp, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế trong sáng
VẬN DỤNG:
- Khơi dậy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, nguồn động lực mạnh
mẽ để xây dựng và bảo vệ tố quốc
- Quán triệt tư tưởng HCM về nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc trên quan điểm giai cấp
B Tư tưởng HCM về chủ nghĩa dân tộc
Tư tưởng đặc sắc của Hồ Chí Minh về "chủ nghĩa dân tộc" của Người đối với nhân dân Việt Nam; về mối quan hệ khăng khít giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong cách mạng vô sản nói chung và cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam nói riêng Ra đi tìm đường cứu nước
từ năm 1911, Nguyễn Tất Thành bôn ba hải ngoại và hoạt động cách mạng dưới cái tên
Nguyễn Ái Quốc Trở về nước năm 1941, Người đã trực tiếp lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công và trở thành Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Đầu năm 1946, Người bày tỏ tâm tư của mình: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành"(1) Có thể nói, động lực làm nên chí khí và
sự nghiệp Hồ Chí Minh chính là điều mà Người gọi là chủ nghĩa dân tộc Đây là tư tưởng nền
Trang 8tảng và nhất quán trong hệ tư tưởng chính trị của Hồ Chí Minh Bởi vậy, trên thế giới vẫn còn
có nghi vấn rằng, Hồ Chí Minh là "một nhà dân tộc chủ nghĩa hay người cộng sản"? Đối với dân tộc Việt Nam và những người tiến bộ trên thế giới, Hồ Chí Minh là một người cộng sản Việc tìm hiểu người cộng sản Hồ Chí Minh đã quan niệm như thế nào về chủ nghĩa dân tộc là một vấn đề quan trọng Bởi lẽ, có hiểu được đúng đắn quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa dân tộc thì mới có thể hiểu được đầy đủ sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, để thấy được đóng góp
to lớn của Người vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc và giai cấp Ai đã từng đọc Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848) thì đều nhớ rằng, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã kết thúc tác phẩm nổi tiếng này bằng khẩu hiệu: "Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại" Trong khẩu hiệu này, C.Mác nhấn mạnh đến yếu tố giai cấp trong sự đoàn kết quốc
tế 72 năm sau (1920), V.I.Lênin đã bổ sung, phát triển thêm khẩu hiệu chiến lược này bằng yếu tố dân tộc như sau: "Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới đoàn kết lại" Như vậy, V.I.Lênin là người đã bảo vệ, kế thừa và phát triển một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác trong thời đại mới - thời đại đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản V.I.Lênin cũng chính là người đã đề ra học thuyết cách mạng không ngừng đối với các nước thuộc địa, nửa thuộc địa và phụ thuộc; vạch ra cho họ con đường tự giải phóng mình Với phương Đông
và châu Á, V.I.Lênin còn là tác giả của học thuyết "châu Á thức tỉnh", mở rộng là phương Đông thức tỉnh Chính Nguyễn Ái Quốc đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Lênin mà tìm ra con đường giải phóng, con đường cứu nước cho dân tộc mình
Năm 1924, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam đang đấu tranh giải phóng dân tộc hồi đầu thế kỷ XX, trong Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam
kỳ gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: "Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước Chính nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế năm 1908, nó dạy cho những người culi biết phản đối, nó làm cho những người "nhà quê" phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế muối Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà buôn
An Nam cạnh tranh với người Pháp và người Trung Quốc; nó đã thúc giục thanh niên bãi khóa, làm cho những nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản và làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa năm 1917"(3) Tiếp đó, Nguyễn Ái Quốc đã có những phân tích sâu sắc về sự biến đổi
và phát triển của chủ nghĩa dân tộc dưới tác động của chiến tranh như sau: 1 Chủ nghĩa dân tộc đã hiện đại hoá và người chỉ đạo chủ nghĩa dân tộc chính là giới thanh niên An Nam 2 Chủ nghĩa dân tộc ngày càng ăn sâu vào quần chúng 3 Trong chủ nghĩa dân tộc có cả lòng căm ghét bọn xâm lược Trung Quốc và người Ấn Độ sinh cơ lập nghiệp trên đất nước này 4 Chủ nghĩa dân tộc có xu huớng hợp pháp hóa các hình thức biểu hiện và yêu sách của nó; và lớp thanh niên ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn, có ý nghĩa hơn những lớp người già đi trước Trong khoảng hơn một trang in (tiếng Việt), đã có ít nhất 16 lần Nguyễn Ái Quốc dùng tới thuật ngữ "chủ nghĩa dân tộc" Nhận thức rõ vai trò đặc biệt quan trọng của chủ nghĩa dân tộc trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam khi đó, trong phần cương lĩnh
và phương hướng hành động chung, Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ của Nguyễn Ái Quốc đề nghị "phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế Cộng sản Giờ đây, người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại,
và duy nhất của đời sống xã hội của họ" Ở Việt Nam khi đó, một phương hướng, nhiệm vụ
Trang 9như vậy là đúng đắn và phù hợp với lôgíc Bởi khi đó, ở phương Đông, Đông Dương và cụ thể là, ở Việt Nam, "cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra như ở phương Tây"; người lao động, nhân dân bị áp bức tuyệt đại đa số là nông dân; trí thức có vai trò đặc biệt quan trọng, ý thức dân tộc của họ rõ ràng mạnh hơn ý thức giai cấp (vì ngay giai cấp công nhân Việt Nam trước năm 1924 cũng vẫn còn là giai cấp "tự phát") Cho nên, trong khi tuyên truyền giác ngộ
ý thức giai cấp cho họ, thì đồng thời cũng phải "phát động chủ nghĩa dân tộc" của họ, bởi vấn
đề độc lập dân tộc là vấn đề chủ yếu, nổi lên hàng đầu ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến như Việt Nam thời thuộc Pháp Chủ nghĩa dân tộc được phát động như vậy sẽ là một trong những tiền đề, điều kiện vô cùng quan trọng cho một cuộc khởi nghĩa vũ trang thắng lợi ở Đông Dương
Ở đây, cần nhấn mạnh rằng, trong khi nêu cao vấn đề dân tộc, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh không bao giờ hạ thấp hoặc coi thường vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp Nhiều nhà nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh đều có chung nhận định rằng: "Hồ Chí Minh đã giải quyết đúng đắn, sáng tạo mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trong quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam" Theo Hồ Chí Minh, đối với Việt Nam, không thể giải quyết vấn đề giai cấp trước rồi mới giải quyết vấn đề dân tộc như ở các nước tư bản phát triển phương Tây Mà ngược lại, chỉ có giải phóng dân tộc thì mới giải phóng được giai cấp, giải phóng dân tộc đã bao hàm một phần giải phóng giai cấp và tạo tiền đề cho giải phóng giai cấp" Sở dĩ như vậy là vì, "ở Việt Nam, cùng với sự tồn tại của mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp trong nội bộ dân tộc, nổi lên mâu thuẫn dân tộc và đấu tranh giữa toàn dân tộc với chủ nghĩa thực dân đế quốc và bè lũ tay sai" Nói tóm lại, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam để đề ra con đường cách mạng đầy sáng tạo của Việt Nam là:
"giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội (giai cấp), giải phóng con người với khẩu hiệu: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công"(10) Như vậy, vấn đề
"chủ nghĩa dân tộc" trong tư tưởng Hồ Chí Minh là khá rõ ràng Đối với Nguyễn Ái Quốc -
Hồ Chí Minh, chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản thống nhất với nhau Hơn thế, trong những điều kiện nhất định, chủ nghĩa dân tộc có thể phát triển thành chủ nghĩa quốc tế vô sản Trong Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, Nguyễn Ái Quốc cho rằng,
"khi chủ nghĩa dân tộc của họ thắng lợi, thì đã lâu lắm rồi, phần lớn thế giới sẽ xôviết hoá và lúc đó, nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế" Bởi vậy, "chủ nghĩa dân tộc theo Hồ Chí Minh, hoàn toàn không phải là thứ chủ nghĩa dân tộc phong kiến, tư sản hay của Quốc tế II, (càng không phải là chủ nghĩa dân tộc cải lương), mà là chủ nghĩa dân tộc chân chính, theo lập trường chủ nghĩa Mác - Lênin, gắn dân tộc với quốc tế, dân tộc với giai cấp, hướng tới triệt để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người" Như vậy, chủ nghĩa dân tộc mà Hồ Chí Minh dùng ở đây, nói như C.Mác, không phải như giai cấp
tư sản đã hiểu, mà là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc chân chính của người dân bản
xứ
Như vậy, khi tiếp thu học thuyết Mác về đấu tranh giai cấp, Nguyễn Ái Quốc cũng thừa nhận đấu tranh giai cấp là một động lực trong xã hội có giai cấp, nhưng Người không cho đó là động lực duy nhất Xuất phát từ điều kiện cụ thể của một nước thuộc địa, mất nước với nhiệm
vụ cứu nước giành độc lập dân tộc đang đặt lên hàng đầu, thì "chủ nghĩa dân tộc là một động
Trang 10lực lớn của đất nước" Bởi vì, chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc chân chính của nhân dân Việt Nam đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, vốn là động lực tinh thần vô giá trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc Hơn nữa, ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu, sự phân hoá giai cấp đã bắt đầu nhưng chưa triệt để và sâu sắc, xung đột giai cấp chưa gay gắt và mạnh mẽ, cả dân tộc đang đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc giành độc lập, tự do, thì chủ nghĩa dân tộc là động lực vĩ đại
C Tư tưởng HCM về cách mạng giải phóng dân tộc
• Tính chất, nhiệm vụ và mục tiêu của CM giải phóng dân tộc:
Sự phân hóa của XH thuộc địa và mâu thuẫn của XH thuộc địa dẫn đến CM ở thuộc địa là cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Đối tượng của CM thuộc địa là CN thực dân và tay sai phản động Có 4 giai câp cơ bản trong XH VN và 1 tầng lớp Đó là: địa chủ phong kiến, nông dân, tư sản (Tư sản mại bản – cấu kết với Pháp và tư sản dân tộc – quy mô nhỏ, bị chèn ép) và tầng lớp tiểu tư sản, trí thức
Nhiệm vụ hàng đầu của CM thuộc địa là lật đổ ách thống trị của CN đế quốc, giành độc lập dân tộc
và giành chính quyền về tay nhân dân
* Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản
- Để giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân Pháp, ông cha ta đã sử dụng nhiều con udờng gắn với những khuynh hướng chính trị khác nhau, sử dụng những vũ khí tư tưởng khác nhau, tuy nhiên đều bị thực dân Pháp dìm trong biển máu
- Người đã nghiên cứu con đường cách mạng tư sản của các nước như Anh, Pháp, Mĩ và cho rằng đây là cuộc cách mạng không triệt để, vì sau khi giải phóng, quyền lợi thuộc về giai cấp tư sản, giai cấp khác vẫn bị bóc lột
- 07/1920, HCM đọc được bản sơ thảo luận cương lần thứ 1 về những vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin Từ đó người bắt đầu lựa chọn con đường cách mạng vô sản
* Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải do Đảng Cộng Sản lãnh đạo
- Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Người khẳng định: “ Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì lien lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nới Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy.”
- Theo HCM, Đảng Cộng Sản VN là đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc VN Người cho rằng ĐCSVN là Đảng của giai cấp vô sản, đồng thời là Đảng của dân tộc VN
* Lực lượng của CMGPDT bao gồm toàn dân tộc
- Về mặt lý luận, HCM đã dựa trên quan điểm của CN Mac-Lênin cho rằng: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, dựa vào nhiệm vụ cốt yếu của CMGPDT nên HCM đã xác định lực lượng tiến hành cuộc cách mạng là toàn dân VN trên cơ sở lien minh công nông
- Để có thể huy động và phát huy sức mạnh của toàn dân cứu nước, HCM đã sắp xếp các lực lượng cách mạng theo quan điểm giai cấp, người chỉ rõ lực lượng công nông là gốc cách mạng, còn học trò,
Trang 11nhà buôn, điền chủ nhỏ cũng bị tư bản áp bức song không cực khổ bằng công nông, 3 hạng ấy chỉ là bầu bạn cách mạng của công nông mà thôi.
- Khẳng định giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng Mặc dù giai cấp nông dân chiếm 90% nhưng HCM chỉ khẳng định họ chỉ là đồng minh của giai cấp công nhân, vì gắn với nông
nghiệp tiểu nông
- Đưa tất cả người dân yêu nước vào mặt trận dân tộc thống nhất để phát huy toàn bộ sức mạnh để giành độc lập tự do
* Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc
** Cơ sở lý luận:
Mác đã khẳng định sự nghiệp giải phóng giai cấp chỉ có thể được thực hiện bởi chính giai cấp công nhân HCM đã vận dụng quan điểm này khẳng định công cuộc giải phóng nhân dân các thuộc địa chỉ
có thể được thực hiện bởi sự nỗ lực của chính nhân dân các thuộc địa Mặt khác, theo quan điểm của
Lê – nin, giai cấp vô sản của thuộc địa có khả năng tự giải phóng nếu có sự giúp đỡ của giai cấp vô sản ở chính quốc
** Cơ sở thực tiễn:
HCM nhận thấy sức sống của CNTB tập trung ở các thuộc địa Thuộc địa là nơi cung ứng tài nguyên
và con người trong chính quốc nhưng nhân dân thuộc địa không hề nhận được sự bảo hộ mà phải hứng chịu những chính sách trấn áp, khủng bố Do đó, tất yếu sẽ nổ ra những cuộc đầu tranh chống
CN thực dân Người nhận thấy rằng CN dân tộc ở các thuộc địa luôn được phát huy mạnh mẽ Do đó, đối diện với ách xâm lược và thống trị, tất yếu sẽ là những cuộc đấu tranh CM giải phóng dân tộc So với hoàn cảnh khốn cùng phải chịu nhiều tầng áp bức của nhân dân thuộc địa, thì nhân dân chính quốc dễ bị ru ngủ bởi những chính sách thỏa hiệp của chính phủ nước mình Do đó, khả năng nổ ra cách mạng sẽ thấp hơn ở thuộc đi
Như vậy, từ cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, HCM khẳng định: “CM giải phóng dân tộc ở thuộc địa không những không phụ thuộc hoàn toàn vào CM vô sản ở chính quốc mà còn có khả năng nổ ra
và giành thắng lơi trước Chẳng hạn như CM tháng 8 của VN đã nổ ra trước CM vô sản của nhân dân Nhật Từ đây, ta nhận thấy kết luận của HCM mang ý nghĩa sáng tạo
Câu 4:
A Tư tưởng HCM về đặc trưng của Chủ nghĩa xã hội
Đó là một chế độ chính trị do nhân dân làm chủ VN đã xây dựng về cơ bản chế độ chính trị do nhân dân làm chủ và đang nỗ lực để hoàn thiện nền dân chủ nhân dân Cụ thể như sau:
Một là, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 do nhân dân làm chủ
Hai là vào ngày 6/1/1946, nhân dân bầu cử Quốc hội
Ba là, vào tháng 11/1946, Quốc hội họp phiên lần thứ nhất thông qua Hiến pháp để bảo đảm quyền làm chủ nhân dân
Bốn là ngày nay, nhân dân giám sát những đại biểu Quốc hội
Trang 12Đó là một chế độ xã hội có nền kinh tế phát triển cao Thực chất, đây là mục tiêu mà nhà nước
CM xã hội chủ nghĩa VN đang hướng tới Muốn như vậy thì dân tộc ta cấp thiết cần công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Việt Nam đã ra khỏi tốp các nước chậm phát triển cách đây
5 năm và đang ở nấc thang thứ 3 của trình độ đang phát triển (trong khi Trung Quốc ở nấc thang thứ 7) Mục tiêu hiện tại của chúng ta là về cơ bản, các vùng có thể vươn tới nền CN hiện đại
Trên hết, Chủ nghĩa xh là một chế độ không còn người bóc lột người, song vẫn tồn tại hiện tượng người bóc lột người
Mặt khác, CNXH là một xh phát triển cao về văn hóa và đạo đức Con người được giải phóng,
có điều kiện phát triển toàn diện, có sự hài hòa trong phát triển của xh và tự nhiên Việt Nam được biết đến là một quốc gia có nền tảng văn hóa đạo đức sâu rộng Hồ chủ tịch một phần đã tạo nên nét rất riêng đặc trưng của dân tộc VN
Cuối cùng, CNXH chính là công trình tập thể của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việc giành chính quyền, xây dựng chính quyền và ủng hộ chính quyền đều do nhân dân
B Tư tưởng HCM về con đường quá độ lên chủ nghĩa xh ở VN
- Theo quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mac-Lênin, có hai con đường quá
- Trên cở sở vận dụng lý luận về cách mạng không ngừng, về thời kì quá độ lên CNXH của chủ nghĩa Mac-Lênin và xuất phát từ đặc điểm tình hình thực tế VN, HCM đã khẳng định con đường cách mạng VN là tiến hành giải phóng dân tộc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến dần lên CNXH
- Như vậy quan niệm của HCM về thời kì quá độ lên CNXH ở VN là quan niệm về một hình thái quá độ giái tiếp cụ thể - quá độ từ một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu sau khi giành được độc lập dân tộc đi lên CNXH
Theo HCM khi bước vào thời kì quá độ lên CNXH nước ta có đặc điểm lớn nhất là một nước nông nghiệp lạc hậu tiến lên CNXH không phải trải qua giai đoạn phát triển TBCN
C Phương thức biện pháp tiến hành xây dựng CNXH
Công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta là một sự nghiệp CM mang tính toàn diện HCM
đã xác định rõ nhiệm vụ cụ thể và biện pháp tiến hành cho từng lĩnh vực:
Trang 13- Thực hiện cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, kết hợp cải tạo với xây dựng, lấy xd làm nòng cốt, chủ chốt và lâu dài.
- Xây dựng nền tảng vật chất và kĩ thuật cho CNXH, xd các tiền đề về kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng cho CNXH
- Kết hợp xd và bảo vệ, đồng thời tiến hành 2 nhiệm vụ chiến lược ở 2 miền Nam – Bắc khác nhau trong phạm vi một quốc gia
- Xd CNXH phải có kế hoạch, biện pháp, định hướng cụ thể, quyết tâm để thực hiện thắng lợi kế hoạch đặt ra
- Xd XHCN phải đặt ra nhiều biện pháp tích cực khác nhau: đẩy mạnh phát triển kinh tế,
xd chính trị vững mạnh, tăng cường đầu tư giáo dục văn hóa, đào tạo con người…
- Quan trọng nhấ là phát huy tài dân, sức dân, của dân HCM nhấn mạnh đến vấn đề xây dựng con người mơi.s
- Trong điều kiện nước ta, biện pháp cơ bản, quyết định và lâu dài là đem tài dân sức dân
để làm lợi cho dân dưới sự lãnh đạo của Đảng
- Giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng Đảng phải luôn luôn tự đổi mới và tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, có hình thức tổ chức phù hợp
để đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ mới
Câu 5: Cơ sở và quan điểm cơ bản của HCM về đại đoàn kết dt, đoàn kết quốc tế Liên hệ thực tiễn
A TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
1) Vai trò của đại đoàn kết dân tộc
a Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng
- Đại đoàn kết dân tộc là chiến lược tập hợp mọi lực lượng cso thể tập hợp được nhằm hình thành sức mạnh to lớn của dân tộc trong cuộc đấu tranh với kẻ thù của dân tộc và giai cấp
- Theo HCM, trong thời đại mới, để đánh bại các thế lực đế quốc, thực dân nếu chỉ có tinh thần yêu nước thì chưa đủ, cách mạng muốn thành công và thành công đến nơi phải tập hợp được mọi lực lượng có thể tập hợp, xây dựng khối đàon kết dân tộc bền vững Chính vì vậy trong tư tưởng HCM, đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, cơ bản, nhất quán và lâu dài xuyên suốt tiến trình cách mạng
b Đoàn kết dân tộc là mục tiêu hàng đầu của Đảng và của dân tộc
- Trong tư tưởng HCM, yêu nước – nhân nghĩa – đoàn kết là sức mạnh, là mạch nguồn của mọi thắng lợi Do đó, đại đoàn kết dân tộc phải được xác định là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, phải được quán triệt trong tất cả mọi lĩnh vực từ đường lối, chủ trương, chính sách tới hoạt động thực tiễn của Đảng
- Đại đoàn kết dân tộc chính là đòi hỏi của bản thân quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng, là sự nghiệp của quần chúng, do quần chúng, vì quần chúng Đảng
Trang 14có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn chuyển những đòi hỏi khách quan, tự phát của nhân dân thành sức mạnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, tự do cho nhân dân và hạnh phúc cho con người.
2) Nội dung của đại đoàn kết dân tộc
a Đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân
- Theo quan điểm HCM, dân là mọi con dân nước Việt, không phân biệt già trẻ, gái trai, giàu nghèo, quý tiện Dân là gốc rễ, là nền tảng của nước, là chủ thể của khối đại đoàn kết,
là nguồn sức mạnh quyết định mọi thắng lợi của cách mạng
- Dân là một khối không đồng nhất gồm nhiều giai cấp, tầng lớp, dân tộc có lợi ích chung
và riêng khác nhau Bởi vậy, muốn xây dựng đại đoàn kết toàn dân phải xác định rõ vị trí các giai tầng trong xã hội
- Trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân phải đứng trên lập trường của giai cấp công nhân để tập hợp lực lượng, không bỏ sót một lực lượng nào miễn là lực lượng ấy sẵn sang phục vụ tổ quốc, không phản bội lại dân chúng là dược HCM đã đưa ra cái mẫu
số chung về đoàn kết dân tộc là: ý thức về cộng đồng dân tộc và ý thức về nên độc lập tự do của dân tộc
b Điều kiện để thực hiện đại đoàn kết dân tộc
- Phải kế thừa truyền thống yêu nước, đoàn kết, nhân nghĩa của dân tộc
- Phải có tấm long khoan dung độ lượng
- Phải hiểu dân, tin dân, dựa vào dân tránh quan điểm giai cấp tôn giáo, tín ngưỡng, xóa bỏ mọi thành kiến, phải thật thà đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi
4 Hình thức của khối đại đoàn kết dân tộc
a Hình thức của khối đại đoàn kết dân tộc là mặt trận dân tộc thống nhất
- Trong tư tưởng HCM, đại đoàn kết dân tộc không thể chỉ dừng lại ở quan niệm, ở những lời keu gọi, những lời hiệu triệu mà phải trở thành một chiến lược cách mạng, phải trở thành khẩu hiệu hành động của toàn Đảng, toàn dân tộc Nó phải biến thành sức mạnh vật chất, trở thành lực lượng có tổ chứuc Tổ chứuc đó chính là mặt trận dân tộc thống nhất
- Mặt trận dân tộc thống nhất là một tổ chức chính trị rộng rãi, tập hợp đông đủ các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, đảng phái, các tổ chức và các cá nhân yêu nước ở trong và ngoài nước phấn đấu vì mục tiêu chung là độc lập thống nhất của tổ quốc, là tự do, hạnh phúc của nhân dân Mặt trận phải có cương lĩnh và điều lệ phù hợp với yêu cầu của nhiệm
vụ của từng thời kì, từng giai đoạn cách mạng,
b Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của mặt trận dân tộc thống nhất
- Mặt trận dân tộc thống nhất phải được xây dựng trên nền tảng khối lien minh công – nông – trí thức, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng,
Trang 15- Mặt trận dân tộc thống nhất phải hoạt động trên cơ sở bảo đảm lợi ích tối cao của dân tộc
và quyền lợi cơ bản của các tầng lớp nhân dân
- Mặt trận dân tộc thống nhất phải hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ
- Mặt trận dân tộc thống nhất là khối đoàn kết chặt chẽ lâu dài, đoàn kết thật sự, chân thành thân ái, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ
B TƯ TƯỞNG HCM VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ
1 Sự cần thiết xây dựng đoàn kết quốc tế
a) Thực hiện đoàn kết quốc tế nhằm kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, tạo sức mạnh tổng hợp cho cách mạng
+ Tập hợp lực lượng bên ngoài, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè quốc
tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của các trào lưu cách mạng thế giới tạo ra sức mạnh tổng hợp cho cách mạng chiến thắng kẻ thù
+ Sức mạnh dân tộc là tổng hợp các yếu tố vật chất và tinh thần, song trước hết là chủ nghĩa yêu nước truyền thống, ý thức tự lực, tự cường của dân tộc
+ Sức mạnh quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất rộng: Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc; Phong trào cách mạng của công nhân và nhân dân lao động các nước chính quốc và TBCN nói chung; Phong trào XHCN; Phong trào vì Hòa bình, ĐLDT, Dân chủ và tiến bộ xã hội; Phong trào cách mạng của nhân dân Đông Dương
Sức mạnh thời đại mà Hồ Chí Minh nhận thức còn là sức mạnh của tiến bộ khoa học công nghệ, làm thay đổi có tính cách mạng về các lĩnh vực như: năng lượng, vật liệu, công nghệ sinh
học, giao thông vận tải…, loài người đã tiến một bước dài trong việc chinh phục thiên nhiên
“50 năm qua thế giới đã có những chuyển biến lớn đặc biệt là sức mạnh nguyên tử, nhiều hơn thế kỷ trước cộng lại”
+ Theo Hồ Chí Minh thực hiện đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế Đoàn kết dân tộc phải là cơ sở cho thực hiện đoàn kết quốc tế Đoàn kết quốc tế là nhân tố thường xuyên và hết sức quan trọng giúp cho cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi
b) Thực hiện đoàn kết quốc tế nhằm góp phần cùng nhân dân thế giới thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng
+ Kết hợp nhuần nhuyễn các vấn đề DT-GC, ĐLDT-CNXH, CNYNTT-CNQTVSTS không chỉ vì sự thắng lợi của cách mạng mỗi nước mà còn vì sự nghiệp chung của nhân loại: Hòa bình,
ĐLDT, Dân chủ, Tiến bộ xã hội, và XHCN.
+ Muốn đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh vì mục tiêu chung, các đảng cộng sản phải kiên trì chống lại mọi khuynh hướng cơ hội, vị kỷ dân tộc, chủ nghĩa sôvanh
+ Thắng lợi của cách mạng Việt Nam là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh: Kết hợp
nhuần nhuyễn các vấn đề dân tộc-giai cấp, ĐLDT-CNXH, CNYNTT-CNQTVSTS mà cốt lõi là Độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội
Công lao to lớn đầu tiên của Người là đã đặt phong trào cách mạng Việt Nam vào hàng ngũ, vào quỹ đạo của cách mạng thế giới, đưa dân tộc Việt Nam đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin.
2 Nội dung và hình thức đoàn kết quốc tế
a) Các lực lượng cần đoàn kết
- Phong trào cộng sản, phong trào công nhân thế giới là lực lượng nòng cốt của đoàn kết quốc tế.
Trang 16+ Tiếp nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã tìm thấy phương hướng cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đồng thời Người cũng tìm thấy một lực lượng ủng hộ mạnh mẽ công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, đảm bảo cho sự nghiệp cách mạng của nước nhà đi đến thắng lợi vẻ vang Đó là phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; là Liên Xô
và sau này là các nước XHCN; là Quốc tế III và sau này là Cục thông tin quốc tế
+ Thực tế, Người nhận thấy, chủ nghĩa đế quốc là một lực lượng phản động quốc tế, là kẻ thù chung của nhân dân lao động toàn thế giới Vì vậy, chỉ có sự đoàn kết, nhất trí, đồng tình và ủng hộ lẫn nhau của lao động thế giới theo tinh thần “bốn phương vô sản đều là anh em” mới có thể thắng được những âm mưu thâm độc của chủ nghĩa thực dân
+ Chủ trương đoàn kết giai cấp vô sản các nước, đoàn kết giữa các đảng Cộng sản trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn xuất phát từ tính tất yếu về vai trò của giai cấp vô sản trong thời đại ngày nay, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới
+ Thắng lợi của hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc ta không tách rời sự đồng tình, ủng hộ của Liên Xô và các nước XHCN, của các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế
- Đoàn kết với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa.
+ Ra đi tìm đường cứu nước từ một nước nô lệ nên trái tim Người cùng nhịp đập với nổi thống khổ của các dân tộc khác cùng hoàn cảnh với dân tộc mình
+ Từ sớm, Hồ Chí Minh đã phát hiện ra âm mưu chia rẽ dân tộc để dễ bề cai trị của các nước đế quốc, tạo sự thù ghét, đối kháng dân tộc, chủng tộc,… nhằm làm suy yếu sức mạnh của các phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa
Người đề nghị Quốc tế cộng sản phải làm sao cho các dân tộc hiểu biết lẫn nhau, xích lại gần nhau (“làm cho các dân tộc thuộc địa, từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết nhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một liên minh phương Đông tương lai, khố liên minh này sẽ
là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản”[1]) và bằng mọi cách phải làm cho “đội tiên phong của lao động thuộc địa tiếp xúc mật thiết với giai cấp vô sản phương Tây để dọn đường cho một sự hợp tác thật sự sau này”[2]
- Đoàn kết với các lực lượng tiến bộ, những người yêu chuộng hoà bình, dân chủ, tự do và công lý
+ Xuất phát từ mục tiêu chung của nhân loại tiến bộ là đấu tranh cho hoà bình, độc lập, thống nhất và tiến bộ, Hồ Chí Minh quan tâm đến việc khơi dậy lương tri của loài người, tạo nên tiếng nói ủng hộ mạnh mẽ từ các tổ chức quần chúng, các nhân sĩ trí thức và từng người cụ thể trên hành tinh đối với cuộc cách mạng chính nghĩa của nhân dân ta
+ Quan điểm ngoại giao này cũng thể hiện chủ nghĩa nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí
Minh Người đã tìm thấy bạn ngay trong các nước đi xâm lược Bởi vậy, mà Người chủ trương chống thực dân, chống bọn xâm lược chứ không phải chống người Pháp, người Mỹ nói chung
Năm 1941, để khơi dậy sức mạnh và quyền tự quyết của mỗi dân tộc, Người quyết định
thành lập mặt trận riêng biệt, Mặt trận độc lập đồng minh, cho từng nước Việt Nam, Lào, Cao
Miên, tiến tới thành lập Đông Dương độc lập đồng minh