1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Văn ôn tuyển sinh lớp 10

15 531 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 453 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vân xem trang trọng khác vời Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc, tuyết nhường mùa da.. Gương mặt xinh tươi như trăng r

Trang 1

Đề 10: Bình giảng đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” trong kiệt tác “Truyện Kiều” của Nguyễn Du

Bài làm

Trăm năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

(Truyện Kiều- Nguyễn Du)

“Truyện Kiều” là một kiệt tác văn học của dân tộc ta, tác phẩm đã khắc họa về cuộc đời nhiều biến cố của Thúy Kiều một người tài hoa bạc mệnh với nhiều nghệ thuật tính tế và giàu cảm xúc trong đó Nguyễn Du đã thành công trong nghệ thuật tả người tinh ý Mà đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” là một trong trong đoạn trích đã sử dụng bút pháp ước lệ, tượng trưng tiêu biểu nhất của ông

Với hai câu thơ đầu Nguyễn Du đã giới thiệu về hai chị em Thúy Kiều về vị thứ trong gia đình “Chị là Thúy Kiều, em là Thúy Vân”, là hai cô con gái đầu lòng của hai ông bà Vương Viên ngoại “Tố nga” là từ dùng để chỉ những

cô con gái đẹp, đẹp về cả cốt cách lẫn tinh thần:

Đầu lòng hai ả tố nga Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân Mai cốt cách, tuyết tinh thần Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười

Tác giả đã sử dụng hình ảnh ước lệ, tượng trưng dùng cây mai để nói lên cốt cách, tuyết để nói về tâm hồn của họ Cốt cách của hai chị âm thanh cao như mai (một loài hoa đẹp và quý Thường thì người ta dùng cây liễu để ca ngợi vẻ đẹp mỏng manh iểu điệu của các cô gái, tuy nhiên đối với Nguyễn Du ông lại sử dụng cây mai, cây mai mộc mạc nhưng lại rất cao quý có một sức sống rất mãnh mẽ bởi vì, ẩn ở bên trong thân mai là một dòng nhựa, chỉ cần gió xuân, và nắng xuân ấm áp thì nó lại bừng lên trên những nhành hoa những sắc vàng tươi thắm để báo hiệu mùa xuân đã về Tác giả đã mượn hình cây cây mai để nói về vẻ đẹp của hai chị em Thúy Kiều Còn nói về vẻ đẹp tâm hồn nhà thơ

Trang 2

dủng tuyết, tuyết rất trong trắng cũng như tâm hồn của chị em Thúy Kiều cũng rất trong trắng và hồn nhiên Hai chị em đều có nhan sắc toàn thiện toàn mĩ

“mười phân vẹn mười”, tuy thế nhưng mỗi người đều có những vẻ đẹp riêng

“mỗi người một vẻ” Một phát hiện đầy trân trọng của Nguyễn Du, dùng mai và tuyết để làm chuẩn mực của cái đẹp Việc sử dụng các hình ảnh để miêu tả cốt cách và tinh thần của chị em Thúy Kiều để làm rõ cái thần của bức chân dung thiếu nữ rất phù hợp với quan niệm về vẻ đẹp của người phụ nữ lúc bấy giờ

Vân xem trang trọng khác vời Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc, tuyết nhường mùa da

Đi vào miêu tả Thúy Vân, mỗi câu thơ đều là một nét vẽ về bức chân dung tuyệt thế giai nhân Cử chỉ, cách đi đứng,…rất trang trọng quý phái Cách cư xử thì rất đoan trang, thùy mị Mày nở nang, thanh tú như mày con bướm tằm Gương mặt xinh tươi như trăng rằm Nụ cười tươi thắm như hoa Tiếng núi trong trẻo, thanh thốt như ngọc Tóc mềm đến nỗi óng mượt đến nỗi “mây thua” Da trắng mịn làm cho tuyết phải “nhường” Cách miêu tả đặc sắc, biến hóa Sử dụng ẩn dụ, nhân hóa tài tình “Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da” thì vẻ đẹp ấy còn vượt lên trên cả vẻ đẹp của thiên nhiên Đó là một sự khác thường bởi nếu chúng ta đọc lại thơ ca trung đại, thậm chí đọc cả ca dao dân ca, vẻ đẹp của con người cùng lắm chỉ sánh ngang với vẻ đẹp của thiên nhiên mà thôi:

Cổ tay em trắng như ngà

Đôi mắt em trắng như là dao cau Miệng cười như thể hoa ngâu Cái khăn đội đầu như thể hoa sen…

Không dừng lại ở việc miêu tả Thúy Vân mà đây còn là sự đầy đặn, mĩ mãn của số phận, của cuộc đời nàng…Thiên nhiền và cũng chính là tạo hóa, sẽ chịu thua mái tóc mây, màu da tuyết để nhường bước cho nàng đi trên con đường quang đãng, bằng phẳng của cuộc dời vì nàng sinh ra để được hưởng thụ Đúng như câu nói về tính chất “có hậu” trong đoạn kết thúc Truyện Kiều:

“Phong lưu phú quý ai bì

Vườn xuân một cửa, đề bia muôn đời”

Đọc đoạn miêu tả Thúy Vân, ta đã có thể thấy được cái tài, cái khéo của Nguyễn Du trong việc sử dụng từ ngữ Thế nhưng việc miêu tả Thúy Vân chỉ là bước đệm, sử dụng nghệ thuật đòn bẩy để tiếp tục sau đó miêu tả Thúy Kiều Một lần nữa, tác giả khiến bạn đọc phải sửng sốt về năng lực miêu tả của mình:

Kiều càng sắc sảo mặn mà

So bề tài sắc lại là phần hơn Làn thu thủy, nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

Một hai nghiêng nước nghiêng thành Sắc đành đòi một, tài đành họa hai

Dung nhan Thúy Kiều đẹp “nghiêng nước nghiêng thành” Mắt đẹp như sắc nước mùa thu, long mày hanh tú xinh xắn như dáng núi mùa xuân; một vẻ đẹp

Trang 3

đằm thắm, xanh tươi mơn mởn khiến cho “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” Ngòi bút tả người của thi hào biến hóa, đa dạng: Kết hợp thần tính các nghệ thuật ẩn dụ, nhân hóa, thậm xưng với sự vận dụng tinh tế của thi liệu cổ (nghiêng nước nghiên thành) tạo nên được những vần thơ đẹp gợi cảm Hình bóng giai nhân được phác họa đôi ba nét chấm phá ước lệ nhưng hết sức thần tình, để lại cho người đọc bao cảm xúc, trân trọng Nhà thơ đã một lần nữa sử dụng bút pháp ước lệ, tượng trưng để miêu tả sắc đẹp của Thúy Vân, tạo nên những ẩn dụ đầy gợi cảm Tả Thúy Vân trước, tả Thúy Kiều sau là một dụng ý nghệ thuật đòn bẩy của Nguyễn Du để khẳng định Kiều là một tuyệt thế giai nhân

Hội họa cổ điển Phương Đông có những bút pahp1 khá độc đáo: “lấy điểm để tả diện, vẽ mây nẩy trăng”, ý là khi muốn tả một người con gái đẹp, không cần tả mọi đường nét, chỉ chọn những nét tiêu biểu nhất, hay như khi muốn tả một vầng trăng xem biết ngay đó là trăng rất sáng Nguyễn Du đã tả Thúy Kiều qua “Làn thu thủy, nét xuân sơn” – một yếu tố nghệ thuật đầy tính ước lệ, thật khó hình dung nàng Kiều đẹp như thế nào nhưng ai cũng phải thừa nhận, tả như thế là tuyệt khéo Lại còn “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” – không cần nói nhan sắc của Kiều ra sao, chỉ cần nói hoa còn phải ghen, liễu còn phải hởn với nhan sắc của Kiều thì tường như nhan sắc ấy, không lời nào có thể diễn tả nỗi nữa

Tuy nhiên, nếu đọc kĩ lại từng câu, từng lời, ta sẽ thấy dường như trong vẻ đẹp của Kiều đã ẩn chứa những mầm tai họa Nếu như vẻ đẹp của Thúy Vân,

“Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”, sự “thua” và “nhường” còn ất hiền hòa thì với vẻ đẹp của Thúy Kiều, hoa đã phải “ghen”(tức), liễu đã phải

“hờn”(giận) Có thể nói, vẻ đẹp của Thúy Vân tuy có phần trội hơn nhưng chưa tạo ra được sự đố kị, trong khi đó vẻ đẹp của Thúy Kiều đã vượt hẳn lên, ngạo nghễ thách thức với thiên nhiên, vượt ra khỏi vòng kiểm tỏa của tạo hóa

Một lần nữa, vẻ đẹp của nàng Kiều lại được dù sự khẳng định ấy càng tô đậm thêm sự “bất an” của nhan sắc Vậy mà sự thách thức của nhan sắc vẫn chưa phải là yếu tố duy nhất, tài năng của Thúy Kiều còn là một sự thách thức khác nữa:

Thông minh vốn sẵn tính trời Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm Cung thương, lầu bậc ngũ âm Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương

Khúc nhà tay lựa nên chương Một thiên “bạc mệnh” lại càng não nhân

Kiều giỏi về âm luật, giỏi đến mức “lầu bậc” Cây đàn mà nàng chơi là cây đàn Hồ cầm; tiếng đàn của nàng thật hay “ăn đứt” bất cứ nghệ sĩ nào Kiều còn biết sáng tác âm nhạc, tên khúc đàn của nàng sáng tác ra là “một thiên Bạc mệnh” nghe buồn thê thiết “não nhân”, làm cho lòng người sầu não, đau khổ:

Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng Bạc mệnh cũng là lời chung

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du không chỉ cho rằng nhan sắc là một cái họa tiềm ẩn đối với người phụ nữ (“hồng nhan bạc mệnh”) mà còn nhiều lần nhấn mạnh:

Trang 4

- Trăm năm trong cõi người ta Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau

-Chữ tài liền với chữ tay một vần

-Một vừa hai phải ai ơi!

Tài tình chi lắm cho trời đất ghen

Thúy Kiều vừa có tài lại vừa có sắc, hơn nữa, cả hai yếu tố đều nổi bật đến mức cây cỏ còn phải ghe tức, oán giận,… Xét trên nhiều yếu tố, có thể nói qua cách miêu ta, Nguyễn Du đã ngầm báo trước những điều không may sẽ xảy đến với người con gái này Hay nghe tiếng đàn của Kiều, đó không phải là những

âm thanh nhàn tản, thảnh thơi

Đức hạnh là cái gốc của con người Thúy Kiều không chỉ có tài sắc mà còn có đức hạnh Nàng được hưởng một nền giáo dục theo khuôn khổ của lễ giáo, của gia phong:

Phong lưu rất mực hồng quần Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cặp kê

Êm đềm trướng rủ màn che, Tường đông ong bướm đi về mặc ai

Câu thơ “Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cặp kê” là một câu thơ độc đáo về thanh điệu, về sử dụng phụ âm “x” (xuân xanh xấp xỉ), phụ âm “t” (tới tuần), phụ âm

“c-k” (cập kê) tạo nên âm điệu nhẹ nhàng, êm đềm của cuộc sống yên vui, êm ấm của thiếu nữ phòng khuê

Với nghệ thuật miêu tả tính tế, dự đoán về số phận của các nhân vật, Nguyễn Du đã thực sự thành công Đoạn thơ đã khắc họa được một bức chân dung vô cùng đẹp, khiến cho lòng người đọc muôn đời mãi xao xuyến không nguôi

Đề 8: Bình giảng bài thơ “Nói với con” của Y Phương

Bài làm

Trang 5

“Nói với con” của Y Phương là một trong những bài thơ tuyệt bút viết về đề tài gia đình, mà đặc biệt Y Phương là một người dân tôc Tày nên ngôn ngữ thơ rất giản dị mà giàu hình ảnh mang đậm nét của các dân tộc miền núi

Có lẽ khi chúng ta sinh ra và lớn lên thì từ thuở tấm bé đã được uống vào lóng những câu hát, lời ru thiết tha, dịu ngọt của người mẹ, người chị gái của mình Rồi chúng ta cũng đã từng nghe những câu thơ rất hay trong bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm:

“…Nàng về nuối cái cùng con Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng…”

Và khi chúng ta đọc tới thơ của T Phương thì ba tiếng “người đồng mình” đã vương vấn trong tâm hồn chúng ta những nỗi niểm bang khuâng man mác Khi đó chúng ta chợt nhớ về người mẹ, nhớ về quê hương mình, và chợt bang khuâng về Cao Bằng nơi “gạo trắng nước trong” mà chúng ta ít có dịp được đến Thơ phải có hồn, có hay mới gợi nhớ, gợi thương như thế “Người đồng mình đã kết tụ bao nhiêu tình yêu thương, tự hào của Y Phương với ước non Cao Bằng, nơi chon nhau, cắt rốn, nặng tình nặng nghĩa của mình:

Chân phải bước tới cha Chân trái bước tới mẹ

Một bước chạm tiếng nói Hai bước chạm tiếng cười

Ta tưởng như đang ngắm một bức tranh tứ bình với bốn hình ảnh: chân phải, chân trái, tiếng nói, tiếng cười của một đứa bé đang chập chững bước đi, đang

bi bô tập nói Lúc thì sà vào lòng mẹ, lúc thì níu lấy tau cha Điệp ngữ “bước tới” và động từ “chạm” dùng rất khéo, làm nổi bật cái hồn bức tranh về gia đình hạnh phúc: đôi vợ hồng trẻ với đứa con đầu lòng.’

Trang 6

“Người đồng mình yêu lắm con ơi”!- Sao không yêu? Phải yêu nhiều yêu lắm chư!

Người đồng mình yêu lắm con ơi

Đan lờ cài nan hoa Vách nhà ken câu hát Rừng cho hoa Con đường cho những tấm lòng

Nhà văn Nguyễn Tuân trong “ Người lái đò sông Đà” từng ca ngơi ông lái đò sông Đà có “bàn tay lái ra hoa” Một nhà thơ nọ, trước ev3 đẹp yêu kiều của

cô văn công đã thốt lên: “mười nụ hoa trắng ngần thơm ngát bàn tay em” Chư

“hoa”, chữ “câu hát”, chữ “tấm lòng” trong thơ Y Phương cũng rất ý vị Đan lờ đánh cá, dưới bàn tay người Tày, nhưng nan nứa, nan trúc, nan tre đã trờ thành

“nan hoa” Vách nhà chỉ ken bằng gỗ mà được ken bằng “câu hát” Rừng đâu chỉ cho nhiều gỗ quý, cho măng, cho lâm sản quý mà còn “cho hoa” Còn đường đâu chỉ đề đi ngược về xuôi, lên non xuống biển mà còn “cho những tấm lòng” nhân hậu bao dung, đó là con đường tình nghĩa:

Gập ghềnh xuống biển lên non, Con đường tình nghĩa ai còn nhớ chăng?

(Ca dao) Với Y Phương, con đường mà anh nói với con là hình bóng thân thuộc của quê hương Đường gần là con đường làng bản, đi vào thung vào rừng, đường ra sông ra suối Là con đường đi học, con đường làm ăn Đường xa là đường đi tới mọi chân trời , đến mọi miền đất nước Con đường tình nghĩa ấy được Y Phương nói lên một cách hàm súc, dung dị

Sung sướng ôm con thơ vào lòng, nhìn con khôn lớn, suy ngẫm về tình nghĩa làng bản quê nhà, nhà thơ nghĩ về cội nguồn hạnh phúc:

Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời

“Người đồng mình” không chỉ cần cù và khéo léo, tình nghĩa và tài hoa, yêu đời mà còn có bao phẩm chất tốt đẹp, đáng “thương lắm con ơi” Trong bao gian khổ khó khăn thử thách, bao niềm vui nỗi buồn cuộc đời, trải qua bao năm tháng, bà con quê hường mình, “người đồng mình” đã rèn luyện, đã hun đúc ý chí, đã “cao đo nỗi buồn- xa nuối chí lớn”, nâng cao tâm thế đẹp Câu thơ bốn chữ, đăng đối như tục ngữ, đúc kết một thái độ, một phương châm ứng xử cao quý Các từ ngữ: “cao đo”, “xa nuôi” đã thể hiện một bản lĩnh sống đẹp của dân tộc Tày, của con người Việt Nam

Người đồng mình thương lắm con ơi

Cao đo nỗi buồn

Xa nuối chí lớn Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn Sống trên đá không cha đá gập ghềnh Sống trong thung không chê thung nghèo đói

Sống như sông như suối Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc

Trang 7

Nếu người Kinh dùng lối nói:”ăn chắc mặc bền, chém to kho mặn, chân đất lưng trần, niêu cơm quả cà, mầng răng nói rứa…” để phản ánh bản chất đơn giản, mộc mạc của người dân quê chân lấm tay bùn quanh năm, thì Y Phương cũng dùng cách nói cụ thể, hình ảnh cụ thể của bà con dân tôc Tày như: “thô sơ

da thịt”, “ chẳng mấy ai nhỏ bé”, “tự đục đá kê cao quê hương” để khẳng định và ngọi ca tình thần cần cù chịu khó trong lao động, sống giản dị chất phác thật thà, không hề “nhỏ bé” tầm thường trước thiên hạ Nếp sống tốt đẹp ấy đã tạo nên chất thơ trong sáng đáng yêu của Y Phương Bản chất dân tộc, tinh thần nhân văn đã hòa quyện vào hồn thơ thi sĩ:

Người đồng mình thô sơ da thịt Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hường thì làm phong tục

Cha “nói với con” cũng là lời khuyên về con bài học đạo lí làm người Quê hương sau những năm dài chiến tranh, chưa giàu chưa đẹp, nên con người phải biế gắn bó với quê hương: “Không chê…không chê…không lo…” Trước thử thách khó khăn, con không được sống tầm thường, sống hèn kém, sống “nhỏ bé” Phải lao động sáng tạo để xây dựng, để “kê cao” quê hương:

Người đồng mình thô sơ da thịt Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hường thì làm phong tục Ở đây, ta lại bắt gặp lối nói độc đáo của người dân tôc miền núi, trong câu: Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Có thể thấy ở câu thơ này có hai lớp nghĩa: nghĩa thực và nghĩa ẩn dụ Đục đá kê cao là hoạt động có thực, thường thấy ở vùng miền núi Quê hương vốn là một khái niệm trừu tượng, chỉ nơi chốn sinh thành của một con người nào đó, gia đình nào đó Nói tự đục đá

kê cao quê hương là muốn khái quát về tinh thần tự tôn, ý thức bảo tồn cội nguồn Chuyển vào lời thơ là những ẩn dụ so sánh, những thành nhữ dân gian Điệp ngữ “sống” ba lần vang lên đã khẳng định một tâm thế, một bản lĩnh, một dáng đứng…,điều mà cha “vẫn muốn”, cha mong con, hi vọng ở con Lời thơ giản dị, chắc nịch mà lay động, thấm thía

Lời cuối “nói với con” càng trở nên tha thiết Cha nhắc con khi “lên đường” không bao giờ được sống tầm thường, sống “nhỏ bé” trước thiên hạ Phải biết giữ lấy cốt cách giản dị, mộc mạc của “người lao động” Hai tiếng “nghe con” là một tấm lòng cha bao la:

Con ơi tuy thô sơ da thịt

Lên đường Không bao giờ nhỏ bé được

Nghe con

Một cảnh tượng cảm động đang diễn ra trước mắt chúng ta Cha hiền từ âu yếm nhìn con, xoa đầu con Đứa con cúi đầu lắng nghe cha nói, cha dặn Y Phương đã tạo nên một không khí gia đình ấm áp tình cha con

Thể thơ tự do, với số câu chữ không theo khuôn định, phù hợp với mạch cảm xúc tự nhiên, linh hoạt của bài thơ Nhịp điệu lúc bay bổng, nhẹ nhàng, lúc khúc chiết, lúc rành rọt, lúc mạnh mẽ, sắt nhọn,… tạo ra một sự cộng hưởng

Trang 8

hài hòa với những cung bậc cảm xúc khác nhau trong lời người cha truyền thấm sang con Ngôn ngữ thơ giản dị, trong sáng, hình ảnh mộc mạc, cô động mà vẫn phong phú, sinh động Quả đúng là một thứ “ngôn ngữ thổ cẩm” quyến rũ

Bài thơ “Nói với con” của Y Phương quả thật là một bài thơ đặc sắc và giáu giá trị truyến thống của người dân tôc miền núi và đặc biệt là có sự gợi cảm cao Bằng việc sử dụng các hình ảnh phong phú và những lời nói thủ thỉ, tâm tình đã làm cho bài thơ đi vào lòng đọc giả

Đề 9: Bình giảng bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt

Bài làm

Thơ của cái thuở ban đầu thường là nồng, nồng đến vụng dại Ấy thế mà Bếp lửa của Bằng Việt thị lại đạm, đạm của thơ trẻ tạo ra một nét duyên riêng dễ thương lạ Đứng trong bản đồng ca thơ trẻ, thơ Bằng Việt như một giọng thầm với gam thứ tha thiết và đượm buồn, cả hai đều chân thành và trong sáng Có thể là bài thơ còn thiếu cái này cái nọ, nhưng phải nhận rằng Bếp lửa là tiếng thơ của một tấm lòng có cội nguồn, chứ không chơi vơi, nửa vời của một tâm hồn nhạy cảm tinh tế, phong phú vá mới mẻ Anh đã thổi bừng lên hết thảy những bếp lửa ấp iu nồng đượm trong kí ức của mỗi chúng ta Và cả tình cảm bà cháu đẹp như trong truyện cổ tích của anh cũng như riêng của tuổi thơ chúng ta Trong thơ ca còn có tình bà cháu nào cảm động hơn thế? Tình bà cháu như một dòng sông, dòng sông êm đềm và trong vắt, một dòng sông chở đầy kỉ niệm Một bếp lửa và một làn sương sớm Tiếng tu hú và giọng kể chuyện của bà Rồi những ngày cha mẹ đi công tác xa Rồi chau làm, cháu học với bà…Và những kỉ niệm này xin để nguyên khối, không dám lược:

Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa Một bếp lửa được nhóm lên trong sương sớm, ngọn lửa “chờn vờn” lung linh, hắt ánh sáng lên tường nhà, liếp cửa Bếp lửa ấm áp “nồng đợm” ấy còn mang tình thương chở che, ôm ấp, “ấp iu” của lòng bà Bếp lửa của bà là bếp lửa của một cuộc đời đã trải qua “biết mấy nắng mưa”, nghèo khổ và vất vả Nghĩ về bếp lửa, nhớ về bếp lửa gia đình, mà đứa cháu thương mà khôn xiết kể

Trang 9

Hai câu đầu song hành làm hiện lên hình ảnh bếp lửa của bà Các chữ: “ấp

iu nồng đơm”, “chờn vờn” rất hình tượng, gợi tả; chữ “thương” dùng thật đắt qua vần thơ cảm thán, làm cho cảm xúc lan tỏa, thấm sâu vào hồn người:

Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy Chỉ nhớ khói khun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!

Tác giả nhắc đi nhắc lại: “mùi khói”, “khói hun”, đã làm “nhèm mắt cháu”, làm cho “sống mũi còn cay” đến tận bây giờ Kỉ niệm thời thơ bé khi “lên bốn tuổi”, kỉ niệm một thời đen tối, đói khổ Cái vị cay xè của khói nơi hun bếp lửa những nhà nghèo sẽ mãi mãi bám lấy tâm hồn tuồi thơ; cho dù năm tháng trôi qua nhưng kí ức ấy trời thành một vết thương lòng đâu dễ nguôi ngoai

Trong suốt thời gian “tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa” Thật là hồn nhiên và trong sáng khi nhà thơ tâm tình với chim tu hú Chim tu hú kêu

trongnhững ngày hè, khi trái vải đã chín đỏ trên cành Tiếng chim tu hú là âm thanh đồng quê nghe thật tha thiết Tiếng chim tu hú là một sáng tạo đặc biệt của Bằng Việt khi nói về bà:

Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa

Tu hú kêu trên những cánh đồng xa Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà

Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế

Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!

Mẹ cùng cha bận công tác không về

Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học

Nhóm bếp lửa nghỉ thương bà khó nhọc,

Tu hú ơi chẳng đến ở cùng bà

Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?

Quá khứ và hiện tại đồng hiện Tiếng chim tu hú trờ thành một mảnh tâm hồn tuổi thơ Cháu thương bà vất vả, lo toan, biết ngỏ cùng ai Chỉ có thể tâm tình với chim tu hú Nhẹ trách mà thương nhiều Trong nhiều gia đình Việt Nam, do nhiều cảnh ngộ khác nhau, mà vai trò của người bà- bà ngoại, bà nội thay thế vai trò của người mẹ hiền Các từ ngữ “bà bảo”, “bà dạy”, “bà chăm” đã diễn tả một cách sâu sắc tấm lòng đôn hậu, tình thương bao la, sự chăm chút của bà đối với cháu nhỏ Chữ “bà” và “cháu” được lặp lại 4 lần gợi tả tình bà cháu quấn quýt yêu thương

Được sống trong tình thương là hạnh phúc Em bé trong bài thơ “Bép lửa” tuy phải sống xa cha mẹ, tuy gặp nhiề thiếu thốn khó khăn, nhưng em thật hạnh phúc khi được sống trong vòng tay yêu thương của bà Vì thế cháu mới cảm thấy tình cảm một cách thiết tha nồng hậu

Những kỉ niệm trôi theo một nhạc điệu tâm tình thầm thĩ, triền mien như nỗi nhớ Dòng sông êm đềm và trong vắt vẫn âm thầm chảy Chúng ta được đi dạo trên chiếc thuyền thơ với một tay lái khoan thai, chúng ta đang say mệ với những kỉ niệm thì thấy biển cả hiện ra trước mắt! Dòng sông của tình bà cháy

Trang 10

đã đổ làm biển cả và tình yêu nước Biển yên sóng lặng thôi, như cũng bát ngát, sâu thẳm:

Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi Hàng xóng bốn bên trở về lầm lụi Đỡ đần bà dựng lại túp liều tranh Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:

“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố

Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ, Cứ bảo nhà vẫn được bình yên

Mấy câu thơ chẳng có gì là hình là nhạc cả, kĩ xảo cũng không, như lời nói thường thôi Như tôi được nghe chính lời bà ngoại của mình mà như có một thứ gió lạ kì lay động tâm hồn ta mãi Đứa cháu có nghĩa có nghì thật đã biết trừng bày hạt ngọc ẩn kín trong tâm hồn người bà Và chính ánh sáng của hạt ngọc đó đã từng rọi vào tâm hồn thơi bé của đứa cháu, nhóm dậy, nhóm dậy, nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ Nhịp thơ trở nên xôn xao như sự sống sinh sôi, như cây non xòe lá, như chim non chớp cánh:

Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa MẤy chục năm rồi, đến tận bây giờ

Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ

Bà đã nhóm bếp lửa trong suốt cuộc đời bà, bà đã trải qua nắng mưa “mấy chục năm rồi” Bà không chỉ nhóm bếp lửa bằng đôi bàn tay già nua gầy guộc, mà là bằng tất cả tấm lòng đôn hậu “ ấp iu nồng đượm” của bà đối với con cháu Chữ “nhóm” được láy lại 4 lần, đan kết với những chi tiết rất thực và gần gũi thân quen đối với mọi gia đình, mọi con người chúng ta Vị ngọt bùi của khoai sắn, hương vị ngào ngạt của nồi xôi gạo mới,…đều do bàn tay tần tảo của bà “nhóm” lên Bà đã nhen nhóm, nuôi dưỡng trong lòng người com cháu bao “niềm yêu thương”, bao ước mơ hoài bão Tâm hồn và khát vọng tuổi thơ đã sáng bừng lên ừ ngọn lửa do bà “nhóm” suốt mấy chục năm trời Ánh sáng bếp lửa gia đình đã chiếu sáng bứa chân dung người bà yêu kính Người bà vĩ đại trở nên gần gũi yêu thương Trong kí ức của đứa cháu, hình ảnh người bà phảng phất máu sắc cổ tích Nghĩ về bếp lửa, nghĩ về bà, nhà thơ thốt lên ngọi

ca Cảm xúc dồn nén bỗng ùa ra, trào lên Cảm xúc thơ, chất trí tuệ của thơ qua câu cảm thán đem đến cho ta bao liên tưởng về bà, về mẹ, về mái ấm tính thương, về bếp lửa gia đình:

Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!

Đã “có ngọn khói trăm tàu”, đã “có ngọn lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả”, nhưng cháu vẫn không nguôi nhớ bà, nhớ bếp lửa gia đình thương yêu Giọng thơ trở nên đằm thắm ngọt ngào:

Giớ cháu đã đi xa Có ngọn khói trăm tàu Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả

Nhưng cũng chẳng lúc nào quên nhắc nhở:

- Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?

Ngày đăng: 23/04/2016, 19:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w