Vật chứng thu được gồm : 01 chiếc xe moto nhãn hiệu HONDAAIRBLADE, BKS : 14P98792 ; 01 chiếc xe moto nhãn hiệu ROONEY màu nâu (không đeo biển số) ; 02 chiếc vé gửi xe sô 95 và 113 do bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh phát hành. Tại cơ quan điều tra, Lê Văn Ban đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên. Hội đồng định giá tài sản thành phố Hạ Long cũng đã tiến hành định giá, và kết luận: chiếc xe moto HONDAAIRBLADE, BKS : 14P98792 của chị Dương Thúy Nga trị giá 32.000.000 đ (ba mưoi hai triệu đồng Việt Nam). • Ngày 15 thánh 03 năm 2010, Tòa án sơ thẩm thành phố Hạ Long đã tuyên bị cáo Lê Văn Ban phạm tội Trộm cắp tài sản,quy định tại Khoản 1 Điều 138 BLHS 1999 (2009), áp dụng điểm p, h, g khoản 1; khoản 2 Điều 46 ; khoản 1, khoản 2 Điều 60 BLHS 1999 (2009), xử phạt Lê Văn Ban 18 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 34 tháng 28 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. 2.PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ VỤ ÁN THEO HỒ SƠ ĐƯỢC GIAO: 2.1.Đánh giá về hồ sơ vụ án: • Hồ sơ thể hiện đầy đủ các tài liệu cơ bản, quan trọng như: quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, Kết luận điều tra của cơ quan điều tra, quyết định truy tố của Viện kiểm sát, Bản án của Tòa án… • Hồ sơ vụ án có hơn 80 tài liệu liên quan, được đánh số bút lục từ 1 đến 77 (Hồ sơ do Cơ quan điều tra lập, bàn giao cho Viện kiểm sát) , sau đấy các tài liệu từ 78 82 (tài liệu Viện kiểm sát bổ sung vào hồ sơ ban đầu, bàn giao cho Tòa án) trở đi được đính kèm vào hồ sơ nhưng bị gián đoạn, không được đánh số cụ thể, tồn tại những trường hợp thống kê hồ sơ vụ án không đúng như bút lục được đánh dấu. • Cần phải bố sung những tài liệu sau: Quyết định xử lý vật chứng , Danh sách những người cần triệu tập đến phiên tòa, quyết định đưa vụ án ra xét xử. 2.2. Đánh giá về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong hồ sơ vụ án: • Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng: + Cơ quan cảnh sát điều tra thành phố Hạ Long; + Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long; + Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long. • Người tiến hành tố tụng: + Thượng tá Phí Văn Minh Thủ trưởng cơ quan cảnh sát điều tra thành phố Hạ Long ; ông Lê Tiến Dũng, Nguyễn Văn Đức –Phó thủ trưởng cơ quan cảnh sát điều tra thành phố Hạ Long ; ông Nguyễn Duy Dụng Điều tra viên . + Ông Bùi Văn KhaViện trưởng viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long; Bà Lưu Thị Hiền Lương Phó viện trưởng viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long; Trần Xuân Giới kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra , truy tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa. + Chánh án, Phó Chánh án tòa án nhân dân thành phố Hạ Long (không thể hiện trong hồ sơ vụ án) ; Bà Nguyễn Thị Giang Thanh –Thẩm phán ; Ông Đoàn Hải Yến , Đào Đức Nghĩa –Hội thẩm nhân dân, Bà Nguyễn Thị Hà Hoa thư ký phiên tòa. • Người tham gia tố tụng: + Bị can, bị cáo : Lê Văn Ban; + Người bị hại : Dương Thúy Nga; + Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Lê Văn Tần; Lê Thị Lan + Người làm chứng: Vũ Việt Hưng; Về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đúng theo quy định tại Điều 33, 49, 50, 51, 54, 55, 60 BLTTHS 2003. Tuy nhiên, một số chức danh tố tụng không được thể hiện trong hồ sơ vụ án như: Chánh án, Phó Chánh án tòa án nhân dân thành phố Hạ Long. . So với BLTTHS 2003, BLTTHS 2015 có quy định mở rộng diện người tiến hành tố tụng , bao gồm các chức danh : Cán bộ điều tra, Kiểm tra viên, Thẩm
Trang 1A- MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh kinh tế , xã hội ngày càng phát triển và hội nhập như hiện nay có rất nhiều vấn đề được đặt ra về sự xung đột pháp luật giữa các quốc gia Ở mỗi nơi có một điều kiện tự nhiên và xã hội khác nhau nhưng ngày nay với xu thế hòa nhập các sự khác biệt ấy va chạm với nhau dẫn đến những xung đột là không thể tránh khỏi và pháp luật cũng là một trong những vấn đề có những mâu thuẫn ,xung đột đó
Pháp luật về thừa kế ở bất cứ quốc gia nào cũng đều hết sức được quan tâm Vấn đề thừa kế liên quan tới xác định quyền sở hữu của những người được chỉ định trong di chúc hoặc thuộc hàng thừa kế đối với di sản mà người chết để lại Giải quyết vấn đề thừa kế theo pháp luật của một quốc gia nhất định đã hết sức phức tạp và khó khăn Ngày nay với xu thế hội nhập sự phức tạp và khó khăn trong việc giải quyết thừa kế theo pháp luật càng tăng lên gấp nhiều lần
Vì vậy các quốc gia đã cùng nhau ký các hiệp định tương trợ tư pháp để giải quyết vấn đề này Và trong xu hướng hội nhập quốc tế, Việt Nam đã kí kết rất nhiều các hiệp định tương trợ tư pháp về vấn đề dân sự với các nước để có căn
cứ pháp lý giải quyết các xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam cũng như bảo đảm quyền lợi cho công dân các nước kí kết hiệp định
Vậy cụ thể, liên quan tới thừa kế có yếu tố nước ngoài có những vấn đề gì? pháp luật Việt Nam cũng như các hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam
đã ký kết quy định việc giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế như thế nào? Những nguyên tắc nào được áp dụng để giải quyết? Liệu quy định hiện hành đã thực sự hợp lý hay chưa và có cần phải sửa đổi? Để trả lời những câu hỏi đó, em
xin lựa chọn phân tích đề bài: “Anh chị hãy phân tích và bình luận về cơ sở pháp lý để giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo quy định của pháp luật
VN và các điều ước quốc tế mà VN là thành viên và đưa ra phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam”.
Trang 2B- NỘI DUNG
I- Những vấn đề lý luận chung về quan hệ thừa kế
* Thừa kế
Theo quan niệm truyền thống “thừa kế” được hiểu là việc người đang còn sống thừa hưởng tài sản của người đã qua đời.Việc thừa kế chỉ được thực hiện khi người có tài sản chết
Thừa kế với nghĩa là một quan hệ pháp luật dân sự được hiểu là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho những người còn sống theo di chúc hoặc theo pháp luật
Thừa kế là một quyền cơ bản của mỗi công dân Điều 631 Bộ luật Dân sự
2005 quy định: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình;
để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật” Như vậy thừa kế vừa là quyền của người để lại di
sản, đồng thời vừa là quyền của những người thuộc đối tượng được hưởng di sản thừa kế Quyền này cũng được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015 tại điều 609
với nội dung không đổi, tuy nhiên có quy định cụ thể hơn đó là “người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản thừa kế theo di chúc” như vậy đã giới
hạn lại cụ thể đối với người thừa kế là pháp nhân thì chỉ được hưởng di sản thừa
kế theo di chúc, tức là theo sự định đoạt của người để lại di chúc mà không được hưởng theo pháp luật trong trường hợp không có di chúc
* Thừa kế theo di chúc
Thừa kế theo di chúc có thể được hiểu là việc cũng như quyền của những người (cá nhân, cơ quan, tổ chức) được người để lại di sản thừa kế chỉ định cụ thể trong bản di chúc mà người đó lập được hưởng những di sản nhất định mà người đó để lại Điều 646 Luật dân sự 2005 cũng như điều 624 Luật dân sự 2015
đều quy định: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.
* Thừa kế theo pháp luật
Trang 3Điều 674 Bộ luật dân sự 2005 cũng như điều 649 Bộ luật dân sự 2015 đều
quy định: “Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế điều kiện và trình tự do pháp luật quy định” Thừa kế theo pháp luật được đặt ra trường
trường hợp không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp Trong thừa kế theo pháp luật, người được hưởng thừa kế, điều kiện, trình tự hưởng thừa kế đều có pháp luật quy định, hay nói cách khác, thừa kế theo pháp luật là thừa kế trên cơ
sở can thiệp của Nhà nước thông qua pháp luật về thừa kế
* Quan hệ pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài
Là quan hệ pháp luật về thừa kế ít nhất phải có 1 trong 3 yếu tố sau để được xác định là có yếu tố nước ngoài:
- Về mặt chủ thế: Người để lại di sản phải là cá nhân nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài.Người thừa kế có thể là cá nhân nước ngoài,người VIệt Nam định cư ở nước ngoài,cơ quan tổ chức Việt Nam hay nước ngoài
- Căn cứ xác lập,thay đổi chấm dứt quan hệ thừa kế xảy ra ở nước ngoài hoặc theo pháp luật nước ngoài
- Di sản thừa kế :đang tồn tại ở nước ngoài
* Xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài
Khi điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài,bao giờ cũng xuất hiện một tình huống mà người ta gọi là xung đột pháp luật.Tức là,một quan
hệ pháp luật có thể chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật khác nhau Xung đột pháp luật về thừa kế là hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng có thể áp dụng để điều chỉnh một quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài trong tư pháp quốc tế
II- Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài
Một trong những nội dung quan trọng là Bộ luật dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có những quy định nguyên tắc chung áp dụng điều ước quốc tế và pháp luật nước ngoài đối với các quan hệ dân sự có yếu tố nước
Trang 4ngoài, trong đó có các quan hệ về thừa kế có yếu tố nước ngoài Điều 759 Bộ luật dân sự 2005 quy định:
“1 Các quy định của pháp luật dân sự Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác.
2 Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là thành viên có quy định khác với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.
3 Trong trường hợp Bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật của nước đó được áp dụng, nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc
áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trường hợp pháp luật nước đó dẫn chiếu trở lại pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì áp dụng pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Pháp luật nước ngoài cũng được áp dụng trong trường hợp các bên có thoả thuận trong hợp đồng, nếu sự thoả thuận đó không trái với quy định của Bộ luật này và các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
4 Trong trường hợp quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không được Bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc hợp đồng dân sự giữa các bên điều chỉnh thì áp dụng tập quán quốc tế, nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Quy định này vẫn được đặt ra như một nguyên tắc chung trong Bộ luật dân sự 2015 và được cụ thể hóa trong Điều 664 về xác định pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, Điều 665 về áp dụng điều ước quốc tế đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, Điều 666 về áp dụng tập quán quốc tế, Điều 667 về áp dụng pháp luật nước ngoài và Điều 668 về phạm
Trang 5vi pháp luật được dẫn chiếu đến Về cơ bản, tinh thần của điều 759 bộ luật dân
sự 2005 vẫn được giữ nguyên
1 Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
Hiện nay ở Việt Nam, quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài được quy định trong Bộ luật Dân sự 2005 và Nghị định số 138/NĐ-CP, trong thời gian tới
sẽ được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự 2015 cùng với các văn bản kèm theo Theo các văn bản trên, quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài được giải quyết theo các quy phạm xung đột
1.1 Thừa kế theo di chúc
Liên quan tới thừa kế theo di chúc, pháp luật Việt Nam giải quyết hai vấn
đề đó là năng lực hành vi lập di chúc và hình thức của di chúc
Về năng lực hành vi lập di chúc, việc lập, thay đổi và hủy bỏ di chúc phải
tuân theo pháp luật của nước mà người lập di chúc là công dân Cụ thể, khoản 1 Điều 768 Bộ luật dân sự 2005, khoản 1 Điều 681 Bộ luật dân sự 2015 quy định:
“Năng lực lập di chúc, thay đổi và huỷ bỏ di chúc phải tuân theo pháp luật của nước mà người lập di chúc là công dân”.
Về hình thức của di chúc, Khoản 2 Điều 768 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Hình thức của di chúc phải tuân theo pháp luật của nước nơi lập di chúc” Khoản 2 Điều 681 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Hình thức của di chúc được xác định theo pháp luật của nước nơi di chúc được lập Hình thức của di chúc cũng được công nhận tại Việt Nam nếu phù hợp với pháp luật của một trong các nước sau đây: a) Nước nơi người lập di chúc cư trú tại thời điểm lập di chúc hoặc tại thời điểm người lập di chúc chết; b) Nước nơi người lập di chúc có quốc tịch tại thời điểm lập di chúc hoặc tại thời điểm người lập di chúc chết; c) Nước nơi có bất động sản nếu di sản thừa kế là bất động sản” Như vậy
đã đặt ra những quy định cụ thể hơn, nếu như di chúc không được lập ở Việt Nam nhưng phù hợp với hình thức di chúc theo quy định của pháp luật nước nơi người lập di chúc cư trú tại thời điểm lập di chúc hoặc thời điểm người lập di
Trang 6chúc chết hoặc pháp luật nước nơi người lập di chúc có quốc tịch tại thời điểm lập di chúc hoặc chết hoặc pháp luật nước nơi có di sản là bất động sản thì pháp luật Việt Nam vẫn công nhận hình thức di chúc là hợp pháp
Ví dụ, anh A là người nước B đang sinh sống tại Việt Nam Theo quy định của pháp luật nước B thì hình thức di chúc chỉ có thể lập bằng hình thức văn bản Trong thời gian anh A sinh sống tại Việt Nam, A mắc bệnh nặng nên
đã lập di chúc để lại tài sản cho vợ và các con anh đang sinh sống ở nước B, tuy nhiên do bệnh nặng A không thể lập di chúc bằng văn bản mà đã lập di chúc miệng tại bệnh viện có sự làm chứng của hai người, sau đó 2 ngày thì A qua đời Như vậy di chúc miệng của anh A vẫn có hiệu lực pháp luật vì A lập di chúc tại Việt Nam và theo quy định của khoản 2 điều 768 luật dân sự 2005 nêu trên thì hình thức di chúc tuân theo pháp luật của nước nơi lập di chúc mặc dù quy định của nước B không thừa nhận hình thức di chúc miệng
1.2 Thừa kế theo pháp luật
Các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này dựa trên nguyên tắc phân chia di sản thừa kế để giải quyết xung đột pháp luật trong quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài Khoản 1, 2 điều 767 Bộ luật dân sự 2005
cũng như khoản 1, 2 điều 680 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “1 Thừa kế theo pháp luật phải tuân theo pháp luật của nước mà người đẻ lại di sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết”; “2 Quyền thừa kế đối với bất động sản phải tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản”
Như vậy theo khoản 1 nêu trên, đối với xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài liên quan tới di sản thừa kế là động sản, tư pháp quốc tế Việt Nam áp dụng hệ thuộc luật quốc tịch để giải quyết Điều này có nghĩa là luật áp dụng đối với quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài mà di sản để lại thừa kế là động sản là luật của nước mà người để lại di sản có quốc tịch trước khi chết Pháp luật Việt Nam sẽ áp dụng đối với các quan hệ thừa kế mà công dân Việt Nam là người để lại di sản thừa kế là động sản bất kể quan hệ này xảy
ra ở đâu và di sản đang hiện diện ở nước nào Pháp luật Việt Nam sẽ không
Trang 7được áp dụng khi người nước ngoài để lại di sản để là động sản hiện diện trên lãnh thổ Việt Nam và quan hệ thừa kế xảy ra tại Việt Nam
Đối với trường hợp người để lại di sản thừa kế không quốc tịch hoặc có nhiều quốc tịch thì sẽ áp dụng quy phạm xung đột đối với người nước ngoài có
hai hay nhiều quốc tịch tại điều 760 bộ luật dân sự 2005: “Trong trường hợp Bộ luật này hoặc các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật của nước mà người nước ngoài là công dân thì pháp luật áp dụng đối với người nước ngoài có hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài là pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự; nếu người đó không cư trú tại một trong các nước mà người đó có quốc tịch thì áp dụng pháp luật của nước mà người đó
có quốc tịch và có quan hệ gắn bó nhất về quyền và nghĩa vụ công dân”.
Theo khoản 2 nêu trên, Đối với thừa kế theo pháp luật mà di sản thừa kế
là bất động sản, tư pháp quốc tế Việt Nam áp dụng hệ thuộc luật nơi có vật để giải quyết xung đột Điều này có nghĩa là pháp luật Việt Nam sẽ được áp dụng khi công dân nước ngoài để lại di sản thừa kế là bất động sản hiện diện trên lãnh thổ Việt Nam và ngược lại công dân Việt Nam để lại di sản thừa kế là bất động sản ở nước ngoài thì pháp luật Việt Nam không có cơ hội áp dụng nếu bất động sản không hiện diện ở Việt Nam
2 Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký hơn 15 hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự, hôn nhân - gia đình và hình sự với các nước, vùng lãnh thổ: Đức, Nga, Séc, Cu Ba, Hungari, Ba Lan, Lào, Triều Tiên, Trung Quốc, Đài Loan, Ấn Độ, Anh,…
Nguyên tắc chỉ đạo trong vấn đề thừa kế được ghi nhận trong các hiệp định này là nguyên tắc bình đẳng giữa công dân các bên trong quan hệ thừa kế Nguyên tắc này biểu hiện cụ thể như sau: công dân nước ký kết này bình đẳng với công dân nước ký kết kia trong việc lập hoặc hủy bỏ di chúc đối với tài sản
Trang 8đang có và các quyền cần thực hiện ở nước ký kết kia, cũng như về khả năng được nhận tài sản hoặc các quyền theo cùng những điều kiện mà nước ký kết kia dành cho công dân nước mình…
Trong các hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam ký kết với các nước đó ghi nhận các quy phạm xung đột và quy phạm thực chất để điều chỉnh quan hệ thừa kế phát sinh giữa công dân hai nước ký kết
2.1 Thừa kế theo di chúc
Các hiệp định ghi nhận các nguyên tắc cơ bản:
Thứ nhất, về hình thức di chúc Di chúc của công dân một nước ký kết
được coi là có giá trị về mặt hình thức nếu nó phù hợp với pháp luật của nước ký kết mà người để lại di chúc là công dân vào thời điểm lập di chúc hoặc vào thời điểm người ấy chết và pháp luật của nước ký kết nơi lập di chúc
Nguyên tắc này được ghi nhận tại khoản 1, khoản 2 Điều 45 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam –Hungari 18/01/1985 về các vấn đề dân sự, gia đình
và hình sự quy định:
“1 Di chúc của công dân một nước ký kết được coi là có giá trị về mặt hình thức nếu phù hợp với:
a) Pháp luật của nước ký kết nơi lập di chúc, hoặc
b) Pháp luật của nước ký kết mà người để lại di sản là công dân vào thời điểm lập di chúc hoặc thời điểm người ấy chết, hoặc
c) Pháp luật của nước ký kết nơi mà vào một trong các thời điểm nói ở điểm b, người để lại di sản thường trú hoặc tạm trú.
2 Những quy định nói ở khoản 1 điều này cũng áp dụng đối với việc hủy bỏ di chúc”.
Khoản 2 điều 44 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam – Bê La Rút 14/09/2000 về pháp lý về các vấn đề dân sự, gia đình, lao động và hình sự quy định:
Trang 9“Hình thức lập hoặc hủy bỏ di chúc được xác định theo pháp luật của Bên ký kết mà người để lại thừa kế là công dân vào thời điểm lập hoặc hủy bỏ di chúc Tuy nhiên, việc tuân theo pháp luật của Bên ký kết nơi lập hoặc hủy bỏ di chúc cũng được coi là hợp thức”.
Ngoài ra khoản 2 điều 35 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam – Bungari 03/10/1986 về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự quy định:
“Hình thức lập hoặc hủy bỏ di chúc được xác định theo pháp luật của nước ký kết mà người để lại di chúc là công dân khi lập hoặc hủy bỏ di chúc Việc lập hoặc hủy bỏ di chúc cũng có giá trị, nếu tuân theo pháp luật về hình thức di chúc của nước ký kết nơi lập hoặc huỷ bỏ di chúc”.
Như vậy để giải quyết xung đột pháp luật về hình thức di chúc, các hệ thuộc luật nơi lập di chúc, hệ thuộc luật quốc tịch, hệ thuộc luật nơi cư trú được
áp dụng Với những quy định này, pháp luật Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội được
áp dụng hơn
Thứ hai, về năng lực lập và hủy bỏ di chúc Khi giải quyết vấn đề này, các
hiệp định áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch, cụ thể là năng lực lập hoặc hủy bỏ
di chúc và hậu quả pháp lý của những thiếu sót về sự thể hiện ý chí của người để lại di chúc được xác định theo pháp luật của nước ký kết mà người để lại di chúc
là công dân khi lập hoặc hủy bỏ di chúc
Khoản 3 Điều 45 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam – Hungari 18/01/1985 về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự, khoản 3 Điều 38 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam - Lào về dân sự và hình sự đều có quy định:
“Về việc xác định năng lực lập hoặc hủy bỏ di chúc sẽ áp dụng pháp luật của nước ký kết mà người để lại di sản là công dân vào thời điểm lập hoặc hủy
bỏ di chúc”.
Khoản 1 Điều 37 Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý Việt Nam – Liên
Xô (Nga kế thừa) 10/12/1981 về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự quy định:
“Năng lực lập hoặc hủy bỏ di chúc và hậu quả pháp lý của những người khuyết nhược điểm về thể hiện ý chí của người để lại di chúc được xác định theo
Trang 10pháp luật của nước ký kết mà người để lại di chúc là công dân khi lập hoặc hủy
bỏ di chúc”.
Khoản 1 Điều 36 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam – Ucraina 19/8/2002 về các vấn đề dân sự và hình sự quy định:
“Năng lực lập hoặc hủy bỏ di chúc cũng như hậu quả pháp lý của những khiếm khuyết về thể hiện ý chí của một người, việc tuyên bố người đã lập hoặc hủy bỏ di chúc mất năng lực hành vi được xác định theo pháp luật của bên ký kết mà người để lại thừa kế là công dân”
Qua các quy định trên có thể thấy, mặc dù trong các Hiệp định cách thức quy định câu chữ khác nhau nhưng trên tinh thần chung việc giải quyết xung đột pháp luật về năng lực lập và hủy bỏ di chúc đều áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch để giải quyết
2.2 Thừa kế theo pháp luật
Liên quan tới vấn đề thừa kế theo pháp luật, các hiệp định điều chỉnh ba vấn đề liên quan đến quan hệ thừa kế, đó là:
Thứ nhất, xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong thừa kế Trong
các hiệp định này, dấu hiệu quốc tịch của người để lại di sản và dấu hiệu nơi có tài sản thừa kế được áp dụng để xác định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp
về thừa kế
Các dấu hiệu này được ghi nhận tại:
- Điều 37 Hiệp định tương trợ tư pháp với Cu Ba 30/11/1984:
“1 Thẩm quyền giải quyết về thừa kế động sản, trừ trường hợp nói ở khoản 3 điều này, thuộc về cơ quan tư pháp của nước ký kết mà người có tài sản thừa kế là công dân khi chết.
2 Thẩm quyền giải quyết về thừa kế bất động sản thuộc cơ quan tư pháp của nước ký kết, nơi có bất động sản.
3 Trong trường hợp toàn bộ động sản thừa kế của công dân nước ký kết này sau khi chết để lại trên lãnh thổ nước ký kết kia, thì cơ quan tư pháp của nước