1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

BAO CAO KTCNPM ĐH bách khoa hà nội

71 274 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu bạn đã làm trong lĩnh vực công nghệ phầnmềm bất kể thời gian bao lâu, tôi chắc chắn rằng bạn có thể nghĩ ra một số tình huống quyếtđịnh mà bạn đã xác định một số một số tính năng sản

Trang 1

-*** -BÀI TẬP TUẦN 1

MÔN: KINH TẾ CÔNG NGHỆ PHẦN MỀM

Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 12

Đỗ Văn Khanh - 20121900

Lê Anh Thư – 20112250 Nguyễn Văn Tiên - 20112303 Nguyễn Thanh Tuấn - 20122702

Giáo viên hướng dẫn:

PGS TS Huỳnh Quyết Thắng

Hà Nội, tháng 1 năm 2015

Trang 2

PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC BÀI TẬP 1:Lê Anh Thư BÀI TẬP 2A: Đỗ Văn Khanh – Nguyễn Thanh Tuấn

BÀI TẬP 2B: Nguyễn Văn Tiên

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

PHẦN 1: BÀI TẬP 1 4PHẦN 2: BÀI TẬP 2A 11PHẦN 3: BÀI TẬP 2B 55

Trang 4

PHẦN 1: BÀI TẬP 1

I Khái niệm Tài chính

Tài chính là một phạm trù kinh tế có liên quan đến việc phân bố, quản lý, thu hồi, đầu tưcác nguồn lưc Tài chính là thành phần quan trọng của mỗi công ty, tổ chức bao gồm cả cáccông ty, tổ chức kỹ thuật phần mềm

Tài chính phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị Phát sinhtrong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tếnhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định

Lĩnh vực tài chính liên quan đến các khái niệm về thời cơ, tiền, độ rủi ro và sự tương tácgiữa các cái yếu tố đó

Tài chính đề cập tới cách thu chi và dự toán tiền mặt Tài chính của một công ty, doanhnghiệp chính là việc cung cấp kinh phí hoạt động cho một tổ chức

Bản chất của tài chính:

 Là các quan hệ tài chính trong phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức tổnggiá trị, thông qua đó tạo lập các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích lũy và tiêudùng của các chủ thể trong nền kinh tế

 Tài chính phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phânphối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền

 Giá cả của các hàng hóa trên thị trường sẽ phản ánh xu hướng phát triển của nềnkinh tế Giá cả hàng hóa giảm thì hiệu quả nền kinh tế sẽ yếu, giá cả hàng hóa màtăng thì nền kinh tế rất hiệu quả

Trang 5

Kiểm toán là một phần của tài chính.

Kiểm toán tài chính là một hoạt động kiểm tra đặc biệt nhằm xác minh tính trung thực và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán, báo cáo tài chính của các tổ chức, cơ quan đơn vị, doanh nghiệp, bảo đảm việc tuân thủ các chuẩn mực và các quy định hiện hành Kiểm toán tài chính cần được phân biệt với kiểm toán công nghệ thông tin

Điều kiện thực hiện:

Công tác kiểm toán do cơ quan chuyên môn gồm các chuyên gia có trình độ nghiệp vụ thích hợp được pháp luật thừa nhận hoặc các công ty kiểm toán độc lập thực hiện Tùy theo các loại hình kiểm toán mà việc thực hiện kiểm toán được thực hiện bằng mệnh lệnh hành chính hoặc là các giao kết kinh tế, dân sự

III Khái niệm Kiểm soát

Kiểm soát là một thành phần của tài chính và kiểm toán Kiểm soát liên quan đến việc đolường và điều chỉnh các hoạt đông tài chính, kiểm toán Nó đảm bảo rằng mục tiêu và kế hoạchcủa tổ chức được thực thi Kiểm soát chi phí là một phần của Kiểm Soát dùng để phát hiện cácthay đổi của chi phí thực tế so với dự tính

IV Khái niệm Luồng tiền mặt

Luồng tiền mặt là sự chuyển động của tiền vào hoặc ra khỏi một doanh nghiệp, dự án, hoặcsản phẩm tài chính Nó thường được đo trong một khoảng thời gian quy định hữu hạn, thờigian Đo lưu lượng tiền mặt có thể được sử dụng để tính toán các thông số khác cung cấp thôngtin về giá trị của công ty và tình hình

Luồng tiền mặt có thể ví dụ: được sử dụng để tính toán các thông số:

 để xác định một dự án [[tỉ lệ lợi nhuận hoặc giá trị Thời gian lưu chuyển tiền

tệ vào và ra khỏi các dự án được sử dụng như là đầu vào trong các mô hình tàichính chẳng hạn như tỷ lệ nội bộ trở lại và giá trị hiện tại ròng

Trang 6

 để xác định vấn đề với một doanh nghiệp thanh khoản kế toán | thanh khoản]].

Là lợi nhuận không nhất thiết có nghĩa là chất lỏng Một công ty có thể thấtbại vì thiếu tiền mặt, ngay cả trong khi lợi nhuận

 như là một biện pháp thay thế lợi nhuận của doanh nghiệp khi nó được tinrằng kế toán dồn tích khái niệm không đại diện cho các thực tế kinh tế Ví dụ,một công ty có thể có notionally lợi nhuận, nhưng tạo ra ít tiền mặt hoạt động(có thể là trường hợpcho một công ty mà barters sản phẩm của mình hơn làbán cho tiền mặt) Trong trường hợp này, công ty có thể được xuất phát hànhthêm tiền mặt bằng cách phát hành cổ phiếu hoặc huy động thêm tài chính nợ

 dòng tiền có thể được sử dụng để đánh giá "chất lượng" thu nhập được tạo ra[[kế toán phát sinh Khi thu nhập ròng được bao gồm các hạng mục khôngdùng tiền mặt lớn được xem là chất lượng thấp

 để đánh giá rủi ro trong một sản phẩm tài chính, ví dụ như phù hợp với nhucầu tiền mặt, đánh giá rủi ro mặc định, yêu cầu tái đầu tư, vv

Lưu chuyển tiền tệ là một thuật ngữ chung chung sử dụng một cách khác nhau tùy thuộcvào ngữ cảnh Nó có thể được định nghĩa bởi người sử dụng cho mục đích riêng của họ Nó cóthể tham khảo dòng chảy hoặc dòng chảy thực tế trong quá khứ trong tương lai dự kiến Nó cóthể tham khảo tổng cộng của tất cả các dòng liên quan hoặc một nhóm nhỏ của những dòngchảy Về tập hợp bao gồm dòng tiền ròng, điều hành dòng tiền và dòng tiền

Nguồn: wiki

V Khái niệm Các quy trình ra quyết định

Nếu chúng ta giả định rằng các giải pháp ứng cử giải quyết các vấn đề kĩ thuật đưa ra tốtnhư nhau, tại sao tổ chức cần quan tâm nên chọn giải pháp nào Bởi vì thường có sự khác biệtrất lớn trong chi phí và thu nhập từ các giải pháp khác nhau Vì vậy cần phải đưa ra quyết địnhchính xác

Các quy trình ra quyết đinh:

1 Hiểu rõ thực chất vấn đề

2 Xác định các tiêu chí lựa chọn

Xác định các giải pháp kĩ thuật đúng đắn có thể thực hiện được

3 Đánh giá từng giải pháp với từng tiêu chí

Trang 7

4 Lựa chọn giải pháp thích hợp nhất

5 Giám sát việc thực hiện giải pháp đã chọn

VI Khái niệm Định giá

Một cách trừu tượng, quá trình đưa ra quyết định Việc thay thế làm tối đa tổng giá trị phảiluôn luôn được chọn Cơ sở so sánh dựa trên giá trị là so sánh một hoặc nhiều dòng tiền

Một số cơ sở so sánh bao gồm:

 giá trị hiện tại

 giá trị tương lai

 tương đương hằng năm

 tỉ lệ hoàn vốn nội bộ, thời gian hoàn vốn

Dựa theo Giá trị tiền theo thời điểm, một hoặc nhiều lường tiền với nhau khi chúng cócùng một lượng tiền tại cùng một thời điểm Việc so sánh luồng tiền chỉ có nghĩa khi chúngđược biểu hiện trong cùng một khung thời gian Chú ý rằng giá trị luôn có thể được biểu hiệnbởi tiền

Định giá tài sản tài chính được thực hiện bằng cách sử dụng một hoặc nhiều loại mô hình:

1 Các mô hình giá trị tuyệt đối xác định giá trị hiện tại của dòng chảy của một tàisản tiền mặt dự kiến trong tương lai Các loại mô hình này có hai hình thức chung:các mô hình đa giai đoạn như mô hình dòng tiền chiết khấu hoặc thời gian duy nhất

mô hình như mô hình Gordon Những mô hình này dựa vào toán học hơn là quan sátgiá

2 Các mô hình giá trị tương đối xác định giá trị dựa trên quan sát giá thị trường củatài sản tương tự

3 Mô hình tính giá tùy chọn được sử dụng cho một số loại tài sản tài chính (ví dụnhư lệnh, các tùy chọn đặt, các tùy chọn gọi, các tùy chọn cổ phiếu người lao động,đầu tư với các tùy chọn nhúng như trái phiếu phải trả trước hạn) và là một mô hìnhgiá trị hiện tại phức hợp Các tùy chọn mô hình định giá phổ biến nhất là các môhình Black-Scholes-Merton và mô hình mạng tinh thể

VII Khái niệm Lạm phát

Trang 8

Lạm phát nói chung có thể được hiểu là việc giá cả các hàng hóa tăng lên so với mức giáthời điểm trước (vật giá leo thang) Cần phải hiểu việc tăng giá ở đây là gia tăng chung của hầuhết các hàng hóa và dịch vụ, chứ không phải tăng giá một hàng hóa cá biệt Khi giá trị của hànghóa và dịch vụ tăng lên, đồng nghĩa với sức mua của đồng tiền giảm đi Khi đó, với cùng mộtlượng tiền nhưng người tiêu thụ mua được ít hàng hóa hơn so với trước đó Trong một nền kinh

tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền Khi so sánh với cácnền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá đồng tiền nội tệ so với các loại tiền tệ khác

Lạm phát cũng có thể là do khối lượng tiền lưu hành trong xã hội tăng lên khi Chính phủkhông quản lý được khối lượng tiền lưu hành, hoặc là do Chính phủ phát hành thêm tiền để bùđắp thâm hụt ngân sách Trong khi đó, số lượng hàng hóa xã hội sản xuất ra vẫn không tăng,dẫn đến thừa tiền Khi thừa tiền sẽ kích thích người tiêu dùng tăng sức mua (tăng cầu) khiến giá

cả tăng vọt, có khi đưa đến siêu lạm phát

Lạm phát cũng có thể do tác động của yếu tố bên ngoài, do dòng tiền nước ngoài đổ vàotrong nước nhiều dẫn đến thừa tiền, hoặc do giá của một số mặt hàng thiết yếu nào đó trên thếgiới tăng, chẳng hạn như giá dầu thô tăng, dẫn đến các nước có nhập khẩu dầu sẽ tăng giá điện,cước phí vận chuyển hàng hóa cũng tăng Điện và cước phí vận chuyển là những chi phí đầuvào chủ yếu của tất cả các ngành hàng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, dẫn đến giá thành sảnphẩm tăng theo

Nguồn : http://dongsaigon.vn/index.php/vi/chuyen-muc/kinh-te/108

VIII Khái niệm Sụt giá

Sụt giá là việc định giá, tính toán, phân bổ một cách có hệ thống giá trị của tài sản do sựhao mòn tài sản sau một khoảng thời gian sử dụng Khấu hao tài sản cố định được tính vào chiphí sản xuất kinh doanh trong suốt thời gian sử dụng tài sản cố định Khấu hao tài sản cố địnhliên quan đến việc hao mòn tài sản, đó là sự giảm dần về giá trị và giá trị sử dụng do tham giavào quá trình sản xuất kinh doanh, do hao mòn tự nhiên hoặc do tiến bộ khoa học công nghệ

IX Khái niệm Thuế

Chính phủ thu thuế để chi trả cho các chi phí mà xã hội cần mà không có bất kỳ tổ chức,doanh nghiệp nào chịu đầu tư Các công ty cần phải trả thuế thu nhập chiếm một phần đáng kểtrong lợi nhuận chung của công ty Một phân tích quyết định mà không tính thuế có thể dẫn tớicác sự lựa chọn sai lầm

* Lý do phải nộp thuế:

Khi nhà nước ra đời, để có tiền chi tiêu cho sự tồn tại và hoạt động của mình, nhà nước đã đặt rachế độ thuế khóa do dân cư đóng góp để hình thành quỹ tiền tệ của mình

Trang 9

* Tất cả mọi hoạt động của chính quyền cần phải có nguồn tài chính để chi (đầu tiên là nuôi bộmáy nhà nước); nguồn đầu tiên đó là các khoản thu từ thuế.

* Thuế là công cụ rất quan trọng để chính quyền can thiệp vào sự hoạt động của nền kinh tế baogồm cả nội thương và ngoại thương * Chính quyền cung ứng các hàng hóa công cộng cho côngdân, nên công dân phải có nghĩa vụ ủng hộ tài chính cho chính quyền (vì thế ở Việt Nam vànhiều nước mới có thuật ngữ "nghĩa vụ thuế")

* Giữa các nhóm công dân có sự chênh lệch về thu nhập và do đó là chênh lệch về mức sống,nên chính quyền sẽ đánh thuế để lấy một phần thu nhập của người giàu hơn và chia cho ngườinghèo hơn (thông qua cung cấp hàng hóa công cộng)

* Chính quyền có thể muốn hạn chế một số hoạt động của công dân (ví dụ hạn chế vi phạm luậtgiao thông hay hạn chế hút thuốc lá, hạn chế uống rượu) nên đánh thuế vào các hoạt động này

* Chính quyền cần khoản chi tiêu cho các khoản phúc lợi xã hội và phát triển kinh tế

X Khái niệm Giá trị tiền theo thời điểm

Một trong những khái niệm cơ bản nhất của tài chính là Giá trị tiền theo thời điểm Giá trịcủa tiền thay đổi theo thời gian Giá trị của một lượng tiền nhất định luôn luôn thay đổi theothời, giá trị ở thời điểm hiện tại luôn khác so với giá trị tiền ở thời điểm khác

Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/Time_value_of_money

XI Khái niệm Hiệu quả tối ưu trong thực hiện mục tiêu

Hiệu quả tối ưu trong thực hiện mục tiêu kinh tế là tỉ lệ các nguồn lực thực tế tiêu thụ trênnguồn lực dự kiến tiêu thụ trong việc hoàn thành các quá trình hoạt động hoặc công việc Hiệuquả có nghĩa là tiến hành một cách đúng đắn Một hành vi tối ưu giống như một hành vi hiệuquả đều mang lại kết quả nhưng tốn ít nỗ lực nhất Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của côngnghệ phần mềm bao gồm các phần mềm phức tạp, yêu cầu chất lượng, áp lực thời gian, quátrình năng lực, phân nhóm, công cụ và ngôn ngữ lập trình

XII Khái niệm Hiệu quả trong thực hiện

Hiệu quả trong quá trình thực hiện là mối quan hệ giữa việc đạt được mục tiêu và xác địnhmục tiêu Hiệu quả có nghĩa là làm những điều đúng đắn hiệu quả chỉ xem xét duy nhất khíacạnh xác định mục tiêu và với tới mục tiêu mà không quan tâm quá trình thực hiện

XIII Khái niệm Năng suất

Trang 10

Năng suất là tỉ lệ đầu ra trên đầu vào của một bối cảnh kinh tế Đầu ra là giá trị từ việcquản lý chúng một cách riêng biệt Chương trình thường được sử dụng để xác định và quản lýcác giao hàng tới một người sử dụng hoặc một thị trường trong khoảng một vài năm.

PHẦN 2: BÀI TẬP 2 A KINH TẾ CÔNG NGHIỆP PHẦN MỀM (SOFTWARE ENGINEERING ECONOMICS)

Tóm tắt – Tài liệu cung cấp cái nhìn tổng quan về kĩ thuật phân tích phần mềm và ứngdụng vào việc xây dựng phần mềm và quản lý Cái nhìn chung về các lĩnh vực của việc ướclượng giá trị phần mềm, bao gồm những kĩ thuật ước lượng chính đã có sẵn, chi phí mô hìnhcủa các thuật toán phức tạp về mặt kĩ thuật và những vấn đề nghiên cứu nổi bật về ước lượnggiá trị phần mềm

- Giới hạn các mục : giá của chương trình máy tính, giá mô hình, quyết định khôn khéo, ướclượng giá của phần mềm, kinh tế phần mềm, kĩ sư phần mềm, quản lý phần mềm

Trang 11

I Giới thiệu

Định nghĩa

Từ điển định nghĩa “Kinh tế” là “một ngành khoa học xã hội liên quan chủ yếu đến việc

mô tả và phân tích sản xuất, phân phối và tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ” Và đây là định nghĩa

về kinh tế mà tôi nghĩ là có ích hơn trong việc giải thích làm thế nào kinh tế có mỗi quan hệ vớicông nghệ phần mềm

Kinh tế là ngành học giúp con người quyết định các tình huống ngồn lực hạn chế Định

nghĩa về kinh tế này phù hợp với các ngành chủ yeues của kinh tế cổ điển rất tốt

Kinh tế vĩ mô là ngành học giúp con người quyết định các tình huống nguồn lực hạn chế

trên quy mô quốc gia hoặc toàn cầu Nó giải quyết những tác động trong những quyết định màlãnh đạo các nước đang thực hiện các vấn đề như thuế suất, lãi suất, chính sách ngoại giao vàthương mại

Kinh tế vi mô là ngành học giúp con người quyết định các tình huống hạn chế nguồn lực

trên quy mô các nhân hơn Nó giải quyết các quyết định mà cá nhân hoặc tổ chức thực hiện cácvấn đề như mua bảo hiểm giá bao nhiêu hoặc giá những sản phẩm và dịch vụ của họ

Kinh tế và quản lý công nghệ phần mềm

Nếu ta nhìn vào những nguyên tắc của phần mềm, ta thấy rằng các nhánh của kinh tế vi

mô giải quyết nhiều loại quyết định ta cần cần trong công nghệ phần mềm và quản lý

Rõ ràng, ta phải đối phó với việc nguồn lực hạn chế Sẽ không bao giờ đủ thời gian vàtiền bạc để trang trải tất cả tính năng tốt, chúng ta muốn đưa tất cả các tính năng tốt đó vào sảnphẩm phần mềm của chúng ta Và ngay cả những ngày này khi mà phần cúng và bộ nhớ ảo giá

rẻ, nhiều phần mềm quan trọng của chúng tôi luôn phải hoạt động trong một thế giới mà sứcmạnh của máy tính và bộ nhớ chính bị hạn chế Nếu bạn đã làm trong lĩnh vực công nghệ phầnmềm bất kể thời gian bao lâu, tôi chắc chắn rằng bạn có thể nghĩ ra một số tình huống quyếtđịnh mà bạn đã xác định một số một số tính năng sản xuất phần mềm như là tính năng của một

 Giai đoạn khả thi : Bao nhiêu tiền chúng ta đầu tư phân tích hệ thống thông tin(bản câu hỏi

và phỏng vấn người dùng, phân tích hệ thống hiện thời, khối lượng công việc tả những đặc

Trang 12

điểm, mô phỏng, kịch bản, nguyên mẫu) để cùng hội tụ vào một định nghĩa và khái niệm thíchhợp về hoạt động thích hợp của hệ thống Chúng ta có kế hoạch thực hiện chưa?

 Giai đoạn kế hoạch và yêu cầu : Nghiêm nhặt như thế nào để chúng ta xác định yêu cầu?Bao nhiêu tiền chúng ta đầu tư vào hoạt động yêu cầu có sự xác nhận(tính đầy đủ, tính nhấtquán, và kiểm tra tự động truy xuất nguồn gốc, các mô hình phân tích, mô phỏng, nguyên mẫu)trước khi tiến hành thiết kế và phát triển một hệ thống phần mềm?

 Giai đoạn thiết kế sản phẩm : Chúng ta nên tổ chức phần mềm nào cho nó có thể sử dụngmột phần phức tạp của phần mềm đã tồn tại nói chung nhưng không hoàn toàn đáp ứng các yêucầu của chúng tôi?

 Giai đoạn lập trình :Đưa ra một sự lựa chọn giữa lưu trữ dữ liệu và truy xuất các chươngtrình mà chủ yếu là thực hiện thời gian hiệu quả, lưu trữ hiệu quả, và dễ sủa đổi, cái chúng tanên lựa chọn để để thực hiện?

 Giai đoạn tích hợp và thử nghiệm : Làm thế nào để thử nghiệm và xác minh Chúng ta nênthực hiện trên một sản phầm trước khi tung ra cho người dùng sử dụng

 Giai đoạn bảo trì : cho một danh sách đầy đủ các sản phầm gợi ý cần cải tiến, cái mà chúng

ta sẽ thực hiện đầu tiên ?

 Từng bước xóa bỏ : Phần mềm đã cũ, khó sửa đổi Câu hỏi liệu chúng ta nên thay phầnmềm đó bằng một sản phầm mới, cấu trúc mới, hoặc để lại nó ?

Các lĩnh vực về kinh tế đã phát triển một số kĩ thuật(phân tích chi phí – lợi ích, phân tích hiệntại – giá cả, phân tích rủi ro,…) cho việc giải quyết những vấn đề quyết định ở trên Phần II củabài viết sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về những kĩ thuật và ứng dụng nó trong công nghệ phầnmềm

Một vấn đề quan trọng làm cơ sở cho kĩ thuật kinh tế trong công nghệ phần mềm là vấn đề ướclượng giá trị phần mềm Phần II bao gồm 3 mục chính được tóm tắt như sau :

III-A: Kĩ thuật ước lượng giá phần mềm

III-B: Mô hình thuật toán trong ước lượng giá phần mềm

III-B: Những vấn đề nghiên cứu đáng chú ý trong ước lượng giá phần mềm

Phần IV khái quát lại những lợi ích chính của kinh tế công nghiệp phần mềm, và những thửthách chờ đợi trong lĩnh vực

II Kĩ thuật phần tích Kinh tế công nghiệp phần mềm

Tổng quan về kĩ thuật thích hợp

Trang 13

Các lĩnh vực của kinh tế vi mô cung cấp một số lượng kĩ thuật để giải quyết vòng đời phầnmềm những vấn đề quyết định như đã đưa ra ở phần trước Hình 1 biểu diễn chìa khóa tổng thểnhững kĩ thuật và khi nào thì sử dụng chúng.

H1 KĨ THUẬT PHẦN TÍCHLÀM CHỦ CHÌA KHÓA KINH TẾ CÔNG NGHỆ PHẦN MỀM

Như đã chỉ ra trong hình 1, các kĩ thuật tối ưu hóa tiêu chuẩn có thể sử dụng khi chúng ta có thểtìm một số lượng đơn lẻ như đô la mỹ(hoặc pounds, yen, cruzeiros, ) để phục vụ vào tất cả cácquyết định có sẵn của chúng ta có thể được chuyển đổi Hoặc, nếu mục tiêu không phải đồngUSD có thể biểu diễn như các ràng buộc (hệ thống sẵn có phải có ít nhất 98%, thông thườngphải có ít nhất 150% giao dịch mỗi giây), sau đó kĩ thuật tối ưu hóa ràng buộc có thể được sửdụng Và nếu dòng tiền xảy ra vào thời điểm khác nhau, thì kĩ thuật giá trị hiện có có thể được

sử dụng để bình thường hóa chúng vào một thời điểm

Trang 14

Thường xuyên hơn, một số lợi ích thu được từ hệ thống phần mềm không thể biểu diễn bằng do

la Trong tình huống như vậy, một giải pháp thay thế sẽ không cần thống trị một giải phápkhác

Một ví dụ tình huống trong hình 2, so sánh giữa giá và lợi ích của 2 các tiếp cận để phát triển hệđiều hành cho một hệ thống sử lý giao dịch:

 Lựa chọn A : Chấp nhận một hệ điều hành có sẵn Điều này đòi hỏi 80k trong chi phí phầnmềm, nhưng sẽ đạt hiệu suất cao là 120 giao dịch mỗi giây, sử dụng 5 bộ vi xử lý máy tínhmini

 Lựa chọn B : Xây dựng hệ điều hành mới Hệ điều hành này có nhiều hiệu quả hơn, nhưngyêu cầu tới 80K đô la trong chi phí phần mềm

Hình 2 : So sánh chi phí – hiệu quả, hệ thống sử ý giao dịch

Vấn đề quyết định công nghệ phần mềm còn phức tạp hơn hình 2 nhiều Như A và B có 2 tiêuchí quan trọng mà nó khá nháu nhau(như mạnh mẽ, dễ sửa đổi, có khả năng với các chức năng).Nếu các tiêu chí đó có thể định lượng, thì một số hình có giá trị có thể được định nghĩa để hỗtrợ phân tích so sánh Nếu các tiêu chí đó không thể định lượng (thiện ý của người sử dụng, tinhthần lập trình viên, …), thì một vài kĩ thuật cho tiêu chí không thể định lượng so sánh phải được

sử sử dụng Nhưng đã đề cập ở hình 1, những kĩ thuật cho mỗi tình huống có sẵn, và được thảoluận sau

Trang 15

Phân tích rủi ro, không chắc chắn, và giá trị của thông tin.

Trong công nghệ phần mềm, những vấn đề quyết định của chúng ta nói chung là phức tạp hơnnhững gì thảo luận ở trên Là bởi vì kết quả có nhiều tùy chọn không thể xác định sớm Ví dụ,xây dựng một hệ điều hành với một vi sử lý thấp có thể đạt được, nhưng mặt khác nó không thể,với việc có thể xem xét rủi ro với một kết quả không được ưu thích Các kĩ thuật phân tích kinh

tế có sẵn để hỗ trợ chúng ta trong việc giải quyết những vấn đề như sau :

1) Những kĩ thuật quyết đinh không chắc chắn hoàn thành, chẳng hạn quy tắc maximax, vàcác luật laplace Những kĩ thuật này nói chung không đủ để quyết định công nghệ phần mềmthực tế

2) Kĩ thuật giá trị chờ đợi, chúng ta đánh giá xác suất xảy ra của mỗi kết quả(phát triển thànhcông hoặc không thành công hệ điều hành mới) và hoàn thành như đã mong đợi

EV = Prob(success) * Payoff(successful OS)

+ Prob(failure) * Payoff(unsuccessful OS)

Những kĩ thuật này tốt hơn đối với việc đưa ra quyết đinh không chắc chắn hoàn toàn, nhưngchúng vẫn còn bao hàm nguy cơ rủi ro nếu Prob(failure) cao hơn so với ước lượng của chúng ta

về nó

3) Những kĩ thuật mà chúng ta giảm bớt mức độ không chắc chắn bằng cách mua thông tin

Ví dụ, tạo mẫu là một cách mua thông tin để giảm sự không chắc chắn của chúng ta về khảnăng thành công hoặc thất bại của một hệ điều hành đa vi xử lý; bằng cách phát triển mộtnguyên mẫu nhanh chóng về các yếu tố rủi ro cao của nó, chúng ta có thể có được bức tranh rõràng về khả năng phát triển thành công hệ điều hành đầy đủ

Nói chung, tạo mẫu và các tùy chọn khác đề mua thông tin có giá trị lớn nhất cho quyết địnhtrong công nghệ phần mềm Tuy nhiên, họ luôn đặt câu hỏi : “bao nhiêu thông tin mua là đủ ?”

Về nguyên tắc, câu hỏi này có thể được trả lời thông qua học thuyết thống kê kĩ thuật bao gồmcách sử dụng luật Bayes, cho phép chúng ta tính toán thưởng phạt dự tính từ một dự án phầnmềm như là một chức năng của mức đầu từ của chúng trong một nguyên mẫu hoặc tùy chọnmua thông tin khác

Trong thực tế, sử dụng luật Bayes bao gồm ước lượng của một số xác suất có điều kiện màkhông phải dễ dành để ước lượng chính xác Tuy nhiên, tiếp cận luật Bayes có thể dịch sangmột số giá trị của thông tin

Điều kiện 1 : Chúng ta có thể tự mình vào một trong những lựa chọn thay thế hấp dẫn không cónguy cơ rủi ro đáng kể

Điều kiện 2 : Các trạng thái phê phán có một xác suất có thể thấy được Nếu không, chúng ta cóthể gửi lại mà không gặp phải rủi ro lớn Trong tình huống với sự biến đổi vô cùng cao trong

Trang 16

thưởng phạt, mức xác suất có thể thấy được là thấp hơn trong tình huống với các biến thể nhỏhơn trong thưởng phạt.

Điều kiện 3 : Điều tra nghiên cứu với một xác suất cao của việc xác định chính xác sự xảy racủa trạng thái nguy cấp trong tự nhiên Nếu không, Việc điều tra nghiên cứu sẽ không giảmđược nhiều rủi ro của chúng ta, thiệt hại sẽ làm cho quyết định bị sai lầm

Điều kiện 4 : Yêu cầu chi phí và tiến độ của các cuộc điều tra không cắt giảm giá trị ròng của

họ Nó làm cho chúng tôi có kết quả mà giá cả nhiều hơn so với học có thể cứu chúng ta, hoặcđến qua muonj giúp chúng ta có được một quyết định

Điều kiện 5 : Tồn tại những lợi ích phụ quan trọng từ thực hiện các cuộc điều tra Một lần nữa,chúng ta có thể biện mình cho một cuộc điều tra trên cơ sở giá trị của nó trong việc đào tạo, xâydụng đội ngũ, những mối quan hệ khách hành, hoặc xác nhận thiết kế

Một số cạm bẫy đã tránh bởi các tiếp cận value-of-information

Các điều kiện hướng dẫn được cung cấp bởi các phương pháp tiếp cận value-of-informationcung cấp chúng ta một viễn cảnh giúp chúng ta tránh một số cạm bẫy công nghệ phần mềmnghiêm trọng Dưới đây là những cạm bẫy :

Cạm bẫy 1 : Luôn luôn sử dụng 1 mô phỏng để điều tra tính khả thi của phầm mềm phức tạp thời gian thực Những mô phỏng thường có giá trị trong những tình huống như vậy Tuy

nhiên, Có rất nhiều mô phỏng tốt đã được phát triển, tốt kém công sức, thường xuyên trong điềukiện mà có thể được chọn bởi hướng dẫn ở trên Một số tương đối vô dụng bởi vì, một khi họcxây dụng được, không một ai có thể biết được một tập hợp đầu vào là thực tế hay không (chọncủa điều kiện 3) Một số đã được thực hiện rất lâu để phát triển mà họ đã sản xuất những kếtquả đầu tiên vào tuần sau khi đề nghị được gủi đi, hoặc sau khi xem xét lại thiết kế đã hoànthành

Cạm bẫy 2 : Luôn luôn xây dựng phần mềm 2 lần Các hướng dẫn chỉ ra cách tiếp cận nguyên

mẫu thường có giá trị, nhưng không phải trong tất cả tình huống Một số nguyên mẫu đã đượcxây dựng trong phần mềm mà các khía cạnh đều đơn giản và quen thuộc, trong trường hợpkhông có gì nhiều để học bởi xây dựng chúng

Cạm bẫy 3 : xây dụng phần mềm hoàn toàn top – down (từ trên xuống dưới).Khi giải

thích theo nghĩa đen, cách tiếp cận top-down không quan tâm chính nó với thiết kế của các môđun cấp thấp cho đến cấp cao hơn đã được phát triển đầy đủ Nếu một trạng thái đối nghịch sẽlàm mô đun mức thấp không thể phát triển, theo sau thiết kế lại nhìn chung sẽ yêu cầu làm lạitối kém cho biệc thiết kế cấp cao hơn và code Điều kiện 1 và 2 cảnh báo chúng ta ngăn lại cáchtiếp cận top-down của chúng tôi với việc phân tích rủi ro phần mềm top-to-down một cách kĩlưỡng trông suốt giai đoạn yêu cầu và thiết kế sản phẩm

Trang 17

Cạm bẫy 4 : mỗi phần code nên được chứng minh là đúng Chứng minh là đúng vẫn là

cách tốn kém để có được thông tin về các lỗi của phần mềm tự do, mặc dù nó đáp ứng mạnh mẽđiều kiện 3 bởi đưa ra một sự đảm bảo rất cao về tính đúng đắn của chương trình Điều kiện 1

và 2 khuyên rằng những kĩ thuật chứng minh được sử dụng trong những tình huống trong đó chiphí hoạt động của một phần mềm lỗi là rất lớn, đó là mất mát cuộc sống, an ninh quốc gia bị tổnhại, hoặc thiệt hại tài chính lớn Nhưng nếu chi phí hoạt động của của một phần mềm lỗi là nhỏ,thông tin được thêm vào phần mềm tự do bị lỗi sẽ được cung cấp bổi việc chứng minh sẽ không

có giá trị đầu tư

Cạm bẫy 5 : Cạm bẫy này trái ngược lại cạm bẫy 4 Nếu chi phí hoạt động của phần

mềm có lỗi tiềm tàng là lớn, nó thiếu thận trọng cao để không thực hiện thử nghiệm nominal

off-Tóm tắt : giá trị kinh tế của thông tin.

Chúng ta hãy lùi lại một chút từ những hướng dẫn và những cạm bẫy Một cách đơn giản,chúng ta nói rằng, công nghệ phần mềm : “Nó thường đánh giá trả tiền cho thông tin bởi vì nógiúp chúng ta đưa ra quyết định tốt hơn”

Chúng ta hãy nhìn vào báo cáo trong một khung cảnh rộng, chúng ta có thể nhìn thấy rằng đó lànhững lý ro nguyên gốc tại sao lĩnh vực công nghệ phần mềm lại tồn tại Đó là thực tế tất cảkhách hàng phần mềm của chúng ta nói rằng khi họ quyết định mua một sản phẩm của chúng

ta : rằng đáng giá trả cho người quản lý hệ thống thông tin, một hệ thông kiểm soát không lưu,phông hệ thống điều khiển giao thông đường không, hoặc một hệ thống kiểm kê, bởi vì nó giúpchúng ta đưa ra quyết định tốt hơn

Thông thường, các kĩ sư phần mềm là những người làm ra phần mềm quản lý thông tin để đượctiêu thụ bởi những người khác, trong suốt vòng đời của phần mềm chúng ta phải là người tiêudùng của phần mềm quản lý thông tin để hỗ trợ chúng ta quyết định Khi chúng ta đến đánh giácác yếu tố để để làm cho nó hấp dẫn cho chúng tôi để trả tiền chông thông tin xử lý giúp chúngtôi đưa ra quyết định như các kĩ sư phần mềm, chúng tôi sẽ đánh giá tốt hơn cho những gì kháchành và người dùng của chúng tôi đang tìm kiếm hệ thống xử lý thông tin, hệ thống mà chúngtôi phát triển cho họ

III, ƯỚC LƯỢNG CHI PHÍ PHẦN MỀM

Giới thiệu

Tất cả các kĩ thuật phân tích quyết định kinh tế cong nghệ phần mềm đã được thảo luận ở phầntrước chỉ là dữ liệu đầu vào chúng ta cần cung cấp cho họ Những quyết định phần mềm, quantrọng và khó khăn nhất của đầu vào là cung cấp ước lượng chi phí của một dự án phần mềm.Trong mục này, chúng ta sẽ tổng kết :

1) Các kĩ thuật ước lượng chi phsi phần mềm lớn có sẵn, thế mạnh và khó khăn tương đối củahọ

2) Mô hình thuật toán cho ước lượng chi phí phần mềm

Trang 18

3) Những vấn đề nghiên cứu đáng chú ý trong ước lượng chi phí phần mềm.

A Những kĩ thuật ước lượng chi phí phần mềm chủ yếu.

Bảng I Tóng tắt những điểm mạnh và khó khăn tương đối của phương pháp ước lượng chi phíphần mềm lớn trong ngày nay

Mô hình thuật toán Mục tiêu, có khả năng lặp lại, có khả

năng phân tích công thức

Hiệu quả, tốt cho việc phân tích độnhạy cảm

Tính khách quan để trải nghiệm

Chủ quan đầu vàoĐánh giá các trường hợp ngoại lệĐược lấy chuẩn từ quá khứ,không phải tương lai

Chuyên án Đánh giá về tính ngoại lệ, tương tác,

lượngTop-Down Tập trung hệ thống cấp

Hiệu quả

Cơ sở chi tiết ít

Ít ổn địnhBottom - up Cơ sở chi tiết nhiều

Ổn định hơn

Thúc đẩy sự cam kết cá nhân

Có thể bỏ qua hệ thống cấp

1) Những mô hình thuật toán: Những phương pháp này cung cấp một hoặc nhiều thuật toán tạo

ra một ước lượng chi phí phần mềm như là một chức năng của một số biến được xem xét là cáctrình điều khiển chi phí lớn

2) Cách nhìn của nhà chuyên môn: Phương pháp này liên quan đến việc tư vấn một hoặc nhiềuchuyên gia, có lẽ với sự trợ giúp của một cơ chế chuyên gia đồng thuận như các kỹ thuậtDelphi

3) Tương tự: Phương pháp này liên quan đến lý do tương tự với một hoặc nhiều dự án đã hoànthành liên quan đến chi phí thực tế của họ để ước tính chi phí của một dự án mới tương tự.4) Parkinson: Một nguyên tắc Parkinson ("việc mở rộng ra toàn khối lượng có sẵn") được việndẫn để đánh đồng với ước tính chi phí cho tài nguyên sẵn có

5) Price-to-Win: Ở đây, ước tính chi phí là tương đương với giá đã cho rằng cần thiết để giànhchiến thắng trong công việc

Trang 19

6) Top-Down: Ước tính tổng chi phí cho dự án được bắt nguồn từ tính chất toàn cầu của các sảnphẩm phần mềm Sau đó tổng chi phí được chia ra giữa các thành phần khác nhau.

7) Bottom-Up: Mỗi thành phần của công việc phần mềm được ước tính một cách riêng biệt, vàkết quả tổng hợp để sản xuất một ước tính cho công việc chung

Các kết luận chính mà chúng ta có thể rút ra từ Bảng I như sau:

• Không ai trong số các lựa chọn thay thế là tốt hơn so với những người khác từ tất cả các khíacạnh

• Phương pháp Parkinson và Price-to-Win là không thể chấp nhận và không làm ước tính chiphí thỏa đáng

• Các điểm mạnh và điểm yếu của các kỹ thuật khác được bổ sung (đặc biệt là các mô hìnhthuật toán chống lạisự đánh giá của chuyên gia và top-down chống lại botton-up)

• Như vậy, trong thực tế, chúng ta nên sử dụng kết hợp các kỹ thuật trên, so sánh kết quả của

họ, và làm đi làm lại chúng khi mà chúng có sự khác biệt

Hạn chế cơ bản của kĩ thuật ước lượng chi phí phần mềm

Dù có những thế mạnh của một kỹ thuật ước lượng chi phí phần mềm, nhưng thực sự là không

có cách nào chúng ta có thể mong đợi kỹ thuật này để bồi thường cho việc thiếu các định nghĩacủa chúng ta hoặc hiểu về công việc phần mềm sẽ được thực hiện Cho đến khi một đặc điểm

kỹ thuật phần mềm được định nghĩa đầy đủ, nó thực sự đại diện cho một loạt các sản phẩmphần mềm, và một phạm vi tương ứng của chi phí phát triển phần mềm

Hạn chế cơ bản này của kĩ thuật ước lương chi phí phần mềm được minh họa trong hình 3, chothấy sự chính xác trong ước lượng chi phí phần mềm có thể được thực hiện, như một chức năngcủa giai đoạn vòng đời phần mềm(trục ngang), hoặc các mức độ kiến thức của chúng ta cónhững gì các phần mềm được thiết kế để làm Mức độ không chắc chắn này được minh họatrong hình 3 đối với một giao diện thành phần người-máy tính của phần mềm

Trang 20

Bởi thời gian chúng tôi hoàn thành và xác nhận một đặc điểm kỹ thuật thiết kế sản phẩm, chúngtôi sẽ giải quyết các vấn đề đã như các cấu trúc dữ liệu nội bộ của các sản phẩm phần mềm vàcác kỹ thuật cụ thể để xử lý các vùng đệm giữa các bộ vi xử lý thiết bị đầu cuối và các bộ vi xử

lý trung tâm trên một mặt, và giữa các bộ vi xử lý và điều khiển hiển thịkhác Tại thời điểm này,ước tính phần mềm của chúng tôi phải chính xác để trong vòng hệ số 1,25, sự khác biệt đượcgây ra bởi một số nguồn tin còn lại của sự không chắc chắn như các thuật toán cụ thể được sửdụng để lập lịch trình công việc, xử lý lỗi, hủy bỏ chế biến, và như thế Những điều này sẽ đượcgiải quyết vào cuối của giai đoạn thiết kế chi tiết, nhưng vẫn có một sự không chắc chắn còn lạikhoảng 10 phần trăm dựa vào làm thế nào lập trình viên thực sự hiểu các thông số kỹ thuật mà

họ code (Yếu tố này cũng bao gồm việc xem xét như không chắc chắn doanh nhân trong cácgiai đoạn phát triển và thử nghiệm.)

B Mô hình thuật toán cho ước lượng chi phí phần mềm

Mô hình chi phí thuật toán: Phát triển sớm

Trang 21

Kể từ những ngày đầu tiên của lĩnh vực phần mềm, người đã cố gắng để phát triển môhình thuật toán để ước tính chi phí phần mềm Những nỗ lực đầu tiên là quy tắc đơn giản củangón tay cái, chẳng hạn như:

• Trên một dự án lớn thì mỗi phần mềm sẽ cung cấp một giá trị trung bình của một hướng dẫnkiểm soát đi vào cho mỗi giờ công(hoặc khoảng 150 hướng dẫn cho mỗi tháng công);

• Mỗi người bảo trì phần mềm có thể duy trì bốn hộp thẻ (một hộp thẻ được tổ chức năm 2000thẻ, hoặc khoảng 2000 hướng dẫn trong những ngày của vài thẻ phê bình)

Muộn hơn một chút, một số dự án đã bắt đầu thu thập dữ liệu định lượng về các nỗ lựctham gia vào việc phát triển một sản phẩm phần mềm, và phân phối của mình trong suốt vòngđời phần mềm Một trong những các phân tích sớm nhất này đã được ghi nhận trong năm 1956tại [8] Nó chỉ ra rằng, đối với các sản phẩm phần mềm hoạt động rất lớn vào thứ tự của100.000 dẫn nguồn cung cấp (100 KDSI), năng suất tổng thể là nhiều hơn như 64 DSI / ngườitháng, mà khác 100 KDSI các phần mềm hỗ trợ sẽ được yêu cầu, mà về 15.000 trang tài liệu sẽđược sản xuất và 3000 giờ chạy máy tính tiêu thụ, và rằng sự phân bố của các nỗ lực sẽ đượcnhư sau:

có thêm 30% yêu cầu hoạt động sản xuất đầu cơ cho hệ thống

Thật không may, các dữ liệu đó đã không trở lên nổi tiếng, và nhiều dự án phần mềm tiếp theo

đã đi qua một quá trình đau đớn của việc tái khám phá chúng

Trong thời gian cuối năm 1950 và đầu năm l960, tương đối ít tiến bộ đã được thực hiệntrong dự toán chi phí phần mềm, trong khi tần số và cường độ vượt chi phí phần mềm đã trởnên quan trọng đối với nhiều hệ thống lớn sử dụng máy tính Năm 1964, Không quân Mỹ kýhợp đồng với Công ty Cổ phần Phát triển hệ thống cho một dự án mang tính bước ngoặt tronglĩnh vực phần mềm ước lượng chi phí Dự án này đã thu thập 104 thuộc tính của 169 dự án phầnmềm và điều trị chúng để phân tích thống kê rộng Một kết quả là các mô hình 1965 SDC chiphí [41] là những thống kê có thể 13-tham số tuyến tính mô hình dự toán tốt nhất cho các dữliệu mẫu:

Trang 22

MM = -33,63

+9 1 5 (Thiếu Yêu cầu) (0-2)

+ 10.73 (Tính ổn định của thiết kế) (0-3)

+0,51 (Hướng dẫn phần trăm toán học)

+0,46 (Tỷ lệ lưu trữ / Retrieval Hướng dẫn)

+0,54 (Số cán bộ công nhân viên lỗi)

-25,20 (Phát triển bởi Tổ chức quân sự) (0-1)

Các con số trong ngoặc đơn tham khảo xếp hạng được thực hiện bằng cách lập dự toán

Khi áp dụng cho cơ sở dữ liệu của 169 dự án, mô hình này được sản xuất một ước tínhtrung bình của 40 MM và độ lệch chuẩn là 62 MM; không phải là một yếu tố dự báo rất chínhxác Hơn nữa, việc áp dụng các mô hình là khá khác thường; một dự án với tất cả đều không có

sự đánh giá được ước tính trừ đi 33 MM; thay đổi ngôn ngữ từ một ngôn ngữ bậc cao sang ngônngữ lắp ráp thêm 7 MM, độc lập với quy mô dự án Các kết quả kết luận nhất từ nghiên cứuSDC là có quá nhiều khía cạnh phi tuyến của phát triển phần mềm cho một mô hình dự toán chiphí tuyến tính để làm việc rất tốt

Tuy nhiên, những nỗ lực SDC cung cấp một cơ sở có giá trị thông tin và cái nhìn sâu sắcđối với dự toán chi phí và mô hình trong tương lai Phân phối tích lũy của năng suất cho 169 dự

án là hỗ trợ có giá trị cho sản xuất, kiểm tra dự toán chi phí Các quy tắc ước lượng của ngóntay cái cho các giai đoạn và các hoạt động khác nhau rất hữu ích, và các dữ liệu là một nền tảngquan trọng cho một số mô hình chi phí tiếp theo

Trang 23

Trong những năm cuối của thập niên 1960 và đầu những năm 1970, một số mô hình chiphí đã được phát triển để làm việc khá tốt cho một phạm vi giới hạn nhất định của dự ánmà họ

đã hiệu chỉnh Một số ví dụ đáng chú ý hơn của mô hình này là những mô tả trong [3], [54],[57]

Bản chất của mô hình TRW Wolverton [57] được thể hiện trong hình 4, trong đó chothấy một số đường cong của chi phí phần mềm trên đối tượng hướng dẫn như là một hàm củamức độ tương đối khó (0-100), tính mới của các ứng dụng (mới hoặc cũ), và loại hình dự án.Việc sử dụng tốt nhất của các mô hình liên quan đến việc phá vỡ các phần mềm vào các thànhphần và ước tính chi phí của họ riêng Điều này, một mô-đun 1.000 đối tượng hướng dẫn củaphần mềm quản lý dữ liệu mới khó khăn mức giữa(50%) sẽ được tính toán chi phí ở mức 46 $ /hướng dẫn, hoặc $ 46,000

Trang 24

Hình 4 mô hìnhTRW Wolverton Chi phí trên hướng dẫn đối tượng so với mức độ tương đốikhó khăn.

Mô hình này cũng được điều chỉnh cho một lớp các lệnh của chính phủ và kiểm soát các

dự án gần như tức thời, nhưng ít chính xác cho một số lớp học khác của dự án Ngoài ra, các môhình cung cấp phân tích tốt trong nỗ lực dự án của giai đoạn và hoạt động

Vào những năm cuối thập niên 1970, một số mô hình ước lượng chi phí phần mềm đượcphát triển để thành lập một tiến bộ đáng kể trong các nhà nước của nghệ thuật Chúng bao gồmcác Putnam SLIM Mod-el [44], Model Doty [27], các PRICE RCA S mô hình [22], mô hìnhCOCOMO [11], các mô hình IBM-FSD [53], các mô hình máy bay Boeing [9] , và một loạt các

mô hình phát triển bởi GRC [15] Một bản tóm tắt của các mô hình này, và SDC và mô hìnhWolverton trước đó, được thể hiện trong Bảng II, xét về quy mô, chương trình, máy tính, nhânviên, và các thuộc tính dự án sử dụng bởi mỗi mô hình để xác định chi phí phần mềm Bốn môhình này đầu tiên sẽ được thảo luận dưới đây

Trang 25

Các mô hình Putnam SLIM là một thương mại có sẵn (từ định lượng Phần mềm quản lý) sảnphẩm phần mềm dựa trên phân tích của Putnam về chu kỳ sống của phần mềm về sự phân bốRayleigh của cán bộ dự án cấp theo thời gian Các nỗ lực cơ bản mô hình vĩ mô được sử dụngtrong dự toán SLIM

Ss = số hướng dẫn nguồn cung cấp

K nỗ lực = vòng đời nỗ lực trong năm

td = thời gian phát triển trong nhiều năm

Ck = một “kĩ thuật bất biến."

Trang 26

Giá trị của Ck thường dao động giữa 610 và 57.314 Phiên bản hiện tại của Slim cho phépmột định cỡ Ck cho các dự án trong quá khứ hoặc cho các dự án trong quá khứ hay để ước tính

nó như là một chức năng sử dụng của dự án thực hành hiện đại lập trình, ràng buộc phần cứng,kinh nghiệm cá nhân, phát triển tương tác, và các yếu tố khác Các nỗ lực phát triển cần thiết,

DE, được ước tính là khoảng 40% những nỗ lực trong chu kỳ cho các hệ thống lớn Đối với các

hệ thống nhỏ hơn, tỷ lệ phần trăm thay đổi như một chức năng của hệ thống

Các khía cạnh gây tranh cãi nhất của mô hình là mối quan hệ cân bằng SLIM của nó giữacác nỗ lực phát triển K và giữa thời gian phát triển td Đối với một sản phẩm phần mềm của mộtkích thước nhất định, các phương trình phần mềm trên cho SLIM

Ví dụ, mối quan hệ này nói rằng người ta có thể cắt giảm chi phí của một dự án phầnmềm một nửa, chỉ đơn giản bằng cách tăng thời gian phát triển của nó bằng 19%(ví dụ, từ 10tháng đến 12 tháng) Hình 5 cho thấy mối quan hệ cân bằng SLIM so sánh với những mô hìnhkhác; xem [ll,chương 27] để thảo luận thêm về điều này

Trang 27

Hình 5 So sánh mối quan hệ cân bằng nỗ lực, tiến độ.

Kết lại, các phương pháp tiếp cận SLIM đã cung cấp một số kiến thức hữu ích vào dựtoán chi phí phần mềm, chẳng hạn như sự phân bố Rayleigh-cong cho những nỗ lực phần mềmone-shot, điều trị rõ ràng rủi ro ước lượng và sự không chắc chắn, và các mối quan hệ cube-rootđịnh nghĩa thời gian phát triển tối thiểu để thành công cho một dự án đòi hỏi phải có một số nỗlực

Mô hình Doty

Mô hình này là kết quả của một hoạt động phân tích dữ liệu rộng rãi, bao gồm nhiều điểm

dữ liệu từ mẫu SDC Một số mô hình tương tự đã được phát triển cho nhiều phạm vi ứng dụngkhác nhau Công thức tính toán là

MM = 5, 288 (KDSI)1,047 với KDSI 10 

MM =

14 1,047

Trang 28

Các giá trị của fi được thể hiện ở Bảng III Mô hình này có nhiều hình thức chức năng phùhợp hơn so với mô hình SDC nhưng nó có một số vấn đề về sự ổn định như nó bị gián đoạn ởKDSI = 10 và các sản phẩm được ước lượng khác nhau thông qua các nhân tố f.

Định nghĩa chi tiết yêu cầu hoạt động f2 1,00 1,11

Phần mềm phát triển lần đầu trên CPU f7 1,92 1,00

Phát triển đồng thời với phần cứng ADP f8 1,82 1,00

Phân chia thời gian trong xử lí f9 0,83 1,00

Nhà phát triển có thể sử dụng máy tính ở cơ sở khác f10 1,43 1,00

Phát triển tại khu vực hoạt động f11 1,39 1,00

Phát triển nhiều hơn một khu vực f13 1,25 1,00

Người lập trình truy cập tời máy tính f14 Limited 1,00

Unlimited0,90

Mô hình RCA PRICE S

PRICE S là một mô hình ước lượng chi phí được phát triển chủ yếu cho các ứng dụng hệthống nhúng Nó được cải thiện liên tục qua kinh nghiệm, các phiên bản trước đó với sự biến

Trang 29

đổi của các nhân tố chủ quan đã bị thay thế bởi các phiên bản dựa trên các số liệu từ máy tính,con người và thông số cụ thể của dự án, từ đó điều chỉnh ước lượng chi phí.

PRICE S đã mở rộng mối quan hệ trong ước lượng chi phí từ trước năm 1970, ví dụ nhưnhững rang buộc về phần cứng (được thể hiện ở sơ đồ Fig 6[10]) Nó chủ yếu được phát triểncho các dự án phần mềm về quân sự, nhưng nó cũng có thể sử dụng cho các ứng dụng thươngmại

PRICE S gần đây hỗ trợ thêm khả năng ước lượng chi phí cho vòng đời của một phần mềm

và được gọi là PRICE SL[34] Nó liên quan tới 3 yếu tố

Sự phát triển: Ước lượng chỉ định một lượng mã được thêm vào sản phẩm, sau đó PRICE

SL sử dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật để ước lượng kết quả của sự phân chia vòng đời

Sự nâng cấp: PRICE SL ước lượng các thành phần trong sản phẩm sẽ bị thay đổi và sửdụng các tiêu chuẩn kỹ thuật để ước lượng kết quả của sự phân chia vòng đời

Trang 30

Sự bảo trì: Nhà đánh giá cung cấp một số thông số về mức độ chất lượn của mã nguồn.PRICE sử dụng thông số đó để đánh giá sự cần thiết và loại bỏ các lỗi tồn tại trong sảnphẩm.

Mô hình COCOMO (COnstructive COst MOdel )

Mô hình COCOMO đã giúp mọi người hiểu được tầm quan trong của chi phí trong việcquyết định công việc, phát triển và hỗ trợ sản phầm phần mềm Bên cạnh đó việc cung cấp cáchđánh giá chi phí sản phẩm, COCOMO còn cung cấp một số lượng cụ thể để giải thích chính xáccủa ước lượng chi phí và tại sao nó đang tăng Hơn nữa, nó còn cung cấp khả năng cảm biến,phân tích thương mại của nhiểu phần mềm kỹ thuật để quyết định xây dựng và phát triển

COCOMO thực sự là một hệ thống phân cấp trong ba mô hình phát triển chi tiết, từ môhình ước lượng chi phí tỉ lệ đơn đên mô hình ước lượng chi phí với ba mức độ cấu trúc Để diễn

tả một cách cụ thể, hợp lý, ngắn gọn, các mức độ trung gian của COCOMO được mô tả dướiđây

COCOMO ước lượng của một chi phí phần mềm được đề xuất theo các cách sau

1) Xây dựng hàm ước tính kích thước phần mềm (phụ thuộc vào chế độ phát triển dự án).2) Thiết lập các thông số ảnh hưởng đến chi phí (gồm 15 thông số)

3) Kết quả ước lượng chi phí là tích của hàm ước tính kích thước với các thông số ảnhhưởng đến chi phí

4) Một số nhân tố có thể được sử dụng để xác định chi phí, lộ trình phát triển, giai đoạn vàhoạt động phân phối, chi phí máy tính, chi phí bảo trì và phát triển

Bước 1 – Xác định hàm đo kích thước sản phẩm và chế độ phát triển của dự án : Sử dụng

bảng 4 (TABLE IV) để xác định chế độ phát triển của dự án và bảng 5 (TABLE 5) là kếtquả phân tích đánh giá xây dựng hàm tính toán đối với mỗi chế độ phát triển tương ứng

Trang 32

Ví dụ chúng ta ước tính chi phí phát triển phần mềm xử lí thông tin liên lạc dựa trên bộ vi

xử lý mới, mạng lưới lớn với độ tin cậy cao, giao diện yêu cầu Từ bảng 4, chúng ta xác địnhphần mềm thuộc chế độ phát triển dự án nhúng

Chúng ta tiếp tực ước lượng số dòng lệnh trong sản phầm phần mềm là 10000 dòng tươngđương với KDSI = 10 Từ bảng 5, ta có chi phí được tính như sau:

MM = 2,8.(10)1,2 = 44 (man-months)

Bước 2 – Xác định thông số ảnh hưởng chi phí: 15 thông số được xác định ở bảng 6, bảng

7 để xác định chi phí thuộc tính , bảng 8 dùng để đánh giá độ phức tạp

 Thuộc tính sản phẩm (Product attributes)

+ RELY – Yêu cầu phần mềm tin cậy (Required software reliability)

+ DATA – Kích thước cơ sở dữ liệu dữ liệu (Database size)

+ CPLX – Độ phức tạp của phần mềm (Product complexity)

 Thuộc tính máy tính (Computer attributes)

+ TIME – Ràng buộc về thời gian thực thi (Execution time constraint)

+ STOR – Ràng buộc về lưu trữ (Main storage constraint)

+ VIRT – Linh hoạt của máy ảo (Virtual machine volatility)

+ TURN – Thời gian quay vòng (Computer turnaround time)

 Thuộc tính con người (Personnel attributes)

+ ACAP – Khả năng phân tích (Analyst capability)

+ AEXP – Kinh nghiệm ứng dụng (Applications experience)

+ PCAP – Khả năng lập trình (Programmer capability)

+ VEXP – Kinh nghiệm máy ảo (Virtual machine experience)

+ LEXP – Kinh nghiệm vê ngôn ngữ lập trình (Programming language experience)

Trang 33

 Thuộc tính dự án (Project attributes)

+ MODP – Lập trình hiện đại (Use of modern programming practices)

+ TOOL – Công cụ lập trình (Use of software tools)

+ SCED – Lịch trình phát triển (Required development schedule)

Ngày đăng: 08/05/2016, 15:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2 : So sánh chi phí – hiệu quả, hệ thống sử ý giao dịch - BAO CAO KTCNPM  ĐH bách khoa hà nội
Hình 2 So sánh chi phí – hiệu quả, hệ thống sử ý giao dịch (Trang 14)
Bảng I. Tóng tắt những điểm mạnh và khó khăn tương đối của phương pháp ước lượng chi phí phần mềm lớn trong ngày nay. - BAO CAO KTCNPM  ĐH bách khoa hà nội
ng I. Tóng tắt những điểm mạnh và khó khăn tương đối của phương pháp ước lượng chi phí phần mềm lớn trong ngày nay (Trang 18)
Hình 5. So sánh mối quan hệ cân bằng nỗ lực, tiến độ. - BAO CAO KTCNPM  ĐH bách khoa hà nội
Hình 5. So sánh mối quan hệ cân bằng nỗ lực, tiến độ (Trang 27)
Bảng III - BAO CAO KTCNPM  ĐH bách khoa hà nội
ng III (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w