1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đề cương phong cách học tiếng việt

12 957 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 41,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

b Các nhân tố giao tiếp chi phối đặc điểm phong cách  Vai giao tiếp: là vai giao tiếp xã hội + giữa các tổ chức hành + giữa các thành viên trong một tổ chức hành chính + giữa người dân,

Trang 1

1 PHONG CÁCH HÀNH CHÍNH

a) Định nghĩa

 Phong cách hành chính là phong cách ngôn ngữ dùng trong lĩnh vực giao tiếp của việc quản lý, điều hành, tổ chức hành chính giữa các cơ quan, tổ chức, đoàn thể, hoặc giữa các cá nhân với các cơ quan, tổ chức, đoàn thể

VD: ngôn ngữ trong: một cuộc họp cơ quan, xí nghiệp, công ty; quyết định bổ nhiệm cán bộ; giấy triệu tập; luật, sắc lệnh

b) Các nhân tố giao tiếp chi phối đặc điểm phong cách

 Vai giao tiếp: là vai giao tiếp xã hội

+ giữa các tổ chức hành

+ giữa các thành viên trong một tổ chức hành chính

+ giữa người dân, công dân với một tổ chức hành chính

Xét về vị thế, vai giao tiếp trong phong cách hành chính có thể là: ngang cấp, khác cấp( cấp trên, cấp dưới)

Vị thế giao tiếp ảnh hưởng rất nhiều đến ngữ khí của văn bản hành chính, nhất là hệ thống các từ ngữ yêu cầu phải thực thi những nội dung truyền đạt trong văn bản, như: yêu cầu, đề nghị, bắt buộc phải, cần, nên, cấm, tuyệt đối cấm

 Nội dung giao tiếp: những vấn đề thuộc công tác hành chính( quản lý, điều hành bộ máy tổ chức nhà nước, quản

lý xã hội ) mang tính pháp lý

 Mục đích giao tiếp: thông báo để nhận thức và thực hiện

 Hoàn cảnh giao tiếp: mang tính chính thức, nghi thức

c) Dạng thức ngôn ngữ:

 Hình thức ngôn ngữ viết( tiêu biểu, phổ biến)

Các loại văn bản được viết theo phong cách ngôn ngữ hành chính:

+ Văn bản hành chính- pháp luật: hiến pháp, luật, sắc lệnh, pháp lệnh, nghị định, điều lệ, quy chế, nội quy, quy định + Văn bản hành chính- ngoại giao: hiện định, hiệp ước, thông cáo, quốc thư, công hàm

+ Văn bản hành chính quân sự: lệnh, điều lệnh, chỉ thị

+ Văn bản như: đơn từ, biên bản, hợp đồng, báo cáo, thông tư, công văn, quyết định,

 Hình thức ngôn ngữ nói

+ Lời phát biểu , trình bày của các thành viên của một tổ chức hành chính trong một, cuộc họp, một hội nghị, trong buổi

xử án

+ Lời đối thoại giữa một cá nhân với đại diện của một cơ quan tổ chức trong một buổi làm việc có tính chất hành chính d) Chức năng

 Thông báo- cầu khiến

Mỗi văn bản hành chính đều có chức năng thông báo một điều gì đó về công tác hành chính- nhà nước, và đòi hỏi người

có trách nhiệm phải thực hiện một việc gì đó trong một giới hạn thời gian nhất định

Văn bản hành chính luôn có một giá trị pháp lý và một hiệu lực pháp lý nhất định

e) Đặc trưng

 Tính nghiêm túc- khách quan

Trang 2

- Giao tiếp trong phong cách hành chính là dạng điển hình nhất của hình thức giao tiếp chính thức, nghi thức Phong cách giao tiếp: nghiêm túc, trịnh trọng, trang trọng

- Cách nhìn nhận vấn đề, giải quyết vấn đề trong ngôn ngữ hành chính phải xuất phát từ cách nhìn nhận chung của cả một tập thể, một tổ chức

- Ngôn ngữ hành chính nói chung phải trung hòa về sắc thái biểu cảm, không tỏ ra khinh hay trọng, tán dương hay chê ghét, ngoại trừ những văn bản có tình chất hành chính ngoại giao, hoặc những lời nói hành chính có tính chất công thức lễ tân

 Tính chính xác- minh bạch

- Ngôn ngữ hành chính luôn yêu cầu có tính chính xác, chặt chẽ ở mức độ cao nhất vì điều này liên quan đến hiệu lực pháp lý của văn bản hành chính

- Từ ngữ trong văn bản hành chính phải đơn nghĩa Câu văn cũng phải đơn nghĩa

- Các cách thức hạn định để làm cho từ ngữ, hoặc câu văn của ngôn ngữ hành chính được chính xác luôn được đề cao

VD: Nhà xuất bản không được xuất bản, tái bản tác phẩm nếu không được sự đồng ý của tác giả hoặc người được thừa kế hợp pháp theo quy định của pháp luật về quyền tác giả( Luật xuất bản( 1993), điều 8)

- Nói chung về nguyên tắc, ngôn ngữ hành chính phải hướng tới đại chúng là những người tiếp cận và thực hiện nó Vì vậy ngôn ngữ hành chính phải rõ ràng, minh bạch để đại đa số quần chúng đọc và hiểu được

Để làm như vậy, từ ngữ và cách đặt câu của ngôn ngữ hành chính phải tương đối giản dị, dễ hiểu Các thuật ngữ khí hiểu phải được giải thích, định nghĩa một cách rõ ràng Từ Hán Việt phải dùng hạn chế, nếu

có thể thì thay hoặc bổ sung bằng từ ngữ thuần Việt tương đương

VD: Quản chế là buộc người bị kết án phạt tù phải cư trú, làm ăn, sinh sống và cải tạo ở một địa phương nhất định, có sự kiểm soát, giáo dục của chính quyền và nhân dân địa phương.( Bộ luật hình sự(1999), điều 38)

 Tính khuôn mẫu

- Cách trình bày, diễn đạt ngôn ngữ hành chính phải tuân theo những quy định mang tính chất thể thức hành chính

- Cách đặt câu của ngôn ngữ hành chính phải theo những khuôn mẫu câu hành chính

- Văn bản hành chính thường xây dựng theo những kiểu cấu trúc có sẵn, với hai dạng: (1) dạng mẫu có sẵn, người viết chỉ cần điền vào; (2) dạng theo mẫu hướng dẫn chung

f) Đặc điểm ngôn ngữ

 Ngữ âm, chữ viết, hình thức trình bày

Phải tuân theo những quy định có tính chuẩn mực chính thức

- Ngữ âm: phải phát âm theo chuẩn, hướng theo chuẩn, tránh cách phát âm địa phương và những lỗi phát âm

- Chữ viết: Phải theo những quy định chính tả của cơ quan có thẩm quyền( Bộ giáo dục và đào tạo, Bộ Nội

Vụ, Quốc hội)

- Hình thức trình bày: phải tuân theo những quy định về thể thức trình bày do các cơ quan nhà nước quy định

 Từ ngữ

- Phong cách ngôn ngữ hành chính có một lớp từ ngữ riêng gọi là lớp từ ngữ hành chính

Đây là lớp từ ngữ tương đối phong phú, đơn nghĩa, trung hòa về sắc thái biểu cảm

VD:

VD: theo đề nghị, căn cứ vào, nay ban hành, chịu trách nhiệm, vấn đề thứ nhất là, vấn đề thứ hai là , Uỷ ban nhân dân, Viện Kiểm Sát

Trang 3

- Từ ngữ hành chính chủ yếu là lớp từ Hán Việt, chiếm tỷ lệ 75- 85%, vì lớp từ này đảm bảo tính chính xác, chặt chẽ, nghiêm túc

- Từ ngữ trong phong cách hành chính phải được sử dụng tuyệt đối chính xác, không ( hoặc hạn chế tối đa)

sử dụng từ ngữ địa phương, những cách nói mang tính khẩu ngữ

- Xuất hiện nhiều từ ngữ mang tính chất cầu khiến do đòi hỏi yêu cầu phải thực hiện( hoặc không thực hiện) : đề nghị, yêu cầu, phải, cần, nên, thi hành, thực hiện

 Ngữ pháp

- Phong cách hành chính thích dùng loại câu đầy đủ về cấu trúc, chặt chẽ, chính xác, đơn nghĩa

- Độ dài câu của văn hành chính tương đối lớn, cấu trúc thường có nhiều tầng bậc

- Sử dụng nhiều quan hệ từ, nhiều từ ngữ liên kết, nhiều loại dấu câu để nâng cao tính chính xác

- Sử dụng nhiều loại câu theo khuôn mẫu định sẵn

- Trong văn bản hành chính thường xuất hiện những cách xuống dòng đặc biệt Câu văn thường trải rộng,

có khi hầu như bao quát cả văn bản

 Tu từ

- Phong cách hành chính không sử dụng các phép tu từ vì phong cách ngôn ngữ này không có nhu cầu diễn đạt hình ảnh, biểu cảm

- Phong cách hành chính đối lập với cách diễn đạt của phép tu từ

 Kết cấu văn bản

- Cấu trúc văn bản phải mang tính chính xác, chặt chẽ, chuẩn mực và thống nhất toàn quốc

- Văn bản hành chính có kết cấu khuôn mẫu, bắt buộc phải tuân theo, không cho phép sự sáng tạo cá nhân

3) PHONG CÁCH KHOA HỌC

a) Định nghĩa

Phong cách khoa học là phong cách ngôn ngữ dùng trong lĩnh vực giao tiếp khoa học của những người nghiên cứu, giảng dạy, phổ biến khoa học

Phong cách khoa học là một phong cách ngôn ngữ tiêu biểu cho những thành tựu phát triển của tiếng Việt hiện đại và rất cần thiết cho nhu cầu giao tiếp, thông tin của con người trong xã hội công nghệ, kỹ thuật

Đây là phong cách tiêu biểu của ngôn ngữ nghi thức, được xây dựng trên cơ sở tư duy logic và có sự đối lập rõ rệt với phong văn chương( tư duy hình tượng)

Phong cách ngôn ngữ khoa học của Tiếng Việt ra đời muôn( đầu TK XX) Sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật ở nước ta thúc đẩy quá trình hoàn thiện phong cách khoa học

b) Các nhân tố giao tiếp chi phối đặc điểm phong cách

 Vai giao tiếp

- Nhà khoa học <-> nhà khoa học

- Nhà khoa học <-> độc giả, sinh viên( học sinh)

- Nhà giáo <-> sinh viên( học sinh)

- Người phổ biến tri thức khoa học <-> độc giả

- Sinh viên, độc giả khoa học <-> sinh viên, độc giả khoa học

 Nội dung giao tiếp: những tri thức khoa học( quy luật, bản chất của tự nhiên và xã hội)

 Mục đích giao tiếp: nhận thực, truyền bá các tri thức khoa học, thay đổi nhận thức độc giả về lý trí

 Hoàn cảnh giao tiếp: diễn ra trong môi trường của những người hoạt động khoa học, quan tâm tới khoa học; nghiêm túc, khách quan, tuân thủ theo những nguyên tắc và tiến đề khoa học

c) Dạng thức ngôn ngữ

Trang 4

 Dạng viết:

- Văn bản khoa học chuyên sâu: công trình nghiên cứu khoa học, luận văn, báo cáo khoa học, bài báo khoa học,

- Văn bản khoa học giáo khoa: giáo trình, tài liệu tham khảo, sách giáo khoa, giáo án, bài thi, bài kiểm tra

- Văn bản khoa học phổ cập: sách phổ biến khoa học, tài liệu tuyên truyền, phổ biến khoa học

 Hình thức lời nói miệng

- Lời giảng bài của giáo viên, giảng viên

- Lời thuyết trình, lời phát biểu trong hội thảo, hội nghị khoa học,

- Lợi nhận xét, lời hỏi đáp, lời tranh luận về khoa học

a) Chức năng

Thông báo- chứng minh

Ngôn ngữ trong phong cách ngôn ngữ khoa học không phải thực hiện chức năng thông báo thuần túy mà còn chứng minh, xác nhận các vấn đề đưa ra trình bày, thảo luận từ góc độ khoa học nhằm đi tới chân lý khoa học b) Đặc trưng

 Tính trừu tượng- khái quát

- Phong cách khoa học tiếp cấn và trình bày vấn đề từ góc độ khái quát và trừu tượng nhằm chỉ ra các quy luật và đặc điểm bản chất của đối tượng nhận thức ( khác với cách tiếp cận cụ thể và cảm tính của khẩu ngữ và ngôn ngữ văn chương

VD: ngôn ngữ không phù hợp với phong cách khoa học

Cho một đường tròn tâm O nhỏ xíu và kẻ một cát tuyến thẳng băng cắt ngang qua đường tròn tại hai điểm A

và B

Đối với phong cách ngôn ngữ khoa học mang tính chuyên sâu, chỉ những người trong lĩnh vực chuyên môn mới hiểu một cách tường tận thông tin của văn bản

 Tính chính xác

- Phong cách khoa học đòi hỏi tính chính xác ở mức độ cao Thông tin đưa ra trong văn bản khoa học phải được khảo cứu, phân tích, chứng minh một cách cẩn trọng, nghiêm túc và phải được kiểm chứng bởi những nhà khoa học khác

- Phong cách khoa học không chấp nhận( trừ một số trường hợp đặc biệt) những cách diễn đạt không chắc chắn, xác định: có lẽ, có thể, hình như, phỏng chừng

- Tuy nhiên vì chân lý khoa học mang tính tương đối theo hướng tiếp cận gần nhất với chân lý, nên trong một số trường hợp, cùng một vấn đề, giữa các nhà khoa học có thể chấp nhận những quan niệm khác nhau, cách giải quyết khác nhau, đặc biệt là trong lĩnh vực khoa học xã hội – nhân văn

 Tính khách quan

- Phong cách khoa học hạn chế đến mức tối đa sự chủ quan cá nhân trong cách miêu tả, giải thích, trình bày vấn đề

- Mọi tri thức đưa ra trong văn bản( diễn ngôn) khoa học phải xuất phát từ những nguyên tắc khoa học, có bằng cứ, lý lẽ khẳng định một cách khách quan, thuyết phục, tránh sự suy đoán chủ quan, hàm hồ, thiên kiến, hoặc theo định dướng bên ngoài khoa học

c) Đặc điểm ngôn ngữ

 Ngữ âm, chữ viết

- Tuân theo hình thức ngữ âm, chính tả chuẩn mực

- Có thể sử dụng những cách phát âm xa lạ với hệ thống ngữ âm dân tộc ( thuật ngữ nước ngoài, từ ngữ quốc tế)

- Ngoài kênh chữ viết, còn sử dụng những hệ thống ký hiệu, sơ đồ, bảng biểu, công thức theo yêu cầu của từng ngành khoa học

 Từ ngữ

- Có một hệ thống thuật ngữ riêng, chuyên dùng trong lĩnh vực chuyên môn sâu

Trang 5

- Từ ngữ mang tính chất trừu tượng, khái quát ở mức độ cao.

- Từ ngữ đơn nghĩa, chỉ dùng với nghĩa đen, trung hòa về sắc thái biểu cảm

 Ngữ pháp

- Thường sử dụng các hình thức câu hoàn chỉnh, kết cấu chặt chẽ, rõ ràng để đảm bảo tính chính xác, rõ ràng, mạch lạc về tư duy logic

- Sử dụng nhiều loại câu ghép, câu phức để diễn đạt đầy đủ, súc tích các vấn đề cần bàn luận, phân tích

- Hay sử dụng các loại câu khuyết chủ ngữ và chủ ngữ không xác định

Tác dụng: giúp cho việc trình bày được mang tính khái quát hoặc tính khách quan

- Sử dụng nhiều các hình thức liên kết giữa các thành phần câu, giữa các câu, các đoạn để đảm bảo tính chặt chẽ, chính xác

 Tu từ

- Phong cách ngôn ngữ khoa học nói chung, không dùng phép tu từ vì không có nhu cầu diễn đạt hình ảnh, bóng bẩy, biểu cảm như phong cách chính luận

- Tuy nhiên có sự khác biệt giữa các biến thể của phong cách khoa học về việc dùng phép tu từ

- Trong các văn bản khoa học xã hội nhân văn và trong các thể loại văn bản phổ biến khoa học, ngưởi ta có thể sử dụng các phép tu từ theo những mức độ khác nhau nhằm làm cho sự diễn đạt hấp dẫn, sinh động, gần gũi với đối tượng độc giả

 Kết cấu văn bản

- Nói chung các loại văn bản khoa học chuyên sâu đều phải tuân theo những quy định có tính chất khuôn mẫu về kết cấu

- Đặc biệt là các loại văn bản khoa học trình bày kết quả nghiên cứu nhằm đạt một học vị, một chức danh khoa học như luận án, luận văn, tiểu luận, báo cáo khoa học, đề tài khoa học

- Tính chất khuôn mẫu về kết cấu thể hiện tính nghiêm túc của công tác nghiên cứu khoa học, vừa tạo sự thuận tiện, dễ dàng trong đánh giá, xử lý kết quả

Chỉ ra và phân tích các biện pháp tu từ trong các câu

sau:

1

Trăm năm đành lỗi hẹn hò Cây đa bến cũ con đò khác đưa

2

Thuyền ơi có nhớ bến chăng

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

3

Dưới trăng quyên đã gọi hè

Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông

4

Ơi con chim chiền chiện

Hót chi mà vang trời Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng 5

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào 6

Kháng chiến ba ngàn ngày không nghỉ Bắp chân đầu gối vẫn săn gân 7

Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất Khăn thương nhớ ai

Trang 6

Khăn vắt lên vai 8

Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

9

Về thăm nhà Bác làng Sen

Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng

10

Bàn tay ta làm nên tất cả

Có sức người sỏi đá cũng thành cơm

11

Đầu xanh đã tội tình gì

Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi

12

Áo nâu liền với áo xanh Nông thôn liền với thị thành đứng lên

13

Làm trai cho đáng nên trai Khom lưng chống gối gánh hai hạt vừng

14.

Vứt đi những thứ văn nghệ ngòn ngọt, bày ra sự phè

phỡn thoả thuê hay cay đắng chất độc của bệnh tật,

quanh quẩn vài tình cảm gầy gò của cá nhân co rúm

lại.Chúng ta muốn có những tiểu thuyết, những câu thơ

thay đổi được cả cuộc đời người đọc – làm thành người,

đẩy chúng ta đến một sự sống trước kia chỉ đứng xa nhìn

thấp thoáng

15

Thác bao nhiêu thác cũng qua

Thênh thênh là chiếc thuyền ta trên bờ 16.Cờ bạc, rượu chè, lô đề,… nó đều thông thạo cả Khổ thân nhất là bà già nhà nó Lá vàng sắp rụng đến nơi mà vẫn phải khòng lưng quẩy gánh ngày ngày kiếm vài ba chục để nuôi kẻ đầu xanh

17.Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng ĐÁP ÁN:

1

Bài ca dao đã sử dụng những hình ảnh ẩn dụ ” cây đa, bến cũ, con đò” Trong đó “cây đa”, “bến cũ” là những vật đứng yên,” con đò” là vật thường xuyên di chuyển, chúng dùng để biểu hiện nỗi buồn của đôi trai gái khi phải xa nhau

2 ẩn dụ : thuyền, bến Thuyền: là vật thường xuyên thay đổi ->> biểu tượng cho người con trai ( tình cảm dễ đổi thay )

Bến : vật cố định ->> tình cảm thủy chung của người con gái

Cách nói ẩn dụ là cho câu ca thêm tế nhị, phù hợp với việc bày tỏ nỗi nhớ, tình cảm thủy chung của người con gái

3 Ẩn dụ : lửa lựu ,chỉ hoa lựu nở nhiều, đỏ rực như những đốm lửa Cách nói ẩn dụ làm cho bức tranh trở nên sinh động, rực rỡ sắc màu, hoa lựu không chỉ có màu, mà còn có độ sáng, độ nóng Điệp phụ âm đầu “L” trong các từ ” lửa lựu lập lòe ” làm cho câu thơ có sức tạo hình

4.Hình ảnh ẩn dụ ” giọt long lanh ” có thể hiệu là giọt sương , giọt nắng , giọt mưa xuân … Đó chính là giọt

âm thanh của tiếng chim chiền chiện được kết tủa lại

Sự chuyển đổi cảm giác rất sáng tạo độc đáo của tác giả

Từ tiếng hót của loài chim mà ông cảm nhận bằng thính giác giờ đây trở thành giọt long lanh rơi mà ông đã trông thấy chúng sắp rơi xuống

Trang 7

5 Hoán dụ : Thôn đoài , thôn Đông : lấy địa danh để chỉ

người sống ở địa danh đó

Cau , trầu : Ẩn dụ chỉ người con trai và người con gái

Cách sử dụng hình ảnh ẩn dụ, hán dụ rất phù hợp với lối

nói bóng gió, xa xôi, tế nhị của tình yêu

6.Hoán dụ : bắp chân, đầu gối : chỉ người/ ý chí của

người

->>Hoán dụ dựa trên mối quan hệ giữa cái toàn thể và

các bộ phận bên trong

7 Điệp ngữ : Khăn thương nhớ ai

Hán dụ “khăn : chỉ người cọn gái

Tác dụng của biện pháp tu từ: bộc lộ nỗi niềm thương

nhớ một cách kín đáo , tế nhị nhưng không kém phần

mãnh liệt của cô gái

8.Hoán dụ : “Áo chàm” chỉ đồng bào Việt Bắc

9 Lửa : ẩn dụ chỉ hoa dâm bụt

Cách nói ẩn dụ khắc họa vẻ đẹp của hoa dâm bụt : đỏ,

rực rỡ, đầy sức sống…

10 Hoán dụ : bàn tay ->> chỉ người/ sức lao động, ý chí

của con người

11 Hoán dụ :

Đầu xanh : chỉ người còn trẻ

Má hồng : người con gái đẹp

12 Hoán dụ :

Áo nâu: người nông dân

Áo xanh : người công nhân

13 Biện pháp phóng đại :khom lưng chống gối ( cố gắng hết sức) để gánh 2 hạt vừng ( công việc quá nhỏ nhặt, không đáng kể)

Trên thực tế không ai như thế ->> phóng đại nhằm mục đích mỉa mai, châm biếm những chàng trai yếu đuối, vô tích sự

14

Ẩn dụ Văn nghệ ngòn ngọt : thứ văn nghệ tầm thường, hào nhoáng bề ngoài, không có giá trị

Tình cảm gầy gò: (phản ánh ) những tình cảm ,cảm xúc thoáng qua,vô nghĩa, tầm thường…

15 Thác bao nhiêu thác cũng qua Thênh thênh là chiếc thuyền ta trên bờ

Ẩn dụ thác: những khó khăn trở ngại

Thuyền : ý chí, nghị lực của con người

16 Lá vàng sắp rụng đến nơi mà vẫn phải khòng lưng quẩy gánh ngày ngày kiếm vài ba chục để nuôi kẻ đầu xanh

Ẩn dụ lá vàng: người già

Kẻ đầu xanh : người còn trẻ

17.Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt

quãng

Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: Nắng giòn tan

1 PHONG CÁCH KHẨU NGỮ

Trang 8

d) Định nghĩa:

Phong cách khẩu ngữ là phong cách ngôn ngữ dùng trong lĩnh vực giao tiếp, sinh hoạt hằng ngày của cá nhân, có tính chất tự nhiên, tự phát, không chuẩn bị trước

Chẳng hạn ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình, bạn bè, hàng xóm, láng giềng, nói về những đề tài thường ngày của cuộc sống

e) Các nhân tố giao tiếp chi phối đặc điểm phong cách

 Vai giao tiếp: vai giao tiếp cá nhân

 Nội dung giao tiếp: Những vấn đề thông thường trong cuộc sống hằng ngày( một mẩu tâm sự, một câu thăm hỏi, một lời đàm tiếu, một thái độ phản ứng tức thì )

 Mục đích giao tiếp: tiếp xúc, tạo lập quan hệ cá nhân, thông tin về cuộc sống hằng ngày

 Hoàn cảnh giao tiếp: đối thoại trực tiếp( hoặc bán trực tiếp qua điện thoại, qua internet như yahoo, messenger, facebook, skype), thân mật, không mang tính chất chính thức xã hội

 Dạng thức ngôn ngữ nói( đàm thoại hằng ngày) là chủ yếu; có thể bằng hình thức ngôn ngữ viết : thư cá nhân, nhật ký cá nhân

f) Chức năng: trao đổi tư tưởng tình cảm( chức năng giao tiếp hiểu theo nghĩa hẹp)

g) Đặc trưng:

 Tính tự nhiên

 Ngôn ngữ trong phong cách khẩu ngữ là ngôn ngữ tự nhiên, tự phát của một người cụ thể, gắn chặt với một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể

 Đó là loại ngôn ngữ không có “ tính chuẩn bị trước”, không gọt giũa, trau chuốt, không hưỡng về chuẩn mực

 Tính cảm xúc

 Ngôn ngữ khẩu ngữ luôn có sắc thái biểu cảm rõ ràng, thể hiện một thái độ, một cách đánh giá, một cách quan niệm về đối tượng được nói đến

 Ngôn ngữ khẩu ngữ Tiếng Việt thường có khuynh hướng sắc thái biểu cảm âm tính

 Tính cụ thể

 Lời nói của phong cách ngôn ngữ khẩu ngữ bao giờ cũng cụ thể, hình ảnh, điều đó phù hợp với hình thức giao tiêp trực tiếp, tức thời

 Tính cá thể

 Trong nói năng hằng ngày, mỗi người ít nhiều đều có phong cách, sắc thái riêng Sắc thái riêng đó có thể là về cách phát âm hoặc cách dùng từ, đặt câu, cách sử dụng phép tu từ, hoặc là cách trình bày, lập luận, diễn đạt

Để hiểu đúng ý tưởng của ngôn ngữ khẩu ngữ, nhiều khi phải nắm được sắc thái, thần thái riêng này của người nói, vì nó làm khúc xạ khá nhiều nội dung đang được trình bày

c) Đặc điểm ngôn ngữ:

 Ngữ âm:

 Không mang tính chuẩn mực, không theo chuẩn mực

 Giọng điệu, cách phát âm mang màu sắc riêng của cá nhân, gắn liền với mỗi địa phương, một tầng lớp người hoặc một nghề nghiệp nhất định

 Thường sử dụng hình thức lược âm, biến ấm

Hăm ba-> hai mươi ba, phỏng-> phải không,

 Hay sử dụng các yếu tố ngữ điệu như kéo dài, nhấn giọng, ngắt giọng, để tạo sự chú ý, tăng sức biểu cảm Mày mà không về đây thì bà g i ế t mày!

 Từ ngữ

 Phong cách khẩu ngữ có một lớp từ ngữ riêng , rất phong phú, đa dạng Đó là lớp từ ngữ khẩu ngữ, một lớp từ chuyên dùng cho giao tiếp hằng ngày, vừa đóng vai trò rất quan trọng cho việc tái hiện ngon ngữ nhân vật trong các sáng tác văn chương

Mày, tao, cậu em, dễ sợ, hiền khô, tối hù, ba láp ba đế, đi guốc trong bụng, rán sành ra mỡ

 Từ ngữ khẩu ngữ mang tính chất cụ thể, hình ảnh, biểu cảm:

Mới sáng mồng một, vừa mở mắt đã quàng quạc cái mồm như con quạ khoang

Trang 9

 Ngữ pháp:

 Thường dùng loại câu rút gọn, câu đặc biệt, câu không đầy đủ cấu trúc

 Câu văn khẩu ngữ thường lược bớt các quan hệ từ, thêm nhiều từ ngữ chêm xen, đưa đẩy, nhiều trợ từ, thán từ

 Câu văn bị giãn ra, nhiều từ ngữ bị dư, lượng thông tin ý niệm thấp

 Độ dài câu văn thường ngắn

 Cấu trúc nói chung là đơn giản, thiên về cấu trúc đề- thuyết

 Tu từ

 Dùng rất nhiều phép tu từ khác nhau, sinh động, đặc sắc

 Những phép tu từ mà phong cách ngôn ngữ khẩu ngữ hay sử dụng: ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, vật hóa, xưng, chơi chữ

Chú mày phải nói năng cẩn thận, coi chừng có ngày mất chỗ đội nón.( hoán dụ)

Có chuyện gì nó cũng lên hót lại với cô giáo chủ nhiệm.( vật hóa)

Cậu em không biết mình đây là dân mặc áo chuyên gia, đi xe cố vấn à? ( chơi chữ)

 Kết cấu diễn ngôn

 Các phát ngôn không tập hợp thành một diễn ngôn chặc chẽ, thống nhất về đề tài, chủ đề, logic

 Liên kết phát ngôn hội thoại mang tính liên tưởng tự do( ngẫu hứng, chuyện nọ xọ chuyện kia)

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT TRONG CA DAO

Thơ ca trữ tình dân gian là nơi bộc lộ rõ nhất tâm hồn dân tộc Ý nghĩa cơ bản của thơ ca trữ tình dân gian là biểu đạt những tư tưởng, tình cảm và cảm xúc của nhân dân.Những tư tưởng, tình cảm và cảm xúc ấy được chuyển tải thông qua những hình ảnh giàu giá trị tạo hình và qua một thế giới nghệ thuật lung linh sắc màu Một trong những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc của ca dao là ẩn dụ và so sánh

I SO SÁNH

1 Khái niệm: So sánh tu từ là cách đối chiếu hai hay nhiều hiện tượng khác loại có cùng một dấu hiệu chung nào đấy( nét giống nhau) nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối tượng

2 Cấu trúc so sánh trong ca dao

a So sánh trực tiếp.

- Đây là kiểu so sánh trực tiếp với sự hiện diện của các từ liên từ “như”, “như thế”, “cũng thế” Trong cấu trúc so sánh trực tiếp này có hai dạng:

+ Cấu trúc so sánh triển khai, nghĩa là câu lục (6) nêu lên định đề có tính chất khái quát: A như B (A và B là hai đối

tượng khác loại) Còn câu bát (8) là B’ nêu rõ đặc tính nào đấy của B theo dấu hiệu tương đồng

Đôi ta như thể con tằm (A như B) Cùng ăn một lá cùng nằm một nong (B’)

Nếu chỉ ví đôi ta như thể con tằm mà không có sự triển khai tiếp theo, chắc chắn người nghe sẽ thấy khó hiểu, không rõ con Tằm ở đây được nhấn mạnh với đặc điểm gì Vì vậy B’ đã triển khai rõ ràng cùng ăn một lá cùng nằm một nong để

diễn tả một cách đặc sắc phù hợp với việc bộc lộ tình cảm của đôi lứa yêu nhau

+ Cấu trúc so sánh tương hỗ bổ sung, ở kết cấu này không có mệnh đề triển khai mà nêu lên một hoặc hai đối tượng

cùng lúc so sánh với nhiều sự vật khác nhau Các sự vật này có nét tương đồng hoặc đối lập nhau

● Có thể là một đối tượng (cái so sánh) được nhấn mạnh trong quan hệ liệt kê bổ sung:

Đôi ta như lửa mới nhen Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu Thiếp xa chàng như rồng nọ xa mây Như chim chèo bẻo xa cây măng vòi Đối tượng so sánh được so sánh với nhiều sự vật khác nhau nhằm nhấn mạnh đối tượng

● Có thể hai đối tượng trong quan hệ so sánh tương đồng:

Tình anh như nước dâng cao Tình em như dải lụa đào tẩm hương Anh và em đều được so sánh như nhau nhằm nhấn mạnh sự sâu sắc trong tình cảm của cả 2 đối tượng

Trang 10

●Có thể hai đối tượng trong quan hệ so sánh đối lập:

Anh như chỉ gấm thêu cờ

Em như rau má mọc bờ giếng khơi Hai hình ảnh so sánh này hoàn toàn đối lập với nhau Hình ảnh so sánh với anh thì cao quí, hình ảnh so sánh với em thì dân dã, nhỏ nhoi

Trong cấu trúc so sánh bổ sung này, sự liệt kê, điệp ý có tác dụng nhấn mạnh đặc điểm tương đồng hoặc đối lập của các sự vật, cái này bổ sung cho cái kia mà không cần có sự giải mã hoặc triển khai

b so sánh song hành

- Đây là một kiểu so sánh chìm, giữa hai vế không có từ liên từ “ như”, “ là”, “ như thế”,

Cây rầu thì lá cũng rầu

Anh về anh bỏ mối sầu cho ai

Cây xanh thì lá cũng xanh

Cha mẹ hiền lành để đức cho con

Giữa hai vế(A) (bức tranh thiên nhiên), nêu lên những đặc điểm có tính ổn định mang tính qui luật của thiên nhiên và vế (B) (bức tranh tâm trạng) có nét tương đồng tạo nên một sự so sánh ngầm(nhưng chưa hẳn là ẩn dụ vì chủ thể chưa ẩn đi hoàn toàn) Sự so sánh này làm tăng sức mạnh của lí lẽ được nêu ra, tạo nên sức mạnh của đòn bẩy nghệ thuật

- So với so sánh trực tiếp thì so sánh song hành tạo điều kiện cho sự liên tưởng rộng rãi hơn, kích thích sự phát triển của trí tuệ và tình cảm nhiều hơn

3 Giá trị của việc sử dụng thủ pháp so sánh trong ca dao

- So sánh giúp ta nhận thức sâu sắc hơn phương tiện nào đó của sự vật, hiện tượng Nhờ so sánh mà các khái niệm, đặc điểm, thuộc tính trừu tượng trở nên rõ ràng, dễ hiểu

Thân em như chổi đầu hè

Phòng khi mưa gió đi về chùi chân

Chùi rồi lại vứt ra sân

Gọi người hàng xóm có chân thì chùi

Thân phận con người là khái niệm trừu tượng được cụ thể hoá bởi hình ảnh chổi đầu hè Hình ảnh so sánh giúp cho việc

thể hiện rõ thân phận trôi nổi , bất lực của người phụ nữ trong xã hội xưa

- So sánh là biện pháp tạo hình giúp cho bài ca tăng tính chất tượng hình nghệ thuật

Em như cá lượn đầu cầu

Anh về lấy lưới, người câu mất rồi

Bài cac dao miêu tả một tình huống có ý nghĩa lớn vì nó nói về cái mốc quan trọng trong đời người Nhanh chậm một chút thôi là mất thời cơ trong tình yêu hay những cơ hội khác trong cuộc sống cách diễn đạt của bài ca này giúp cho cách diễn tả vừa cụ thể vừa mang ý nghĩa khái quát, giàu chất thơ

Em như ngọn cỏ phất phơ

Anh như con nghé ngơ ngơ ngoài đồng

Hình ảnh so sánh đã diễn tả một cách tài tình tâm thế cũng như trạng thái của hai đối tượng chàng trai và cô gái trong bài

ca Cô gái ví mình như ngọn cỏ phất phơ trước gió(hẳn phải là ngọn cỏ non tơ đầy sức sống nên mới phất phơ), thế mà

chàng trai vô tâm cứ như con nghé ngu ngơ không để ý đến, không biết gì đến ngọn cỏ trong tầm tay với, mà ngọn cỏ thì

dường như chào mời Cả một không gian rộng lớn ngoài đồng nào ai ngăn cấm chỉ tự anh quá vô tâm trước tình em Như

vậy khó có câu thơ nào vừa cô đọng vừa tạo hình như thế

II ẨN DỤ

1 Khái niệm: Ẩn dụ là phương thức tu từ dựa trên cơ sở đồng nhất hai hiện tượng tương tự, thể hiện cái này qua cái khác mà bản thân cái được nói đến thì được ẩn đi một cách kín đáo

2 Ý nghĩa của ẩn dụ trong ca dao

a Ý nghĩa nhận thức.

- Biện pháp ẩn dụ đưa đến cho ta một nhận thức mới, một lối tư duy mới về sự vật

Tiếc thay hạt gạo tám xoan Thổi nồi đồng điếu lại chan nước cà

Ở đây trong nghĩa hiển ngôn ta tiếp nhận được đặc điểm và suy ra mối quan hệ giữa gạo tám xoan, nồi đồng(những thứ đáng giá) với nước cà(là thứ vô giá trị) là mối quan hệ khập khiễng không tương xứng, từ nhận thức về mối quan hệ giữa

các sự vật ấy giúp người tiếp nhận liên tưởng về những sự khập khiễng trong cuộc đời, về những sự vô tâm, vô tình, hờ hững của những mối quan hệ giữa con người

Như vậy rõ ràng ẩn dụ đã tạo ra một lối tư duy mới cả về phương diện miêu tả sự vật cụ thể lẫn những khái niệm trừu tượng, không định hình, khó đong đếm.

Ngày đăng: 21/06/2016, 06:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w