Bảng 2-3: Các loại thuế được áp dụng phổ biến ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển.Thuế trực thu Thuế đánh trên tài sản • Thuế doanh nghiệp • Thuế đánh trên chứng khóan Thuế
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA KINH TẾ - QTKD
TÀI LIỆU GIẢNG DẠY
THUẾ
Giảng viên: ThS Nguyễn Đăng Khoa
LƯU HÀNH NỘI BỘ
AN GIANG, THÁNG 08 NĂM 2015
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6
CHƯƠNG 1: BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG, VAI TRÒ CỦA THUẾ 7
I SỰ CẦN THIẾT VÀ BẢN CHẤT CỦA THUẾ 7
1 Nguồn gốc và tính tất yếu khách quan của thuế - Sự ra đời và phát triển của thuế 7
2 Khái niệm thuế, bản chất của thuế, các hình thức của thuế: 8
II CHỨC NĂNG CỦA THUẾ 12
III VAI TRÒ CỦA THUẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 15
1 Thuế - công cụ phân phối thu nhập và ổn định hóa nền kinh tế 15
2 Thuế - công cụ khắc phục khiếm khuyết của thị trường 16
CHƯƠNG 2: KHÁI LƯỢC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THUẾ VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN NAY VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI 19
I VÀI NÉT VỀ HỆ THỐNG THUẾ VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN NAY 19
1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám tới 1954 20
2 Thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1975 20
3 Giai đoạn từ 1975 đến 1990 21
4 Giai đoạn từ năm 1990 đến nay 21
II QUẢN TRỊ THUẾ Ở VIỆT NAM 24
1 Tổ chức và chức năng bộ máy thu thuế 24
2 Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thuế các cấp 24
3 Nội dung kiểm tra, thanh tra thuế 26
III ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC CẢI CÁCH THUẾ VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TỪ 2011 – 2020 26
1 Quan điểm cơ bản và mục tiêu yêu cầu cải cách thuế 26
2 Nội dung chiến lược cải cách chính sách thuế 26
CHƯƠNG 3: THUẾ TÀI NGUYÊN 30
I KHÁI NIỆM 30
II NGƯỜI NỘP THUẾ VÀ ÐỐI TƯỢNG CHỊU THUẾ 30
III CĂN CỨ TÍNH THUẾ VÀ BIỂU THUẾ TÀI NGUYÊN 32
1 Căn cứ tính thuế 32
2 Sản lượng tài nguyên tính thuế: 32
3 Giá tính thuế tài nguyên 34
4 Thuế suất thuế tài nguyên 36
IV ĐĂNG KÝ, KHAI THUẾ, NỘP THUẾ, QUYẾT TOÁN THUẾ 37
V MIỄN, GIẢM THUẾ TÀI NGUYÊN 37
CHƯƠNG 4: THUẾ XUẤT, NHẬP KHẨU 42
I TỔNG QUAN VỀ THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU 42
1 Khái niệm và vài nét lịch sử 42
2 Quá trình hình thành thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam 42
II NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU 43
1 Đối tượng chịu thuế 43
2 Đối tượng không chịu thuế 43
3 Đối tượng nộp thuế; đối tượng được ủy quyền, bảo lãnh và nộp thay thuế 43
4 Căn cứ tính thuế 44
6 Đăng ký, kê khai hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và nộp thuế 45
7 Miễn thuế, xét miễn thuế, giảm thuế 49
7 Hoàn lại thuế, truy thu thuế 59
8 Truy thu thuế 74
9 Xử lý vi phạm 76
CHƯƠNG 5: THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 77
I KHÁI NIỆM VÀ CƠ SỞ CỦA THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 77
Trang 31 Khái niệm 77
2 Cơ sở của Thuế GTGT 77
3 Các nguyên tắc của Thuế GTGT 78
4 Tác dụng của Thuế GTGT 79
5 Cơ chế vận hành của Thuế GTGT: 79
6 Ưu điểm của thuế GTGT so với các loại thuế doanh thu 82
II NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT THUẾ GTGT 83
1 Đối tượng chịu thuế GTGT 83
2 Người nộp thuế GTGT 83
3 Đối tượng không chịu thuế GTGT 84
4 Các trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT 91
5 Căn cứ tính thuế 93
6 Phương pháp tính thuế GTGT 107
7 Khấu trừ thuế GTGT 113
8 Hoàn thuế 126
9 Nơi nộp thuế 133
CHƯƠNG 6: THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT 134
I KHÁI NIỆM VÀ TÁC DỤNG 134
1 Khái niệm 134
2 Tác dụng 134
II ÐỐI TƯỢNG CHỊU THUẾ, ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ TTÐB 134
1 Ðối tượng chịu thuế 134
2 Người nộp thuế TTÐB 135
III CÁC TRƯỜNG HỢP HÀNG HÓA KHÔNG PHẢI CHỊU THUẾ TTÐB 135
2 Thuế suất thuế TTĐB 141
V HÒAN THUẾ, KHẤU TRỪ THUẾ 143
1 Hoàn thuế 143
2 Khấu trừ thuế 144
CHƯƠNG 7: THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 146
A NỘI DUNG KINH TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA THUẾ TNDN 146
B NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT THUẾ TNDN 146
I ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 146
II PHƯƠNG PHÁP VÀ CĂN CỨ TÍNH THUẾ 147
1 Phương pháp tính thuế 147
2 Xác định Thu nhập tính thuế 149
3 Doanh thu 150
4 Các khoản chi phí được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế 153
5 Các khoản thu nhập khác 165
6 Thu nhập được miễn thuế 168
7 Xác định lỗ và chuyển lỗ 172
8 Trích lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp 173
9 Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 173
III NƠI NỘP THUẾ 175
1 Nguyên tắc xác định 175
2 Xác định số thuế phải nộp 175
IV THU NHẬP TỪ CHUYỂN NHƯỢNG VỐN, CHUYỂN NHƯỢNG CHỨNG KHOÁN 176
1 Thu nhập từ chuyển nhượng vốn 176
2 Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán 177
V THU NHẬP TỪ CHUYỂN NHƯỢNG BẤT ĐỘNG SẢN 178
1 Đối tượng chịu thuế: 178
2 Căn cứ tính thuế 179
VI ƯU ĐÃI THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 182
Trang 41 Điều kiện, nguyên tắc áp dụng ưu đãi thuế TNDN 182
2 Thuế suất ưu đãi 190
3 Ưu đãi về thời gian miễn thuế, giảm thuế 194
4 Các trường hợp giảm thuế khác 195
5 Thủ tục thực hiện ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 195
CHƯƠNG 8: THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 196
I KHÁI NIỆM 196
II NGƯỜI NỘP THUẾ : 196
III THU NHẬP CHỊU THUẾ 197
1 Thu nhập từ kinh doanh 197
2 Thu nhập từ tiền lương, tiền công 197
3 Thu nhập từ đầu tư vốn 201
4 Thu nhập từ chuyển nhượng vốn 201
5 Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản 201
6 Thu nhập từ trúng thưởng 202
7 Thu nhập từ bản quyền 202
8 Thu nhập từ nhượng quyền thương mại 203
9 Thu nhập từ nhận thừa kế 203
10 Thu nhập từ nhận quà tặng 203
IV CÁC KHOẢN THU NHẬP ĐƯỢC MIỄN THUẾ: 204
1 Các khoản thu nhập được miễn thuế bao gồm: 204
2 Thủ tục, hồ sơ miễn thuế: 207
V GIẢM THUẾ 207
1 Xác định số thuế được giảm 207
2 Thủ tục, hồ sơ xét giảm thuế thực hiện theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế 208
VI QUY ĐỔI THU NHẬP CHỊU THUẾ RA ĐỒNG VIỆT NAM 208
VII KỲ TÍNH THUẾ 208
1 Đối với cá nhân cư trú 208
2 Đối với cá nhân không cư trú 209
VIII CĂN CỨ TÍNH THUẾ ĐỐI VỚI CÁ NHÂN CƯ TRÚ 209
1 Thu nhập chịu thuế từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công 209
2 Xác định thu nhập chịu thuế từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công 213
3 Các khoản giảm trừ 218
4 Căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn 223
5 Căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn 224
6 Căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản 226
7 Căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ bản quyền 227
8 Căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ nhượng quyền thương mại 228
9 Thu nhập chịu thuế từ trúng thưởng 228
10 Căn cứ tính thuế từ thừa kế, quà tặng 229
IX CĂN CỨ TÍNH THUẾ ĐỐI VỚI CÁ NHÂN KHÔNG CƯ TRÚ 230
1 Đối với thu nhập từ kinh doanh 230
2 Đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công 230
3 Đối với thu nhập từ đầu tư vốn 231
4 Đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn 231
5 Đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản 231
6 Đối với thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại 231
7 Đối với thu nhập từ trúng thưởng, thừa kế, quà tặng 232
X ĐĂNG KÝ THUẾ, KHẤU TRỪ THUẾ, KHAI THUẾ, QUYẾT TOÁN THUẾ, HOÀN THUẾ 232
1 Đối tượng phải đăng ký thuế 232
2 Hồ sơ đăng ký thuế 233
3 Địa điểm nộp hồ sơ đăng ký thuế 233
4 Đăng ký thuế đối với một số trường hợp cụ thể: 233
Trang 55 Khấu trừ thuế và chứng từ khấu trừ thuế 233
6 Khai thuế, quyết toán thuế 236
7 Trách nhiệm của tổ chức Việt Nam ký hợp đồng mua dịch vụ của nhà thầu nước ngoài không hoạt động tại Việt Nam 242
8 Hoàn thuế 242
CHƯƠNG 9: CÁC LOẠI THUẾ VỀ ĐẤT 243
A THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 243
I SƠ LƯỢC VỀ THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 243
II NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 244
1 Người nộp thuế 244
2 Đất chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp gồm 244
3 Căn cứ tính thuế 244
4 Hạng đất 245
5 Định suất 245
6 Kê khai, tính thuế và lập sổ thuế 246
7 Thu thuế và nộp thuế 246
8 Giảm thuế và miễn thuế 246
9 Xử lý vi phạm 250
B THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP 252
I ĐỐI TƯỢNG CHỊU THUẾ 252
II ĐỐI TƯỢNG KHÔNG CHỊU THUẾ 252
III NGƯỜI NỘP THUẾ 252
IV CĂN CỨ TÍNH THUẾ 253
1 Giá tính thuế 253
2 Thuế suất 253
V ĐĂNG KÝ, KHAI, TÍNH VÀ NỘP THUẾ 254
VI MIỄN, GIẢM THUẾ 254
1 Miễn thuế 254
2 Giảm thuế 255
3 Nguyên tắc miễn thuế, giảm thuế 255
CHƯƠNG 10: LỆ PHÍ MÔN BÀI, LỆ PHÍ TRƯỚC BẠ VÀ CÁC LOẠI PHÍ, LỆ PHÍ KHÁC 256
PHẦN A: LỆ PHÍ MÔN BÀI 256
I – KHÁI NIỆM 256
II - MỨC LỆ PHÍ MÔN BÀI 256
III - NỘP LỆ PHÍ MÔN BÀI 257
1 Thời gian nộp lệ phí Môn bài 257
2 Nộp lệ phí 257
PHẦN B: LỆ PHÍ TRƯỚC BẠ 259
I ĐỐI TƯỢNG CHỊU LỆ PHÍ TRƯỚC BẠ: 259
II NGƯỜI NỘP LỆ PHÍ TRƯỚC BẠ: 259
III CÁC TRƯỜNG HỢP KHÔNG PHẢI NỘP LỆ PHÍ TRƯỚC BẠ: 259
IV CĂN CỨ TÍNH, CÁCH TÍNH LỆ PHÍ TRƯỚC BẠ 263
V GHI NỢ, MIỄN LỆ PHÍ TRƯỚC BẠ: 267
PHẦN C: CÁC LOẠI PHÍ VÀ LỆ PHÍ KHÁC 268
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BOT Building - Operate - Transfer - Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao
BT Building - Transfer - Xây dựng - Chuyển giao
BTO Building - Transfer - Operate - Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh
BTU British Thermo Unit (Đơn vị đo nhiệt lượng của Anh)
CIF Costs Insurance and Freight
ĐTNN Đầu tư nước ngoài
FOB Free on Board (Giá giao lên tàu)
GATT General Agreement on Tariffs and Trade- Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịchGDP Gross Domestic Product-Sản lượng quốc nội
GNP Gross National Product-Sản lượng quốc gia
GTGT Giá trị gia tăng
NSNN Ngân sách nhà nước
ODA Official Development Assistance (Hỗ trợ phát triển chính thức)
OECD Organisation for Economic Co-operation and Development
TNCN Thu nhập cá nhân
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
TSCĐ Tài sản cố định
TTĐB Tiêu thụ đặc biệt
WTO World Trade Organisation (Tổ chức thương mại thế giới)
Trang 7CHƯƠNG 1: BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG, VAI TRÒ CỦA
THUẾ
I SỰ CẦN THIẾT VÀ BẢN CHẤT CỦA THUẾ
1 Nguồn gốc và tính tất yếu khách quan của thuế - Sự ra đời và phát triển của thuế
Thuế là một phạm trù kinh tế, đồng thời là một phạm trù lịch sử Thuế ra đời, tồn tại, phát triển cùng Nhà nước - một sản phẩm tất yếu của sự phân công lao động xã hội Lịch sử tiến hóa và phát triển của xã hội loài người đã chứng minh có 5 hình thái xã hội: từ xã hội cộng sản nguyên thủy cho đến xã hội Xã hội chủ nghĩa Trải qua sự phát triển của xã hội loài người, giai cấp đã xuất hiện và phân hóa thành giai cấp thống trị và giai cấp bị trị Số người đại diện trong giai cấp thống trị xã hội đó dần dần hình thành nên các tổ chức bộ máy cai trị xã hội và nó ngày càng được củng cố, hoàn thiện qua các chế độ xã hội – đó là Nhà nước Nhà nước ra đời đại diện cho quyền lợi của giai cấp thống trị xã hội, đó là phạm trù lịch sử của Nhà nước Nhà nước xét ở khía cạnh phân công lao động xã hội, đó là một tổ chức bộ máy với nhiều hệ thống các cơ quan
có chức năng nhiệm vụ khác nhau để tổ chức, cai quản xã hội Để hoạt động được Nhà nước cần phải có nguồn tài chính để chi tiêu, trước hết là chi cho việc duy trì và củng cố tổ chức bộ máy Nhà nước từ Trung Ương đến cơ sở trong cả nước; chi cho những công việc thuộc chức năng Nhà nước như: quốc phòng, an ninh, chi cho xây dựng và phát triển các cơ sở hạ tầng; chi cho các vấn đề phúc lợi công cộng, về sự nghiệp, về xã hội trước mắt và lâu dài Xã hội càng phát triển thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước càng lớn, cả về phạm vi và qui mô chi tiêu
Vậy thì bộ máy Nhà nước bao gồm một số người không trực tiếp sản xuất, không tạo ra thu nhập, nhưng lại rất cần có nguồn tài chính để chi tiêu, nguồn tài chính đó lấy ở đâu ra? Nguồn tài chính đó chỉ có thể lấy từ việc động viên đóng góp một phần thu nhập xã hội do các tầng lớp dân cư trong xã hội trực tiếp lao động sản xuất tạo ra Nhưng lấy bằng cách nào? Lịch
sử ra đời và phát triển của Nhà nước trong các chế độ xã hội trước đây và hiện nay đã chứng minh rằng Nhà nước có ba hình thức động viên một phần thu nhập xã hội để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình là quyên góp, vay của dân và dùng quyền lực của Nhà nước buộc dân phải đóng góp Trong 3 hình thức trên thì quyên góp phải tùy thuộc vào khả năng và sự tự nguyện của mọi người, do đó nó không công bằng, không lâu dài, không bảo đảm đuợc yêu cầu chi tiêu của Nhà nước, cho nên nó không cơ bản và chỉ được sử dụng trong những tình huống đặc biệt Hình thức vay dân thì có vay phải có trả Nhưng Nhà nước không tạo ra thu nhập thì lấy gì trả? Do đó hình thức vay dân cũng không phải là cứu cánh mà nó chỉ đuợc sử dụng trong một số hoàn cảnh đặc biệt Rõ ràng chỉ có hình thức buộc dân đóng góp là cơ bản nhất, và đây cũng chính là một trong những đặc trưng cơ bản của Nhà nước Và hình thức để buộc dân đóng góp đó chính là thuế
Từ sự phân tích trên ta có thể thấy: Thuế ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước; vì Nhà nước và do Nhà nước Nhà nước ra đời là một tất yếu khách quan; vì vậy thuế là một tất yếu khách quan với chức năng chủ yếu và đầu tiên là nhằm bảo đảm nguồn tài chính phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước
Bên cạnh đó, thuế là một phần thu nhập do những người dân trực tiếp lao động sản xuất tạo ra và đóng góp cho Nhà nước Như vậy một vấn đề đặt ra là nếu số của cải vật chất do người dân sản xuất ra chỉ đủ nuôi sống bản thân họ thì làm gì có phần đóng góp cho Nhà nước để nuôi
bộ máy gián tiếp? Về vấn đề này Các Mác đã nghiên cứu và phát hiện ra hai vấn đề quan trọng làm nền tảng cho những lý luận cơ bản về thuế là: quá trình tái sản xuất giản đơn, tái sản xuất
mở rộng là hai thuộc tính cơ bản quan trọng của hàng hóa sức lao động Lao động với tư cách là hàng hóa - một loại hàng hóa đặc biệt, qua hoạt động lao động nó tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của nó, phần mới sáng tạo ra đó được Mác gọi là thu nhập Đó chính là cơ sở đảm bảo cho tái sản xuất mở rộng, là nguồn cho sự động viên tài chính Nhà nước Rõ ràng là thuế xuất hiện trong
xã hội loài người với 2 điều kiện cần và đủ là: sự xuất hiện của Nhà nước và sự xuất hiện thu nhập xã hội Sự xuất hiện của Nhà nước tạo ra quyền lực tập trung để Nhà nước ban hành các luật lệ về thuế buộc các thành viên trong xã hội phải thực hiện Sự hình thành thu nhập trong xã
Trang 8hội là cơ sở tạo khả năng cho nguồn động viên về thuế Có thu nhập thì người dân mới có thể đóng góp cho Nhà nước và ngược lại Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xã hội, sự phát triển ngày càng cao của kinh tế hàng hóa, tiền tệ, sự gia tăng mạnh mẽ của quyền lực Nhà nước đã phát sinh những yêu cầu chi tiêu to lớn, đa dạng và phức tạp, làm nảy sinh những biến đổi mới về thuế, các quan hệ về thuế dưới hình thức giá trị đuợc hình thành
và ngày càng phát triển có tính chất hệ thống, các thứ thuế khác nhau lần lượt ra đời Với bước tiến của lịch sử, chỉ dùng hình thức thuế không đủ để đáp ứng yêu cầu chi tiêu; nhất là chi cho những công việc đột xuất, cấp bách, Nhà nước đã áp dụng hình thức phát hành công trái hoặc phát hành giấy bạc Tuy nhiên thuế vẫn là hình thức động viên tài chính chủ yếu và cơ bản nhất của Nhà nước
2 Khái niệm thuế, bản chất của thuế, các hình thức của thuế:
a Khái niệm thuế:
Thuế ra đời với những đặc trưng cơ bản như đã trình bày ở phần trên Nhưng thuế là gì? Học thuyết về thuế là một bộ phận cấu thành quan trọng của khoa học về tài chính Học thuyết này nghiên cứu về các quan hệ sản xuất trong sự tác động hỗ tương với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng Sự đa dạng của quan hệ sản xuất – đã làm cho một số quan hệ phân phối tách ra thành các quan hệ tài chính và từ đó hình thành nên những mối quan hệ phân phối mang hình thức thuế có tính độc lập tương đối
Mặc dù còn tồn tại một số bất đồng, song hầu hết các nhà kinh tế đều thống nhất rằng:
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các thể nhân và pháp nhân, được Nhà nước qui định thông qua hệ thống pháp luật nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước.
Ngoài ra còn có một khái niệm thuế được OECD đưa ra: “Thuật ngữ thuế được giới hạn trong khuôn khổ các khoản thanh toán có tính chất cưỡng chế, không có tính chất bồi hoàn lại cho chính phủ”
Tính chất thứ hai là tính cưỡng chế của thuế Nó trở thành một phạm trù độc đáo và có nét riêng Tính cưỡng chế được thể hiện thông qua các điều khoản pháp luật Thuế không thể xây dựng trên và dung hòa với tư tưởng tự nguyện; khoản thuế thu được không thể trông chờ vào thiện chí hay nhiệt tình của dân chúng đối với Nhà nước Thuế thể hiện ý chí toàn dân chứ không riêng ai cả
Đặc tính thứ ba của thuế là không có đối giá trực tiếp Nộp thuế cho Nhà nước không giống chi tiền mua một sản phẩm hay dịch vụ nào đó để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng riêng tư Nộp thuế là một nghĩa vụ không thể thoái thác và khối lượng các lợi ích mà người nộp thuế nhận được từ Nhà nước không liên quan gì đến khối lượng thuế đã chi trả, thì việc trả tiền để nhận được một món hàng hoàn toàn mang tính chất tự nguyện và thường có sự tương xứng về mặt giá trị Nhưng cũng cần lưu ý là mặc dù không đối giá trực tiếp nhưng mọi khoản thuế dân chúng đã
Trang 9nộp sẽ quay lại với họ bằng nhiều con đường khác nhau thông qua chi tiêu từ ngân sách Nhà nước.
Đặc tính thứ tư của thuế là dùng vào chi tiêu công cộng Đặc tính này giảm nhẹ ý niệm cưỡng bách của thuế Ngày nay, quyền lực công cộng đã thuộc về toàn thể dân chúng, bộ máy Nhà nước do dân chúng điều khiển, còn Nhà nước dân chủ theo nghĩa nào và ở mức độ nào, thì ở đây không bàn đến, nên việc nộp thuế và sử dụng tiền thu từ thuế cũng do dân chúng quyết định Ngoài một phần cung cấp cho quản lý hành chánh, đại bộ phận thuế thu được chuyển giao lại cho người dân khi Nhà nước chi ngân sách cho văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, giáo dục, y
tế, bảo trợ xã hội, cho các chương trình nghiên cứu khoa học, chống ô nhiễm môi truờng, chống
tệ nạn xã hội
Đặc tính thứ năm của thuế là vĩnh viễn Nộp thuế cho Nhà nước không giống cho Nhà nước vay, nên không thể đòi lợi tức và vốn đáo hạn Chúng ta biết rằng thuế dùng tài trợ công chi, mà phần lớn công chi là những khoản cấp phát, cho không Trên ý nghĩa đó, đóng thuế cho chính phủ là san sẻ một phần gánh nặng công chi
Xét về bản chất, thuế là một hình thức tái phân phối thu nhập xã hội do các doanh nghiệp và dân chúng sáng tạo, hình thành nên ngân sách nhà nước, nhằm tài trợ các nhu cầu chi tiêu công cộng Xét về hiện tượng, thuế là quá trình chuyển dịch một chiều thu nhập xã hội từ khu vực tư vào khu vực công cộng Như vậy nộp thuế thực chất là quá trình chuyển dịch chi tiêu
tư thành chi tiêu vì lợi ích chung
Tóm lại, đánh thuế là một đặc quyền chỉ thuộc về Nhà nước và thể hiện sức mạnh của Nhà nước trong đời sống xã hội Nhà nước dùng thuế tái phân phối thu nhập xã hội và điều chỉnh kinh tế vĩ mô Trong xã hội dân chủ, mặc dù không nhận đối giá trực tiếp từ số tiền thuế nhưng dân chúng cũng nhận được một cách gián tiếp thông qua lợi ích từ công chi Ở đây có điểm đáng nói, hành vi nộp thuế của người dân mang tính cụ thể, cá nhân và trực tiếp, còn sự thụ hưởng lợi ích từ chi tiêu của chính phủ mang tính trừu tượng công cộng và gián tiếp Do đó, ngoài việc hành thu thuế thật tế nhị mà minh bạch, chính phủ cần phải công bố rõ ràng chương trình hành động của mình và tăng cường giáo dục ý thức công dân về nghĩa vụ nộp thuế ngay từ bậc tiểu học Như vậy, dân chúng mới ý thức được sự cần thiết của thuế, mới xem nộp thuế là một việc làm tự nhiên và cần thiết cho cuộc sống cộng đồng
c Các hình thức thuế (phân loại thuế):
Thuế ra đời cùng với sự ra đời của Nhà nước Thời kỳ đầu khi hàng hóa chưa phát triển, thuế thường được thu bằng hiện vật Chế độ thu bằng hiện vật có mặt giản tiện cho người nộp thuế, làm ra thứ gì nộp thứ ấy; và Nhà nước sử dụng ngay số thuế bằng hiện vật ấy để chi dùng vào những nhu cầu cần thiết, thích hợp Nhưng thu thuế bằng hiện vật có mặt bất lợi cho việc thu nộp, bảo quản, không linh hoạt trong cả việc thu thuế và sử dụng số thuế thu được
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xã hội, kinh tế hàng hóa - tiền tệ ra đời và phát triển, thuế được thu bằng tiền là chủ yếu Thuế thu bằng tiền, các quan
hệ về thuế dưới hình thức giá trị được hình thành và ngày càng phát triển có tính hệ thống, các thứ thuế khác nhau lần lượt ra đời làm cho thuế ngày càng đa dạng, phong phú linh hoạt
Sự phát triển của các hình thức thuế trong lịch sử có thể giải thích phần lớn bởi lý do quản lý Do đánh thuế vào hàng nhập khẩu dễ dàng hơn là hàng hóa trong nội địa nên thuế nhập khẩu là một trong những loại thuế xuất hiện sớm nhất Tương tự thuế doanh thu là một loại thuế đơn giản đánh trên tổng giá trị hàng hóa ra đời rất lâu trước thuế GTGT Thuế đánh vào đầu người và thuế đánh vào bất động sản cũng tương đối dễ dàng thực thi nên đây là hai loại thuế trực thu đầu tiên được sử dụng
Phân theo góc độ người nộp thuế thì có thể chia làm hai loại Thuế trực thu và thuế gián thu Bản chất kinh tế của thuế trực thu là người nộp thuế đồng thời là người chịu thuế Căn cứ mức thuế qui định trong luật thuế, người nộp thuế tự tính và trích một phần thu nhập của mình trực tiếp nộp cho Nhà nước, tức là thuế thu trực tiếp vào thu nhập của người nộp thuế Ưu điểm của thuế trực thu là động viên trực tiếp vào thu nhập của từng tổ chức, cá nhân có thu nhập cho nên đảm bảo được tính công bằng xã hội: người có thu nhập cao thì phải nộp thuế nhiều, người
Trang 10có thu nhập vừa thì phải nộp ít hơn, người không có thu nhập thì không phải nộp thuế Thuế trực thu còn cho phép tính đến những yếu tố có tính độc lập với thu nhập của người nộp thuế như: hoàn cảnh bản thân; tình trạng hôn nhân; hoàn cảnh gia đình Nhưng thuế trực thu cũng có những mặt bất lợi là: việc tính toán phức tạp hơn, dễ dẫn đến tình trạng tính toán đúng thì nộp thuế đúng, tính toán không đúng thì nộp thuế không đúng và thường là phải xác định rõ thu nhập thì mới thu được thuế cho nên thường rất chậm Nhiều trường hợp phải đến kỳ quyết toán mới thu được đủ thuế, có trường hợp thu thiếu thì phải nộp thêm, thu thừa thì phải thoái trả Một trở ngại khác là thuế thu trực diện vào thu nhập của tổ chức, cá nhân nên về tâm lý là dễ bị phản ứng Mặt khác nếu chỉ thu thuế trực thu thì diện quản lý thu thuế sẽ rất rộng Tốn nhiều công sức
mà hiệu quả thấp Chính vì vậy, để động viên vào tất cả mọi người trong xã hội, người ta sử dụng thuế gián thu cùng với thuế trực thu hợp thành hệ thống thuế thống nhất, trong đó các loại thuế vừa thực hiện nhiệm vụ chính của mình, vừa hỗ trợ nhau để phát huy tác dụng đồng bộ của
cả hệ thống thuế
Thuế gián thu thường là thuế doanh thu, thuế TTĐB, thuế tiêu dùng, thuế nhập khẩu… Bản chất kinh tế của thuế gián thu là người nộp thuế có thể chuyển dịch số thuế phải nộp sang cho người mua hàng hóa, dịch vụ chịu thuế bằng cách cộng gộp số thuế đó vào giá bán hàng hóa, dịch vụ Do đó người nộp thuế không phải là người chịu thuế mà người chịu thuế chính là người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ Thuế gián thu bảo đảm được sự lựa chọn của người chịu thuế đối với các loại hàng hóa, dịch vụ mà họ quyết định mua; bảo đảm được tính tự nguyện chịu thuế Người sản xuất kinh doanh khi bán sản phẩm hàng hóa, dịch vụ sẽ thu thuế gián thu cùng với giá bán hàng và nộp khoản thuế này vào ngân sách Nhà nước Gọi là thuế gián thu vì Nhà nước thu thuế vào người tiêu dùng nhưng lại không thu trực tiếp vào thu nhập của người tiêu dùng mà lại thu gián tiếp qua người bán hàng hóa, dịch vụ Trên ý nghĩa đó, người sản xuất kinh doanh thu thuế gián thu khi bán háng hóa, dịch vụ nếu không nộp đầy đủ số thuế đã thu vào ngân sách Nhà nước thì có thể coi là hành động tham ô, chiếm đoạt công quỹ
Có thể nói thuế gián thu là loại thuế do toàn dân đóng góp; nghiệp vụ tính thuế và thu thuế đơn giản, thu kịp thời hơn thuế trực thu; thuế gián thu nằm kín trong giá cả cho nên dễ thu hơn; người chịu thuế khó nhận biết là mình phải nộp thuế nên ít phản ứng hơn Thuế gián thu mang lại nguồn thu thường xuyên và tương đối ổn định cho ngân sách Nhà nước vì bất luận trong hoàn cảnh nào thì sự tiêu dùng của con người và xã hội cũng luôn diễn ra và có xu hướng ngày càng phát triển Đối tượng quản lý thuế gián thu cũng hẹp hơn so với thuế trực thu, chỉ cần quản lý vào số doanh nghiệp kinh doanh sản xuất hàng hóa, dịch vụ là có thể thu được thuế của tất cả những người tiêu dùng hàng hóa dịch vụ trong xã hội Đối với những nước có nền kinh tế chưa phát triển, thu nhập còn thấp thì thuế gián thu thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thu của ngân sách Nhà nước Mặt nhược điểm của thuế gián thu chính là tính lũy thoái của nó Vì thuế gián thu đánh như nhau trên cùng một loại sản phẩm hàng hóa và số lượng như nhau thì chịu thuế như nhau, nhưng thực chất tỷ lệ động viên thuế gián thu so với thu nhập thì người giàu chịu thuế thấp hơn người nghèo; người có thu nhập càng cao thì tỷ lệ nộp thuế gián thu trên thu nhập càng thấp
Nếu phân loại theo tính chất lũy tiến và lũy thoái thì có thể phân thành thuế lũy tiến, thuế theo tỷ lệ và thuế lũy thoái.
Thuế lũy tiến là loại thuế theo đó tỷ lệ đóng thuế tăng lên theo thu nhập
Thuế theo tỷ lệ là loại thuế tính bằng một tỷ lệ cố định trên thu nhập
Thuế lũy thoái là loại thuế đặt gánh nặng thuế lớn hơn lên đầu những gia đình có thu nhập thấp so với những gia đình có thu nhập cao
Giữa tính lũy thoái hay lũy tiến và việc đánh thuế trực thu hoặc gián thu có quan hệ rất chặt chẽ, nhưng đôi khi hơi mơ hồ đối với người nộp thuế
Trang 11Bảng 2-3: Các loại thuế được áp dụng phổ biến ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển.
Thuế trực
thu
Thuế đánh trên tài sản
• Thuế doanh nghiệp
• Thuế đánh trên chứng khóan
Thuế thu nhập thể nhân và pháp nhân
• Thuế lợi tức công ty
• Thuế lợi tức siêu ngạch
• Thuế lợi tức do nghề khai thác mỏ
• Thuế đánh vào sự gia tăng vốn
• Thuế đánh vào lợi tức có được từ vốn tiền tệ
Thuế quan • Theo nguồn gốc
- Thuế xuất khẩu
- Thuế nhập khẩu
- Thuế quá cảnh
• Theo mục đích
- Thuế để phục vụ cho huy động vốn NSNN
- Thuế bảo hộ mậu dịch
- Thuế siêu bảo hộ mậu dịch
- Thuế chống bán phá giá
- Thuế ưu đãi
• Theo thuế suất
- Thuế quan chuyên biệt
- Thuế quan tính trên giá
- Thuế quan hỗn hợp
Bảo hiểm xã
hội
- Khoản nộp của người làm thuê
- Khoản nộp của người sử dụng lao động.
Trang 12Nếu phân loại theo chế độ phân cấp quản lý, điều hành ngân sách
Dựa vào tiêu thức này, thuế thường được phân thành: Thuế nhà nước và thuế địa phương
Thuế Nhà nước là loại thuế được huy động bởi chính phủ Trung Ương trên cơ sở pháp luật và được tập trung vào ngân sách Nhà nước
Thuế địa phương là loại thuế được chính quyền địa phương thu trên phạm vi lãnh thổ được phân công và được nộp vào ngân sách địa phương
Phân tích quan hệ tương quan giữa hai loại thuế này, các nhà kinh tế đều thống nhất rằng tại các nước công nghiệp phát triển tốc độ tăng của thuế điạ phương vượt đáng kể tốc độ tăng của thuế Nhà nước Bởi lẽ, Nhà nước Trung Ương do phải đương đầu với tình trạng thâm hụt ngân sách đã trút các chi phí gắn liền với việc điếu tiết kinh tế, đảm bảo xã hội sang tay chính quyền địa phương
Nếu phân loại theo phương thức sử dụng có thể phân thành thuế tổng hợp và thuế chuyên dùng.
Thuế tổng hợp là loại thuế tuy được thu từ nhiều nguồn đơn lẻ khác nhau nhưng được tập trung vào một quỹ tập trung thống nhất của Nhà nước và được sử dụng cho các mục đích phát triển kinh tế-xã hội có tính chất toàn quốc
Thuế chuyên dùng là loại thuế thu từ một nguồn hoặc một số nguồn đơn lẻ nhất định nào đó và được tập trung vào một quỹ nhất định Quỹ này được sử dụng gắn với những mục đích
đã được xác định trước Ví dụ điển hình nhất là thuế xăng dầu ở các nước trong liên minh châu
Âu Chính phủ các nước này đánh thuế rất nặng vào mặt hàng xăng dầu với các lý do như: khuyến khích việc tiết kiệm sử dụng năng lượng dầu mỏ, lấy tiền thuế thu đuợc để dùng vào việc bảo vệ môi trường và đầu tư, nghiên cứu tìm ra các loại nguyên liệu sạch thay thế dầu mỏ Trên thực tế, đây là một nguồn thu lớn của ngân sách và các khoản thu được từ thuế xăng dầu – theo nhiều người - lại được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau mà nhiều khi không dính dáng gì với các mục tiêu đã đề ra
Cách phân loại này đã được hình thành từ trước khi chủ nghĩa tư bản ra đời Ngày nay, chính phủ các nước công nghiệp phát triển chủ yếu là qui định các loại thuế tổng hợp Tuy nhiên
họ vẫn còn duy trì một vài loại thuế chuyên dùng nhất định để thực hiện một số nhiệm vụ cấp bách, quan trọng Một số nước còn đi xa hơn nữa trong việc sử dụng thuế tiêu dùng, thuế bảo vệ môi trường như là các loại thuế chuyên dùng để bù đắp chi phí xã hội trong việc đấu trang chống
tệ nạn nghiện hút, sử dụng ma túy, tiêu dùng rượu quá mức nhằm lành mạnh hóa môi trường xã hội và tự nhiên Ở nước ta, một số lệ phí, ví dụ như phí giao thông có thể xem là một sắc thuế chuyên dùng
II CHỨC NĂNG CỦA THUẾ
Trong thế kỷ XIX thì ý kiến phổ biến là thuế nên chủ yếu giữ vai trò tài trợ cho chính phủ nhưng cho đến nay thì thuế còn được sử dụng để đạt đến nhiều mục tiêu khác nhau Thông thường nhiều tác giả cho rằng thuế có hai chức năng chủ yếu đó là: chức năng phân phối và phân phối lại và chức năng điều tiết kinh tế Một cách nhìn hơi khác – cũng tương đối hữu ích của một chuyên gia nổi tiếng về thuế của Mỹ là Richard A Musgrave – cho rằng thuế có ba mục tiêu chính: (i) phân phối các nguồn lực; (ii) tái phân phối thu nhập; và (iii) ổn định nền kinh tế Tăng trưởng hay phát triển kinh tế và khả năng cạnh tranh thường được coi như những mục tiêu riêng
rẽ nhưng nói chung có thể sắp xếp nó như một mục tiêu thuộc nhóm (iii)
Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là loại chức năng cơ bản, đặc thù nhất
mà tất cả các nhà nước đều phải dựa vào đó Thông qua chức năng này, các quỹ bằng tiền của Nhà nước được hình thành Đây chính là sức mạnh cơ sở vật chất đảm bảo cho sự hoạt động và tồn tại của Nhà nước Khi bàn đến chức năng tài chính của thuế, một số người thường đơn giản cho rằng: thuế là phương tiện tạo nguồn thu nhập – theo nghĩa đơn thuần trưng thu tiền - đối với Nhà nước Điều đó không hoàn toàn chính xác, bởi lẽ Nhà nước có thể có tiền bằng nhiều cách khác nhau: yêu cầu ngân hàng Trung Ương mở rộng tín dụng, phát hành thêm tiền Nhưng
Trang 13việc sử dụng những phương cách này đương nhiên phải được Nhà nước cân nhắc, bởi lẽ chúng chứa đựng những mầm mống của nguy cơ lạm phát Bởi vậy, ngoài việc phát hành tín dụng để đảm bảo nhu cầu chi tiêu, Nhà nước có thể sử dụng thuế một cách thường xuyên và lâu dài Mục tiêu thực sự của chính sách thuế theo nhiều nhà kinh tế là “rút bớt sức mua khỏi những người đóng thuế để những người đóng thuế từ bỏ sự kiểm soát đối với các tài nguyên kinh tế và làm cho tài nguyên này thành khả dụng đối với Nhà nước” Theo John Mikesell, sự chuyển dịch tài nguyên đó bao gồm:
a Sự chuyển dịch khả năng mua hàng giữa các nhóm người trong khu vực các doanh nghiệp
b Sự dịch chuyển quyền kiểm soát đối với khả năng mua hàng từ khu vực các doanh nghiệp sang tay Nhà nước
Lịch sử đã cho thấy: chức năng phân phối và phân phối lại có vị trí ngày càng tăng, nhất
là vào thế kỷ XX, là thế kỷ được đặc trưng bởi sự tăng lên chưa từng có của thu nhập của Nhà nước có nguồn gốc từ thuế Điều này được giải thích bởi sự mở rộng các chức năng của Nhà nước và việc thực hiện nhiều chính sách khác nhau, trong đó có việc can thiệp của Nhà nước vào các quá trình kinh tế
Trong những năm sau chiến tranh thế giới lần thứ II, thu nhập về thuế của các nước công nghiệp phát triển tăng mỗi thập kỷ 1,5 lần hoặc hơn nữa (có tính đến yếu tố trượt giá) Đồng thời người ta ghi nhận có sự gia tăng số thu về thuế so với thu nhập quốc dân Trước chiến tranh thế giới thứ II, nếu tỷ lệ này là 20-25% thì vào nửa đầu những năm 70; ở Nhật con số tương ứng là 34%, ở Pháp là 47% (có tính đến khoản tiền nộp vào quỹ bảo hiểm xã hội) Vào giữa những năm 70 của thế kỷ này tốc độ tăng thu nhập về thuế hơi chậm lại, tỷ trọng của thuế
so với thu nhập quốc dân tương đối ổn định Tuy nhiên, hiện nay hàng loạt các nước công nghiệp phát triển, tỷ trọng của thuế cũng còn rất cao, trong khoảng từ 43-45% (ở Thụy Điển, Đan Mạch, Ireland tỷ trọng này đạt hơn 50%; ở Anh, Ý, CHLB Đức, Pháp, Áo, Bỉ, Hà Lan, Na Uy là khoảng 50%; còn ở Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Mỹ, Nhật tỷ lệ thuế trên GNP xấp xỉ 1/3)
Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế được Nhà nước vận dụng dẫn đến kết quả là diễn ra quá trình “Nhà nước hóa” một bộ phận GDP dưới hình thức tiền tệ; tạo điều kiện khách quan vô cùng cần thiết cho sự can thiệp của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế Do đó, chính chức năng phân phối và phân phối lại, trong một chừng mực rất đáng kể, đã tạo điều kiện cho sự ra đời và phát huy tác dụng chức năng điều tiết kinh tế của thuế
Bàn đến chức năng điều tiết kinh tế của thuế có nghĩa là phải xem thuế như là một tác nhân tích cực của quá trình tái phân phối và thông qua đó tác động đến quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp Chức năng này không tách rời khỏi chức năng phân phối và phân phối lại của thuế, mà cả hai chức năng đều có quan hệ tác động hỗ tương rất chặt chẽ Khi sử dụng thuế với mục đích huy động một bộ phận GDP vào tay mình thì Nhà nước đã đặt thuế vào thế tiếp cận với các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất
Nếu các nhà nước ở Liên Xô và Đông Âu trước đây hầu như thụ động trong việc vận dụng chức năng điều tiết kinh tế của thuế, thì tại các nước tư bản công nghiệp phát triển và ngày nay kể cả tại các nước đang phát triển, chức năng điều tiết kinh tế ngày càng được chú ý và càng được tăng cường đáng kể
Tại các nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển có hệ thống thuế ổn định, thuế tác động vào quá trình sản xuất của các doanh nghiệp trên cả ba yếu tố mà chúng sử dụng: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Công nhân và người làm thuê, sau khi nhận được tiền lương sẽ chi dùng số tiền cho việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ và nộp thuế Vào lúc này, thuế sẽ tác động đến quá trình sản xuất theo 3 hướng:
- Thứ nhất, thuế sẽ ảnh hưởng đến mức độ và cơ cấu của tổng cầu, đồng thời thông qua
cơ chế của mức cầu thị trường có thể thúc đầy hoặc kiềm hãm sản xuất Điều này phụ thuộc rất lớn vào thu nhập mà người dân sử dụng – thông thường là dành toàn bộ cho tiêu dùng – và vì thế
sự thay đổi mức thuế đánh vào tiêu dùng ngay lập tức tác động vào mức cầu và nói chung, ảnh
Trang 14hưởng đến tổng mức cầu có khả năng thanh toán được của nền kinh tế Nói một cách cụ thể hơn,
ở đây có hai tác dụng:
Đầu tiên, thuế làm giảm thu nhập của nhân dân Với việc làm nhỏ đi phần thu nhập có thể chi tiêu cho các hộ gia đình, thuế cao hơn có xu hướng làm cho các hộ gia đình giảm mức chi cho tiêu dùng của họ, do đó làm giảm mức cầu và GNP thực tế
Ngoài ra, thuế còn có thể tác động đến mức sản lượng tiềm năng Ví dụ: vào năm 1981
do chính quyền Reagan đưa ra một số ưu đãi về thuế đánh vào thu nhập từ đầu tư kinh doanh máy mới nên các khoản đầu tư vào các ngành kinh doanh máy móc, nhà máy đã gia tăng
- Thứ hai, mức độ đánh thuế trên thu nhập cũng ảnh hưởng đến việc xác định tiền lương, bởi vì khi tính toán tiền lương giới chủ và người làm thuê bao giờ cũng chú ý đến tiền thuế như là một yếu tố của tiền lương phải được xem xét tới
- Thứ ba, thuế còn tác động đến việc mua sắm, sử dụng và phục hồi tài sản cố định (TSCĐ) trong doanh nghiệp, thông qua các qui định của Nhà nước về hình thành, sử dụng quỹ khấu hao Như mọi người đều biết, TSCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, thường xuyên bị hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình cho đến khi không còn tác dụng nữa Sau đời phục vụ của mình, TSCĐ cần được phục hồi Việc phục hồi này được tiến hành bằng cách lập quỹ khấu hao,
là một loại quỹ, mà xét theo quan điểm của cơ quan thuế, được hình thành từ một bộ phận lợi tức không phải chịu thuế Quy mô của quỹ khấu hao - vốn là nguồn để tái sản xuất TSCĐ – trong chừng mực đáng kể chịu sự tác động của mức thuế (nhất là thuế lợi tức)
Giữa hai chức năng (chức năng phân phối và phân phối lại và chức năng điều tiết kinh tế) của thuế tồn tại mối quan hệ chặt chẽ Mối quan hệ này – xét về bản chất - phản ánh sự thống nhất của hai mặt đối lập Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là nguyên nhân ảnh hưởng đến sự vận động và phát triển của chức năng điều tiết kinh tế Một khi mà các nguồn tài chính mà nhà nước tập trung được dưới dạng thuế gia tăng đáng kể thì lúc đó việc này lại tạo điều kiện khách quan để Nhà nước tác động trên diện tích rộng và cả theo chiều sâu tới quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Ngược lại, việc điều tiết, sắp xếp sản xuất của Nhà nước nhằm vào việc thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế lại tạo điều kiện để tăng thu nhập của các tầng lớp nhân dân và đây chính là cơ sở quan trọng để mở rộng phạm vi tác động của chức năng phân phối và phân phối lại Do đó, các chức năng của thuế, trước hết quan hệ hỗ tương và tác động lẫn nhau
Sự thống nhất nội tại của các chức năng hoàn toàn không loại trừ các mâu thuẫn tồn tại giữa chúng, bởi lẽ mỗi chức năng phản ánh từng mặt nhất định của các quan hệ có tính chất thuế vẫn luôn luôn mâu thuẫn với nhau Chức năng phân phối và phân phối lại phản ánh các mối quan
hệ giữa Nhà nước hướng tới người nộp thuế Ngay trong chức năng phân phối và phân phối lại
đã chứa đựng những mầm mống của sự phát triển mâu thuẫn giữa một bên là sự cần thiết mở rộng nguồn thu vế thuế của Nhà nước với một bên là sự phản kháng và sự không hài lòng của các thành viên trong xã hội khi nộp thuế
Mâu thuẫn của chức năng điều tiết kinh tế biểu hiện ở chỗ: nhu cầu thực tế của sự can thiệp của Nhà nước đối với quá trình sản xuất kinh doanh đụng chạm phải lợi ích kinh tế của từng nhà doanh nghiệp Trong khi hình thành và vận dụng một chính sách thuế, nhiều chính phủ thuờng hay mắc sai lầm: không tôn trọng đầy đủ cả hai chức năng, thường xem trọng chức năng này hơn chức năng kia và ngược lại; điều này rõ ràng làm tổn hại đến chức năng còn lại và là nguyên nhân dẫn đến chính sách thuế thoát ly cơ sở hiện thực về kinh tế - xã hội của đất nước Trên thực tế, lỗi lầm phổ biến nhất của các chính phủ là do cần phải bù đắp những thiếu hụt của ngân sách nên thường chú trọng tới chức năng phân phối và phân phối lại hơn là chức năng điều tiết kinh tế của thuế, điều này dẫn tới giảm nhẹ vai trò của thuế đối với hoạt động của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới sản xuất và đời sống
Trang 15III VAI TRÒ CỦA THUẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1 Thuế - công cụ phân phối thu nhập và ổn định hóa nền kinh tế
Ngoài chức năng phân phối, thuế còn đảm nhiệm việc tái phân phối thu nhập và ổn định mức cầu Chức năng này đã có một lịch sử lâu đời Việc sử dụng thuế để tái phân phối hoặc làm chức năng ổn định hóa mới chỉ được biết đến trong một thời gian gần đây
Ngược lại, có những người được thừa kế tài sản, vốn được tích lũy từ thế hệ trước hoặc tài năng thì có thể nhận được thu nhập gấp hàng chục lần - thậm chí hàng trăm - lần so với những người thuộc tầng lớp trung lưu Do đó, thực hiện việc tái phân phối qua công cụ thuế là điều hợp
lý Ở đây người ta ghi nhận sự đồng tình, nhất trí giữa các giới khác nhau đối với vấn đề sử dụng thuế với các lý do nói trên, nhưng các nhà kinh tế và các chính khách lại khó đạt được những điểm chung căn bản nhất đối với vấn đề xác định phạm vi tái phân phối và mức độ sử dụng thuế
để đạt được mục tiêu này Ở các nước phương Tây, một bộ phận mong muốn một sự can thiệp ở mức độ tối thiểu bằng các công cụ thị trường Họ cổ vũ cho sự nỗ lực làm giảm đói nghèo tuyệt đối và sử dụng nguồn thu từ thuế đánh theo tỷ lệ để làm điều đó Một bộ phận khác lại ủng hộ cho chủ trương làm giảm độ nghèo đói tương đối lẫn tuyệt đối Để đạt được mục tiêu này, theo
họ, thì nên sử dụng một hệ thống thuế có tính chất lũy tiến đánh theo nhiều tỷ lệ khác nhau căn
cứ vào từng bậc thu nhập không giống nhau và như vậy, người giàu sẽ bị đánh thuế nhiều hơn người nghèo
1.2 Ổn định hóa
Đây là một trong bốn chức năng kinh tế của chính phủ mới được thừa nhận gần đây, mặc dù còn tồn tại nhiều quan điểm - nhất trí hay đồng tình - của các giới khác nhau và đã có nhiều tranh cãi gay gắt giữa những nhà kinh tế và các chính trị gia về phạm vi phân phối và mức
độ sử dụng Một Nhà nước phúc lợi hiện đại thực hiện bốn chức năng kinh tế: (i) định ra các khuôn khổ kinh tế - luật pháp, hiến pháp và các qui tắc của trò chơi kinh tế; (ii) thiết lập chính sách ổn định hóa kinh tế vĩ mô để san bằng các đỉnh cao và đáy thấp của nạn thất nghiệp và để kiềm chế lạm phát; (iii) phân bổ nguồn lực cho hàng hóa công cộng bằng cách đánh thuế, chi tiêu
và điều tiết khi có sự thất bại của thị trường; và (iv) phân phối lại tài nguyên bằng cách chuyển giao phúc lợi xã hội Nhưng khi bàn đến vấn đề dùng công cụ thuế để đáp ứng nhu cầu phân phối thì họ lại cùng nhau nhất trí rằng việc phân phối qua công cụ thuế là một trách nhiệm phải có của chính phủ Điều này không hề liên quan đến cái được gọi là ổn định hóa Các nhà kinh tế theo trường phái Keynes lập luận rằng để duy trì nền kinh tế luôn luôn ở trạng thái ổn định thì cần thiết phải có sự quản lý của nhà nước Các nhà kinh tế theo trường phái cổ điển (trọng tiền) xem xét nền kinh tế như một thế ổn định, với các thị trường vận hành một cách tự do và toàn dụng, như vậy tự bản thân nó đã ổn định rồi và sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế là không cần thiết J.M Keynes đã đưa ra lý thuyết và chính sách của ông trong những năm chiến tranh – khi
mà nước Anh lâm vào cuộc đại khủng hoảng với mức độ cao, đồng thời người dân phải tự lực cánh sinh – không nhận được gì từ chính phủ của họ cả Quan điểm của ông như sau: nền kinh tế
tư bản chủ nghĩa không tự nó đạt đến mức toàn dụng Sự toàn dụng trong quá khứ chỉ là do sự thiếu hụt của mức cầu và qui luật của J.B Say đưa ra - mức cung tự đẻ ra mức cầu cho chính nó –
là không hề có thật Cần giành cho chính phủ một vai trò làm gia tăng mức cầu để từ đó đạt đến
Trang 16mức toàn dụng Chính phủ phải làm điều đó bằng cách gia tăng đầu tư để tận dụng hiệu ứng số nhân xảy ra đối với việc làm và sản lượng”.
Tuy vậy chính sách của trường phái Keynes đầu tiên hàm ý rằng: không phải lúc nào cũng xảy ra thất nghiệp, bởi lẽ trong chiến tranh thế giới thứ II, mức cầu và lạm phát gia tăng quá nhanh đã trở thành một vấn đề lớn Thuế tăng và các khoản tiết kiệm bắt buộc phát sinh do các khoản nợ sau chiến tranh đã làm giảm mức cầu của người tiêu dùng và kìm giữ mức lạm phát ở 5% đến 11% một năm, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ đó trong thế chiến thứ I (lạm phát lúc
đó tăng khoảng 20% - 25% mỗi năm) Những vấn đề này không đi vào quên lãng và năm 1944, một bản luận trình về chính sách và công ăn việc làm thừa nhận rằng cần phải dành cho chính phủ nhiệm vụ kiểm soát nền kinh tế nhằm mục đích tránh được tình trạng thất nghiệp cao trong thời kỳ 1920-1930
Sau những năm chiến tranh, tình trạng thất nghiệp đã được duy trì ở mức thấp Tỷ lệ 3%
- ranh giới giữa mức toàn dụng và thất nghiệp – không phải chờ đến những năm 1960 mới đạt được Người ta ghi nhận sự tồn tại của một chu kỳ 5 năm sự trồi sụt kinh tế có thể chấp nhận được Như vậy, điều tốt đẹp mà chức năng ổn định hóa mang lại là vai trò chỉnh rõ tức là vai trò
cố gắng đảm bảo một sự điều chỉnh mức cầu trong ngắn hạn để đạt được những cân đối hết sức tinh tế giữa lạm phát thấp và chỉ tiêu công ăn việc làm Các quyết định sửa đổi về thuế tỏ ra xứng hợp với mục tiêu trên hơn so với các quyết định Trung Ương điều chỉnh về chi tiêu công
Như vậy, mặc dù Keynes đã từng phác họa ra việc sử dụng đầu tư để thay đổi mức cầu, nhưng trên thực tế, các chính phủ lại có xu hướng dựa vào công cụ thuế Trong những năm được gọi là thời kỳ của chủ nghĩa trọng tiền, tức là trước năm 1979, đã có nhiều công trình nghiên cứu thiên về chủ đề đánh giá hiệu năng của chính sách thuế Có một sự thống nhất cao đạt được giữa các tác giả, đó là: không có sự hiệu quả và sự mất ổn định thường ở mức tệ hại Điều này được tóm tắt qua câu: “quá nhiều, quá trễ” Những kết luận này do những người theo trường phái Keynes - những người theo đuổi chủ trương cải tiến sự vận hành của các chính sách – rút ra
Những người phê phán theo trường phái trọng tiền đã nêu ra nhiều luận điểm có tính chất phản bác Họ xem xét nền kinh tế như một thể ổn định và lập luận: nếu thị trường được phép vận hành một cách tự do thì mức cung bằng với mức cầu trên thị trường lao động cũng như trên thị trường hàng hóa Họ cho rằng không cần thiết phải điều chỉnh mức cầu, bởi vì điều này
là không hợp lý và tốt hơn hết là chính phủ chỉ nên thực hiện chức năng đặt ra các luật lệ hơn là trực tiếp can thiệp vào thị trường Ở Anh, chính phủ của Đảng Bảo thủ đã theo quan điểm này ngay từ năm họ bắt đầu cầm quyền thay thế cho chính phủ Công Đảng; còn ở Mỹ, ngược lại, dưới thời của tổng thống Reagan, chính phủ đã thực hiện hai cuộc thí nghiệm thuyết trọng cung
từ năm 1979 đến năm 1981 với nội dung cốt lõi là cắt giảm thuế để tác động vào sản lượng tiềm năng và từ đó giải quyết các gánh nặng về công ăn việc làm và sức ép của lạm phát Với biện pháp chủ yếu là cắt giảm 25% đối với tất cả các khoản TNCN, được thực hiện làm ba giai đoạn
và kết thúc vào tháng 7/1983, hậu quả xảy ra là làm giảm sút thu nhập liên bang và thâm hụt ngân sách to lớn vào giữa những năm 1980 Một phần của tình trạng này do bởi những biện pháp được thi hành dựa vào việc phân tích thực trạng của nước Mỹ theo quan điểm của đường cong Laffer một cách thiếu căn cứ Theo các tiêu chuẩn khoa học cổ điển, cuộc thí nghiệm năm 1981 gợi ý rằng các lý thuyết trọng cung phải bị bác bỏ
Tóm lại, từ những phân tích trên, có thể rút ra rằng, thuế là phạm trù tài chính và được
sử dụng để tạo ra các nguồn tài lực thực hiện các chức năng của nhà nước đương quyền, đồng thời nó cũng là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô hiệu lực của nhà nước Bằng vai trò to lớn đó, thuế không ngừng được hoàn thiện và thích ứng với những chu kỳ của quá trình phát triển
2 Thuế - công cụ khắc phục khiếm khuyết của thị trường
Qua phân tích từ đầu, có thể thấy rằng việc phân bổ các nguồn lực tài chính để thỏa mãn các nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ công cộng là mục tiêu hàng đầu của thuế Về mặt lý thuyết, thị trường là nơi hoàn hảo để người dân có thể thỏa mãn các nhu cầu trực tiếp của mình nhằm đạt đến mức độ tối ưu hóa các phúc lợi nhận được Nhưng kinh tế học hiện đại và thực tiễn chỉ ra rằng đôi khi thị trường phải chịu thất bại, như trường hợp một số hàng hóa, dịch vụ công cộng:
Trang 17người dân có nhu cầu nhưng thị trường không thể cung ứng nổi hoặc chỉ được cung ứng dưới mức cầu Đây là lúc mà cần phải có vai trò của thuế và các chi tiêu công cộng để sửa chữa sự
“bất lực” về phân phối của thị trường
2.1 Hàng hóa công cộng
Thị trường hoàn toàn chịu thất bại trong việc cung cấp các hàng hóa công cộng Điều này xảy ra bởi vì các loại hàng hóa này có tính chất đặc biệt Một hàng hóa hay dịch vụ mà được coi là công cộng nếu một hoặc cả hai tính chất sau đây được thỏa mãn:
Sự phát sinh thêm một người tiêu dùng loại hàng hóa (hay dịch vụ) này hoàn toàn không làm tăng thêm chi phí Ví dụ: có thêm một người đi bộ trên một con đường được chiếu sáng vào ban đêm không làm tăng thêm chi phí thắp sáng đường sá; hoặc thêm một chiếc ô tô đi qua cầu vào lúc vắng xe cũng không làm phát sinh thêm chi phí Để đạt được mức phúc lợi tối đa qua việc thụ hưởng các hành hóa nêu trên, và các loại hàng hóa tương tự, người dân cần được cung cấp chúng với giá bằng 0 Không một nhà tư nhân nào sẵn sàng làm việc này và chỉ có Chính phủ mới phải đảm trách việc sản xuất và cung ứng chúng (tất nhiên là qua trung gian của nhà thầu) miễn phí Ở đây, việc đánh thuế sẽ đóng vai trò cung cấp các nguồn lực tài chính
Sự tồn tại của những kẻ ăn không Điều đó có nghĩa rằng sự cung cấp của thị trường đối với hàng hóa công cộng là không thể xảy ra được Một kẻ “ăn không” là một người được tiêu dùng hàng hóa phải tốn kém mới sản xuất ra được mà không phải trả tiền cho hàng hóa đó Vấn
đề kẻ ăn không đặc biệt được áp dụng cho hàng hóa công cộng vì tính chất không thể phân chia của chúng Ví dụ như vấn đề quốc phòng, giả sử có một thị trường được thiết lập dành cho quốc phòng Thậm chí mỗi người đều cảm thấy rằng chúng ta cần quốc phòng, thì ngược lại, không một ai có động cơ để mua phần đóng góp của mình vào quốc phòng cả Vì lượng quốc phòng mà tôi có cùng bằng bất kỳ lượng của ai khác, cho nên tôi có động cơ rất mạnh là đợi cho bất kỳ ai khác mua hàng hóa đó chứ không dại gì đóng góp phần công bằng của mình Tôi sẽ được ăn không tất cả những thứ do bất kỳ ai khác mua Nhưng tất nhiên, nếu ai cũng được tất cả những người khác mua quốc phòng, thì sẽ không có hàng hóa quốc phòng nữa
Ngoài các ví dụ nêu trên, hàng hóa công cộng còn bao gồm các luật lệ và quy tắc, việc làm sạch đường, phòng chống lũ lụt
Để sửa chữa thất bại của thị trường trong việc cung cấp hàng hóa công cộng, chính phủ buộc phải đánh thuế vào người dân, làm mọi người được hưởng hàng hóa công cộng
Xét về một khía cạnh đơn giản hơn, hàng hóa công cộng khác với hàng hóa tư nhân ở đặc điểm sau đây: “Hàng hóa công cộng là một loại hàng mà thậm chí có một người dùng tới rồi, thì những người khác vẫn dùng được” Trong khi đó hàng hóa tư nhân (hoặc cá nhân) là một loại hàng mà nếu được một người tiêu dùng rồi thì người khác không thể dùng được nữa
Hàng hóa công cộng có yếu tố chung sau đây: “Lợi ích của một hàng hóa công cộng không giống như của một hàng hóa thuần túy tư nhân do bởi việc một cá nhân tiêu dùng hàng hóa công cộng sẽ tạo ra những tác động tiêu dùng bên ngoài không phân chia được đối với nhiều người chứ không phải chỉ một cá nhân đó Ngược lại, nếu một mặt hàng có thể chia nhỏ được có thể bán riêng từng phần với giá cạnh tranh cho một cá nhân mà không có tác động bên ngoài đối với người khác thì đó là một mặt hàng tư nhân Hàng hóa công cộng đòi hỏi phải có hành động tập thể trong khi hàng hóa tư nhân có thể do thị trường cung cấp”
2.2 Hàng hóa hỗn hợp
Có nhiều hàng hóa tuy do chính phủ cung cấp nhưng không được xếp vào nhóm hàng hóa công cộng, ví dụ như giáo dục, chăm sóc sức khỏe và thu dọn rác… dù chúng cung cấp được lợi ích mang tính chất độc quyền; bởi lẽ những người tiêu dùng thêm vào sẽ làm tăng chi phí và
sự độc quyền lúc nào cũng có thể thực hiện được (dịch vụ này có thể bị những kẻ ăn không chối từ) Tuy nhiên chúng lại được cung cấp bởi khu vực công và do đó chúng đòi hỏi phải có thuế tài trợ Có hai cách giải thích về điều này: thứ nhất, đó là những trục trặc trong việc phân phối của thị trường và thứ hai, là các lý do liên quan đến việc tiêu dùng các mặt hàng khuyến dụng Những hàng hóa này được gọi là hàng hóa hỗn hợp Đó là các hàng hóa tạo ra lợi ích bên ngoài cũng như lợi ích của cá nhân nhưng nếu được cung cấp bởi thị trường thì mức cung sẽ nằm dưới
Trang 18mức cầu Thị trường của hàng hóa hỗn hợp không phải chịu thất bại hoàn toàn như đối với hàng hóa công cộng, bởi vì sự độc quyền là hoàn toàn có thể xảy ra và những sự ưu đãi được coi là có thể bộc lộ ra được; nhưng bên cạnh đó thị trường lại không cung cấp được chất lượng tối ưu do việc cung cấp chỉ có tính chất tư nhân và điều này đồng nghĩa với việc cung cấp dưới mức nhu cầu.
Được coi là hàng hóa hỗn hợp là những hàng hóa có sự pha trộn giữa các đặc điểm của hàng hóa tư nhân (lợi ích nội tại có tính chất cạnh tranh) và các đặc điểm của hàng hóa công cộng (lợi ích bên ngoài có tính chất độc quyền) Chúng bao gồm giáo dục, y tế, vận chuyển công cộng, thu gom rác và các dịch vụ phòng cháy chữa cháy… Giáo dục cung cấp một lực lượng lao động có học thức, có khả năng tạo các sản lượng đầu ra và lợi tức lớn hơn cho toàn thể cộng đồng Y tế bảo vệ toàn thể cộng đồng bằng cách chữa chạy cho những người mắc bệnh và bảo tồn lực lượng lao động cho đất nước Vận chuyển công cộng làm giảm sự tắc nghẽn giao thông
và ô nhiễm môi trường, và do đó, nó tạo ra lợi ích cho cả người sử dụng đường sá và tất cả cộng đồng
Chính phủ có thể sửa chữa tình trạng cung cấp dưới mức nhu cầu đối với hàng hóa hỗn hợp bằng cách tự cung cấp hàng hóa và dịch vụ hoặc thông qua việc trợ cấp để làm giảm giá và tăng sản lượng đầu ra Vai trò của thuế là cung cấp các nguồn lực tài chính để tài trợ cho việc cung cấp có tính chất công cộng hoặc tài trợ thông qua các khoản trợ cấp Trợ cấp, do đó, tự bản thân nó có thể được xem như là một khoản thuế âm
2.3 Các lợi ích và chi phí ngoại ứng
Một ngoại ứng (ngoại tác) tồn tại khi việc sản xuất hoặc tiêu dùng một mặt hàng trực tiếp ảnh hưởng đến các doanh nghiệp và người tiêu dùng không can dự vào việc mua bán hàng hóa đó, những ngoại ứng này thường không được phản ánh đầy đủ theo giá thị trường Ví dụ như vấn đề ô nhiễm Một hãng sản xuất hóa chất và tống chất thải xuống sông Chất thải gây ô nhiễm nguồn nước địa phương, giết hại cá và chim chóc và tạo ra mùi hôi thối khó chịu Các ảnh hưởng phụ bất lợi này thể hiện các chi phí đối với xã hội để sản xuất ra hóa chất đó, chúng vẫn phải được thể hiện một cách thích ứng trong giá cả thị trường của loại hóa chất này nhưng thực tế lại không như vậy Giá thị trường của sản lượng do công ty hóa chất làm ra sẽ không phản ánh đầy
đủ chi phí sản xuất thực sự đối với xã hội, trừ phi công ty hóa chất này buộc phải thanh toán tiền cho những thiệt hại do sự ô nhiễm của nhà máy gây ra Trong trường hợp này, có một ngoại ứng trong việc sản xuất hóa chất
Ngoại ứng có thể có lợi hoặc không có lợi cũng có thể gây hại Vấn đề này có liên quan đến các lợi ích từ bên ngoài của một hàng hóa với sự gia tăng phúc lợi của người dân không phải
là người tiêu dùng trực tiếp hàng hóa này Ví dụ như nếu phần lớn dân số của một quốc gia được tiêm chủng ho gà thì thậm chí nếu không được chữa bệnh, họ cũng được bảo vệ về mặt sức khỏe bởi vì họ ít tiếp xúc với loại bệnh này và như thế họ đã nhận được các lợi ích từ bên ngoài Một người chủ quét vôi lại căn nhà của ông ta thì những người láng giềng sẽ nhận được lợi ích dôi ra
do không phải nhìn cảnh căn nhà tróc sơn, ọp ẹp nữa Trong tất cả các ngoại ứng, có một điều gì
đó ảnh hưởng đến các chi phí của hãng sản xuất hoặc phúc lợi của người tiêu dùng (ví dụ như sự
ô nhiễm hoặc cảnh quan của những ngôi nhà mới quét sơn phần lớn dân chúng được tiêm chủng
ho gà) nhưng cái đó không được trao đổi, buôn bán ngoài thị trường Các nhà kinh tế thường nói các ngoại ứng như thế được gây ra bởi “các thị trường vắng mặt”
Thuế có thể được sử dụng để sửa chữa các trục trặc trong việc phân bổ các nguồn lực tài chính phát sinh bởi các tác động âm tính từ bên ngoài (hoặc các chi phí ngoại ứng) Một ví dụ về loại chi phí ngoại ứng là sự ô nhiễm không khí hay nguồn nước gây ra bởi các quá trình sản xuất Điều này có thể làm phát sinh các loại chi phí chẳng hạn như chi phí để làm sạch nước ở một dòng sông bị ô nhiễm, hoặc sự ô nhiễm không khí có thể làm nảy sinh chi phí cho việc điều trị bệnh hoặc trả lại sự trong lành ở các hộ gia đình trong khu vực bị ô nhiễm, hoặc mưa axit ở các nơi khác Các chi phí này là chi phí sản xuất nhưng chúng lại không nảy sinh từ phía người sản xuất hoặc tiêu dùng sản phẩm, bởi lẽ tất cả các chi phí này không nằm trong giá sản phẩm nên mức giá phản ánh thấp hơn giá trị thực và sản lượng đầu ra cao hơn mức đạt tối ưu Các hoạt động tiêu dùng cũng có thể làm phát sinh chi phí ngoại ứng, như chi phí lái xe, hút thuốc, uống
Trang 19rượu là các ví dụ điển hình có thể nêu ra Đánh thuế vào nhiên liệu, thuốc lá và rượu hay nước giải khát có cồn có thể bù đắp được các chi phí ô nhiễm, bệnh tật và các tai nạn, đồng thời có thể giảm đi một cách tích cực chi phí tiêu dùng và chi phí ngoại ứng, bởi giá cả cao hơn sẽ làm thay đổi mức cầu thực tế của các sản phẩm nêu trên.
2.4 Độc quyền
Việc không thực hiện được vấn đề phân phối các nguồn lực thông qua cơ chế thị trường, cũng có thể xảy ra khi vấn đề cạnh tranh gặp bế tắc Độc quyền làm giảm đi sản lượng đầu ra nhằm mục đích thu được giá cả cao hơn và sự trục trặc về mặt phân phối có thể xảy ra bởi vì sản lượng đầu ra nằm dưới mức cầu mà phúc lợi xã hội được tối đa hóa Nhà độc quyền là một người bán duy nhất nên họ không lo bị những người khác cạnh tranh với giá thấp hơn và vì thế kết cục
là người tiêu dùng phải trả một mức giá cao hơn mức mà lẽ ra họ phải trả
Có một số lãnh vực độc quyền mà không sao tránh khỏi, các dịch vụ công cộng cơ bản (ví dụ như khí đốt và điện năng) là những lĩnh vực độc quyền tiềm năng Chính phủ có thể điều tiết các công ty kinh doanh trong lĩnh vực này bằng cách kiểm soát giá cả mà họ được phép đòi phải trả hoặc chính phủ có thể tự mình đảm đương việc cung cấp các sản phẩm có liên quan Một
số các độc quyền khác có thể là mang tính chất nhân tạo thông qua sự thao túng của các hãng sản xuất Ở đây chính phủ can thiệp vào bằng các luật cạnh tranh hoặc nhằm mục đích loại trừ thế độc quyền hoặc kiềm chế sự độc quyền bằng cách kiểm soát giá cả Nhiều người cho rằng, thuế hoàn toàn không thể làm gì được để thay đổi mức sản lượng đầu ra mà tại đó nhà độc quyền có thể tối đa hóa lợi nhuận Nhưng một số nhà kinh tế khác lại lập luận: thuế có thể loại trừ được lợi nhuận độc quyền khi thuế được thiết kế phù hợp với vai trò phân phối mà tự nó lúc nào cũng được khẳng định
2.6 Hàng khuyến dụng
Một số hàng hóa và dịch vụ do khu vực công sản xuất ra được gọi dưới tên là hàng khuyến dụng Đây là những hàng hóa mà xã hội (đại diện là nhà nước) cho rằng người dân nên tiêu dùng hoặc tiếp nhận, cho dù thu nhập của họ ở mức nào đi nữa Lý lẽ biện minh cho điều này thể hiện ở chỗ: người tiêu dùng có thể không biết được lợi ích thực sự của một số hàng hóa, bởi lẽ họ không lập tức nhìn nhận vấn đề một cách rõ ràng (chẳng hạn như đối với mặt hàng giáo dục), hoặc bởi lẽ người thụ hưởng lợi tức là một đứa trẻ (cũng lại với ví dụ về giáo dục) hay là vì
lý do việc thanh toán và lợi ích nhận được không trùng khớp về mặt thời gian (ví dụ bảo hiểm y
tế và việc điều trị) Một số nhà kinh tế đặt ra câu hỏi: “Liệu có một sự biện minh kinh tế nào cho
sự can thiệp của chính phủ đối với hàng khuyến dụng hay không?” và cũng tự trả lời như sau:
“Xét theo một ý nghĩa nào đó thì luôn luôn có sự biện minh như vậy, bởi vì cảnh tượng môt ai đó
vô gia cư tạo nên một ngoại ứng khiến cho hết thảy mọi người khác không vui Bằng việc cung cấp nơi trú ngụ cho những người mà không thì sẽ lang thang ngoài phố, chính phủ đã làm cho tất
cả chúng ta cảm thấy dễ chịu hơn”
Có một số hàng hóa vừa có thể được xếp vào loại hàng hóa hỗn hợp, vừa có thể xếp vào loại hàng hóa khuyến dụng Tuy nhiên, vẫn tồn tại một khác biệt rõ ràng giữa các lý do cung cấp hàng hóa hỗn hợp và nguyên cớ cung ứng hàng hóa khuyến dụng Hàng hóa hỗn hợp là một phần của chức năng phân phối, nó được cung cấp phù hợp với việc ưu đãi mang tính chất nội tại và ngoại vi của người tiêu dùng gắn liền với chức năng phân phối, nhưng việc tiêu dùng chúng lại không chú ý đến sự ưu đãi đối với người tiêu dùng
CHƯƠNG 2: KHÁI LƯỢC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THUẾ VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN NAY VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI.
I VÀI NÉT VỀ HỆ THỐNG THUẾ VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN NAY
Có thể chia lịch sử của hệ thống thuế Việt Nam theo các giai đoạn chính dưới đây:
Trang 201 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám tới 1954
1.1 Thời kỳ trước ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946
Đây là thời kỳ được đặc trưng bởi mâu thuẫn giữa thực trạng sức dân kiệt quệ, tình hình chính trị rối ren với nhu cầu lớn và cấp thiết của nhà nước (tổ chức quân đội, tổ chức bộ máy chính quyền mới, bảo về đê điều, cứu đói, trả món nợ cũ…) Đứng trước tình hình này Chính phủ
ta chủ trương một số biện pháp như: Bãi bỏ thuế thân, thuế thổ trạch ở thôn quê và một số tạp thuế vô lý; Miễn thuế điền thổ cho cùng bị lũ lụt và giảm thuế điền 20% trong toàn quốc; Đình chỉ thu thuế ở Miền Nam
Chủ trương này đã làm nguồn thu thuế bị giảm sút Các thứ thuế còn lại thì rất khó thu
do việc tuyên truyền giải thích kém, nhân dân sẵn có thành kiến với thuế của thực dân nên cũng không đồng lòng đóng thuế Cán bộ chưa nhận thức đúng đắn về thuế nên không tích cực thu Việc huy động tài chính chủ yếu dựa vào các hình thức quyên góp tự nguyện
1.2 Thời kỳ từ ngày toàn quốc kháng chiến đến giữa năm 1951
Thời kỳ này cũng diễn ra trong bối cảnh số chi đòi hỏi gia tăng nhiều nhưng số thu không lớn (chúng ta chỉ còn 4 loại thuế trực thu: thuế điền thổ, thuế môn bài, thuế lợi tức, thuế lương bổng thu bằng tiền nhưng không thu được bao nhiêu; thuế quan và thuế gián thu cũng không đáng kể) nên nhà nước, một mặt bắt đầu cải tiến chế độ thuế, tăng thuế suất nhiều loại thuế; mặt khác, vẫn tiếp tục dựa vào những đóng góp mới như: Quỹ “tham gia kháng chiến, Quỹ
“Công lương” và chuyển hướng thu một vài thứ thuế bằng hiện vật Mặt khác Chính phủ cũng động viên nhân dân cho nhà nước vay dưới các hình thức công phiếu và công trái, đồng thời còn dựa vào nguồn phát hành tiền tệ
Chính sách đóng góp cũng không công bằng, hợp lý vì căn bản vẫn là chế độ thuế của thời kỳ Pháp thuộc sửa đổi lại Do đó thuế không huy động được đúng khả năng của mọi tầng lớp nhân dân và không thích hợp với tình hình kinh tế lúc bấy giờ So với khả năng thì người nghèo đóng góp nhiều hơn người giàu, công nghiệp, thương nghiệp đóng quá ít so với nông nghiệp
1.3 Thời kỳ từ 1951 đến ngày miền Bắc giải phóng 10/1954
Thời kỳ này mở đầu bằng chiến thắng biên giới và Đại hội lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương Bên cạnh việc thống nhất quản lý tài chính nhà nước, nhà nước còn ban hành chính sách thuế mới được xây dựng trên nguyên tắc: công bằng, hợp lý thích hợp với hoàn cảnh kinh tế xã hội và điều kiện chiến tranh Chính sách thuế thống nhất gồm 7 thứ thuế là: thuế nông nghiệp, thuế công thương nghiệp, thuế hàng hóa, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế sát sinh, thuế trước bạ, thuế tem
2 Thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1975
2.1 Thời kỳ chuyển tiềp từ chiến tranh sang hòa bình, khôi phục kinh tế (1954-1957)
Đây là thời kỳ mà nền tài chính đứng trước nhiều thuận lợi mới, rất cơ bản, nhưng đồng thời phải đối phó với những di sản nặng nề do chiến tranh để lại Bên cạnh đó, nó còn gặp nhiều khó khăn do tình trạng chia cắt của đất nước, làm mất đi sự hỗ trợ cho nhau giữa hai miền Về cơ bản, Chính phủ chỉ lần lượt ban hành các loại thuế mới trên cơ sở sửa đổi, bổ sung các chế độ đã ban hành từ năm 1951 ở vùng tự do cũ để áp dụng thống nhất
Kết quả của việc áp dụng một hệ thống thuế linh hoạt trong giai đoạn này đã dẫn đến gia tăng nguồn thu của ngân sách một cách đáng kể Nếu coi tổng thu ngân sách từ nguồn trong nước năm 1955 là 100 thì năm 1956 là 134 năm 1957 là 194, trong đó số thu về thuế chiếm tỷ trọng rất lớn: năm 1956 là trên 74% và năm 1957 là trên 87%
2.2 Thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa và bước đầu phát triển kinh tế và văn hóa (1958 – 1960)
Nếu như trước đây thuế công thương nghiệp chỉ bao gồm một hệ thống thuế suất tương đối ít thì vào lúc này nó bao gồm một hệ thống và nhiều hình thức thuế khác nhau, áp dụng trên nhiều khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa, sử dụng nhiều loại thuế suất khác nhau
Trang 21(cả thuế suất tỷ lệ, thuế suất lũy tiến lẫn thuế suất cố định) có sự phân biệt giữa các ngành nghề sản xuất, kinh doanh, phân biệt kinh tế tập thể và tư nhân và nhiều biện pháp ưu đãi khác nhau.
2.3 Thời kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965)
Cho đến năm 1960, các xí nghiệp quốc doanh nộp tích lũy tiền tệ vào ngân sách nhà nước thông qua hai hình thức đóng góp là thuế và lợi nhuận, trong đó lợi nhuận chiếm tỷ trọng lớn và ngày càng tăng
Chế độ thuế đối với các xí nghiệp quốc doanh lúc này cũng giống như khu vực kinh tế
tư nhân bao gồm nhiều thứ thuế: thuế doanh nghiệp, thuế hàng hóa… và thu ở nhiều khâu cả ở khâu sản xuất lẫn khâu lưu thông Vì những mặt phiền hà này, nhà nước đã cho áp dụng thí điểm chế độ thu mới gọi là thu quốc doanh Mức thu quốc doanh được xác định riêng cho từng mặt hàng tùy theo giá cả nhà nước qui định và chỉ thu ở khâu sản xuất Đồng thời từ năm 1962, nhà nước còn ban hành chế độ trích nộp và sử dụng lợi nhuận của các xí nghiệp Theo chế độ này, lợi nhuận của các xí nghiệp quốc doanh phải trích nộp một phần vào ngân sách nhà nước; phần lợi nhuận còn lại, xí nghiệp được dùng để lập quỹ xí nghiệp, bổ sung kinh phí chuyên dùng, đầu tư một phần vào việc kiến thiết cơ bản mở rộng của xí nghiệp và bổ sung vốn lưu động Các xí nghiệp công ty hợp doanh trong thời kỳ này được chuyển sang làm nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước như các xí nghiệp quốc doanh, có nghĩa là phải nộp thu quốc doanh và lợi nhuận chứ không phải nộp thuế như trước
2.4 Thời kỳ cả nước có chiến tranh, xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc (1966 – 1975)
Hai hình thức huy động tài chính chủ yếu đối với các doanh nghiệp trong thời kỳ này vẫn là thu quốc doanh và chế độ trích nộp lợi nhuận, ngoài ra còn có chế độ nộp khấu hao cơ bản Các chế độ này đã được sửa đổi bổ sung tiếp sau đó vào các năm 1966, 1974
3 Giai đoạn từ 1975 đến 1990
3.1 Thời kỳ từ năm 1975 đến 1980
Trong thời kỳ này miền Bắc vẫn thực hiện hệ thống thu và thuế cũ, có sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới Còn miền Nam thì có áp dụng một số thuế cũ của chính quyền Sài Gòn trên cơ sở xóa bỏ một số sắc thuế phản tiến bộ và sửa đổi bổ sung để thích ứng với điều kiện cả nước thống nhất
3.2 Thời kỳ 1980 đến khi có cuộc cải cách thuế vào năm 1990
Mặc dù trong thời kỳ này, cả nước áp dụng hệ thống thu và thuế thống nhất nhưng việc
áp dụng này còn nhiều nhược điểm, gây cản ngại cho việc phát triển các yếu tố thị trường đang nảy sinh:
Đặc trưng của hệ thống này là có sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế Các
xí nghiệp quốc doanh thì thực hiện chế độ thu quốc doanh, thu trích nộp lợi nhuận cùng các hình thức thu khác, trong khi các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác lại chịu tác động của thuế Điều này gây sự ngộ nhận và làm lệch lạc nhận thức về bản chất của thuế
Thu quốc doanh, mặc dù đã trải qua nhiều cuộc sửa đổi vào các năm tiếp theo đó: 1983,
1986, 1987 và lúc nào cũng là nguồn thu quan trọng của NSNN nhưng tự bản thân nó đã bộc lộ nhiều nhược điểm căn bản Về thực chất nó là một loại thuế gián thu mà không bao giờ tồn tại trong bất kỳ một nền kinh tế thị trường nào, với đặc điểm là một loại thuế huy động nguồn tài chính dựa trên cơ sở chi phí sản xuất bình quân chứ không phải là chi phí biên tế và mức thu đã được ấn định trước trong giá cả, được kế hoạch hóa trong giá cả từng loại hàng hóa Do đó, đây
là một loại thuế đa thuế suất, lên tới hàng trăm thuế suất; điều này đặc biệt gây khó khăn cho việc quản lý và hành thu
4 Giai đoạn từ năm 1990 đến nay
Từ giữa những năm 80, cùng với công cuộc đổi mới và mở cửa nền kinh tế, hệ thống thuế Việt Nam đã được nghiên cứu và đến năm 1990 một hệ thống thuế mới đã được hình thành
Trang 22hình thành một hệ thống thuế hoàn chỉnh nhất từ trước đến nay bao gồm 9 (chín) sác thuế: thuế nông nghiệp, thuế doanh thu; thuế TTĐB; thuế lợi tức, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (mậu dịch
và phi mậu dịch); thuế tài nguyên; thuế thu nhập; thuế nhà đất; thuế vốn (khoản thu do việc sử dụng vốn của ngân sách nhà nước) Ngoài ra còn một phí và lệ phí Tuy có nhiều loại thuế nhưng mỗi doanh nghiệp chỉ áp dụng phổ biến 2 đến 3 loại
Qua 10 cải cách hệ thống thuế đã đem lại các kết quả sau:
a Số thu từ thuế, phí vào ngân sách nhà nước từ chỗ chiếm tỷ trọng không lớn nay đã chiếm trên 90% NSNN trong giai đoạn 1990 - 2000 Tuy nhiên, giai đoạn 2005-2012, do có sự biến động về tình hình kinh tế thế giới nên tỷ lệ tăng trưởng nguồn thu giảm lại so với giai đoạn trước đó Số thu về thuế và phí đã tăng nhanh qua các năm nhưng chính phủ đã khuyến khích các thành phần kinh tế mở rộng nên có nhiều chính sách ưu đãi thuế trong giai đoạn 2009-2011
Bảng tốc độ tăng thu về thuế và phí qua các năm (từ 2005-2012)
Đơn vị tính: %
Ghi chú: số liệu năm 2012 là ước tính, số thu trên không kể thuế Xuất nhập khẩu
Bảng tỷ trọng thu thuế phí trong GDP
Trang 23Tỷ lệ động viên bình quân về thuế phí/GDP của Việt Nam theo tính toán của các chuyên gia quốc tế hiện nay (năm 2012) là 26,7% Tuy nhiên, trong các khoản thu trên, còn có các khoản thu về dầu thô và tiền sử dụng đất, nếu loại bỏ các khoản thu này thì tỷ lệ động viên thực tế của Việt Nam trong 20 năm qua chỉ vào khoảng 14%/GDP, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực và có cùng điều kiện như Việt Nam trên thế giới (Vũ Thị Mai, 2012).
d Về nghiệp vụ đã luôn chú ý hướng tới đơn giản, công khai, minh bạch và phát huy quyền dân chủ, tự chịu trách nhiệm trước nghĩa vụ thuế của mỗi pháp nhân, mỗi thể nhân
Tuy nhiên hệ thống trên cũng còn rất nhiều bất cập mà nhiều trong số đó bắt nguồn bản thân quan điểm về kinh tế thị trường và việc sử dụng các công cụ vĩ mô của nhà nước Việt Nam
Cùng với những kết quả đã đạt được so với những mục tiêu và yêu cầu đã đặt ra, còn một số tồn tại cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn chỉnh, cụ thể là:
Chính sách thuế được cải cách và đổi mới trong khi các cơ chế kinh tế khác liên quan và nền kinh tế đặc biệt là các doanh nghiệp trình độ quản lý còn thấp, đổi mới chậm, chưa thích ứng kịp thời làm giảm hiệu quả của chính sách mới ban hành gây khó khăn thêm cho quá trình thực hiện
Việc nghiên cứu ban hành chính sách chậm, không kịp thời, không sát thực tiễn; mặt khác, việc chuẩn bị tuyên truyền chưa chu đáo nên đã dẫn đến phản ứng không có lợi trong dư luận xã hội Việc hướng dẫn luật thuế do máy móc, thiếu thực tế nên có trường hợp chồng chéo, không rõ ràng làm cho người chấp hành gặp khó khăn, dẫn đến phản ứng của cơ sở đối với thuế, hoặc làm cho thuế tác động đến hoạt động kinh tế trái ngược nhau, cùng một sự việc, phía này thì tác động tích cực, phía khác lại tác động tiêu cực
Nhiều khi công cụ thuế được sử dụng một cách tùy tiện, thiếu cân nhắc kết hợp với chính sách đầu tư, thương mại… không đúng đắn đã làm cho môi trường kinh doanh trở nên thiếu lành mạnh Chẳng hạn do thuế quan được sử dụng tùy tiện nên cả đầu tư trong nước và ngoài nước vào Việt Nam đã được hướng đến khu vực với mức độ bảo hộ tương đối cao Trên 50% vốn ĐTNN được tập trung vào các dự án sản xuất có thuế suất bảo hộ cao hơn 34% Tính theo tỷ lệ bảo hộ hữu hiệu (IRPs) thì có tới khoản 65% tổng mức có vốn ĐTNN được phân bổ vào những ngành có tỷ lệ bảo hộ hữu hiệu cao hơn 60% mà những ngành này thường là những ngành không có lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế, xét cả về dài hạn (CIE 1998) Một sắc thuế phải đối diện với nhiều mục tiêu thường là trái ngược nhau gây nên tình trạng đa thuế suất
và rất hay thay đổi bất ngờ (Ví dụ: Các qui định về thuế doanh thu được sửa đổi liên tục chỉ trong thời gian ngắn chẳng hạn từ 1991 -1994 đã có 3 lần sửa đổi bổ sung Có tới 16 thuế suất, mức độ biến thiên lớn (từ 0 – 40%), tới lần sửa đổi ngày 28/10/1995 giảm còn 11 thuế suất (biến thiên từ 0-30%) Điều này gây méo mó rất lớn cho sản xuất và tạo cho các doanh nghiệp tâm lý bất ổn, thiếu sự tin tưởng vào các chính sách kinh tế của nhà nước và việc thu thuế trở nên rất khó khăn, tạo điều kiện cho cán bộ thuế tham nhũng, gây khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp
Sử dụng công cụ thuế phục vụ quá nhiều các chính sách xã hội làm mất tính trung lập của thuế Thời gian qua, một số chính sách xã hội được đưa vào chính sách miễn giảm thuế đã
Trang 24miễn giảm thuế TNDN đã đề cập giảm và miễn thuế TNDN cho các đối tượng là thương binh, người tàn tật, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ.
Tính khả thi, tính hợp lý của một số luật thuế còn hạn chế nên xét trên giác độ từng sắc thuế thì dẫn đến sau thời gian thực hiện phải sửa đổi bổ sung Việc nghiên cứu để xây dựng một sắc thuế phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh ở Việt Nam là cần thiết nhưng trong nhiều trường hợp vì quá nặng nề về tính phù hợp của Việt Nam mà thoát ly các nguyên tắc của thuế nên dẫn
đế hậu quả phức tạp và khó quản lý
Hệ thống chính sách thuế còn chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và chưa đảm bảo được tính tương thích với các nền kinh tế thị trường khác trong khu vực
Trong thời gian qua các sắc thuế vẫn chưa đạt được mục tiêu đơn giản, rõ ràng
II QUẢN TRỊ THUẾ Ở VIỆT NAM
1 Tổ chức và chức năng bộ máy thu thuế
Cùng với quá trình cải cách thuế bước 2, bộ máy thu thuế của nhà nước Việt Nam cũng được cơ cấu lại và thực hiện theo nguyên tắc thống nhất theo hệ thống dọc từ Trung Ương đến quận, huyện, bao gồm:
- Cấp Trung Ương: hệ thống thu thuế nhà nước gồm có Tổng cục thuế trực thuộc
Bộ Tài chính và bộ máy giúp việc cơ quan tổng cục gồm có một số phòng chức năng và phòng nghiệp vụ được tổ chức theo các sắc thuế Tổng cục thuế do một Tổng cục trưởng phụ trách và một số Phó Tổng cục trưởng giúp việc
- Cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương có các Cục thuế trực thuộc Tổng cục thuế, đồng thời chịu sự chỉ đạo đồng thời của Tổng cục thuế và Ủy ban Nhân dân cùng cấp Cục thuế do một Cục trưởng phụ trách và một số Phó Cục trưởng giúp việc
- Cấp quận, huyện có các Chi cục thuế trực thuộc Cục thuế và chịu sự chỉ đạo đồng thời của UBNN cùng cấp Chi cục do một chi cục trưởng phụ trách và một số Phó chi cục trưởng giúp việc
- Ở một số địa phương có thể hình thành các đội thu thuế ở cấp phường, xã và do Chi cục thuế chỉ đạo đồng thời với UBND cùng cấp
Tính thống nhất và hệ thống trong tổ chức bộ máy thu thuế được biểu hiện qua:
- Công tác thu thuế và các khoản thu khác thuộc mọi thành phần kinh tế của NSNN đều được quản lý thống nhất bởi hệ thống thu thuế nhà nước
- Các nghiệp vụ thuế và thu khác được chỉ đạo và tổ chức thống nhất trong toàn ngành thuế
- Việc quản lý biên chế, cán bộ, kinh phí họat động được thực hiện thống nhất trong toàn ngành thuế Kinh phí hoạt động của hệ thống thuế nhà nước được khoán cho qui mô hoạt động của từng cơ quan và dựa vào dự toán của Bộ Tài chính
2 Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thuế các cấp
2.1 Tổng cục thuế:
Tổng cục thuế là bộ máy cao nhất trong hệ thống thu thuế nhà nước, có các nhiệm vụ chủ yếu như sau:
- Giúp Bộ Tài chính soạn thảo các văn bản pháp qui về thuế và các khoản thu khác
để trình các cơ quan chức năng có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện thống nhất các văn bản này trong cả nước Tự ban hành một số qui định về nghiệp
vụ thuế và chỉ đạo các cơ quan cấp dưới thực hiện thống nhất theo các chỉ đạo đó
Trang 25- Hướng dẫn việc lập kế hoạch và tổng hợp kế hoạch thu thuế và thu khác trình Bộ trưởng Bộ Tài chính xem xét để trình các cấp có thẩm quyền quyết định Giao chỉ tiêu thu thuế cho các cơ quan cấp dưới Hướng dẫn cơ quan cấp dưới giao mức thuế phải nộp cho các đối tượng nộp thuế, thông qua đó kiểm tra đôn đốc cơ quan thuế cấp dưới trong việc tổ chức công tác thu thuế nhằm hoàn thành kế hoạch.
- Tổ chức công tác thông tin, báo cáo, thống kê, phân tích tình hình và kết quả thu thuế, phục vụ kịp thời cho việc chỉ đạo, điều hành của các cơ quan cấp trên
- Quản lý về tổ chức, biên chế, cán bộ, kinh phí chi tiêu và ấn chỉ của toàn bộ hệ thống thu thuế theo đúng qui định Tổ chức công tác thi đua, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ thuế trong cả nước
- Được quyền yêu cầu các bộ, ngành, các cơ sở sản xuất kinh doanh cung cấp các tài liệu, số liệu, các bản kế hoạch kinh tế - xã hội – tài chính có liên quan đến việc lập kế hoạch và quản lý thu thuế
- Tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các qui định về thuế và thu khác của nhà nước Xử lý các vi phạm chính sách, chế độ thuế trong nội bộ ngành, giải quyết các khiếu tố theo thẩm quyền được luật thuế qui định
- Ra lệnh thu các khoản phải thu, ra lệnh phạt tiền nếu các đối tượng nộp thuế chưa nộp, nộp chậm hay nộp thiếu hoặc vi phạm các điều khác của luật thuế Nếu phát hiện thấy dấu hiệu phạm tội trong các trường hợp nghiêm trọng thì lập hồ sơ truy cứu trách nhiệm hình sự theo luật định
2.2 Cục thuế
Là tổ chức trực thuộc Tổng Cục thuế được đặt tại tất cả các tỉnh, thành trực thuộc Trung Ương Nhiệm vụ, quyền hạn chủ yếu là:
- Hướng dẫn, tổ chức chỉ đạo việc thực hiện thống nhất các chính sách, chế độ, thể
lệ, nguyên tắc về quản lý thu thuế trên địa bàn theo đúng các pháp luật, các văn bản qui định Tuyên truyền, phổ biến chính sách thuế cho các đối tượng nộp thuế
- Lập kế hoạch thu thuế và thu khác trên địa bàn, báo cáo với Bộ Tài chính và UBNN tỉnh theo qui định Phân bổ, giao chỉ tiêu kế hoạch thu thuế và thu khác cho các Chi cục thuế trực thuộc
- Tổ chức thu thuế đối với các đối tượng do Cục trực tiếp quản lý thu thuế Thực hiện các nghiệp vụ theo đúng qui định của nhà nước và hướng dẫn của Bộ Tài chính hay Tổng Cục thuế Đôn đốc các đối tượng nộp thuế đầy đủ, kịp thời; xem xét đề nghị miễn thuế, giảm thuế và khác khoản thu khác theo thẩm quyền
- Chỉ đạo, đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra thường xuyên các Chi Cục thuế trong việc
tổ chức công tác thu thuế, thực hiện luật, pháp lệnh, kế hoạch thu thuế và thu khác
- Thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành chính sách chế độ thuế, kỷ luật thu nộp thuế của các đối tượng nộp thuế và trong nội bộ ngành thuế địa phương; xử lý các vi phạm về thuế, các khiếu nại
- Được quyền yêu cầu các tổ chức, cá nhân nộp thuế cung cấp đầy đủ, kịp thời hồ
sơ cần thiết cho việc tính thuế và thu khác
- Tham gia cùng với cơ quan chức năng xét duyệt đăng ký kinh doanh và đăng ký nộp thuế
- Tổ chức công tác kế toán thuế, kế toán ấn chỉ, kế toán hàng tịch thu, tạm giữ, đầy
đủ, kịp thời, chính xác; hướng dẫn các Chi cục thuế thực hiện các qui định về kế toán thu; tổ chức công tác thống kê các chỉ tiêu kinh tế và thu nộp thuế; lập báo cáo về tình hình và kết quả thu thuế cho UBNN cùng cấp và cơ quan cấp trên
Trang 26- Quản lý biên chế, cán bộ, kinh phí chi tiêu của hệ thống thuế ở địa phương; tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, thi đua tuyên truyền về công tác thuế.
2.3 Chi Cục thuế
Chi cục thuế là tổ chức trực thuộc Cục thuế, được đặt tại tất cả các quận, huyện và cấp tương đương
- Lập kế hoạch thu thuế hàng năm, quý, tháng trên địa bàn
- Tham gia với các cơ quan chức năng xét duyệt đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế Trực tiếp quản lý đăng ký tính thuế của các đối tượng nộp thuế
- Tổ chức các biện pháp thu thuế; tính thuế; lập sổ thuế, thông báo số thuế phải nộp; đôn đốc thực hiện đầy đủ, kịp thời mọi khoản thu vào kho bạc Nhà nước; xem xét và đề nghị xét miễn giảm thuế
- Tổ chức công tác kiểm tra, chống khai man lậu thuế; kiểm tra và xử lý các vi phạm chính sách chế độ thuế; vi phạm kỷ luật trong nội bộ ngành thuế; giải quyết các đơn khiếu nại theo thẩm quyền và theo sự ủy quyền của cơ quan thuế cấp trên
- Tổ chức công tác thống kê, kế toán, thông tin báo cáo tình hình và kết quả thu thuế theo chế độ qui định
- Quản lý kinh phí chi tiêu, trang phục, ấn chỉ của bộ máy thuế ở Quận, huyện
3 Nội dung kiểm tra, thanh tra thuế
3.1 Đối tượng kiểm tra
- Các đối tượng nộp thuế
- Các tổ chức và cá nhân thuộc nội bộ ngành thuế
3.2 Kiểm tra việc đăng ký kinh doanh và kê khai đăng ký thuế
3.3 Kiểm tra việc chấp hành chế độ kế toán, sổ sách, chứng từ, hóa đơn
3.4 Kiểm tra tính thuế, nộp thuế
III ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC CẢI CÁCH THUẾ VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN TỪ 2011 – 2020.
1 Quan điểm cơ bản và mục tiêu yêu cầu cải cách thuế
Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 tập trung vào các mục tiêu tổng quát bao gồm: Xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, thống nhất, công bằng, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; mức động viên hợp lý nhằm tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước và là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô có hiệu quả, hiệu lực của Đảng và Nhà nước Xây dựng ngành thuế Việt Nam hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; công tác quản lý thuế, phí và lệ phí thống nhất, minh bạch, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện dựa trên ba nền tảng cơ bản: thể chế chính sách thuế minh bạch, quy trình thủ tục hành chính thuế đơn giản, khoa học phù hợp với thông lệ quốc tế; nguồn nhân lực có chất lượng, liêm chính; ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, có tính liên kết, tích hợp, tự động hoá cao
Tỷ lệ huy động thu NSNN giai đoạn 2011-2015 khoảng 23-24% GDP, trong đó tỷ lệ động viên từ thuế, phí và lệ phí bình quân hàng năm từ 16%-18%/năm
Giai đoạn 2016-2020: Tỷ lệ huy động thu NSNN và tỷ lệ động viên từ thuế, phí và lệ phí trên GDP ở mức hợp lý theo hướng giảm mức động viên về thuế trên một đơn vị hàng hoá, dịch vụ để khuyến khích cạnh tranh, tích tụ vốn cho sản xuất kinh doanh
2 Nội dung chiến lược cải cách chính sách thuế
Chiến lược cũng cụ thể hoá một số mục tiêu, yêu cầu cụ thể cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 như: Về cải cách hành chính thuế, xây dựng và thực hiện chính sách huy động
Trang 27từ thuế, phí và lệ phí hợp lý nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ sản xuất trong nước, khuyến khích đầu tư; Hệ thống chính sách thuế, phí và lệ phí được sửa đổi bổ sung phù hợp với định hướng phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; Hệ thống chính sách thuế được xây dựng, hoàn thiện bảo đảm minh bạch, rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện; mở rộng cơ sở thuế để phát triển nguồn thu mới phát sinh và cơ cấu lại theo hướng tăng nguồn thu nội địa (không kể thu từ dầu thô) đến năm 2015 đạt trên 70% tổng thu NSNN và đến năm 2020 đạt trên 80% tổng thu ngân sách nhà nước.
Hệ thống chính sách thuế trong giai đoạn 2011-2012 bao gồm các sắc thuế, phí và lệ phí chủ yếu sau: 1.Thuế giá trị gia tăng; 2 Thuế tiêu thụ đặc biệt; 3 Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; 4 Thuế thu nhập doanh nghiệp; 5 Thuế thu nhập cá nhân; 6 Thuế tài nguyên; 7 Thuế sử dụng đất nông nhiệp; 8 Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; 9 Thuế bảo vệ môi trường; 10 Các khoản phí và lệ phí
Một số chỉ tiêu cụ thể được đưa vào Chiến lược, cụ thể:
Giai đoạn 2011-2015: Giảm thời gian thực hiên thủ tục hành chính thuế để phấn đấu đến năm 2015 là một trong năm nước đứng đầu khu vực Đông Nam Á được xếp hạng cho mức độ thuận lợi về thuế; Đến năm 2015 tối thiểu có 60% doanh nghiệp sử dụng các dịch vụ thuế điện tử; 50% doanh nghiệp đăng ký thuế, khai thuế qua mạng internet; 70% số người nộp thuế hài lòng với các dịch vụ mà cơ quan thuế cung cấp; Tỷ lệ tờ khai thuế đã nộp trên tổng số tờ khai thuế phải nộp tối thiểu là 90%; tỷ lệ tờ khai thuế đúng hạn đạt tối thiểu là 85%; tỷ lệ tờ khkai thuế được kiểm tra tự động qua phần mềm ứng dụng của cơ quan thuế đạt tối thiểu là 95%
Giai đoạn 2016-2020: Thời gian thực hiện thủ tục hành chính thuế đến năm 2020 là một trong bốn nước đứng đầu khu vực Đông Nam Á được xếp hạng có mức độ thuận lợi về thuế; Đến năm 2020 tối thiểu có 90% doanh nghiệp sử dụng các dịch vụ thuế điện tử, 65% doanh nghiệp đăng ký thuế, khai thuế qua mạng internet; 80% số người nộp thuế hài lòng với các dịch
vụ mà cơ quan thuế cung cấp; Tỷ lệ tờ khai thuế đã nộp trên tổng số tờ khai thuế phải nộp tối thiểu là 95%; tỷ lệ tờ khai thuế đúng hạn đạt tối thiểu là 95%; tỷ lệ tờ khai thuế được kiểm tra tự động qua phần mềm ứng dụng của cơ quan thuế là 100%
2.1 Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
• Bảo đảm sự động viên, đóng góp hợp lý cho NSNN, phù hợp với quá trình cải cách
hệ thống thuế nước ta
• Giảm mức động viên về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu từ 20% hiện nay xuống còn 10% trong tổng số thu từ thuế và phí
Nội dung cơ bản của việc điều chỉnh chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
• Xây dựng một biểu thuế nhập khẩu phù hợp với định hướng bảo hộ hiệu quả các ngành kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế
• Việc xác định trị giá hải quan theo yêu cầu của GATT/WTO
• Thu hẹp diện miễn giảm thuế
• Xây dựng thuế chống độc quyền, chống bán phá giá, thuế đối kháng
Trong đó vấn đề thiết kế một biểu thuế nhập khẩu phù hợp với định hướng bảo hộ hiệu quả các ngành kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế được coi là nội dung quan trọng nhất của việc cải cách chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
2.2 Thuế GTGT
Trang 28Mục tiêu chính của thuế GTGT:
• Khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất và dịch vụ, đặc biệt là xuất khẩu
• Cùng với thuế nhập khẩu góp phần trong việc bảo vệ hợp lý sản xuất trong nước
• Phù hợp với thông lệ quốc tế
• Đơn giản hóa chính sách, tăng cường tính trung lập của thuế
Nội dung cơ bản điều chỉnh chính sách thuế GTGT:
• Về đối tượng chịu thuế: bổ sung các mặt hàng chịu thuế TTĐB ở khâu sản xuất và nhập khẩu Đưa vào diện chịu thuế một số sản phẩm, dịch vụ xuất khẩu Đồng thời giảm và hạn chế đối tượng không chịu thuế GTGT Đến 2010 bổ sung đối tượng chịu thuế GTGT các mặt hàng là sản phẩm ở khâu sản xuất nông nghiệp để đảm bảo thực hiện thuế GTGT liên hoàn và thống nhất ở tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh
• Về thuế suất: giảm số lượng tối đa còn 2 mức thuế suất Điều chỉnh mức thuế suất
để đảm bảo thu NSNN trong khi thực hiện cắt giảm thuế nhập khẩu Mức thuế suất
dự kiến (vào năm 2005 là 5% và 10% Trong đó sắp xếp lại để hạn chế các sản phẩm, dịch vụ thuộc nhóm thuế suất 5%, còn lại đa số sản phẩm dịch vụ áp dụng mức thuế suất là 10% Sau đó tiến tới một thuế suất 10% Áp dụng thuế suất 0% đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu
• Cải tiến và tiến tới hóa đơn bán hàng theo mẫu thống nhất và do doanh nghiệp tự in
2.3 Thuế TTĐB
Mục tiêu:
Cùng với việc giảm thuế nhập khẩu và đơn giản thuế suất thuế GTGT, cần thiết mở rộng diện chịu thuế TTĐB đối với một số hàng hóa và dịch vụ để góp phần vào bảo hộ sản xuất trong nước một cách có hiệu quả
Nội dung cơ bản điều chỉnh chính sách thuế TTĐB:
• Đối tượng chịu thuế TTĐB: bổ sung vào diện chịu thuế TTĐB một số sản phẩm hàng hóa như: mỹ phẩm, nước hoa, đá quý, gas, ô tô, xăng ô tô, xổ số, một số dịch
vụ khác
• Về thuế suất: điều chỉnh thuế suất các mặt hàng cho phù hợp và đồng bộ với các luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế GTGT Sửa đổi và áp dụng một thuế suất thống nhất cho một nhóm sản phẩm, không phân biệt thuế suất theo tính chất, nguồn nguyên liệu hình thành, hình thức của từng loại sản phẩm Nghiên cứu sửa đổi căn
cứ tính thuế là số lượng sản phẩm và mức thuế TTĐB trên đơn vị sản phẩm
• Giá tính thuế: điều chỉnh sửa đổi giá tính thuế TTĐB đối với một số mặt hàng cho phù hợp để khắc phục bất hợp lý về mức thuế phải nộp chịu ảnh hưởng của yếu tố chi phí
2.4 Thuế TNDN
Mục tiêu:
Sử dụng tối đa thuế TNDN nhằm khuyến khích đầu tư mở rộng sản xuất, cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao hiệu quả nền kinh tế
Nội dung cơ bản sửa đổi chính sách thuế TNDN
• Giảm mức động viên, tiến tới một mức thuế suất phổ thông cho tất cả các loại doanh nghiệp Mức đó có thể là 20% Bãi bỏ thuế suất bổ sung
• Về đối tượng nộp thuế TNDN: bổ sung đối tượng nộp thuế TNDN là các công ty thường trú và không thường trú Chuyển đối tượng nộp thuế là cá nhân kinh doanh sang nộp thuế TNCN
Trang 29• Căn cứ tính thuế TNDN là thu nhập chịu thuế và thuế suất Thu nhập chịu thuế được chia thành thu nhập từ kinh doanh và thu nhập từ đầu tư Thu nhập từ kinh doanh được xác định là khoản thu nhập sau khi trừ đi mọi chi phí liên quan đến kinh doanh Thu nhập từ đầu tư là tiền lãi cho vay, lợi tức cổ phần, chứng khoán Trên cơ
sở đó thu nhập chịu thuế phải bao quát được tất cả các thu nhập mà doanh nghiệp có
• Về đối tượng chịu thuế: mở rộng diện cá nhân nộp thuế đạt từ 5-10% lao động trong
xã hội (thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao nay chỉ có 200.000 người)
• Về thu nhập chịu thuế: không phân biệt thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên; bổ sung thu nhập chịu thuế của cá nhân kinh doanh và cá nhân hành nghề độc lập Thu nhập từ kinh doanh được xác định trên cơ sở doanh thu kinh doanh trừ đi các chi phí liên quan đến kinh doanh; bổ sung các khoản thu nhập từ đầu tư, lãi tiền cho vay, lãi cổ phần, trái phiếu, tiền bản quyền… Nói chung, thu nhập chịu thuế phải bao quát tất cả các khoản thu nhập của cá nhân
• Biểu thuế: áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần đối với các khoản thu nhập từ kinh doanh, tiền lương và các khoản thu nhập khác Áp dụng thuế suất từng phần đối với một số khoản thu nhập như lãi tiền cho vay, lãi cổ phần, lãi chuyển nhượng tài sản, trúng thưởng xổ số Từng khoản thu nhập cho trừ một mức nhất định trước khi tính thuế Bãi bỏ thuế thu nhập bổ sung
• Thời gian đầu tiếp tục duy trì 2 biểu thuế cho người Việt Nam và người nước ngoài Khi thu nhập của ngườiViệt Nam được nâng lên dần thì đưa về áp dụng chung một biểu thuế thu nhập
Trang 30CHƯƠNG 3: THUẾ TÀI NGUYÊN
Chương này trình bày về Luật Thuế tài nguyên (số 45/2009/QH12) được Quốc hội ban hành ngày 25-11-2009
Văn bản có liên quan:
Nghị định số 50/2010/NĐ-CP ngày 14-05-2010 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành Luật Thuế tài nguyên.
Thông tư số 105/2010/TT-BTC ngày 23-07-2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế Tài nguyên và Nghị Định số 50/2010/NĐ-CP ngày 14-05-2010 của Chính phủ.
I KHÁI NIỆM
Thuế tài nguyên là một lĩnh vực rất đặc biệt và quan trọng ở nhiều nước đang phát triển, nhất là những nước có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú Đây là một loại thuế gián thu đánh vào các lọai khoáng sản được khai thác trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam
Để góp phần bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên được tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả góp phần bảo vệ môi trường và bảo đảm nguồn thu cho NSNN phản ánh đúng chi phí sản xuất, kinh doanh trong điều kiện hạch toán kinh tế, tạo sự công bằng giữa các đơn vị có khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên của đất nước
II NGƯỜI NỘP THUẾ VÀ ÐỐI TƯỢNG CHỊU THUẾ
1 Tài nguyên thiên nhiên thuộc diện chịu thuế là các tài nguyên thiên nhiên trong phạm
vi đất liền, hải đảo, nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền
và quyền tài phán của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, bao gồm:
a) Khoáng sản kim loại: Gồm khoáng sản kim loại đen (sắt, mangan, titan…) và khoáng sản kim lại màu (vàng, đất hiếm, bạch kim, thiết, won fram, đồng, chì, kẽm, nhôm…)
b) Khoáng sản không kim loại, bao gồm: đất làm gạch, đất khai thác san lấp, xây dựng công trình, đất khai thác sử dụng cho các mục đích khác; đá, cát, sỏi, than, đá quý…nước khoáng, nước nóng thiên nhiên thuộc đối tượng quy định tại luật khoáng sản;
c) Dầu mỏ: là dầu thô được quy định tại khoản 2, Ðiều 3 Luật dầu khí 1993;
d) Khí thiên nhiên theo quy định tại khoản 3, Ðiều 3 Luật dầu khí 1993; Khí than theo quy định tại khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dầu khí năm 2008;
e) Sản phẩm của rừng tự nhiên, bao gồm các loại thực vật và các loại sản phẩm khác của rừng tự nhiên, trừ động vật và hồi, quế, sa nhân, thảo quả do người nộp thuế trồng tại khu vực rừng tự nhiên được giao khoanh nuôi, bảo vệ;
f) Hải sản tự nhiên, gồm động vật và thực vật biển;
g) Nước thiên nhiên, bao gồm nước mặt và nước dưới đất trừ nước thiên nhiên dùng cho nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp và nước biển để làm mát máy
Nước biển làm mát máy quy định tại Khoản này phải đảm bảo các yêu cầu về môi trường, về hiệu quả sử dụng nước tuần hoàn và điều kiện kinh tế kỹ thuật chuyên ngành
Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các Bộ liên quan để hướng dẫn nước biển làm mát máy thuộc đối tượng không chịu thuế tài nguyên quy định tại khoản này
h) Yến sào thiên nhiên, trừ yến sào do tổ chức, cá nhân thu được từ hoạt động đầu tư xây dựng nhà để dẫn dụ chim yến tự nhiên về nuôi và khai thác
i) Tài nguyên thiên nhiên khác do Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành liên quan báo cáo Chính phủ để trình Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định
Mọi trường hợp cố ý tiến hành khai thác các loại tài nguyên cấm khai thác đều bị xử lý theo pháp luật hiện hành Khi kiểm tra phát hiện những vụ việc vi phạm, cơ quan thuế phải thông báo và phối hợp với các cơ quan có chức năng để tiến hành xử lý theo thẩm quyền
Trang 31Trường hợp tài nguyên thiên nhiên cấm khai thác bị bắt giữ, tịch thu và được phép bán
ra thì tổ chức được giao bán phải tính đầy đủ thuế tài nguyên trong giá bán và nộp vào ngân sách
2 Người nộp thuế: Mọi tổ chức cá nhân thuộc các thành phần kinh tế, bao gồm:
Doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xã, doanh nghiệp
tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hay bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh theo luật Ðầu tư nước ngoài tại Việt Nam, hộ sản xuất kinh doanh, các tổ chức và các
cá nhân khác không phân biệt ngành nghề, quy mô, hình thức hoạt động, có khai thác tài nguyên thiên nhiên theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam đều phải đăng ký, kê khai và nộp thuế tài nguyên theo quy định tại điều 3 Luật thuế Tài nguyên
Người nộp thuế tài nguyên trong một số trường hợp được quy định cụ thể như sau:
2.1 Doanh nghiệp khai thác tài nguyên được thành lập trên cơ sở liên doanh thì doanh nghiệp liên doanh là người nộp thuế;
2.2 Bên Việt Nam và bên nước ngoài cùng tham gia thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh khai thác tài nguyên thì trách nhiệm nộp thuế của các bên phải được xác định cụ thể trong hợp đồng hợp tác kinh doanh; Trường hợp trong hợp đồng hợp tác kinh doanh không xác định cụ thể bên có trách nhiệm nộp thuế tài nguyên thì các bên tham gia hợp đồng đều phải kê khai nộp thuế tài nguyên hoặc phải cử ra người đại diện nộp thuế tài nguyên của hợp đồng hợp tác kinh doanh
2.3 Tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nhỏ, lẻ bán cho tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua và tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua cam kết chấp thuận bằng văn bản về việc kê khai nộp thay thuế tài nguyên cho tổ chức, cá nhân khai thác thì tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua là người nộp thuế
Tổ chức, cá nhân đầu mối thu mua phải lập bảng kê tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nhỏ, lẻ do đơn vị mình khai, nộp thay thuế tài nguyên và gửi cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý thu thuế tài nguyên cùng với hồ sơ khai thuế nộp thay của tháng đầu tiên phát sinh hoạt động thu mua gom tài nguyên để theo dõi quản lý thuế các kỳ tiếp theo; Khi có thay đổi tổ chức, cá nhân nộp thay thuế tài nguyên thì lập tờ khai bổ sung kèm theo hồ sơ khai thuế tài nguyên của tháng
có thay đổi; Khi chấm dứt việc Ủy thác nộp thuế thay thì hai bên phải lập văn bản chấm dứt việc nộp thuế thay và bên nộp thuế thay gửi cho cơ quan thuế trong tháng kết thúc việc nộp thuế thay
2.4 Tổ chức, cá nhân nhận thầu thi công, không có giấy phép tài nguyên, nhưng trong quá trình thi công có phát sinh sản lượng tài nguyên khai thác tiêu thụ (như nhận thầu nạo vét kênh, mương, hồ, đầm có phát sinh sản lượng cát, đất, bùn bán ra; khai thác đá dùng chế biến làm vật liệu xây dựng thi công công trình) thì đều phải khai, nộp thuế tài nguyên với cơ quan thuế địa phương khai thác tài nguyên
2.5 Tổ chức, cá nhân (sau đây gọi là nhà thầu) tiến hành hoạt động tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu thô và khí thiên nhiên tại Việt Nam theo quy định của Luật Dầu khí thì người nộp thuế được xác định từng trường hợp như sau:
a Đối với hợp đồng dầu khí được ký kết dưới hình thức hợp đồng chia sản phẩm, người nộp thuế là người điều hành thực hiện hợp đồng
b Đối với hợp đồng dầu khí được ký kết dưới hình thức hợp đồng điều hành chung, người nộp thuế là công ty điều hành chung
c Đối với hợp đồng dầu khí được ký kết dưới hình thức hợp đồng liên doanh, người nộp thuế là doanh nghiệp liên doanh
d Đối với trường hợp Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam hoặc các Tổng công ty, Công
ty thuộc Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam tự tiến hành hoạt động tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu thô, khí thiên nhiên, người nộp thuế là Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam hoặc các Tổng công ty, Công ty thuộc Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam
2.6 Tổ chức, cá nhân sử dụng nước từ công trình thủy lợi được đầu tư bằng nguồn vốn không thuộc ngân sách nhà nước hoặc có một phần vốn ngân sách nhà nước để phát điện là đơn
vị phải nộp thuế tài nguyên và tiền sử dụng nước theo quy định
2.7 Đối với tài nguyên thiên nhiên cấm khai thác hoặc khai thác trái phép bị bắt giữ, tịch thu thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên và được phép bán ra thì tổ chức được giao bán phải nộp
Trang 32thuế tài nguyên trước khi trích các khoản chi phí liên quan đến hoạt động bắt giữ, bán đấu giá, trích thưởng theo chế độ quy định.
III CĂN CỨ TÍNH THUẾ VÀ BIỂU THUẾ TÀI NGUYÊN
1 Căn cứ tính thuế
Căn cứ tính thuế tài nguyên là sản lượng tài nguyên tính thuế, giá tính thuế đơn vị tài nguyên, thuế suất thuế tài nguyên, trong đó giá tính thuế đơn vị tài nguyên được áp dụng tương ứng với loại tài nguyên chịu thuế của kỳ tính thuế
Số thuế tài nguyên phải nộp được tính như sau:
Thuế tài nguyên
phải nộp trong kỳ =
Sản lượng tài nguyên tính thuế x
Giá tính thuế đơn vị
Trường hợp được cơ quan nhà nước ấn định mức thuế tài nguyên phải nộp trên một đơn
vị tài nguyên khai thác thì số thuế tài nguyên phải nộp được xác định như sau:
Thuế tài nguyên
phải nộp trong kỳ =
Sản lượng tài nguyên tính
2 Sản lượng tài nguyên tính thuế:
2.1 Đối với tài nguyên khai thác xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thì sản lượng tài nguyên tính thuế là số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng của tài nguyên thực tế khai thác trong kỳ tính thuế
Đối với loại tài nguyên khai thác thu được sản phẩm tài nguyên có nhiều cấp độ, chất lượng, giá trị thương mại khác nhau thì sản lượng tính thuế được phân loại theo sản lượng tài nguyên có cùng cấp độ, chất lượng, giá trị thương mại như nhau hoặc quy đổi ra đơn vị sản lượng tài nguyên để làm căn cứ xác định sản lượng tính thuế cho toàn bộ sản lượng tài nguyên khai thác
Ví dụ 1: Đơn vị khai thác đá sau nổ mìn, khai thác thu được đá hộc, đá dăm các ly khác nhau thì được phân loại theo từng cấp độ, chất lượng từng loại đá thu được để xác định sản lượng đá tính thuế của mỗi loại Trường hợp, sau khai thác bán một phần sản lượng đá hộc,
số đá hộc, đá dăm còn lại được đưa vào nghiền để sản xuất xi măng thì phải quy đổi sản lượng
đá dăm ra đá hộc để xác định sản lượng đá hộc thực tế khai thác chịu thuế tài nguyên.
2.2 Đối với tài nguyên khai thác chưa xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thực tế khai thác do chứa nhiều chất, tạp chất khác nhau thì sản lượng tài nguyên được xác định trong một số trường hợp như sau:
a Đối với tài nguyên khai thác phải chuyển qua khâu sàng tuyển, phân loại mới bán thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định theo số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng của từng chất thu được sau khi sàng tuyển, phân loại Tài nguyên qua sàng tuyển, phân loại vẫn ở trạng thái quặng, chưa thành sản phẩm khác Đối với đất, đá, phế thải, bã xít thu được qua sàng tuyển nếu bán ra thì xác định sản lượng tính thuế tài nguyên theo từng loại chất tương ứng
Ví dụ 2: Đối với than khai thác từ mỏ chứa tạp chất, đất, đá phải vận chuyển đến khâu sàng tuyển, phân loại mới bán thì sản lượng than thực tế khai thác để tính thuế tài nguyên
là sản lượng đã qua sàng tuyển, phân loại.
Trang 33Trường hợp khai thác quặng phải sàng tuyển một khối lượng đất, đá lớn (không thể xác định được cụ thể sản lượng) để thu được 2 kg vàng cốm, 100 tấn quặng sắt thì thuế tài nguyên được tính trên số lượng vàng cốm và quặng sắt thu được này Đồng thời xác định sản lượng loại tài nguyên khác có khai thác sử dụng cho hoạt động khai thác khoáng sản, như nước khai thác sử dụng cho hoạt động sàng, tuyển.
b Đối với tài nguyên khai thác có chứa nhiều chất khác nhau nhưng không qua sàng, tuyển, phân loại và không xác định được sản lượng từng chất khi bán ra thì sản lượng tài nguyên tính thuế của từng chất được xác định theo sản lượng tài nguyên thực tế khai thác và tỷ lệ của từng chất có trong tài nguyên đã được kiểm định theo mẫu quặng tài nguyên khai thác
Ví dụ 3: Đơn vị khai thác quặng tại mỏ đồng, với sản lượng quặng đồng khai thác trong tháng là 1000 tấn, có lẫn nhiều chất khác nhau Theo Giấy phép khai thác và hồ sơ thiết
kế khai thác tài nguyên đã được cơ quan thẩm quyền phê duyệt và tỷ lệ tài nguyên đã được kiểm định đối với từng chất trong quặng đồng khai thác là: đồng: 60%; bạc: 0,2%; thiếc: 0,5%
Sản lượng tài nguyên tính thuế của từng chất được xác định như sau:
2.2, khoản 2, Điều 6 Thông tư 105/2010.
2.3 Đối với tài nguyên khai thác không bán ra mà đưa vào sản xuất sản phẩm khác nếu không trực tiếp xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thực tế khai thác thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định căn cứ vào sản lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ tính thuế và định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm
Định mức sử dụng tài nguyên phải tương ứng với tiêu chuẩn công nghệ sản xuất, chế biến sản phẩm đang ứng dụng và được người nộp thuế đăng ký với cơ quan thuế vào kỳ khai thuế đầu tiên Trường hợp mức tiêu hao tài nguyên để sản xuất một đơn vị sản phẩm cao hơn 5%
so với tiêu chuẩn công nghệ thiết kế thì cơ quan thuế phối hợp với các cơ quan liên quan để thẩm định làm cơ sở ấn định sản lượng tài nguyên khai thác chịu thuế
Ví dụ 4: Để sản xuất ra 1.000 viên gạch mộc (chưa nung) thì phải sử dụng 1 m 3 đất sét Trong tháng, cơ sở khai thác đất sét sản xuất được 100.000 viên gạch thì sản lượng đất sét khai thác chịu thuế tài nguyên là 100.000 viên chia (:) 1.000 viên = 100 m3.
2.4 Đối với nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thủy điện thì sản lượng tài nguyên tính thuế là sản lượng điện của cơ sở sản xuất điện bán cho bên mua điện theo hợp đồng mua bán điện hoặc sản lượng điện giao nhận trong trường hợp không có hợp đồng mua bán điện được xác định theo hệ thống đo đếm đạt tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam, có xác nhận của bên mua, bên bán hoặc bên giao, bên nhận
2.5 Đối với nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên dùng cho mục đích công nghiệp thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định bằng mét khối (m3) hoặc lít (l) theo hệ thống đo đếm đạt tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam
Người nộp thuế tài nguyên phải lắp đặt thiết bị đo đếm sản lượng nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên khai thác để làm căn cứ tính thuế Thiết bị lắp đặt phải có giấy kiểm định của cơ quan quản lý đo lường chất lượng tiêu chuẩn Việt Nam và thông báo lần đầu với cơ quan thuế kèm theo hồ sơ khai thuế tài nguyên trong kỳ khai thuế gần nhất kể từ ngày lắp đặt xong thiết bị
Trường hợp do điều kiện khách quan không thể lắp đặt được thiết bị đo đếm sản lượng nước khai thác sử dụng và không trực tiếp xác định được sản lượng tính thuế thì thực hiện khoán sản lượng tài nguyên khai thác theo kỳ tính thuế Cơ quan thuế phối hợp với cơ quan có
Trang 34liên quan ở địa phương xác định sản lượng tài nguyên khai thác được khoán để tính thuế tài nguyên theo hướng dẫn tại khoản 6 mục này
2.6 Đối với tài nguyên được khai thác thủ công, phân tán hoặc khai thác lưu động, không thường xuyên, sản lượng tài nguyên khai thác dự kiến trong một năm có giá trị dưới 200.000.000 đồng thì thực hiện khoán sản lượng tài nguyên khai thác theo mùa vụ hoặc định kỳ
để tính thuế Cơ quan thuế phối hợp với cơ quan có liên quan ở địa phương xác định sản lượng tài nguyên khai thác được khoán để tính thuế
Việc khoán thuế phải căn cứ vào tình hình khai thác thực tế, quy trình công nghệ sử dụng khai thác, sản xuất sản phẩm theo hồ sơ thiết kế, định mức tiêu chuẩn kỹ thuật ngành hoặc sản lượng khai thác sử dụng của tổ chức, cá nhân khác tương đương
Cơ quan Thuế căn cứ hồ sơ đăng ký thuế tài nguyên, hồ sơ thiết kế kỹ thuật công nghệ khai thác tài nguyên, hồ sơ khai thuế tài nguyên, mức độ hạn chế về điều kiện khai thuế tài nguyên để phân tích, phối hợp với các cơ quan quản lý ngành liên quan xác định sản lượng và giá trị tài nguyên khai thác trong năm để xác định thuộc diện khoán sản lượng tài nguyên chịu thuế
2.7 Trường hợp tổ chức, cá nhân ký hợp đồng thu mua tài nguyên từ các tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nhỏ lẻ và tổ chức, cá nhân đầu mối thu mua cam kết bằng văn bản chấp thuận kê khai nộp thuế thay thì sản lượng tài nguyên tính thuế là sản lượng tài nguyên thực
tế thu mua
3 Giá tính thuế tài nguyên
Giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên của tổ chức, cá nhân khai thác chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 50/2010/NĐ-
CP và phải được thể hiện trên chứng từ bán hàng, nhưng không được thấp hơn giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh quy định; trường hợp giá bán tài nguyên khai thác thấp hơn giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh thì tính thuế tài nguyên theo giá do UBND cấp tỉnh quy định Giá tính thuế tài nguyên được xác định đối với từng trường hợp như sau:
3.1 Trường hợp xác định được giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên
3.1.1 Giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên khai thác chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng (không phân biệt địa bàn tiêu thụ) và được áp dụng làm giá tính thuế cho toàn bộ sản lượng tài nguyên khai thác trong tháng có cùng phẩm cấp, chất lượng, không phân biệt một phần vận chuyển đi nơi khác tiêu thụ hoặc đưa vào sản xuất, chế biến, sàng tuyển, phân loại; Giá bán của một đơn vị tài nguyên được tính bằng tổng doanh thu (chưa có thuế GTGT) của loại tài nguyên bán ra chia cho tổng sản lượng loại tài nguyên tương ứng bán ra trong tháng
Trường hợp tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên cho Tập đoàn, Tổng công ty, Công ty
để tập trung một đầu mối tiêu thụ theo hợp đồng thoả thuận giữa các bên thì áp dụng giá tính thuế đơn vị tài nguyên do UBND cấp tỉnh tại địa phương khai thác tài nguyên quy định theo khoản 4, Điều 6 Thông tư 105/2010
3.1.2 Trường hợp trong tháng có phát sinh sản lượng tài nguyên khai thác, nhưng không phát sinh doanh thu bán tài nguyên thì giá tính thuế đơn vị tài nguyên được xác định theo giá tính thuế đơn vị tài nguyên bình quân gia quyền của tháng trước liền kề, nhưng nếu tính thuế bình quân gia quyền của tháng trước liền kề thấp hơn giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh quy định tại khoản 4, Điều 6 Thông tư 105/2010 thì tính thuế tài nguyên theo giá UBND cấp tỉnh quy định
3.2 Trường hợp tài nguyên chưa xác định được giá bán tài nguyên khai thác theo hướng dẫn tại khoản 1, Điều này thì giá tính thuế tài nguyên được xác định theo một trong những căn
cứ sau:
Trang 353.2.1 Giá bán thực tế trên thị trường khu vực của đơn vị sản phẩm tài nguyên cùng loại,
có giá trị tương đương, nhưng không thấp hơn giá tính thuế do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định theo hướng dẫn tại khoản 4 Mục này
3.2.2 Trường hợp tài nguyên khai thác có chứa nhiều chất khác nhau thì giá tính thuế xác định theo giá bán đơn vị của từng chất và hàm lượng của từng chất trong tài nguyên khai thác, nhưng không thấp hơn giá tính thuế do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định
Ví dụ 5: Trường hợp đơn vị khai thác 1.000 tấn quặng tại mỏ đồng (tiếp theo ví dụ 3) Theo Giấy phép khai thác, hồ sơ thiết kế khai thác tài nguyên, hồ sơ kiểm định được cơ quan thẩm quyền phê duyệt và tỷ lệ tài nguyên đã được kiểm định đối với từng chất trong quặng đồng khai thác như sau: đồng: 60%; bạc: 0,2%; thiếc: 0,5% Giá tính thuế đơn vị tài nguyên nguyên chất do UBND cấp tỉnh quy định như sau: Đồng 8.000.000 đồng/tấn; bạc: 600.000.000 đồng/ tấn; thiếc 40.000.000 đồng/tấn
Căn cứ giá tính thuế đơn vị tài nguyên nguyên chất do UBND cấp tỉnh quy định và sản lượng của từng chất để xác định giá tính thuế tài nguyên của từng chất, cụ thể:
Ví dụ 6: Trường hợp trong quá trình luyện quặng sắt thu được 0,05 tấn tinh quặng đồng trên 01 tấn gang và giá bán đồng là 8.500.000 đồng/tấn thì giá tính thuế tài nguyên đối với 0,05 tấn quặng đồng là: 0,05 x 8.500.000 đồng = 425.000 đồng Trường hợp không bán ra thì áp dụng giá tính thuế đơn vị tài nguyên do UBND cấp tỉnh quy định
3.2.3 Tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thông báo với cơ quan thuế việc áp dụng phương pháp xác định giá tính thuế đối với từng loại tài nguyên có khai thác theo quy định tại khoản 2, mục này và được gửi một lần kèm theo hồ sơ đăng ký thuế hoặc hồ sơ khai thuế tài nguyên của tháng đầu tiên có khai thác Trường hợp có thay đổi phương pháp xác định giá tính thuế thì gửi thông báo lại với cơ quan thuế trong tháng có thay đổi phương pháp xác định giá tính thuế
3.3 Giá tính thuế tài nguyên trong một số trường hợp được quy định cụ thể như sau:3.3.1 Giá tính thuế tài nguyên đối với nước thiên nhiên dùng sản xuất thủy điện là giá bán điện thương phẩm bình quân
Giá bán điện thương phẩm bình quân để tính thuế tài nguyên đối với các cơ sở sản xuất thủy điện do Bộ Tài chính công bố
3.3.2 Đối với gỗ là giá bán tại bãi giao (kho, bãi nơi khai thác); trường hợp chưa xác định được giá bán tại bãi giao thì giá tính thuế được xác định căn cứ vào giá tính thuế do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định theo hướng dẫn tại khoản 4, mục này
Trang 363.3.3 Đối với tài nguyên khai thác không tiêu thụ trong nước mà xuất khẩu là trị giá hải quan của tài nguyên khai thác xuất khẩu, không bao gồm thuế xuất khẩu
Trường hợp tài nguyên khai thác vừa tiêu thụ nội địa và xuất khẩu:
- Đối với sản lượng tài nguyên tiêu thụ nội địa là giá bán đơn vị tài nguyên khai thác chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng
- Đối với sản lượng tài nguyên xuất khẩu là trị giá hải quan của tài nguyên khai thác xuất khẩu, không bao gồm thuế xuất khẩu
Trị giá hải quan của tài nguyên khai thác xuất khẩu thực hiện theo quy định về trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu tại Luật Hải quan và các văn bản hướng dẫn thi hành
3.3.4 Đối với dầu thô, khí thiên nhiên là giá bán được xác định theo hướng dẫn tại Điều
14 Thông tư 105/2010
3.3.5 Đối với nước khoáng, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên dùng vào sản xuất sản phẩm, kinh doanh dịch vụ, mà không có giá bán ra thì giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh quy định theo nguyên tắc hướng dẫn tại mục 3.4 bên dưới
3.4 Tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nhưng không bán ra; hoặc không thực hiện đầy đủ chế độ sổ sách kế toán, chứng từ kế toán theo chế độ quy định; tổ chức, cá nhân nộp thuế tài nguyên theo phương pháp ấn định hoặc trường hợp loại tài nguyên xác định được sản lượng ở khâu khai thác nhưng do mô hình tổ chức, khai thác, sàng tuyển, tiêu thụ qua nhiều khâu độc lập nên không có đủ căn cứ để xác định giá bán tài nguyên khai thác thì áp dụng giá bán đơn vị tài nguyên do UBND cấp tỉnh tại địa phương có khai thác tài nguyên quy định cho từng thời kỳ để tính thuế tài nguyên
Đối với nước khoáng, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên khai thác không có căn
cứ xác định giá tính thuế đơn vị tài nguyên thì giá tính thuế đơn vị tài nguyên được áp dụng giá tính thuế do UBND cấp tỉnh quy định theo quy định tại khoản này
Căn cứ đặc điểm, yêu cầu về xây dựng giá tính thuế tài nguyên tại địa phương, UBND cấp tỉnh có văn bản chỉ đạo, giao Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Cục Thuế, Sở Tài nguyên và Môi trường xây dựng phương án giá tính thuế tài nguyên trình UBND cấp tỉnh quyết định
Việc xây dựng giá tính thuế tài nguyên phải đảm bảo phù hợp với hàm lượng, chất lượng, sản lượng của loại tài nguyên, tỷ lệ thu hồi tài nguyên, giá tài nguyên bán ra trên thị trường địa phương có tài nguyên khai thác và tham khảo thêm giá bán tài nguyên trên thị trường của địa phương lân cận
Khi giá bán của loại tài nguyên có biến động tăng hoặc giảm 20% trở lên thì phải điều chỉnh giá tính thuế tài nguyên Sở Tài chính tỉnh, thành phố chủ trì phối hợp với Cục Thuế, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức khảo sát tình hình về giá bán tài nguyên trên thị trường địa phương và lập phương án điều chỉnh giá tính thuế trình UBND cấp tỉnh quyết định và báo cáo về
Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế)
Căn cứ giá tính thuế tài nguyên đã xác định để áp dụng sản lượng tính thuế đối với đơn
vị tài nguyên tương ứng Giá tính thuế đối với tài nguyên khai thác được xác định ở khâu nào thì sản lượng tính thuế tài nguyên áp dụng tại khâu đó
Cơ quan thuế trực tiếp quản lý thu thuế tài nguyên niêm yết công khai giá tính thuế đơn
vị tài nguyên tại trụ sở cơ quan thuế
4 Thuế suất thuế tài nguyên
Thuế suất thuế tài nguyên làm căn cứ tính thuế tài nguyên đối với từng loại tài nguyên khai thác được quy định tại Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên ban hành kèm theo Nghị quyết
số 928/2010/UBTVQH12 ngày 19 tháng 4 năm 2010 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Trang 37Riêng việc áp dụng thuế suất thuế tài nguyên đối với nước khoáng, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên khai thác, sử dụng tại Mục V Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên ban hành kèm theo Nghị quyết số 928/2010/UBTVQH12 trong một số trường hợp được xác định như sau:
- Nước khoáng, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên tinh lọc đóng chai, đóng hộp (kể
cả đóng bình, đóng thùng có thể chiết ra thành chai, thành hộp) đều áp dụng cùng mức thuế suất thuế tài nguyên như loại được đóng chai, đóng hộp
- Mức thuế suất thuế tài nguyên áp dụng đối với nước thiên nhiên khai thác dùng cho sản xuất thủy điện tại điểm 2, Mục V; nước thiên nhiên dùng cho sản xuất kinh doanh tại điểm 3, Mục V, có lẫn nước khoáng, nước nóng thiên nhiên, nhưng căn cứ hồ sơ thiết, quy trình công nghệ sản xuất, cung ứng dịch vụ được cơ quan thẩm quyền phê duyệt xác định không thuộc diện sản xuất sản phẩm nước khoáng, nước nóng thiên nhiên, nước tinh lọc đóng chai, đóng hộp thì
áp dụng mức thuế suất thuế tài nguyên theo mục đích sử dụng tương ứng
IV ĐĂNG KÝ, KHAI THUẾ, NỘP THUẾ, QUYẾT TOÁN THUẾ
1 Việc đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế được thực hiện theo quy định của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế
2 Riêng đối với hoạt động tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí trong một số trường hợp được bổ sung như sau:
2.1 Trường hợp một tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí theo nhiều hợp đồng dầu khí khác nhau thì việc thực hiện qui định về thuế theo hướng dẫn tại Thông tư 105/2010 được thực hiện riêng rẽ theo từng hợp đồng dầu khí
2.2 Trường hợp các bên nhà thầu tham gia một hợp đồng dầu khí dưới hình thức hợp đồng chia sản phẩm hoặc hợp đồng điều hành chung, nhận các phần chia theo hợp đồng bằng dầu thô, khí thiên nhiên và chịu trách nhiệm tiêu thụ phần dầu thô, khí thiên nhiên được chia thì mỗi bên phải khai và nộp các loại thuế tài nguyên theo sản lượng được chia
V MIỄN, GIẢM THUẾ TÀI NGUYÊN
1 Các trường hợp được miễn, giảm thuế tài nguyên theo quy định tại Điều 6, Nghị định
số 50/2010/NĐ-CP, bao gồm:
1.1 Người nộp thuế tài nguyên gặp thiên tai, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ gây tổn thất đến tài nguyên đã kê khai, nộp thuế thì được xét miễn, giảm thuế phải nộp cho số tài nguyên bị tổn thất; trường hợp đã nộp thuế thì được hoàn trả số thuế đã nộp hoặc trừ vào số thuế tài nguyên phải nộp của kỳ sau
1.2 Miễn thuế tài nguyên đối với tổ chức, cá nhân khai thác hải sản tự nhiên
1.3 Miễn thuế tài nguyên đối với tổ chức, cá nhân khai thác cành, ngọn, củi, tre, trúc, nứa, mai, giang, tranh, vầu, lồ ô do cá nhân được phép khai thác phục vụ sinh hoạt
1.4 Miễn thuế tài nguyên đối với tổ chức, cá nhân khai thác nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thủy điện của hộ gia đình, cá nhân tự sản xuất phục vụ sinh hoạt
1.5 Miễn thuế tài nguyên đối với tổ chức, cá nhân khai thác nước thiên nhiên dùng cho nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp; nước thiên nhiên do hộ gia đình, cá nhân khai thác phục vụ sinh hoạt
Trang 381.6 Miễn thuế tài nguyên đối với tổ chức, cá nhân khai thác đất và sử dụng tại chỗ trên diện tích đất được giao, được thuê; đất khai thác để san lấp, xây dựng công trình an ninh, quân
sự, đê điều Đất khai thác và sử dụng tại chỗ được miễn thuế tại điểm này bao gồm cả cát, đá, sỏi
có lẫn trong đất khai thác không xác định được cụ thể từng chất và được sử dụng ở dạng thô để san lấp, xây dựng công trình; kể cả trường hợp đất đào lên từ khuôn viên đất được giao, được thuê bắt buộc phải xúc bỏ đi; nếu đưa đi trao đổi, bán thu tiền thì tổ chức, cá nhân khai thác phải
kê khai nộp thuế tài nguyên theo quy định
1.7 Trường hợp khác được miễn, giảm thuế tài nguyên, Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành liên quan báo cáo Chính phủ để trình Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định
2 Trình tự, thủ tục kê khai miễn, giảm thuế tài nguyên, thẩm quyền miễn, giảm thuế tài nguyên được thực hiện theo hướng dẫn tại Mục II, Phần E Thông tư số 105/2010/TT-BTC ngày 23/7/2007 của Bộ Tài chính; ngoài ra một số trường hợp được miễn thuế tài nguyên dưới đây không phải khai sản lượng tài nguyên khai thác, số tiền thuế được miễn giảm và thực hiện như sau:
2.1 Tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác hải sản trên biển thuộc diện miễn thuế tài nguyên không phải lập tờ khai thuế tài nguyên hàng tháng và quyết toán thuế thuế tài nguyên năm
2.2 Miễn thuế đối với nước thiên nhiên dùng cho nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp; nước thiên nhiên do hộ gia đình, cá nhân khai thác phục vụ sinh hoạt thì không phải lập tờ khai thuế tài nguyên tháng và tờ khai quyết toán thuế tài nguyên năm
2.3 Thủ tục miễn thuế đối với nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thủy điện của hộ gia đình, cá nhân tự sản xuất phục vụ sinh hoạt: Hộ gia đình, cá nhân sử dụng nước thiên nhiên tự sản xuất thủy điện sản xuất phục vụ sinh hoạt phải có đơn đề nghị miễn thuế, kèm theo bản giải trình về thiết bị sản xuất thủy điện phục vụ cho sinh hoạt gia đình, có xác nhận của UBND cấp
xã Khi bắt đầu đi vào hoạt động hộ gia đình phải khai báo lần đầu với cơ quan thuế trực tiếp quản lý để hưởng miễn thuế tài nguyên
2.4 Thủ tục miễn thuế đối với đất khai thác và sử dụng tại chỗ trên diện tích đất được giao, được thuê:
Tổ chức, cá nhân khai thác đất (kể cả đơn vị nhận thầu thực hiện) phải có văn bản đề nghị miễn thuế, kèm theo bản sao có đóng dấu chứng thực quyết định giao đất, cho thuê đất và hồ sơ liên quan đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt về việc xây dựng công trình tại địa phương của chủ đầu tư và gửi bộ hồ sơ cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý nơi khai thác để biết và theo dõi việc miễn thuế
Trang 39
BIỂU MỨC THUẾ SUẤT THUẾ TÀI NGUYÊN
(Ban hành kèm theo Nghị quyết số 928/2010/UBTVQH12 ngày 19 tháng 4 năm 2010 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội)
1 Biểu mức thuế suất đối với các loại tài nguyên, trừ dầu thô và khí thiên nhiên, khí than:
I Khoáng sản kim loại
II Khoáng sản không kim loại
19 E-mô-rốt (emerald), a-lếch-xan-đờ-rít (alexandrite), ô-pan (opan) quý
20 A-dít, rô-đô-lít (rodolite), py-rốp (pyrope), bê-rin (berin), sờ-pi-nen
21 Thạch anh tinh thể màu tím xanh, vàng lục, da cam; cờ-ri-ô-lít
(cryolite); ô-pan (opan) quý màu trắng, đỏ lửa; phen-sờ-phát (fenspat);
birusa; nê-phờ-rít (nefrite)
15
III Sản phẩm của rừng tự nhiên
Trang 40V Nước thiên nhiên
1 Nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên
tinh lọc đóng chai, đóng hộp
8
3 Nước thiên nhiên dùng cho sản xuất, kinh doanh, trừ nước quy định tại
điểm 1 và điểm 2 Nhóm này
3.1 Sử dụng làm nguyên liệu chính hoặc phụ tạo thành yếu tố vật chất
trong sản xuất sản phẩm, trừ nước dùng cho sản xuất nước sạch
3.2 Sử dụng chung phục vụ sản xuất (vệ sinh công nghiệp, làm mát, tạo
hơi, sản xuất nước sạch)
2 Biểu mức thuế suất đối với dầu thô và khí thiên nhiên, khí than:
Dự án khuyến khích đầu tư