Bị đơn – Công ty TNHH Đông Đô Thành trình bày yêu cầu và cung cấp các chứng cứ sau: Không chấp nhận yêu cầu của Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất; Xác nhận cùng Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất ký
Trang 1Mục lục
Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất yêu cầu hủy hợp đồng mua bán xe ôtô và buộc Công ty TNHH Đông Đô Thành phải hoàn trả lại tiền, bồi thường thiệt hại (09:27 - 19/05/2008)
Khởi kiện do vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng mua bán hàng thuỷ sản (09:52 - 19/05/2008)
Công ty thương mại và du lịch Tỉnh Đắc Nông (gọi tắt là Công ty Đắk Nông) và Công ty Thực phẩm Miền Bắc (Trung tâm kinh doanh XNK Cà Phê) tranh chấp hợp đồng mua bán cà phê (09:21 - 21/04/2008)
Công ty CP truyền thông Tam Giác Vàng khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH SX truyền thông ý tưởng Việt Nam phải thanh toán số nợ và phạt vi phạm hợp đồng (09:08 - 23/04/2008)
Công ty TNHH Quảng Cáo Việt Mai kiện Công ty TNHH Thực phẩm và nước giải khát A&B, Sơ thẩm, TAND TPHCM, 2006 (10:43 - 24/09/2007)
Công ty TNHH Trực Tiếp kiện Công ty TNHH Rồng Thái Bình Dương, Sơ thẩm TAND TPHCM, 2006 (10:43 - 24/09/2007)
Công ty Saigon Ve Wong, LTD yêu cầu bà Trần Tú Liên – Chủ DNTN Liên
Thành thanh toán nợ về việc làm đại lý tiêu thụ sản phẩm hiệu A-one (09:47 - 12/02/2008)
Chủ hộ kinh doanh cá thể – Nhà phân phối Phước Hiệp khởi kiện Công ty TNHH TM-SX Khiêm Tín về hợp đồng phân phối các sản phẩm thương hiệu Hugobui (08:09 - 13/05/2008)
Doanh nghiệp tư nhân Thái Mai kiện Công ty TNHH Xăng dầu 222 (11:32 -
Trang 2Công ty cho thuê tài chính quốc tế Việt Nam (VILC) kien Công ty TNHH giày thời trang P.L.T (17:40 - 10/02/2008)
Chủ DNTN Trường Minh Nghĩa kiện Công ty TNHH Đenta Sàigòn về hợp đồng thuê tài sản là máy cẩu hiệu Kota (11:03 - 14/02/2008)
Tranh chấp hợp đồng tư vấn và lập dự án đầu tư thiết kế quy hoạch khu nhà ở (16:19 - 21/04/2008)
Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất yêu cầu hủy hợp đồng mua bán xe ôtô và buộc
Trang 3Công ty TNHH Đông Đô Thành phải hoàn trả lại tiền, bồi thường thiệt hại (09:27 - 19/05/2008)
Hội đồng xét xử nhận định Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất đã khiếu nại Công ty
TNHH Đông Đô Thành về việc giao hàng không đúng với quy định về quy cách quy định tại Hợp đồng 009/HDMB/DDT ngày 2/8/2006 là có căn cứ
Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất yêu cầu hủy hợp đồng mua bán xe ôtô và buộc Công ty TNHH Đông Đô Thành phải hoàn trả 210.559.000 đồng tương đương 13.000 USD; buộc Công ty TNHH Đông Đô Thành bồi thường thiệt hại do không
thực hiện nghĩa vụ hòan trả tiền đã nhận cho Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất là 18.088.000 đồng, tổng cộng là 228.639.000 đồng, là có căn cứ pháp luật và
được chấp nhận
Bản án số: 1743/2007/KDTM-ST Ngày: 20/9/2007 Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
Ngày 20 tháng 9 năm 2007, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, theo “ Quyết định đưa vụ án ra xét xử” số 39/QĐXX, ngày 6 tháng 9 năm 2007, mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán”, giữa :
Nguyên đơn: CÔNG TY TNHH CƠ KHÍ SÓI ĐẤT
Địa chỉ: 21B Lê Văn Chí, phường Linh Trung, quận Thủ Đức, Tp HC M;
Do Bà Nguyễn Thị Minh Huyền, đại diên theo Giấy ủy quyền của giám đốc Công
ty số 19/UQ, ngày 6/6/2007
Bị đơn: CÔNG TY TNHH ĐÔNG ĐÔ THÀNH
Địa chỉ: 655 Xa lộ Hà Nội, phường Thảo Điền, quận 2, Tp HCM
Do ông Nguyễn Tấn Trung đại diện theo Giấy ủy quyền của Chủ tịch HĐQT Công
ty, số 07/UQ.ĐĐT/07, ngày 11/6/2007
NHẬN THẤY
Nguyên đơn – Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất trình bày yêu cầu và cung cấp các
Trang 4chứng cứ sau:
Ngày 2/8/2006, Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất ký hợp đồng mua bán số
009/HDMB/DDT với Công ty TNHH Đông Đô Thành mua 1 chiếc xe ôtô lọai
Matiz Se Color 5 chỗ, mới 100%, đựợc lắp ráp tại Việt Nam năm 2006; màu bạc; giá 13.250 USD; thời gian giao xe ngày 4/8/2006
Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất thanh tóan cho Công ty TNHH Đông Đô Thành là 13.000 USD vào ngày 2.8 và ngày 3.8 năm 2006; và Ủy quyền cho Công ty TNHH Đông Đô Thành thực hiện thủ tục đăng ký lưu hành khi chưa nhận, kiểm tra xe.
Đến ngày 8/8/2006, Công ty TNHH Đông Đô Thành thực hiện giao xe cho Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất Nhưng xe giao không đúng với quy cách, quy định trong
hợp đồng Cụ thể là: xe ôtô Công ty TNHH Đông Đô Thành giao là xe ôtô được lắp
ráp tại Việt Nam năm 2005 Năm lắp ráp là 2005, đã được nhà sản xuất công ty
Daewoo Việt Nam xác nhận Và chất lựơng xe cũng không tốt, như có nhiều vết
han rỉ, sơn bị phồng rộp nhiều chỗ Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất từ chối nhận xe
và có khiếu nại yêu cầu Công ty TNHH Đông Đô Thành giao xe theo đúng hợp
đồng là lọai được lắp ráp tại Việt Nam năm 2006 Nhưng Công ty TNHH Đông Đô
Thành không giải quyết khiếu nại trên của Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất Ngày
8/9/2006, Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất có văn bản số 139/CV-AA gởi Công ty TNHH Đông Đô Thành thông báo hủy bỏ Hợp đồng, yêu cầu Công ty TNHH Đông
Đô Thành trả lại số tiền 13.000 USD nhưng Công ty TNHH Đông Đô Thành không đáp ứng yêu cầu của Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất
Ngày 16/4/2007, Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất khởi kiện Công ty TNHH Đông
Đô Thành và điều chỉnh tại phiên tòa yêu cầu:
1 Hủy bỏ hợp đồng mua bán số 009/HDMB/DDT, ngày 2/8/2006 giữa Công ty
TNHH Đông Đô Thành với Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất ;
2 Buộc Công ty TNHH Đông Đô Thành trả 210.551.000 đồng tương đương 13.000 USD ( theo tỷ giá ngày 20/9/2007 là 16.195đ/usd);
3 Buộc Công ty TNHH Đông Đô Thành bồi thường thiệt hại, do không thực hiện nghĩa vụ hòan trả số tiền đã nhận cho Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất tính từ ngày 8/9/2006 tới ngày 20/9/2007 là 18.088.000 đồng (tính theo mức lãi suất Ngân hàng Nhà nước công bố là 8,25% / năm)
Trang 5Tổng cộng hai khỏan là: 228.639.000 đồng.
Ngòai ra Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất không còn yêu cầu gì khác.
Bị đơn – Công ty TNHH Đông Đô Thành trình bày yêu cầu và cung cấp các chứng
cứ sau:
Không chấp nhận yêu cầu của Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất;
Xác nhận cùng Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất ký hợp đồng mua bán xe 1 xe ôtô có nội dung như trên; và đã nhận đủ 13.000USD (bằng tiền đồng VN tương đương) Ngày 8/8/2006, đã giao xe cho Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất, nhưng Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất không nhận Công ty TNHH Đông Đô Thành giao chậm xe
là do Nhà sản xuất và được Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất đồng ý Công ty TNHH
Cơ khí Sói Đất đã kiểm tra xe trước khi ủy quyền cho Công ty TNHH Đông Đô
Thành hòan tất các thủ tục đăng ký lưu hành Nhưng khi giao xe, Công ty TNHH
Cơ khí Sói Đất không nhận làm thiệt hại cho Công ty TNHH Đông Đô Thành
Nay Công ty TNHH Đông Đô Thành có yêu cầu phản tố sau:
- Buộc Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất nhận chiếc xe trên;
- Trả tiền mua xe còn thiếu là 250 USD;
Trang 6-Sau khi thẩm tra các yêu cầu của đương sự và xem xét chứng cứ tại phiên tòa;-Sau khi HĐXX thảo luận và nghị án
XÉT THẤY
Xét hình thức Hợp đồng mua bán số 009/HDMB/DDT ngày 2/8/2006, giữa Công ty
TNHH Cơ khí Sói Đất với Công ty TNHH Đông Đô Thành là hai Doanh nghiệp có
đăng ký kinh doanh; và do Phó giám đốc Công ty Đông Đô Thành ký, nhưng đến nay các bên đã tiến hành thực hiện hợp đồng, không yêu cầu vô hiệu hợp đồng, cùng thừa nhận là hợp đồng hợp pháp
Xét nội dung là hợp đồng mua bán xe ôtô, và thanh tóan bằng tiền VNĐ là không vi phạm quy định của pháp luật Nên Hợp đồng mua bán số 009/HDMB/DDT ngày
2/8/2006, giữa Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất với Công ty TNHH Đông Đô Thành
là hợp đồng Thương mại hợp lệ được quy định tại các Điều, khỏan, Mục II về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa của Luật Thương mại 2005
Xét yêu cầu và chứng cứ do Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất nộp:
Theo văn bản không số ngày 25/8/2006 của VIDAMCO, và các bên ký kết hợp đồng đều thừa nhận Công ty TNHH Đông Đô Thành giao xe ôtô theo hợp đồng trên
cho Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất là ôtô Matiz Color, màu ghi, số khung
VVAMMH08055, số máy F8CV375201KA2, là xe mới, sản xuất lắp ráp tại xưởng ngày 9/12/2005 Đây cũng là mẫu xe mới nhất trên thị trường Việt Nam
Như vậy Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất đã khiếu nại, và khởi kiện Công ty TNHH
Đông Đô Thành giao hàng không đúng với quy định về quy cách quy định tại Hợp đồng 009/HDMB/DDT ngày 2/8/2006 là có căn cứ
Công ty TNHH Đông Đô Thành giải thích xe ôtô trên vẫn là sản xuất theo kiểu
dáng, chất lượng của lọai xe sản xuất năm 2006, để từ chối yêu cầu khiếu nại, khởi kiện của Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất là không đúng với nội dung Điều 1 của hợp đồng về qui cách hàng hóa là “ Lắp ráp tại Việt Nam năm 2006”
Công ty TNHH Đông Đô Thành giải thích do Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất đã ký
ủy quyền cho Công ty TNHH Đông Đô Thành làm thủ tục lưu hành, đăng ký là đã chấp nhận xe ôtô trên là không có căn cứ vì: Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất dù đã
ký ủy quyền cho Công ty TNHH Đông Đô Thành làm thủ tục lưu hành, đăng ký,
Trang 7nhưng chưa nhận xe, chưa có biên bản bàn giao, và theo quy định của Pháp luật
ngay cả sau khi nhận xe, trong thời hạn khiếu nại Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất
vẫn còn quyền khiếu nại việc hàng hóa giao không đúng chất lượng quy định của hợp đồng Công ty TNHH Đông Đô Thành nếu đã giao hàng không đúng vẫn phải
có trách nhiệm (khỏan 3 Điều 40 LTM- 2005)
Như vậy, là Công ty TNHH Đông Đô Thành đã vi phạm khỏan 1 Điều 34, khỏan 1 Điều 39 của LTM- 2005, Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất đã có khiếu nại và không nhận hàng nên lỗi vi phạm hòan tòan do Công ty TNHH Đông Đô Thành Công ty
TNHH Đông Đô Thành đã không giải quyết khiếu nại của Công ty TNHH Cơ khí
Sói Đất, và khắc phục sai sót của Công ty theo Điều 41 của LTM-2005 Công ty TNHH Đông Đô Thành phải chịu mọi thiệt hại do việc giao hàng không đúng với hợp đồng ( Điều 303 LTM 2005)
Ngay sau khi kiểm tra xe ôtô do Công ty TNHH Đông Đô Thành giao, Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất đã có khiếu nại về quy cách hàng hóa không đúng, yêu cầu
Công ty TNHH Đông Đô Thành thực hiện giao xe theo đúng hợp đồng là đúng với khỏan 1 Điều 292 LTM-2005, và hủy bỏ hợp đồng mua bán theo khỏan 6 Điều 292, điểm b khỏan 4 Điều 312 LTM-2005 Nên ngày 8/9/2006 Công ty TNHH Cơ khí
Sói Đất có văn bản số 139/CV-AA gởi Công ty TNHH Đông Đô Thành thông báo
hủy bỏ Hợp đồng, yêu cầu Công ty TNHH Đông Đô Thành trả lại số tiền 13.000 USD Nhưng Công ty TNHH Đông Đô Thành không đáp ứng yêu cầu trả lại tiền
của Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất là lỗi của Công ty TNHH Đông Đô Thành Nên
theo quy định tại Điều 306, điểm b khỏan 4 Điều 312, khỏan 2, khoản 3 Điều 314 LTM-2005 Công ty TNHH Đông Đô Thành phải hòan trả và bồi thường thiệt hại cho Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất do chậm trả lại số tiền đã nhận của Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất, theo mức lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố
Vì vậy yêu cầu khiếu nại, khởi kiện của Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất là: Hủy hợp đồng mua bán xe ôtô 009/HDMB/DDt nói trên; và buộc Công ty TNHH Đông Đô Thành trả 210.559.000 đồng tương đương 13.000 USD; buộc Công ty TNHH Đông
Đô Thành bồi thường thiệt hại do không thực hiện nghĩa vụ hòan trả tiền đã nhận cho Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất là 18.088.000 đồng
Tổng cộng hai khỏan là: 228.639.000 đồng
Là có căn cứ pháp luật và được HĐXX chấp nhận
Xét các yêu cầu phản tố của Công ty TNHH Đông Đô Thành là :
Trang 8- Buộc Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất nhận chiếc xe ôtô trên;
- Trả tiền mua xe còn thiếu là 250 USD;
Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất phải trả Công ty TNHH Đông Đô Thành phí lưu giữ
và bảo dưỡng 350.000đ/ tháng, tính đến ngày 20/9/2007 là 4.200.000 đồng
Tổng cộng là 22.222.000 đồng
Như đã phân tích trên, do việc Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất không nhận ôtô do Công ty TNHH Đông Đô Thành giao theo Hợp đồng mua bán 009/HDMB/DDT nói trên; Và Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất không nhận ôtô do Công ty TNHH Đông Đô Thành giao theo Hợp đồng mua bán 009/HDMB/DDT nói trên là hòan
tòan do lỗi giao hàng không đúng hợp đồng của Công ty TNHH Đông Đô Thành
Nên theo Điều 303, khỏan 1 Điều 314 LTM 2005 Công ty TNHH Đông Đô Thành phải hòan tòan chịu trách nhiệm về các thiệt hại do việc hủy bỏ hợp đồng này
Vì vậy, yêu cầu phản tố của Công ty TNHH Đông Đô Thành là không có cơ sở chấp nhận
Án phí dân sự sơ thẩm:
HĐXX chấp nhận yêu cầu của Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất, nên Công ty TNHH
Cơ khí Sói Đất không phải nộp án phí, Công ty TNHH Đông Đô Thành phải nộp là:
Trang 9cộng là: 11.791.000 đồng.
- Căn cứ nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng Điều 238, Điều 243 Bộ Luật tố tụng dân sự - năm 2004;
- Áp dụng khoản 1,2,3 Điều 314, Điều 319 Luật Thương mại - năm 2005;
- Áp dụng khỏan 2 Điều 15, Điều 19 - Nghị Định số: 70/CP, ngày 12/6/1997 của Chính Phủ qui định về lệ phí, án phí tòa án
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất;
Hủy hợp đồng mua bán Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất với Công ty TNHH Đông
Đô Thành số 009/HDMB/DDT ngày 2/8/2006;
Công ty TNHH Đông Đô Thành phải trả lại cho Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất số
tiền là 210.551.000 đồng tương đương 13.000 USD và bồi thường thiệt hại chậm trả là là 18.088.000 đồng, tổng cộng hai khỏan là: 228.639.000 đồng
Không chấp nhận yêu cầu của Công ty TNHH Đông Đô Thành yêu cầu Công ty
TNHH Cơ khí Sói Đất phải trả và bồi thường thiệt hại tổng số tiền 22.222.000 đồng
Kể từ khi Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất có đơn yêu cầu thi hành án, Công ty
TNHH Đông Đô Thành chưa trả các khỏan tiền trên cho Công ty TNHH Cơ khí Sói
Đất, thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời
điểm thi hành án, tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án
Công ty TNHH Đông Đô Thành được đến các cơ quan quản lý Nhà nước để làm
thủ tục điều chỉnh lại giấy chứng nhận sở hữu đối với chiếc xe ôtô Matiz Color 5 chỗ, màu ghi, số khung VVAMMH08055, số máy F8CV375201KA2
Án phí KDTM sơ thẩm: Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất không phải nộp Hòan lại tiền tạm ứng án phí cho Công ty TNHH Cơ khí Sói Đất đã nộp tại Thi hành án dân
sự thành phố Hồ Chí Minh là 4.827.593 đồng, theo biên lai thu số 004921, ngày 11/5/2007
Trang 10Công ty TNHH Đông Đô Thành phải nộp tiền án phí sơ thẩm là 11.791.000 đồng, được trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.058.000 đồng tại Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, theo biên lai thu số 002848, ngày 20/8/2007, còn phải nộp là 10.703.000 đồng.
Án xử sơ thẩm, các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án
Trang 11Khởi kiện do vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng mua bán hàng thuỷ sản (09:52 - 19/05/2008)
Công ty TNHH kinh doanh chế biến thuỷ sản và xuất nhập khẩu Quốc Việt đã giao
đủ hàng cho Công ty Paprimex theo quy định tại Điều 3 của Hợp đồng và Cty Paprimex phải thanh tóan đủ số tiền sau 7 ngày Đến nay Cty Paprimex chưa thanh tóan 114.173.307 đồng tiền hàng cho Cty Quốc Việt là đã vi phạm nghĩa vụ thanh tóan quy định tại khỏan 2 Điều 71, Điều 73 LTM-1997
Bản án số 141/2008/ST-KDTM ngày 25/01/2008
Về việc tranh chấp hợp đồng mua bán
Ngày 25 tháng 01 năm 2008, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, theo “ Quyết định đưa vụ án ra xét xử” số 559 ngày 10 tháng 1 năm 2008, mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán”, giữa :
Nguyên đơn : CÔNG TY TNHH KINH DOANH CHẾ BIẾN THỦY SẢN VÀ XNK QUỐC VIỆT (Cty Quốc Việt)
Địa chỉ : 444 Lý Thường Kiệt, phường 6, Tp Cà Mau, tỉnh Cà Mau
Đại diện: Do ông Huỳnh Tùng Chung, theo Giấy ủy quyền ngày 22/11/2007
Bị đơn : CÔNG TY CP IN BAO BÌ VÀ XNK TỔNG HỢP (PAPRIMEX)
Địa chỉ: 1bis Hòang Diệu, quận 4, Tp.HCM
Đại diện: Do bà Huỳnh Thị Thanh Hương, theo giấy ủy quyền số 2 ngày 23/11/2007;
NHẬN THẤY
Nguyên đơn – CÔNG TY TNHH KINH DOANH CHẾ BIẾN THỦY SẢN VÀ XNK QUỐC VIỆT (sau đây gọi tắt là Cty Quốc Việt) trình bày yêu cầu và giao nộp các tài liệu chứng cứ sau:
Trang 12Ngày 10/5/2005, Cty Quốc Việt ký hợp đồng số 16/IBBXNKTH và 18/IBBXNKTH với CÔNG TY IN BAO BÌ XNK TỔNG HỢP (gọi tắt là công ty Paprimex), bán hàng thủy sản đông lạnh, trị giá toàn bộ hai hợp đồng là: 164.173.307 đồng Công ty Quốc Việt giao đủ hàng Công ty Paprimex đã trả được 50.000.000 đồng, còn nợ lại là 114.173.307 đồng Ngày 6/4/2007, hai bên có lập
“Bản đối chiếu công nợ” xác nhận số tiền còn nợ là 114.173.307 đồng Nay Công
ty Quốc Việt khởi kiện Paprimex tại Tòa án yêu cầu:
Công ty Paprimex phải trả 148.288.291 đồng gồm:
- Nợ gốc là: 114.173.307 đồng;
- Lãi phát sinh do chậm trả tạm tính từ 1/8/2005 đến 1/8/2007 là:
114.173.307 đồng x 0,83% x 150% x 24 tháng = 34.114.984 đồng.
Thời hạn trả ngay khi bản án có hiệu lực
Bị đơn – Cty Paprimex trình bày: Xác nhận nội dung hợp đồng số 16/IBBXNKTH
và 18/IBBXNKTH và việc thực hiện hợp đồng với Cty Quốc Việt đúng như Cty Quốc Việt trình bày Đến nay, Cty Paprimex còn nợ Cty Quốc Việt tiền hàng là 114.173.307 đồng Do Cty Paprimex hiện còn nhiều khó khăn, nên đề nghị Cty Quốc Việt giảm nợ 15.000.000 đồng và không đồng ý trả lãi, thời hạn trả từ 5/12/2007 đến 30/1/2008 Nay tại phiên tòa, công ty Paprimex đề nghị được trả vốn
là 114.173.307 đồng, không phải trả lãi, trả chậm nhiều đợt từ khi án có hiệu lực, mỗi tháng trả 10.000.000 đồng
Công ty Quốc Việt không đồng ý đề nghị của công ty Paprimex
-Sau khi thẩm tra các yêu cầu của đương sự và xem xét chứng cứ tại phiên tòa;-Sau khi HĐXX thảo luận và nghị án;
XÉT THẤY
Công ty Quốc Việt khởi kiện Công ty Paprimex có địa chỉ tại Thành phố HCM, vi phạm nghĩa vụ thanh tóan hai hợp đồng số 16/IBBXNKTH và 18/IBBXNKTH, là tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại giữa hai doanh nghiệp có mục đích lợi
Trang 13nhuận nên thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND TP.HCM.
Xét hình thức và nội dung hai Hợp đồng kinh tế số 16/IBBXNK và số 18/IBBXNKTH cùng lập ngày 10/5/2005 là hợp đồng mua bán hợp pháp Cty Paprimex, Cty Quốc Việt đều phải có nghĩa vụ thực hiện
Cty Quốc Việt đã giao đủ hàng cho Cty Paprimex theo hai hóa đơn số 40799 ngày 17/5/2005 và số 45367 ngày 24/5/2005, theo quy định tại Điều 3 của Hợp đồng Cty Paprimex phải thanh tóan đủ số tiền trên sau 7 ngày Đến nay Cty Paprimex chưa thanh tóan 114.173.307 đồng tiền hàng cho Cty Quốc Việt là đã vi phạm nghĩa vụ thanh tóan quy định tại khỏan 2 Điều 71, Điều 73 LTM-1997
Cụ thể, Cty Paprimex phải trả ngay cho Cty Quốc Việt gồm:
- Tiền hàng chưa thanh tóan là: 114.173.307 đồng;
- Và theo Điều 233 Luật TM-1997, là còn phải trả tiền lãi do chậm thanh tóan theo mức lãi suất quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tại thời điểm thanh tóan tương ứng với thời gian chậm trả
Xét Cty Quốc Việt yêu cầu Cty Paprimex phải trả tiền lãi phát sinh do chậm trả tạm tính từ 1/8/2005 đến 1/8/2007 là:
Trang 14QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng Điều 29, Điều 243, 245 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2004;
- Áp dụng Điều 233 Luật TM 1997; Điều 305 Luật dân sự 2005
- Áp dụng khỏan 2 Điều 15, Điều 19 - Nghị Định số 70/CP, ngày 12/6/1997 của Chính Phủ qui định về lệ phí, án phí tòa án
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của CÔNG TY TNHH KINH DOANH CHẾ BIẾN THỦY SẢN VÀ XNK QUỐC VIỆT;
Buộc CÔNG TY CP IN BAO BÌ XNK TỔNG HỢP phải trả ngay cho CÔNG TY TNHH KINH DOANH CHẾ BIẾN THỦY SẢN VÀ XNK QUỐC VIỆT số tiền là
148.288.291 đồng.
Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, CÔNG TY TNHH KINH DOANH CHẾ BIẾN THỦY SẢN VÀ XNK QUỐC VIỆT có đơn yêu cầu thi hành án CÔNG TY CP IN BAO BÌ XNK TỔNG HỢP chưa trả xong khỏan tiền trên, thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh tóan
Án phí dân sự sơ thẩm CÔNG TY CP IN BAO BÌ XNK TỔNG HỢP phải nộp là 6.931.000 đồng;
CÔNG TY TNHH KINH DOANH CHẾ BIẾN THỦY SẢN VÀ XNK QUỐC VIỆT không phải nộp; hòan lại tiền tạm ứng án phí cho Công ty TNHH KD CB TS
và XNK Quốc Việt đã nộp theo biên lai thu số 003212 ngày 1/10/2007 là 3.464.000 đồng
Án xử sơ thẩm, các đượng sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
Trang 15Công ty thương mại và du lịch Tỉnh Đắc Nông (gọi tắt là Công ty Đắk Nông)
và Công ty Thực phẩm Miền Bắc (Trung tâm kinh doanh XNK Cà Phê) tranh chấp hợp đồng mua bán cà phê (09:21 - 21/04/2008)
Hội đồng xét xử có một số nhận định: Các hợp đồng chỉ qui định giá tạm tính làm
cơ sở cho việc tạm ứng tiền Trong từng phụ kiện qui định cách tính và thời gian tính giá Sau khi hai bên ký phụ kiện thì các bên vẫn còn tiếp tục trao đổi để tiến tới việc xác định giá thể hiện qua các công văn và phụ kiện (mới chỉ có một bên ký)
Bị đơn cho rằng những người ký công văn không được ủy quyền song cũng lại xác định chỉ những người có trách nhiệm mới được phép sử dụng con dấu Lời khai của người đại diện cho bị đơn không thống nhất khi thì khai các hợp đồng và phụ lục đều do bị đơn soạn thảo và fax cho nguyên đơn ; khi thì khai không nhớ rõ bên nào soạn thảo Có thể thấy bị đơn đã tuỳ tiện khi giao dịch với khách hàng để khi có tranh chấp phát sinh thì chỉ xác nhận những giao dịch có lợi cho mình
Theo các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trình bày của các đương sự thì có đủ cơ
sở để xác định Công ty TM và Du Lịch Tỉnh Đắc Nông đã vi phạm thời hạn giao hàng đã thỏa thuận Tuy nhiên, nội dung các bên thỏa thuận tại điều IV của hợp đồng : Nếu giao hàng chậm hoặc chuyển tiền chậm so với thời gian qui định sẽ phạt 0,15%/ ngày là không phù hợp qui định pháp luật Luật thương mại có hiệu lực từ ngày 1-1-1998 thì chỉ có Điều 233 qui định quyền được đòi tiền lãi do chậm thanh toán theo mức lãi suất nợ quá hạn Mức lãi suất 0,95%/tháng mà hai bên thỏa thuận HĐXX nhận thấy là phù hợp nên chỉ chấp nhận một phần yêu cầu này của bị đơn buộc nguyên đơn phải chịu thêm mức lãi phạt
Bản án số: 510/2007KDTM-ST Ngày: 30-3-2007
Về việc : Tranh chấp hợp đồng mua bán cà phê
Ngày 20, 27 và 30 tháng 3 năm 2007, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 631/2006/TLDS/KDTM ngày 13-9-2006 về tranh chấp về hợp đồng mua bán cà phê theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số 473/2007/QĐST-KDTM ngày 12-3-2007, giữa:
Trang 16Nguyên đơn Công ty Thương mại và du lịch tỉnh Đắk Nông.
Địa chỉ : 80 Bà Triệu, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Dak Nông
Đại diện : Ông NGUYỄN MAI HIỆP
Giấy ủy quyền số 133/CV- Cty ngày 04/9/2006 (có mặt)
Bị đơn Công ty thực phẩm miền Bắc
Địa chỉ ĐKKD 210 Trần Quang Khải, quận Hoàn Kiếm, TP Hà Nội
Địa chỉ trụ sở 122 Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội
Đại diện : 1- Bà NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT- Phó giám đốc
Giấy ủy quyền số 786/TPMB-KHTH ngày 03-11/2006(có mặt)
2- Ông NGUYỄN HÒA BÌNH – Cán bộ công ty
Giấy ủy quyền số 190/TPMB-2007 ngày 26-3-20007(có mặt)
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn : Luật sư Nguyễn Xuân Chiến thuộc Văn phòng luật sư Nguyễn Xuân Chiến(có mặt)
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn : Luật sư Nguyễn Thị Vân Hằng thuộc Văn phòng luật sư Lương Tuấn Tú (có mặt)
- Hợp đồng kinh tế số 521-04/TL ngày 21/12/2004
Trang 18Như vậy số tiền tạm ứng còn lại là : 3.973.247.076 đồng
- Tổng số lượng hàng đã giao là 406.683 kg cà phê nhân các loại theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng , cụ thể :
Hợp đồng số 521-04/TL ngày 21/12/2004, giao 50.767kg
Hợp đồng số 06-05/TL ngày 06/1/2005, giao114.931kg
Hợp đồng số 33-05/TL ngày 18-1-2005, giao125.845kg
Hợp đồng kinh tế số 130-05/TL ngày 15/3/2005, giao115.140kg
- Sau khi ký các hợp đồng và thực hiện, từ tháng 5-2005 các bên tiến hành ký các phụ kiện về việc chuyển kỳ hạn chốt giá
Phụ kiện cuối cùng của các hợp đồng được ký vào ngày 1-7-2006 và đều ấn định thời hạn chốt giá là 30-8-2006
Tất cả các hợp đồng và phụ kiện đều do Công ty thực phẩm Miền Bắc soạn thảo và fax cho Công ty Đắk Nông thông qua Trung tâm kinh doanh XNK Cà Phê trực thuộc Công ty Thực phẩm Miền Bắc Tuy nhiên, một số phụ kiện được ký ngày 2-3-2006, ngày 28-4-2005, ngày 1-7-2006 Công ty thực phẩm Miền Bắc chưa gởi lại cho Công ty Đắk Nông mà báo là khi hai bên tiến hành thanh lý hợp đồng thì giao luôn
- Sau khi thống nhất qua điện thoại, Công ty Đắk Nông đã có văn bản đề nghị chốt giá đề ngày 02-3-2006 và ngày 3-3-2006
Ngày 11-8-2006, hai bên đã có cuộc họp tại trụ sở của Công ty thực phẩm Miền Bắc trao đổi về các vấn đề vướng mắc đối với các hợp đồng, các bên đã thống nhất giá là 1.405 USD/tấn nhưng không lập được biên bản vì bị đơn ra điều kiện ông
Trang 19Nguyễn Thanh Bình – giám đốc Công ty Đắk Nông phải chịu trách nhiệm đối với khoản nợ giữa Công ty TNHH TM An Bình và Công ty TP Miền Bắc nhưng ông Bình không đồng ý vì ông Bình chỉ là người giới thiệu tạo điều kiện cho hai công ty giao dịch với nhau, không có thỏa thuận nào xác định ông Bình phải chịu trách nhiệm cho những khoản nợ của Công ty An Bình.
Do giá cà phê tiếp tiếp tục tăng nên ngày 29-8-2006 Công ty Đắk Nông tiếp tục có văn bản đề nghị chốt giá Ngày 30-8-2006, Công ty Thực phẩm Miền Bắc có văn bản xác định chỉ chấp nhận giá đề nghị trong văn bản đề ngày 2-8-2006 và ngày 3-8-2006, không chấp nhận giá đề nghị trong văn bản đề ngày 29-8-2006 Người ký văn bản là ông Hồ Minh Hậu- phó giám đốc Trung tâm kinh doanh XNK cà phê trực thuộc Công ty thực phẩm Miền Bắc
- Do hai bên đã không thống nhất được giá nên đề nghị Tòa án xem xét cho nguyên đơn được nhận lại 406.683kg cà phê hoặc bằng tiền theo giá cà phê tại TPHCM tại thời điểm xét xử theo từng loại hàng mà nguyên đơn tham khảo tại dịch vụ tổng đài
1080 và Công ty CP cà phê Petec, cụ thể :
Hợp đồng số 521-04/TL ngày 21/12/2004, số lượng đã nhận là 50.767kg, gía 22.900 đồng/kg, thành tiền là 1.162.564.300 đồng (1)
Trừ đi số tiền mà Công ty Đắk Nông đã ứng trước là 3.973.076.000 đồng thì Công
ty Thực phẩm Miền Bắc còn phải trả cho Công ty TM và Du Lịch Tỉnh Đắc Nông
số tiền là 5.589.357.424 đồng.
Trình bày của bị đơn:
Trung tâm kinh doanh XNK cà phê được Công ty thực phẩm Miền Bắc giao chức năng mua bán hàng hóa với các đơn vị khác theo từng vụ việc và từng năm Thực hiện nhiệm vụ, Trung tâm đã ký kết với Công ty thương mại và du lịch tỉnh Đắk
Trang 20Nông các hợp đồng kinh tế sau:
Oâng Lê Văn Bằng là giám đốc Công ty thực phẩm Miền Bắc kiêm giám đốc
Trung tâm kinh doanh XNK cà phê Ông Đinh Gia Hậu, bà Nguyễn Thị Minh
Nguyệt, ông Vũ Trí Tuệ là phó giám đốc Công ty thực phẩm Miền Bắc kiêm phó giám đốc Trung tâm kinh doanh XNK cà phê
Các hợp đồng và những phụ kiện do Phó giám đốc Trung tâm kinh doanh XNK cà phê ký mặc dù không có văn bản ủy quyền song Giám đốc biết và không phản đối nên có giá trị thực hiện
Thực hiện hợp đồng, bên mua đã tạm ứng tiền với tổng số là 4.106.247.076 đồng, tổng số lượng hàng đã giao nhận là 406.683 kg Toàn bộ số hàng này Công ty Thực phẩm Miền Bắc đã bán cho khách hàng nước ngoài
Ngày 11-8-2006 hai bên có buổi làm việc, nguyên đơn có đề nghị giá là 1.405
USD/tấn Tuy nhiên, phía bị đơn không có người đại diện được ủy quyền (bà
Nguyễn Thị Minh Nguyệt là người được ủy quyền đã đi công tác xa), tham gia có một số cán bộ và chỉ ghi nhận đề nghị của nguyên đơn để báo cáo lãnh đạo, không
có quyền quyết định
Văn bản ngày 8-6-2006 do ông Phạm Công Tỵ và văn bản ngày 30-8-2006 do ông
Hồ Minh Hậu là các cán bộ của Trung tâm kinh doanh XNK cà phê ký không có
Trang 21giá trị vì không được giám đốc công ty ủy quyền thống nhất giá với nguyên đơn.
Căn cứ vào phụ kiện được ký cuối cùng của các hợp đồng về việc chuyển kỳ hạn chốt giá Ngày 28/2 Công ty Thực phẩm Miền Bắc đã chốt giá theo giá thị trường London Liffee
Cho đến nay nguyên đơn vẫn chưa thực hiện xong nghĩa vụ giao 54,233 tấn cà phê còn thiếu của hợp đồng số 521-04/TL ngày 21/12/2004
Do trong quá trình thực hiện hợp đồng Công ty Dak Nông chưa giao đủ hàng, chưa xuất hóa đơn nên chưa có cơ sở chuyển tiền Vì vậy, các hợp đồng cho đến nay vẫn chưa được thanh lý
Công ty Thực phẩm Miền Bắc không chấp nhận giá mà nguyên đơn đề nghị vì theo hợp đồng và phụ kiện thì giá đã được chốt ngày 28-2-2006
Yêu cầu phản tố của bị đơn :
1- Công ty Đắk Nông tiếp tục giao số lượng hàng còn thiếu của Hợp đồng kinh tế
số 521-04/TL ngày 21/12/2004 là : 54.233 kg cà phê (giá 1208 USD/tấn, mức trừ lùi theo phụ lục của hợp đồng ( giá sau khi trừ lùi : 874 USD/tấn) thành tiền là : 754.317.952 đồng
2- Công ty Đắk Nông phải chịu phạt vi phạm 8% phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm đối với Hợp đồng kinh tế số 521-04/TL ngày 21/12/2004, cụ thể:
Trị giá hàng chưa giao:
Trang 224- Công ty Đắk Nông phải xuất hóa đơn tài chính với giá trừ lùi theo thỏa thuận của các hợp đồng căn cứ giá chốt ngày 28/02/2006 là : 1208 USD/tấn đối với số lượng hàng đã giao của các hợp đồng sau :
Trình bày của nguyên đơn :
Đối với các yêu cầu của Công ty Thực phẩm Miền Bắc, Công ty TM và Du Lịch Tỉnh Đắc Nông chỉ chấp nhận khoản tiền lãi phát sinh đã được hai bên thỏa thuận trong các hợp đồng, mức 0,95%/tháng trên số tiền tạm ứng được tính từ khi ứng tiền cho đến khi giao hàng xong, tổng cộng là 97.607.036 đồng
Không chấp nhận việc phạt 0,15%/ngày vì không phù hợp qui định của pháp luậtKhông chấp nhận phạt vi phạm hợp đồng vì tuy không lập thành văn bản song thực
tế hai bên đã thỏa thuận không tiếp tục thực hiện hợp đồng này Mặt khác việc giao hàng còn phụ thuộc vào chỉ định địa điểm giao hàng của bên mua, nếu bên mua không có thông báo về địa điểm giao hàng thì bên bán biết giao đến đâu
Trình bày của luật sư bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn :
Sau khi trình bày quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng, luật sư nhấn mạnh các hợp đồng cũng như một số phụ kiện người đại diện ký không có văn bản ủy quyền song đại diện bị đơn xác định là có giá trị và cũng xác định toàn bộ số cá phê được giao nhận giữa hai bên đã được bán cho khách hàng nước ngoài, do đó các hợp đồng và phụ kiện có giá trị thực hiện Toàn bộ hợp đồng và phụ kiện đều do bị đơn soạn thảo và gởi cho nguyên đơn ký rồi gởi trả lại cho nên không hợp lý khi bị đơn cho rằng có một số phụ kiện mà nguyên đơn cung cấp cho Tòa án không có giá trị
vì không có chữ ký và được đóng dấu của phía bị đơn Chứng tỏ sau ngày
28-2-2006 hai bên vẫn còn tiếp tục thương lượng xác định giá Đề nghị Hội đồng xét xử
Trang 23chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Nguyên đơn không chấp nhận một số yêu cầu phản tố của bị đơn, cụ thể :
Hợp đồng kinh tế số 521-04/TL ngày 21/12/2004 được ký đầu tiên nhưng do có vướng mắc về vấn đề ứng tiền chậm nên mới dẫn đến việc giao hàng chậm Sau khi giao đợt hàng cuối cùng vào tháng 7-2005, do giá tăng vọt nên hai bên đã thảo luận
về việc sẽ ứng tiếp tiền để tiến hành việc tiếp tục giao hàng nhưng sau đó hai bên cũng đã thống nhất trách nhiệm của các bên trên số lượng hàng đã nhận và số tìen
đã ứng trước Do đó, nguyên đơn không chấp nhận tiếp tục giao hàng nên cũng không chấp chấp nhận việc phạt vi phạm 8% phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm.Thỏa thuận mức phạt 0,15%/ ngày trong hợp đồng là không phù hợp pháp luật, Điều 266 Luật thương mại qui định mức phạt cao nhất là 8% giá trị hợp đồng nên nguyên đơn cũng không chấp nhận mức phạt này
Trình bày của luật sư bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn :
Không hiểu nguyên đơn đã dựa trên cơ sở nào để yêu cầu bị đơn phải trả lại hàng hoặc trả lại tiền vì yêu cầu này đồng nghĩa với hợp đồng bị vô hiệu Yêu cầu của nguyên đơn không nhất quán trong quá trình trình bày tại phiên tòa mà liên tục thay đổi
Nguyên đơn đã cố tình né tránh việc thực hiện hợp đồng do giá đột biến tăng nên
đã có thể xác định được lỗi của nguyên đơn, lý do chưa thống nhất được giá là không hợp lý Nguyên đơn cũng đã xác định hợp đồng có giá trị thực hiện nên yêu cầu tiếp tục giao hàng căn cứ điều khoản đã được thỏa thuận trong hợp đồng
Do nguyên đơn vi phạm nghĩa vụ và thời gian giao hàng nên căn cứ thỏa thuận trong hợp đồng phải chịu phạt vi phạm 8% phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, chịu phạt lãi phát sinh và lãi phạt là có cơ sở
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bị đơn
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Trang 241- Về quan hệ đang tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ kiện:
Nội dung tranh chấp giữa Công ty TM và Du Lịch Tỉnh Đắc Nông và Công ty thực phẩm Miền Bắc (Trung tâm kinh doanh XNK cà phê) là tranh chấp các hợp đồng mua bán cà phê Đây là tranh chấp về kinh doanh thương mại Mặc dù các đương
sự đều không có trụ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh nhưng thỏa thuận việc giao hàng tại kho của bên mua tại Thành phố Hồ Chí Minh (Điều II trong các hợp đồng) Mặt khác, tại Điều V của các hợp đồng và quá trình làm việc tại Tòa án, các đương
sự đều xác định : Nếu có tranh chấp hai bên không thỏa thuận được thì nhờ Tòa kinh tế- Thành phố Hồ Chí Minh xét xử Căn cứ vào điểm a, khoản 1 Điều 29 ; điểm g, khoản 1 Điều 36 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết là phù hợp quy định của pháp luật về thẩm quyền
2-Về thẩm quyền ký kết hợp đồng :
Mặc dù những người đại diện của Công ty thực phẩm Miền Bắc (Trung tâm kinh doanh XNK cà phê) ký các hợp đồng và phụ kiện đều không có giấy ủy quyền song giám đốc công ty biết và chấp nhận, không phản đối nên những hợp đồng và phụ kiện này có giá trị thực hiện
3 Về yêu cầu của nguyên đơn
Về yêu cầu của Công ty TM và Du Lịch Tỉnh Đắc Nông, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tổng số lượng cà phê đã giao theo đúng qui cách đã thỏa thuận trong các hợp đồng
là 406.683kg đã được các bên thừa nhận
Tổng số tiền đã tạm ứng là 4.106.247.076 đồng cũng đã được các bên thừa nhậnCác hợp đồng chỉ qui định giá tạm tính làm cơ sở cho việc tạm ứng tiền Trong từng phụ kiện qui định cách tính và thời gian tính giá Sau khi hai bên ký phụ kiện ngày 20-12-2005 thì các bên vẫn còn tiếp tục trao đổi để tiến tới việc xác định giá thể hiện qua các công văn và phụ kiện (mới chỉ có một bên ký) Bị đơn cho rằng những người ký công văn ngày 8-6-2006 và ngày 30-8-2006 (ông Tỵ và ông Hậu được bị đơn xác định trong các biên bản hòa giải là phó giám đốc trung tâm) không được ủy quyền song cũng lại xác định chỉ những người có trách nhiệm mới được phép sử dụng con dấu Tương tự đối với các phụ kiện của 04 hợp đồng đề ngày 2-3-2006 ; 28-4-2006 ; 01-7-2006, lời khai của người đại diện cho bị đơn không thống nhất khi thì khai các hợp đồng và phụ lục đều do bị đơn soạn thảo và fax cho
Trang 25nguyên đơn ; khi thì khai không nhớ rõ bên nào soạn thảo Có thể thấy bị đơn đã tuỳ tiện khi giao dịch với khách hàng để khi có tranh chấp phát sinh thì chỉ xác nhận những giao dịch có lợi cho mình
Việc bị đơn cho rằng thông thường thì mỗi hợp đồng chỉ ký hai phụ kiện về việc chuyển kỳ hạn chốt giá và chỉ được ký khi có sự chấp thuận của khách hàng nước ngoài, nên sau ngày 20-12-2005 không thể tiếp tục ký phụ kiện là không phù hợp chứng cứ vì hai bên đã cùng ký từ năm đến sáu phụ kiện cho mỗi hợp đồng Mặt khác, toàn bộ số hàng mà bị đơn nhận đã được giao cho khách hàng nước ngoài theo bị đơn trình bày đợt giao cuối cùng là tháng 7-2005 và cũng không có tài liệu chứng cứ nào thể hiện tất cả các phụ kiện mà hai bên đã ký là có sự chấp thuận của khách hàng nước ngoài
Điều kiện của Công ty Thực phẩm Miền Bắc buộc Công ty TM và Du Lịch Tỉnh Đắc Nông phải có trách nhiệm đối với khoản nợ giữa Công ty Thực phẩm Miền Bắc và Công ty An Bình thì mới chấp nhận chốt giá là không thỏa đáng dẫn đến việc hai bên không thống nhất được giá, buộc Công ty TM và Du Lịch Tỉnh Đắc Nông phải khởi kiện
Mặc dù trong hợp đồng và phụ kiện các bên lấy giá thị trường London làm cơ sở chốt giá sau đó trừ đi các khoản phí nhưng do không thống nhất được phí này nên HĐXX cho rằng căn cứ giá mua bán tại thị trường Việt nam vào thời điểm xét xử (ngày 27-3-2007) với điều kiện giao hàng tại kho để buộc trách nhiệm trả nợ đối với bị đơn là thỏa đáng
So sánh giá cà phê do nguyên đơn đề nghị với những thông tin do một số cơ quan trong lĩnh vực kinh doanh này cung cấp cho Tòa án, Hội đồng xét xử nhận thấy giá
do Công ty cổ phần cà phê Petec cung cấp là có cơ sở để xem xét
Do đó, trị giá số lượng cà phê đã giao nhận cụ thể như sau:
- Hợp đồng số 521-04/TL ngày 21/12/2004, số lượng đã nhận là 50.767 kg ; Hợp đồng số 06-05/TL ngày 06/1/2005, số lượng đã nhận là 114.931 kg ; Hợp đồng số 130-05/TL ngày 15/3/2005, số lượng đã nhận là 115.140 kg, tổng cộng là 280.838
kg, đơn giá 23.100 đồng /kg, thành tiền là 6.487.357.800 đồng
- Hợp đồng số 33-05/TL ngày 18/1/2005, số lượng đã nhận là 125,845 tấn, đơn giá 23.700.000 đ/tấn, thành tiền là 2.982.526.500 đồng
Trang 26Tổng cộng : 6.487.357.800 đ + 2.982.526.500 đ = 9.469.884.300 đồng
Ngày 20-9-2005 và ngày 30-9-2005 mà Công ty TM và Du Lịch Tỉnh Đắc Nông đã nộp tiền hạ mức Stoploss là 123.000.000 đồng nên số tiền tạm ứng chỉ còn là 3.983.247.076đ
Như vậy, số tiền hàng mà Công ty Thực phẩm Miền Bắc còn phải trả cho Công ty
TM và Du Lịch Tỉnh Đắc Nông là:
9.469.884.300đ - 3.983.247.076đ = 5.486.637.224 đ
4- Về yêu cầu phản tố của bị đơn :
- Về yêu cầu của Công ty Thực phẩm Miền Bắc buộc Công ty TM và Du Lịch Tỉnh Đắc Nông tiếp tục giao số lượng cà phê còn thiếu của hợp đồng số 521-04/TL ngày 21/12/2004 là 54.233 kg, trị giá 754.317.902 đồng Hội đồng xét xử có nhận định như sau : Công ty Thực phẩm Miền Bắc không chứng minh được đã yêu cầu bên bán tiếp tục giao hàng đến kho theo chỉ định của mình (qui định tại Điều II của hợp đồng) nhưng bên bán không chịu giao, thậm chí từ đợt giao hàng cuối cùng là ngày 14-7-2005 (số lượng : 17.982 kg) cho đến khi ký các phụ kiện chuyển kỳ hạn chốt giá : Phụ kiện số 03 ngày 31-8-2005 ; Phụ kiện số 04 ngày 30-9-2005 ; Phụ kiện số
05 ngày 17-10-2005 ; Phụ kiện số 06 ngày 20-12-2005 các bên cũng không đề cập đến việc giao nốt số hàng còn thiếu Vì vậy, có thể thấy rằng cho đến trước khi nguyên đơn có đơn khởi kiện thì cả hai bên đều không có ý định tiếp tục giao – nhận số hàng còn thiếu so với thỏa thuận trong hợp đồng Do đó, yêu cầu này của nguyên đơn không có cơ sở dược chấp nhận
- Về yêu cầu của Công ty Thực phẩm Miền Bắc buộc Công ty TM và Du Lịch Tỉnh Đắc Nông phải chịu phạt vi phạm 8% phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm đối với HĐKT số 521-04/TL ngày 21/12/2004, số tiền là 60.345.432 đồng, Hội đồng xét xử cho rằng: Như đã nhận định ở trên, Công ty Thực phẩm Miền Bắc không chứng minh được việc mình đã yêu cầu tiếp tục giao hàng và có khiếu nại về việc chưa giao đủ hàng để xác định lỗi thuộc về bên giao hàng nên yêu cầu này của bị đơn cũng không có cơ sở được chấp nhận
- Về yêu cầu của Công ty Thực phẩm Miền Bắc buộc Công ty TM và Du Lịch Tỉnh Đắc Nông phải chịu lãi phát sinh từ kể ngày ứng tiền cho đến ngày giao hàng đối với hợp đồng số 06-05/TL ngày 06/1/2005 và số 130-05/TL ngày 12/1/2005 với tổng số tiền là 50.849.530 đồng, Hội đồng xét xử có nhận định như sau :
Trang 27Tại Điều III của các hợp đồng qui định : Bên bán phải trả lãi vay cho số tiền tạm ứng với lãi suất 0,95%/tháng kể từ ngày ứng tiền cho đến khi giao hàng xong nên yêu cầu của bị đơn đòi nguyên đơn phải trả lãi vay theo thỏa thuận là có cơ sở Tại phiên tòa nguyên đơn chấp nhận việc bị đơn xác định ngày ứng tiền theo Uûy nhiệm chi nên Hội đồng xét xử xác định số tiền lãi mà Công ty TM và Du Lịch Tỉnh Đắc Nông phải trả cho Công ty Thực phẩm Miền Bắc thời gian được tính căn
cứ vào Ủy nhiệm chi và Phiếu nhập kho như sau :
+ Hợp đồng số 06-05/TL ngày 06-1-2005
Ngày ứng tiền : 12-01-2005, số tiền : 964.115.251 đồng
Ngày giao hàng xong : 03-2-2005
Số tiền chịu lãi :
964.115.251đ x 0,95%/30 ngày x 22 ngày = 6.716.670 đồng
+ Hợp đồng số 130-05/TL ngày 15-3-2005
Ngày ứng tiền : 31-3-2005, số tiền : 1.244.347.545 đồng
Ngày giao hàng xong : 21-7-2005
Số tiền chịu lãi :
1.244.347.545đ x 0,95%/30 ngày x 112 ngày = 44.132.860 đồng
- Về yêu cầu của Công ty Thực phẩm Miền Bắc buộc Công ty TM và Du Lịch Tỉnh Đắc Nông phải chịu lãi phạt phát sinh từ kể ngày ứng tiền cho đến ngày giao hàng đối với hợp đồng số 06-05/TL ngày 06/1/2005 ; số 33-05/TL ngày 15-3-2005 với tổng số tiền là 194.068.123 đồng, Hội đồng xét xử có nhận định như sau :
Theo các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trình bày của các đương sự thì có đủ cơ
sở để xác định Công ty TM và Du Lịch Tỉnh Đắc Nông đã vi phạm thời hạn giao hàng đã thỏa thuận Tuy nhiên, nội dung các bên thỏa thuận tại điều IV của hợp đồng : Nếu giao hàng chậm hoặc chuyển tiền chậm so với thời gian qui định sẽ phạt 0,15%/ ngày là không phù hợp qui định pháp luật Luật thương mại có hiệu lực từ ngày 1-1-1998 thì chỉ có Điều 233 qui định quyền được đòi tiền lãi do chậm thanh toán theo mức lãi suất nợ quá hạn Mức lãi suất 0,95%/tháng mà hai bên thỏa thuận
Trang 28HĐXX nhận thấy là phù hợp nên chỉ chấp nhận một phần yêu cầu này của bị đơn buộc nguyên đơn phải chịu thêm mức lãi phạt, cụ thể như sau :
+ Hợp đồng số 06-05/TL ngày 06-1-2005, Thời hạn thỏa thuận giao hàng trong hợp đồng chậm nhất đến 1-2-2005, ngày giao hàng xong là ngày 3-2-2005, như vậy thời gian giao hàng chậm 2 ngày chứ không phải 9 ngày như Công ty thực phẩm Miền Bắc xác định (từ 24-1-2005 đến 3-2-2005), số tiền phạt được xác định :
964.115.251đ x 0,475%/30 ngày x 2 ngày = 305.303 đồng
+ Hợp đồng số 130-05/TL ngày 15-3-2005, thời hạn giao hàng chậm theo như Công ty thực phẩm Miền Bắc tính từ ngày 15-4-2005( thời hạn giao hàng thỏa thuận trong hợp đồng) đến ngày 21-7-2005 là chính xác, số tiền phạt được xác định :
1.244.347.545đ x 0,475%/30 ngày x 97 ngày = 19.111.104 đồng
- Về yêu cầu đòi lãi phát sinh và lãi phạt do giao hàng chậm của Hợp đồng số 04/TL ngày 21/12/2004, số tiền là 1.233.831.082 đồng Hội đồng xét xử có nhận định như sau :
521-Theo thỏa thuận trong hợp đồng thì thời hạn ứng tiền là ngày 5-1-2005 nhưng mãi đến ngày 19-1-2005 mới làm thủ tục chuyển tiền Việc bị đơn viện dẫn do hợp đồng được ký thông qua Fax nên có sự chậm trễ, dẫn đến việc chuyển hồ sơ vay tiền đến ngân hàng chậm, kéo theo việc chuyển tiền ứng chậm là không thỏa đáng
vì theo các bên đều trình bày thì tất cả các hợp đồng đều được ký thông qua Fax nhưng các hợp đồng 06, 130 ngày làm thủ tục chuyển đều phù hợp với ngày ký hợp đồng Từ việc ứng tiền chậm dẫn đến việc giao hàng chậm mà không có chứng cứ chứng minh đã có khiếu nại của bên nào về hành vi vi phạm của bên kia và như đã phân tích ở phần đòi phạt vi phạm là trong các phụ kiện các bên đã không đề cập đến việc tiếp tục giao hàng mà chỉ thống nhất việc chuyển kỳ hạn chốt giá Do đó, Hội đồng xét xử cho rằng quyền và trách nhiệm của các bên chỉ dừng lại ở khối lượng hàng đã giao và số tiền đã nhận nên Công ty TM và Du Lịch Tỉnh Đắc Nông chỉ có nghĩa vụ chịu lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Điều III của hợp đồng, thời gian tính từ ngày ứng tiền (31-3-2005) đến ngày giao hàng xong (14-7-2005), cụ thể :
873.457.200đ x 0,95%/30 ngày x 175 ngày = 48.404.086 đồng
Như vậy, Công ty TM và Du Lịch Tỉnh Đắc Nông phải thanh toán cho Công ty TP
Trang 29miền Bắc số tiền là tổng số tiền là :
6.716.670 đồng + 44.132.860 đồng + 305.303 đồng + 19.111.104 đồng + 48.404.086 đồng = 118.130.023 đồng
- Sau khi thực hiện xong việc thanh toán thì các bên cùng phải có nghĩa vụ làm thủ tục xuất hóa đơn tài chính theo qui định
(5.486.637.224đ + 754.317.902đ + 60.345.432đ + 19.732.225đ + 225.185.428đ + 1.233.831.082 đồng) - 118.130.023 đ = 7.661.919.270 đồng
Công ty TM và Du Lịch Tỉnh Đắc Nông phải chịu án phí trên số tiền phải thanh toán cho Công ty Thực phẩm Miền Bắc và trên phần yêu cầu không được chấp nhận, cụ thể:
(5.491.750.388đ - 5.486.637.224 đ) + 118.130.023 đ = 123.243.187 đồng
Từ các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Luật thương mại;
Căn cứ khoản 1 phần III Thông tư liên tịch số 01-TT/LT ngày 19 tháng 6 năm 1997 của Tòa án nhân dân tối cao -Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp - Bộ Tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản,
1 Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn
- Công ty Thực phẩm Miền Bắc có trách nhiệm phải thanh toán cho Công ty TM và
Trang 30Du Lịch Tỉnh Đắc Nông số tiền là 5.486.637.224 đồng
2 Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn
Công ty TM và Du Lịch Tỉnh Đắc Nông có trách nhiệm phải thanh toán cho Công
002926 ngày 30-8-2006 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, Công ty
TM và Du Lịch Tỉnh Đắc Nông còn được nhận lại 9.522.000 đồng.
Việc thi hành án được thực hiện tại Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành
án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khỏan tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước qui định tương ứng với thời gian chưa thi hành án
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./
Trang 31Công ty CP truyền thông Tam Giác Vàng khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH
SX truyền thông ý tưởng Việt Nam phải thanh toán số nợ và phạt vi phạm hợp đồng (09:08 - 23/04/2008)
Căn cứ các chứng có trong hồ sơ có cơ sở để xác định Công ty TNHH SX truyền thông ý tưởng Việt Nam còn nợ nguyên đơn 244.530.000đ00 phát sinh từ hợp đồng
số 01/VC-YT-ME06 ngày 10/01/2006 Ngày 22/01/2007 Công ty TNHH SX truyền thông ý tưởng Việt Nam có văn bản gửi nguyên đơn đề nghị được trả chậm trong thời hạn 12 tháng và chịu lãi phát sinh với mức lãi 1,1%/tháng Ngày 29/01/2007 nguyên đơn có văn bản gửi bị đơn đồng ý với phương án do bị đơn đã nêu Tuy nhiên, đến nay bị đơn đã không thực hiện thỏa thuận này Như thế là vi phạm sự thỏa thuận của các bên được qui định tại điều 3 của hợp đồng, vi phạm qui định của pháp luật qui định tại điều 523 Bộ luật dân sự nên việc Công ty CP truyền thông Tam Giác Vàng đòi Công ty TNHH SX truyền thông ý tưởng Việt Nam phải thanh toán số nợ 244.530.000đ00 và phạt vi phạm hợp đồng là 19.562.400đ00 là có cơ sở phù hợp với qui định của pháp luật tại điều 527 Bộ luật dân sự, điều 112 và 228 Luật Thương mại nên yêu cầu này cần được chấp nhận
Bản án số 482/2007/KDTM-ST Ngày 23/3/2007 V/v tranh chấp về hợp đồng dịch vụ
Ngày 23/03/2007 tại Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 542/KTST ngày 08/8/2006 về tranh chấp hợp đồng dịch vụ theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 443/QĐXX-ST ngày 05 tháng 3 năm 2007
Trang 32giữa các đương sự:
1 Nguyên đơn: Công ty CP truyền thông Tam Giác Vàng
Địa chỉ: 125/7 Nguyễn Cửu Vân, phường 17, quận Bình Thạnh, TPHCM
Đại diện: Ông Nguyễn Tài Tuế, GUQ ngày 19/11/2006
Có mặt
2 Bị đơn: Công ty TNHH SX truyền thông ý tưởng Việt Nam
Địa chỉ: A24 Nguyên Hồng, Đống Đa, Hà Nội
Vắng mặt
NHẬN THẤY:
Trong đơn khởi kiện ngày 29/6/2006, bản tự khai ngày 09/10/2006 nguyên đơn là Công ty CP truyền thông Tam Giác Vàng trình bày việc ký kết và thực hiện hợp đồng số 01/VC-YT-ME06 ngày 10/01/2006 về việc thực hiện đăng ký quảng cáo truyền thông cho các sản phẩm của Công ty TNHH SX truyền thông ý tưởng Việt Nam Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn là Công ty TNHH SX truyền thông ý tưởng Việt Nam phải thanh toán số tiền còn nợ phát sinh từ hợp đồng số 01/VC-YT-ME06 ngày 10/01/2006 là 244.530.000đ00 và tiền phạt vi phạm hợp đồng là 8% trên giá trị bị vi phạm Tiền phạt vi phạm hợp đồng là 19.562.400đ00 Tổng cộng 264.092.400đ00
Toà án đã triệu tập hợp lệ bị đơn vào các ngày 09/10/2006, 22/11/2006, 26/01/2007
và 23/3/2007 để trình bày ý kiến của mình cũng như hòa giải và tham gia tố tụng tại toà nhưng bị đơn vắng mặt
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1 Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Quan hệ giữa Công ty CP truyền thông Tam Giác Vàng và Công ty TNHH SX truyền thông ý tưởng Việt Nam là quan hệ kinh doanh thương mại giữa pháp nhân
Trang 33với pháp nhân được thành lập theo luật doanh nghiệp, các bên đã không tự giải quyết được tranh chấp phát sinh, nguyên đơn đã làm đơn khởi kiện theo thủ tục Tòa
án Tòa Kinh tế TAND thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật về thẩm quyền được qui định tại các điều 29, 34, 35 Bộ Luật
Tố tụng dân sự
Về thủ tục tố tụng: Toà án đã triệu tập hợp lệ bị đơn để hòa giải cũng như tham gia
tố tụng tại phiên tòa vào các ngày 09/10/2006, 22/11/2006, 26/01/2007 và 23/3/2007 nhưng bị đơn đều vắng mặt Nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn Căn cứ khoản 1 điều 202 và 215 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn
2 Về các yêu cầu của các đương sự:
Xét các yêu cầu của nguyên đơn:
Về yêu cầu Công ty TNHH SX truyền thông ý tưởng Việt Nam phải thanh toán số tiền còn nợ phát sinh từ hợp đồng số 01/VC-YT-ME06 ngày 10/01/2006 là 244.530.000đ00 và phạt vi phạm hợp đồng là 19.562.400đ00, Hội đồng xét xử có nhận định như sau: Căn cứ các chứng có trong hồ sơ có cơ sở để xác định Công ty TNHH SX truyền thông ý tưởng Việt Nam còn nợ nguyên đơn 244.530.000đ00 phát sinh từ hợp đồng số 01/VC-YT-ME06 ngày 10/01/2006 Ngày 22/01/2007 Công ty TNHH SX truyền thông ý tưởng Việt Nam có văn bản gửi nguyên đơn đề nghị được trả chậm trong thời hạn 12 tháng và chịu lãi phát sinh với mức lãi 1,1%/tháng Ngày 29/01/2007 nguyên đơn có văn bản gửi bị đơn đồng ý với phương án do bị đơn nêu trong văn bản ngày 22/01/2007 Tuy nhiên, đến nay bị đơn đã không thực hiện thỏa thuận này Như thế là vi phạm sự thỏa thuận của các bên được qui định tại điều 3 của hợp đồng, vi phạm qui định của pháp luật qui định tại điều 523 Bộ luật dân sự nên việc Công ty CP truyền thông Tam Giác Vàng đòi Công ty TNHH SX truyền thông ý tưởng Việt Nam phải thanh toán số nợ 244.530.000đ00 và phạt vi phạm hợp đồng là 19.562.400đ00 là có cơ sở phù hợp với qui định của pháp luật tại điều 527 Bộ luật dân sự, điều 112 và 228 Luật Thương mại nên yêu cầu này cần được chấp nhận
Trang 34tiền phải thanh toán là 264.092.400đ00 Tiền án phí là: 10.922.000 (mười triệu chín trăm hai mươi hai ngàn) đồng Nộp tại Thi hành án dân sự TPHCM.
- Công ty CP truyền thông Tam Giác Vàng được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.167.950 (năm triệu một trăm sáu mươi bảy ngàn chín trăm năm mươi) đồng theo biên lai thu tiền số 002677 ngày 28/7/2006 của Thi hành án dân sự TPHCM
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 29, 34, 35 Bộ Luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 112 và 228 Luật thương mại;
Căn cứ Điều 523 và 527 Bộ Luật dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 15 và khoản 1 Điều
19 Nghị định 70-CP ngày 14-6-1997 của Chính Phủ,
Căn cứ điểm 1, mục III Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của TAND
TC - VKSND TC - Bộ Tư pháp - Bộ Tài Chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành
án về tài sản;
1 Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Buộc bị đơn Công ty TNHH SX truyền thông ý tưởng Việt Nam phải thanh toán cho Công ty CP truyền thông Tam Giác Vàng số tiền phát sinh từ hợp đồng kinh doanh thương mại số 01/VC-YT-ME06 ngày 10/01/2006 là 264.092.400đ00 (Hai trăm sáu mươi bốn triệu chín mươi hai ngàn bốn trăm đồng chẵn), bao gồm: 244.530.000đ00 tiền gốc và 19.562.400đ00 tiền phạt do vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng
2 Trách nhiệm thi hành án:
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước qui định
Trang 35tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
3 Về án phí:
- Công ty TNHH SX truyền thông ý tưởng Việt Nam phải chịu án phí, tính trên số tiền phải thanh toán là 264.092.400đ00 Tiền án phí là 10.922.000 (mười triệu chín trăm hai mươi hai ngàn) đồng Nộp tại Thi hành án dân sự TPHCM
- Công ty CP truyền thông Tam Giác Vàng được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.167.950 (năm triệu một trăm sáu mươi bảy ngàn chín trăm năm mươi) đồng theo biên lai thu tiền số 002677 ngày 28/7/2006 của Thi hành án dân sự TPHCM
4 Quyền kháng cáo
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Riêng các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết./
Trang 36Công ty TNHH Quảng Cáo Việt Mai kiện Công ty TNHH Thực phẩm và nước giải khát A&B, Sơ thẩm, TAND TPHCM, 2006 (10:43 - 24/09/2007)
Ngày 24 tháng 01 năm 2006 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 114/2005/TLST-KDTM ngày
10 tháng 05 năm 2005 tranh chấp “kinh doanh thương mại về hợp đồng tổ chức thực hiện việc quảng cáo “ theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 310/QĐXX-ST ngày 03 tháng 1 năm 2006 giữa các đương sự :
Nguyên đơn : Công ty TNHH Quảng Cáo Việt Mai
Trụ sở : 353 Nguyễn Trọng Tuyển Phường 1 Quận Tân Bình TP.Hồ chí Minh
Đại diện ủy quyền : Ông Trần Anh Tú
Địa chỉ cư trú : 221B Phan văn Trị Phường 11 Quận Bình Thạnh
(Văn bản uỷ quyền ngày 10/4/2005)
Bị đơn : Công ty TNHH Thực phẩm và nước giải khát A&B
Địa chỉ : Ap Hoà Lân, xã Thuận Giao huyện Thuận An Tỉnh Bình Dương
Đại diện uỷ quyền : bà Lê Tố Anh – Phó Giám đốc
Trang 37(Văn bản uỷ quyền 18/5/2005) Có yêu cầu vắng mặt.
NHẬN THẤY
Trong đơn khởi kiện ngày 12 tháng 04 năm 2005 và các lời trình bày tiếp theo của nguyên đơn là Công ty TNHH Quảng cáo có ông Trần Anh Tú - đại diện thì giữa nguyên đơn và bị đơn là Công ty TNHH Thực phẩm và nước giải khát A&B có giao kết kinh doanh thương mại về việc tổ chức quảng cáo chương trình “ Lý Đức
và Vodik hướng về giấc mơ huy chương vàng” nhằm mục đích giới thiệu sản phẩm mới Vodik tới người tiêu dùng tại 10 tỉnh, thành phía Bắc, hai bên ký Hợp đồng vào ngày 19/4/2004 , với tổng giá trị là 568.000.000 đồng Quá trình thực hiện hợp đồng do có phát sinh 2 đợt và cộng với Thuế VAT thì bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn là 1.078.046.000 đồng, tuy nhiên, bị đơn chỉ thanh toán cho nguyên đơn là 612.960.000 đồng, hiện còn nợ chưa thanh toán là 572.891.330 đồng Nay
do bị đơn vi phạm nghĩa vụ không thanh tóan tiền phát sinh trong hợp đồng trên nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn thanh tóan tiền nêu trên trong hạn sớm nhất
Tại văn bản tự khai ngày 30/5/2005 và tại các biên bản hòa giải tiếp theo bị đơn là Công ty TNHH Thực phẩm và nước giải khát A&B xác nhận ngày 19/4/1004 có ký hợp đồng kinh tế số 17/HĐKT/VM-2004 với nguyên đơn với nội dung và tổng giá trị hợp đồng như nguyên đơn trình bày Ngày 19/5/2004, hai bên ký tiếp phụ lục hợp đồng với trị giá là 62.800.000 đồng sau khi thực hiện xong chương trình, bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn toàn bộ giá trị hợp đồng là 612.960.000 đồng Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán 2 đợt phát sinh là không hợp lý nên không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
XÉT THẤY
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết qủa hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định :
Về thẩm quyền giải quyết : Căn cứ vào hợp đồng kinh tế số 17/HĐKT ngày
19/4/2004 và Phụ lục hợp đồng và Biên bản nghiệm thu và thanh toán đợt 1 ngày 12/6/2004 mà nguyên đơn làm cơ sở khởi kiện thể hiện giữa Công ty TNHH quảng cáo Việt Mai và Công ty TNHH Thực phẩm và nước giải khát A&B có giao kết về kinh doanh thương mại, có mục đích lợi nhuận và hiện nay bị đơn có trụ sở tại Tỉnh Bình Dương tuy nhiên do hai bên thoả thuận trong hợp đồng khi phát sinh tranh chấp sẽ do Tòa kinh tế Tòa án nhân dân TP.Hồ chí Minh giải quyết, vì vậy căn cứ vào điều 29 và 35 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của
Trang 38Tòa án nhân dân Thành phố Hồ chí Minh theo thủ tục sơ thẩm.
Về thời hiệu khởi kiện : Ngày 12/4/2005 Công ty TNHH quảng cáo Việt Mai đã khởi kiện Công ty TNHH Thực phẩm và nước giải khát A&B đến TAND.TP.Hồ chí Minh, do đó căn cứ theo điều 242 Luật thương mại thì nguyên đơn đã khởi kiện trong thời hiệu nên được chấp nhận giải quyết
Về tố tụng : Xét bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, do đó căn cứ vào khoản 1 điều 202 Bộ luật tố tụng Dân sự HĐXX quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn
Về nội dung : Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc đòi bị đơn thanh toán tiền thuê dịch vụ tổ chức và thực hiện quảng cáo chương trình “ Lý Đức và Vodik hướng về giấc mơ huy chương vàng” là 510.046.000 đồng HĐXX nhận thấy như sau :
Xét, tổng số tiền trên theo nguyên đơn trình bày là phần tiền phát sinh của Hợp đồng số 17/HĐKT ngày 19/4/2004 gồm hai đợt, cụ thể : đợt 1 là 220.000.000 đồng
và đợt 2 là 290.046.000 đồng Căn cứ vào lời trình bày của bị đơn tại biên bản hòa giải ngày 26/7/2005 xác nhận số tiền phát sinh đợt 1 hai bên đã có đối chiếu công
nợ, lời khai này phù hợp với nội dung thỏa thuận trong biên bản nghiệm thu và thanh toán đợt 1 lập ngày 12/6/2004 giữa 2 công ty, trong đó thể hiện, tổng giá trị hợp đồng số 17/HĐKT ngày 19/4/2004 ( chưa bao gồm thuế VAT ) là 568.000.000 đồng, các hạng mục phát sinh đợt 1 ( chưa bao gồm thuế VAT) là 220.000.000 đồng, phụ lục hợp đồng Cẩm Ly là 103.680.000 đồng, như vậy, số tiền phát sinh đợt 1, bị đơn đã thừa nhận nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn
Xét, tại biên bản hoà giải không thành ngày 26/7/2005 bị đơn yêu cầu nguyên đơn giải thích thêm một số vấn đề trong bảng đối chiếu đợt 1 trong buổi hòa giải tiếp theo ngày 8/8/2005 để cùng đối chiếu công nợ nhưng phía bị đơn không tham gia hoà giải mặc dù đã được Tòa thông báo và triệu tập nhiều lần vì vậy không thể chấp nhận yêu cầu trên của bị đơn
Xét, ý kiến trình bày của bị đơn trong Đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 18/1/2006 cho rằng các hoá đơn tài chính không có ngày tháng, vi phạm nguyên tắc tài chính Nhà nước và các khoản kê khai của hoá đơn phát sinh từ 11/5/2004 đến 28/7/2004
là không hợp lý vì vào các thời điểm này hai bên không có tổ chức chường trình giao lưu tại các địa điểm như nguyên đơn kê khai, HĐXX nhận thấy trong các hạng mục được tổng hợp phát sinh đợt 1 mà nguyên đơn đòi thanh toán là 220.000.000 đồng thể hiện không có các số tiền như bị đơn đã nêu ra, vì vậy, không có cơ sở
Trang 39chấp nhận
Xét, về số tiền phát sinh đợt 2 là 290.046.000 đồng tại phiên Tòa hôm nay nguyên đơn yêu cầu được thu hồi 50% là 145.023.000 đồng và chứng minh việc bị đơn đã đối chiếu thể hiện qua các bảng nghiệm thu hạng mục có chữ ký của đại diện Công
ty TNHH Thực phẩm và nước giải khát A&B là ông Sung Che Heng để yêu cầu bị đơn có trách nhiệm thanh toán chi phí này là không có cơ sở để chấp nhận, bởi lẽ,
bị đơn không thừa nhận việc ông Sung Che Heng là người đại diện khi ký vào các biên bản nghiệm thu trên, mặt khác, phía nguyên đơn cũng không xuất trình được chứng cứ chứng minh cho việc ông Sung Che Heng được Tổng giám đốc Công ty TNHH Thực phẩm và nước giải khát A&B uỷ quyền thực hiện việc nghiệm thu các hạng mục phát sinh của đợt 2, ngoài ra, việc cung cấp chứng cứ về địa chỉ cư trú hiện nay của ông Sung Che Heng, hai bên đều không nắm rõ, do đó, không thể triệu tập ông Heng tham gia tố tụng trong vụ án này.Do đó, nghĩ nên bác yêu cầu này của nguyên đơn
Xét, về thời hạn thanh toán phía nguyên đơn yêu cầu được thu hồi tiền hàng trên trong hạn 30 ngày kể từ khi án có hiệu lực là phù hợp pháp luật vì vậy nghĩ nên chấp nhận Giao nhận tiền tại cơ quan Thi hành án Dân sự TP.Hồ chí Minh
Về án phí : Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch trên phần phải trả nợ cho nguyên đơn ; nguyên đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm trên phần yêu cầu không được chấp nhận
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
+ Căn cứ điều 210 Bộ Luật tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 01 năm 2005; điều 199, 205, 206, 241 Luật thương mại ; Khỏan 2 điều 15, khoản 1 điều 19 Nghị định 70/CP của Chính phủ quy định về án phí, lệ phí của Tòa án ngày
12 tháng 06 năm 1997; Khỏan 1 phần III thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19 tháng 6 năm 1997 của TANDTC – VKSNDTC- BTP- BTC hướng dẫn việc xét xử
và thi hành án về tài sản, tuyên xử :
- Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn :
- Buộc Công ty TNHH Thực phẩm và nước giải khát A&B có trách nhiệm thanh toán số tiền phát sinh đợt 1 theo hợp đồng kinh tế số 17 ngày 19/4/2004 cho Công
ty TNHH quảng cáo Việt Mai là 220.000.000 đồng
Trang 40- Thi hành trong hạn 30 ngày sau khi án có hiệu lực pháp luật tại cơ quan Thi hành
án dân sự TP.Hồ chí Minh
- Bác yêu cầu của Công ty TNHH quảng cáo Việt Mai đòi Công ty TNHH Thực phẩm và nước giải khát A&B thanh toán 50 % số tiền phát sinh đợt 2 theo hợp đồng kinh tế số số 17 ngày 19/4/2004 cho Công ty TNHH quảng cáo Việt Mai là 145.023.000 đồng
Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chưa thi hành xong khỏan tiền trên thì hàng tháng bị đơn còn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án
· Về án phí kinh tế sơ thẩm : Công ty TNHH quảng cáo Việt Mai phải chịu là
6.800.920 đồng nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự TP.HCM, được cấn trừ vào số tiền tạm nộp án phí là 9.725.913 đồng theo Biên lai số 4797 ngày 05/5/05 của cơ quan Thi hành án dân sự TP.HCM, được nhận lại 2.924.993 đồng Công ty TNHH Thực phẩm và nước giải khát A&B chịu án phí kinh tế sơ thẩm là 9.600.000 đồng, nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự TP.Hồ chí Minh
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án