1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

cá nhân tố tụng dân sự đề 7

5 98 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đương sự có yêu cầu toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp 2.. Đương sự phản đối yêu cầu của người kh

Trang 1

Đề số 8:

Anh A và chị B kết hôn năm 2000 Sau khi kết hôn anh A được bố mẹ tặng cho căn nhà cấp 4 tại đội 5 xã M, huyện H tỉnh N Năm 2002 anh A và chị B mua thêm một căn nhà số 102 đường Y thị xã K tỉnh N Về con anh chị đã có 2 con chung Do mâu thuẫn vợ chồng tháng 6 năm 2012, chị B đã viết đơn gửi Tòa án thị xã K yêu cầu li hôn, chia tài sản và giải quyết vấn đề nuôi con với anh A

1.Hãy xác định đối tượng chứng minh của vụ án trên

2.Hãy cho biết tài liệu chứng cứ mà chị B phải gửi đến Tòa án khi nộp đơn khởi kiện

Trang 2

1.Hãy xác định đối tượng chứng minh của vụ án trên.

Điều 79 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2012quy định nghĩa vụ chứng minh như sau:

1 Đương sự có yêu cầu toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp

2 Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh

3 Cá nhân, cơ quan tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước hoặc yêu cầu toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Bộ luật Tố tụng dân sựquy định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu khởi kiện thuộc về đương sự Toà án chỉ tiến hành thu thập chứng cứ khi đương

sự đã áp dụng mọi biện pháp nhưng vẫn không tự thu thập được và có yêu cầu Toà án tiến hành thu thập Quy định này một mặt gắn trách nhiệm cho đương sự, giảm áp lực công việc cho Toà án, mặt khác cũng là cơ chế bảo đảm tính khách quan, tránh tình trạng Toà án lạm dụng trong việc thu thập chứng cứ có lợi để thiên vị cho một trong các bên

Việc các đương sự phải cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình

là một trong những nguyên tắc xuất phát từ quyền tự định đoạt của đương sự đối với việc khởi kiện của mình Nguyên tắc này thể hiện tính đặc thù vì nếu như trong tố tụng hình sự, khi có tội phạm xảy ra, thì việc thu thập chứng cứ là thẩm quyền tố tụng của cơ quan điều tra hoặc các cơ quan, đơn vị khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, còn trong tố tụng dân sự, khi cần khởi kiện để giải quyết tranh chấp và khẳng định việc khởi kiện, phản tố việc kiện có căn cứ và đúng pháp luật, thì các đương sự phải tự

Trang 3

Việc cung cấp chứng cứ, chứng minh cho các yêu cầu của mình vừa là quyền, vừa

là nghĩa vụ của đương sự Đương sự có yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, phải đưa ra chứng cứ chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp Ngược lại, nếu đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình cũng phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh Như vậy, người đưa ra yêu cầu phải có nghĩa vụ chứng minh trước; họ phải xuất trình các chứng cứ, đưa ra lý lẽ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ, đồng thời họ phải chỉ ra quy định của pháp luật cho phép chấp nhận yêu cầu của họ (tính hợp pháp của yêu cầu)

Khi bên đưa ra yêu cầu đã chứng minh được tính có căn cứ và tính hợp pháp cho yêu cầu của mình thì bên phản đối yêu cầu phải đưa ra chứng cứ, lý lẽ để chứng minh

sự phản đối đó là có căn cứ Điều đó cho thấy, theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì nghĩa vụ chứng minh không chỉ đặt ra với bên khởi kiện mà đặt ra với cả bên bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khi không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn Quy định này thể hiện sự bình đẳng, ngang bằng về nghĩa vụ chứng minh, không có loại đương sự nào được miễn trừ nghĩa vụ chứng minh, dù đương sự đó khởi kiện bảo vệ lợi ích của mình hay lợi ích chung hoặc yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác cũng không được miễn trừ nghĩa vụ này

Do đó, nếu bên đương sự có nghĩa vụ đưa chứng cứ để chứng minh mà không đưa

ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ Hậu quả đó là, nếu họ là nguyên đơn

sẽ bị bác yêu cầu, nếu là bị đơn sẽ bị xử thua kiện, sẽ phải chấp nhận các yêu cầu đã được chứng minh của nguyên đơn

Như phân tích trên, đối tượng chứng minh của vụ việc trên là chị B, anh A và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Trang 4

2.Hãy cho biết tài liệu chứng cứ mà chị B phải gửi đến Tòa án khi nộp đơn khởi kiện.

Những tài liệu chứng cứ mà chị B phải gửi đến Tòa án khi nộp đơn khởi kiện yêu cầu li hôn, chia tài sản và giải quyết vấn đề nuôi con với anh A: Pháp luật hôn nhân và gia đình quy định, hồ sơ xin ly hôn bao gồm các loại giấy tờ sau đây:

Đơn xin ly hôn

Giấy chứng nhận kết hôn: Giấy chứng nhận kết hôn bản gốc Nếu không có giấy chứng nhận kết hôn bản gốc có thể thay thế bằng bản sao do chính cơ quan nhà nước nơi thực hiện việc đăng ký kết hôn cấp

Chứng minh nhân dân/Hộ chiếu, hộ khẩu hai vợ chồng (Bản sao)

Giấy khai sinh các con (Nếu có – Bản sao)

Chứng từ, tài liệu chứng minh tài sản (Nếu có tranh chấp về tài sản – Bản sao) Giấy hòa giải của UBND phường (nếu có)

Trang 5

DANH MỤC TÀI LIÊU THAM KHẢO

1.Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội năm 2012

2.Bộ luật dân sự năm 2005

3.Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005

4.LuậtHôn nhân và gia đình năm 2000

Ngày đăng: 16/05/2016, 14:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w