1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đường lối ngoại giao

23 1,2K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đường lối ngoại giao
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Ngoại Giao
Thể loại Chuyên đề
Năm xuất bản 1945
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 239 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đường lối ngoại giao

Trang 1

-ĐƯỜNG LỐI NGOẠI GIAO CỦA ĐẢNG TRONG CÁCH MẠNGĐƯỜNG LỐI NGOẠI GIAO CỦA ĐẢNG TRONG CÁCH MẠNG

DÂN TỘC DÂN CHỦ NHÂN DÂN (1945-ĐƯỜNG LỐI NGOẠI GIAO CỦA ĐẢNG TRONG CÁCH MẠNG1954)

I Đường lối ngoại giao của Đảng trong cuộc kháng chiến chống Pháp 1945 -ĐƯỜNG LỐI NGOẠI GIAO CỦA ĐẢNG TRONG CÁCH MẠNG1954

1 Nghị quyết của hội nghị Đảng từ 13-ĐƯỜNG LỐI NGOẠI GIAO CỦA ĐẢNG TRONG CÁCH MẠNG8 đến 15-ĐƯỜNG LỐI NGOẠI GIAO CỦA ĐẢNG TRONG CÁCH MẠNG8/ 1945 xác định đường lối ngoại giao

Thế giới : 8/8/1945 Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật, sau đó Liên Xô tấn công vàođông bắc Trung Quốc đánh bại 1 triệu quân Quảng Đông của Nhật, đây là lực lượng dự trử chiếnlược cuối cùng của Nhật và tsự tan rã của đạo quân này trước sức tiến công của Liên Xô đã báohiệu cuộc chiến tranh Thái Bình Dương - mặt trận cuối cùng của chiến tranh thế giới thứ hai đãđến hồi kết thúc

Sự thất bại của Nhật đã dẫn đến chỗ Nhật đầu hàng đông minh không điều kiện Như vậy,chính quyền của phát xít Nhật ở Đông Dương đan hoan mang tê liệt, thời cơ khởi nghĩa đã chínmùi Đón đầu được sự diễn biến mau lẹ của tình hình Đảng triệu tập hội nghị toàn quốc từ 13/8 ởTân Trào quyết định tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước Đồng thời đề ra chínhsách đối ngoại sau khi cách mạng thắng lợi

Vấn đề ngoại giao được trình bày, trong một mục riêng trong đó đề ra đối sách cơ bản

“ Về mặt ngoại giao tuy chúng ta đã có cố gắng nhiều nhưng mãi đến giờ Đối với TrungHoa vẫn chưa có kết quả tốt, đối với các nước đồng minh tuy việc ngoại giao có tiếng, nhưngcách mạng Việt Nam vẫn chưa giành được địa vị khả quan trên trường quốc tế

 Hiện nay về chính sách ngoại giao chúng ta phải nhận rõ được hai điều :

+ Mâu thuẫn giữa hai phe đồng minh Anh – Pháp và Mỹ – Trung Quốc về ván đề ĐôngDương đó là điều chúng ta cần lợi dụng

+ Sự mâu thuẫn giữa Anh – Mỹ – Pháp với Liên Xô có thể làm cho Anh – Mỹ nhânnhượng với Pháp để cho Pháp trở lại Đông Dương

 Chính sách của ta là phải tránh các trường hợp một mình đối phó với nhiều lực lượng đồngminh như : Trung Quốc, Pháp, Mỹ tràng vào nước ta và đặt chính phủ, mà đặc biệt là Pháp sẽđưa chính phủ Đờ gôn hoặc chính phủ bù nhìn khác, đi ngược lại với ý nguyện của dân tộc

Vì vậy, chúng ta cần phải tranh thủ lại sự đồng tình của Liên Xô để chống lại mưu mô củaPháp, định khôi phục lại địa vị cũ ở Đông Dương và chống lại mưu mô của bọn Trung Quốcđịnh chiếm nước ta

 Dù sao chỉ có thực lực của ta thì mới quyết định được sự thắng lợi của ta và đồng minh

 Đối với các nước nhược tiểu và nhân dân Trung Quốc, nhân dan Pháp chúng ta phải liên lạc

và tranh thủ sự giúp đỡ củ họ Như vậy, với nghị quyết trên về công tác ngoại giao thì tưtưởng cơ bản đường lối đối ngoại đã được hình thành :

+ Tránh trường hợp một mình đối phó với nhiều kẻ thù cùng một lúc

+ Lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngủ kẻ thù để cô lập, thêm bạn bớt thù

+ Có thực lực mới đảm bảo sự thắng lợi về ngoại giao

+ Tranh thủ sự ửng hộ của các nước nhược tiểu, nhân dân các nước thù địch

+ Nghị quyết trên đã đưa cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8/1945 thành công nhanh chóngtrong vòng 15 ngày (18 đến 23) Đến 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình Hà Nội Hồ chủtịch đọc tuyên ngôn độc lập và trịnh trọng tuyên bố thành lập nước Vịêt Nam Dân ChủCộng Hòa trước thế giới và đồng bào quốc dân Sự kiện trọng đại này đã mở đầu thời kìlịch sử mới về đường lối ngoại giao của Việt Nam của Đảng cộng sản Đông Dương”

Sự ra đời của nước Việt nam dân chủ cộng hòa đầu tiên ở Đông Nam Á đã được các nướctrên thế giới thừa nhận và đặt quan hệ ngoại giao Trái lại nhà nước non trẻ này phải đối phó vớinhiều mưu toan của chủ nghĩa đế quốc và tay sai phản động

Vì vậy, nhiệm vụ cơ bản của đường lối đối ngoại cơ bản của thời kì này phải thực hiện sáchlược mềm dẻo linh hoạt nhằm giữ vững chính quyền dân chủ nhân dân Tranh thủ thời gian để cóthể tích cực xây dựng lực lượng chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài với Pháp về sau Đồngthời cũng mở cuộc vận động đối ngoại để các nước trên thế giới thừa nhận về mặt ngoại giao vớinước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

2 Đường lối ngoại giao trong thời kì đấu tranh để giữ vững và củng cố chính quyền dân chủ nhân dân 3/9/1945 đến 19/2/1946

Trang 2

a Thế giới

Sau khi mở mặt trận thứ hai ở Châu Âu 6/1944 cùng với phản công của Liên Xô vào hướngBéclin phát xít Đức đứng trước sự thất bại không thể tránh khỏi Vì thế mặc dù chiến tranh ởChâu Âu chưa kết thúc thì các nước Liên Xô, Anh, Mĩ đã họp hội nghị thượng đỉnh ở Ianta2/1945 để bàn về việc thanh toán chiến tranh và thỏa thuận việc phân chia khu vực ảnh hưởng tổchức lại thế giới sau chiến tranh và hội nghị cũng thống nhất về việc thành lập Liên Hiệp Quốcmột tổ chức quốc tế dựa trên nền tảng 5 cường quốc Liên Xô-Trung Quốc-Anh-Pháp-Mĩ theonguyên tắc nhất trí để duy trì hòa bình và an ninh thế giới

Vì vậy, tại San-Francicô từ 25/4 đến 26/6/1945 Hội nghị đại biểu của năm nước trên thế giới

đã họp thông qua hiến chương Liên Hiệp Quốc và thành lập tổ chức Liên Hiệp Quốc Như vậyvới hiệp định Ianta và việc thành lập tổ chức Liên Hiệp Quốc thì một trật tự thế giới mới đượchình thành, dưới sự thỏa thuận giữa các cường quốc trên thế giới mà chủ yếu là Liên Xô, Mĩ,Anh

b Trong nước

Theo quyết định hội nghị Post Đam (17/7đến 2/8/1945) Ở Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở vàoNam Anh tiến vào giải giáp quân đội Nhật Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc sẽ cho quân đội Tưởngđảm nhận và chỉ sau một tuần 20 vạn quân Tưởng đã kéo vào Cao Bằng và một tháng sau chiếmđóng khắp nước ta, theo sau quân tưởng là các đảng phái phản động, Việt quốc, Việt cách vàtheo sau quân Pháp ở miền Nam có bọn đại Việt quốc xã và các giáo phái và khi quân đội Anhvào giải giáp cho Nhật đã giúp Pháp quay trở lại nổ súng đánh úp Sài Gòn 23/9/1945 và trướctình hình đó sứ ủy Nam Kì quyết định Nam Bộ kháng chiến

Tóm lại, Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời trong bối cảnh quốc tế bất lợi, trật tự thế

giới mới đã được hoạch định, sự đối đầu của Mĩ ngay khi chiến tranh kết thúc đã đẩy Liên Xô cóthái độ lôi kéo Pháp trong vấn đề Châu Âu Sự thay đổi chính sách của Mĩ đối với Đông Dương

từ chủ kiến của tổng thống Rudơven đã đặt Đông Dương dưới sự ủy thác của quốc tế đặt Phápkhỏi Đông Dương Đến thái độ trung lập của tổng thống Truman, điều này đã kết thúc khả nănglợi dụng mâu thuẫn của Pháp-Mĩ để mưu cầu được độc lập cho Đông Đương

Hơn nữa chiến tranh thế giới vừa kết thúc các nước tham chiến đều lâm vào tình trạng kiệthuệ nên có xu hướg hướng nội Vì vậy, nền độc lập của Việt Nam không được quốc gia nào thừanhận về mặt ngoại giao Thêm vào đó với tính thực dân các nước đế quốc cũng có mưu toan xóa

bỏ thành quả cách mạng tháng tám

Trong điều kiện lịch sử mới Việt Nam phải cùng một lúc phải đương đầu với quá nhiều kẻthù trên lãnh thổ của mình

 Thái độ gây sức ép và âm mưu lật đổ chính phủ của bọn Tưởng ở miền Bắc

 Cuộc chiến tranh xâm lược trở lại của thực dân Pháp ở Việt Nam Đứng trước thách thứcnặng nề đó Đảng ta đứng đầu là Hồ chủ tịch với cương vị vừa là chủ tịch của chính phủlâm thời vừa là bộ trưởng ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, đãthực hiện một sách lược đối ngoại trực tiếp với kẻ thù ngay trên đất nước của mình

 Chỉ thị “kháng chiến kiến quốc và đường lối đối ngoại của Đảng” 25/11/1945 ban chấp hànhtrung ương Đảng ra bản chỉ thị “ kháng chiến kiến quốc trong đó khẳng định cách mạng ĐôngDương vẫn là cách mạng dân tộc giải phóng” Cuộc cách mạng ấy đang tiếp diễn, nó chưa hoànthành vì nước ta chưa hoàn toàn độc lập… giai cấp vô sản phải hân hái kiên quyết hoàn thànhnhiệm vụ thiêng liêng ấy Khẩu hiệu vẫn là “dân tộc trên hết” “tổ quốc trên hết”

Đảng ta xác định kẻ thù chính của nhân dân ta là thực dân Pháp xâm lược phải tập trung ngọnlửa đấu tranh vào chúng

Nhiệm vụ cần thiết của nhân dân ta, bản chỉ thị đã vạch rõ, đối với cách mạng thế giới “phảiđấu tranh để thực hiện triệt để hiến chương các nước liên hiệp ủng hộ Liên Xô, xây dựng hòabình thế giới, mở rộng chế độ dân chủ nhân dân ra các nước giải phóng cho các nước thuộc địa”.Đối với cách mạng Việt Nam “phải củng cố chính quyền chống thực dân Pháp xâm lược, bàitrừ nội phản cãi thiện đời sống nhân dân Để thực hiện mục tiêu của cách mạng, bản chỉ thị đã đề

ra nhiệm vụ cụ thể của công tác ngoại giao”

Trang 3

Về ngoại giao cố gắng làm cho nước nhà ít kẻ thù nhiều bạn đồng minh Muốn ngoại giaothắng lợi phải biểu dương thực lưc Đối với Tưởng chủ trương thân thiện, đối với Pháp chủtrương độc lập về chính trị nhân nhượng về kinh tế.

Như vậy, trước sức ép của Tưởng và trước hành động xâm lược trở lại của Pháp thì đường lốiđối ngoại của Đảng là chủ trương nhân nhượng để thực hiện sách lược, khai thác sách lược khaithác Anh-Pháp-Mĩ-Tưởng, giữa các tướng lĩnh trong quân Tưởng Nhằm khai thác kẻ thù thêmbạn bớt thù, qua đó tranh thủ thời gian hòa bình củng cố chính quyền xây dựng lực lượng vũtrang, tạo được thực lực mới làm hậu thuẫn cho công tác đối ngoại

 Chỉ thị “tình hình và chủ trương của ban thường vụ trung ương Đảng 3/3/1946 và hiệp định

Về phía ta trước tình hình đó 3/3/1946 ban thường vụ trung ương Đảng họp và ra bản chỉ thị

“tình hình và chủ trương” nhận định “hiệp ước Hoa Pháp không phải là chuyện riêng của Tưởng

và Pháp nó là chuyện chung của phe đế quốc và bọn tay sai của chúng ở thuộc địa”, mục đích lànhằm bán đứng Việt Nam cho Pháp

Từ nhận định trên Đảng đề ra chủ trương “hòa với Pháp” để có thể phá tan âm mưu của chủnghĩa đế quốc và bọn phản động, bảo toàn lực lượng giành được giây phút nghỉ nghơi để tiến tớigiành độc lập hoàn toàn” Bản chỉ thị cũng viết “nếu Pháp giữ chủ trương cho Đông Dương tự trịtheo bản tuyên ngôn 24/3/1945 thì nhất định đánh và nhất có thể đánh lâu dài theo lối du kích.Nhưng Pháp công nhận Đông Dương tự chủ thì có thể hòa, hòa để có thể phá tan âm mưu cửabọn Tàu Trắng, bọn phản động Việt Nam và bọn phát xít còn sót lại, chúng đặt ta vào tình thế côlập buộc ta phải đánh với nhiều kẻ thù cùng một lúc để thực lực của ta tiêu hao

Thực hiện chủ trương trên 5/3/1946 ban chấp hành trung ương Đảng họp ở Hà Đông quyếtđịnh tạm hòa hõan với Pháp kí hiệp định sơ bộ 6/3/1946

Nội dung hiệp định :

+ Chính phủ Pháp công nhận nước VN dân chủ cộng hòa là một quốc gia tự do, có chính phủriêng, nghị viện riêng, quân đội riêng, tài chính riêng và là thành viên trong liên Ban ĐôngDương, nằm trong khối liên hiệp Pháp

+ Chính phủ Vn dân chủ cộng thỏa thuận để cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc thay thếquan Tưởng làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật, số quân này rút dần trong 5 năm

+ Hai bên ngừng mọi xung đột ở miền Nam và giữ nguyên quân đội của mình tại vị trí cũ, tạođiều kiện cần thiết đi đến cuộc đàm phán thân thiện để bàn các vấn đề về ngoại giao của VN,chế độ tương lai của Đông Dương, quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp ở VN

Sau hiệp định sơ bộ Pháp cố tình bội ước gì dã tâm của Pháp là xâm lược nước ta một lần nữa Vì vậy, để dành thêm thời gian hòa bình chuẩn bị lực lượng Hồ chủ tịch đã kí thêm với Pháp bản tạm ước 14/9/1946 Trong khi đó thực dân Pháp không ngừng kiêu khích lấn chiếm nhằm xóa bỏ thành quả của cách mạng tháng 8, mưu toan áp đặt trở lại bộ máy thống trị như trước chiến tranh Không thể nhân nhượng được nữa trong hai ngày 18-19/12/1946 hội nghị ban chấp hành trung ương Đảng họp ở Vạn Phúc (Hà Đông) đã quyết định phát động toàn quốc kháng chiến vào 8h tối 19/12/1946 Sự kiện này mở ra thời kì mới, thời kì toàn quốc kháng chiếnchống thực dân Pháp

3 Đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kì chống thực dân Pháp can thiệp Mĩ (1946-ĐƯỜNG LỐI NGOẠI GIAO CỦA ĐẢNG TRONG CÁCH MẠNG 1954)

a Đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kì kháng chiến bị cô lập

Cuộc kháng chiến chống Pháp diễn ra trong hoàn cảnh đất nước gặp rất nhiều khó khăn bị côlập bao vây (ở phía Bắc lực lượng Trung Hoa quốc dân đảng đang án ngự, ở phía Tây Lào-Campuchia bị Pháp chiếm đóng, còn vùng biển Đông do hạm đội Pháp kiểm soát)

Trên thế giới cuộc kháng chiến của chúng ta cũng bị cô lập, Liên Xô đang đối phó với Mĩtrong vấn đề Châu Âu cho nên ảnh hưởng của Liên Xô chưa có thể vượt qua giới hạn của lục địa

Trang 4

này, Mĩ dựa vào tiềm lực quân sự chính trị đứng đầu thế giới, Mĩ bắt đầu cuộc chiến tranh lạnhchống Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản nhằm ngăn chặn và đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản.

Trong bối cảnh quốc tế bất lợi như vậy, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân

ta diễn ra hết sức khó khăn 22/12/1946 Ban thường vụ trung ương Đảng đề ra bản chỉ thị “toàndân kháng chiên”, bản chỉ thị đã vạch ra những nét cơ bản của đường lối kháng chiến “toàn dân,toàn diện, trường kì, tự lực, cách sinh” Đồng thời bản chỉ thị cũng đề ra nhiệm vụ đối ngoại :

“Đông Dương hiện nay đang bị hãm trong vòng quay của chủ nghĩa đế quốc nhiệm vụ là phảiliên minh với các dân tộc bị áp bức vô sản thế giới đặc biệt là những nước lân cận để củng cốcông cuộc cách mạng của mình” “lợi dụng những khả năng mới và mở rộng công việc tuyêntruyền quốc tế và vận động phái đại biểu dự hội nghị của Liên Hiệp Quốc” Thực hiện đường lốiđôi ngoại đó liên minh chiến đấu của lực lượng vũ trang ba nước Đông Dương được hình thành(bộ đội Việt Nam chiến đấu ở chiến trường Lào 1947, ở Cmâpuchi 1948)

Để phá thế bao vây cô lập 1947 chủ tịch Hồ Chí Minh đã giử điện đến các nhà lãnh đạo Châu

Á kêu gọi sự ủng hộ cuộc kháng chiến Việt Nam, cử đại biểu tham dự liên Á dự lễ tuyên bố độclập của Miến Điện, dự hội nghị các nước Châu Á ủng hộ Inđô chống lại sự xâm lược của Hà lan

Đế năm 1948 chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có đại viện thường trú tại Pari,Bangcoc

b Đại hội đại biểu toàn quốc lần hai của Đảng về cuộc hình thành đường lơi đối ngoại

Đến năm 50 tình hình thế giới có nhiều biến chuyển có lợi cho cách mạng Việt Nam

+ Phong trào cách mạng thế giới phát triển mạnh sau chiến tranh thế giới thứ hai

+ Nội chiến ở Trung Quốc bùng nổ

+ Nhân dân các nước Đông Âu dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đang đấu tranh quyết liệt

để thiết lập chế độ dân chủ nhân dân để tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa, phụthuộc

Phong trào giải phóng dân tộc dâng cao với tình hình trên đã diễn biến vượt ngoài khuôn khổcủa trật tự hai cực Ianta và để cứu vản nguy cơ hệ thống chủ nghĩa tư bản tan vở Mĩ vựa vàotiềm lực kinh tế tài chính quân sự, công khai phát động chiến tranh lạnh đề ra học thuyết ngănchặn chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn cầu và sự tập hợp lực lượng mới của các nước đếquốc dưới lá cờ của Mĩ đã làm nảy sinh nguy cơ chiến tranh thế giới mới đe dọa hòa bình nhânloại đe dọa an ninh Liên Xô

Trước tình hình đó 9/1947 theo sáng kiến của Đảng cộng sản Liên Xô và một số Đảng cộngsản ở Đông Âu và Tây Âu đã họp hội nghị tại Vac-xa-va, hội nghị đã nêu bật những nét cơ bảnnhất của tình hình thế giới sau chiến tranh thế giới thứ hai

 Thế giới sau chiến tranh chia thành hai phe đối lập

 Lực lượng cách mạng tăng lên rất nhiều trong khi đó lực lượng đế quốc suy yếu dần

 Trung tâm phản động quốc tế chuyển sang tay Mĩ

Ngày 1/9/1949 cách mạng Trung Quốc thành công và sự thắng lợi của cuộc cách mạng nhânchủ nhân dân ở các nước Đông Âu đã dẫn đến hệ thống chủ nghĩa xã hội ra đời, đến đây hội nghịcán bộ trung ương đang họp 31/7 đến 1/8/1946 nhận định : “địa vị của Đông Dương hiện nayđang trở nên rất quan trọng trong trường cách mạng là nơi đế quốc Anh, Mĩ, Pháp chủ động dànxếp chú ý chuyển hướng tấn công và uy hiếp phong trào cách mạng giải phóng của các nướcnhược tiểu”

Từ năm 1950 với cuộc chiến tranh Đông Dương nó được quốc tế hóa trở thành nơi đối đầuquyết liệt giữa hai phe, cùng lúc này đầu năm 50 các nước xã hội chủ nghĩa lần lược công nhận

và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam

Cùng lúc ấy Mĩ đã vừa viện trợ ngân sách chiến tranh cho Pháp và cũng vừa công nhận vàxây dựng chính phủ bù nhìn để chuẩn bị thay chân Pháp ở Đông Dương, trong điều kiện đó tổng

bí thư Đảng Trường Trinh đã nhận định “ là tiền đồ trên phòng tuyến chống đế quốc ở ĐôngNam Á của Việt Nam hiện là nơi xung đột giữa hai lực lượng dân chủ và phản dân chủ trên thếgiới Cuộc chiến tranh Việt Pháp không thể bóc trần mâu thuẫn tột bật giữa dân tộc Việt Nam vàthực dân Pháp mà nó chính là một bộ phận của cuộc chiến tranh giữa hai phe dân chủ chống đếquốc và đế quốc phản dân chủ sau chiến tranh thế giới thứ hai Như vậy, việc Liên Xô và các

Trang 5

nước dân chủ công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đãchứng tỏ rằng Việt Nam là một vấn đề quốc tế.

Tháng 10/1950 chiến dịch biên giới thắng lợi, căn cứ Việt Bắc được nối liền hệ thống xã hộichủ nghĩa trên thế giới, nhờ đó mà cách mạng Việt Nam, Đảng ta triệu tập đại hội đại biểu toànquốc lần hai (2/1951) tại Việt Bắc và đại hội cũng đã nêu rõ bản luận cương cũng nhận định tìnhhình thế giới như sau : thế giới chia thành hai phe đối lập, phe dân chủ chống đế quốc do Liên

Xô đứng đầu còn phe đế quốc chống dân chủ do Mĩ đứng đầu riêng đối với cách mạng Việt Namthì bản luận cương cũng đưa ra nhận định có tính chất tổng kết “cách mạng tháng tám chống phátxít và bọn bù nhìn tay sai của chúng đã lập ra chính quyền nhân dân do giai cấp công nhân lãnhđạo là một cuộc cách mạng có tính chất dân tộc dân chủ đây là thắng lợi đầu tiên ở một nướcthuộc địa tại Đông Nam Á ”

Từ những nhận định trên tình hình thế giới và tình hình cách mạng Việt Nam bản luận cươngcũng khẳng định nhiệm vụ cách mạng Việt Nam là phải tiêu diệt Pháp đánh bại bọn can thiệp Mĩgiành độc lập thống nhất hoàn toàn bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và trên thế giới và cũng từnhiệm vụ trên Đảng ta đã đề ra đường lối đối ngoại như sau “chính sách đối ngoại của ta là phảithắm nhuần tính dân tộc và tính dân chủ, tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế vô sản Nguyêntắc cơ bản của chính sách này là bảo vệ độc lập chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ củanước Việt Nam ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở những nước thuộc địa và nửa thuộc địa,bảo vệ hòa bình dân chủ thế giới chống bọn đế quốc gây chiến và xâm lược, đoàn kết chặt chẽvới Liên Xô và Trung Quốc và các nước dân chủ nhân dân khác, đặt quan hệ hữu nghị với cácnước trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi”

Với đường lối đối ngoại nêu trên công cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam

đã tranh thủ sức mạnh to lớn của thời đại đó là sự giúp đở của nước Liên Xô và Trung Quốc cácnước xã hội chủ nghĩa khác, sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới

Kể từ sau chiến thắng biên giới 1950 ta liên tiếp mở nhiều chiến dịch tấn công vào hệ thốngphòng tuyến của địch và với chiến thắng lịch sử của Điện Biên Phủ ta đã làm thất bại cuộc chiếntranh xâm lược Pháp có can thiệp Mĩ buộc Pháp phải ngồi vào bàn hội nghị Giơ nevơ và đến đầu

1954 trong cuộc họp ngoại trưởng bốn cường quốc Liên Xô-Anh-Mĩ-Pháp ở Béclin hội nghị Giơnevơ về Đông Dương chính thức khai mạc 26/4/1954 bàn về chấm dứt chiến tranh lập lại hòabình ở Đông Dương

Trước đó 27/2/1954 trung ương Đảng cũng nhận định “Hội nghị Giơ nevơ là một bước tiếnmới làm cho tình hình thế giới và viễn Đông hết sức căn thẳng việc khôi phục hòa bình ở ViệtNam là ý nguyện của nhân dân ta đến 8/1954 sau chiến thắng Điện Biên Phủ một ngày pháiđoàn ta do Phạm Văn Đồng đến dự với tư thế là một kẻ chiến thắng”

Nội dung :

 Các nước tham dự hội nghị cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản là độc lập, chủquyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam, Lào, campuchia ; cam kếtkhông can thiệp vào công việc nội bộc của ba nước đó

 Hai bên tham chiến cùng ngừng bắn, lập lại hòa bình trên toàn Đông Dương

 Hai bên tham chiến thực hiện cuộc di chuyển, tập kết quân đội ở hai vùng Ở Việt Nam,quân đội cách mạng Việt Nam và quân đội viễn chinh Pháp tập kết ở hai miền Bắc - Nam,lấy vĩ tuyết 17 (dọc theo sông Bến Hải - Quảng Trị) làm giới tuyến quân sự tạm thời cùngvới một khu phi quân sự ở hai bên giới tuyến Ở Lào lực lượng kháng chiến tập kết ở haitỉnh Sầm Nưa và Phongxalì Ở Campuchia lực lượng kháng chiến phục viên tại chỗ, dokhông có vùng tập kết

c Hiệp đinh Giơ nevơ với thắng lợi và hạn chế

Tháng 8/1954 phái đoàn do Phạm Văn Đồng dẫn đầu đến dự hội nghị cùng với sự tham dựcủa Liên Xô, Trung Quốc, Mĩ, Anh, Pháp và các bên tham chiến Với chiến thắng Điện Biên Phủmột ngày 7/5/1954 đã củng cố vị thế của Việt Nam trên bàn hội nghi Tuy nhiên tại hội nghị ViệtNam với lập trường trên bàn hội nghị hòa bình trên cơ sở độc lập thống nhất toàn vẹn lãnh thổcho ba nước Đông Dương đã trở nên đơn độc, mặc dù Việt Nam có hai nước đồng minh bêncạnh Như vậy, Việt Nam không thể đối đầu với các nước đế quốc Anh-Pháp-Mĩ tại bàn hội nghị

Trang 6

mà còn phải đối phó với sức ép chủ nghĩa “thực tế” chủ nghĩa “thực dụng” từ phía các nướcđồng minh Còn Liên Xô bước vào bàn hội nghị với quan điểm cùng “tồn tại hòa bình” Nhưvậy, với hiệp định Giơ nevơ ta kiên quyết đấu tranh chống mội hành động phá hoại Anh-Phá-MĩLiên Xô bước vào hội nghị với quan điểm “cùng tồn tại hòa bình” Trung Quốc với vị trí lànước viện trợ quân sự chủ yếu và nắm con đườg vận chuyển duy nhất chi viện cho Việt Nam,cũng đã bí mật thảo luận riêng với Pháp và cả hai bên cùng thống nhất, những nét cơ bản về mộthiệp định ngừng bắn ở Đông Đương Bởi vì cả hai phía có chung một lập trường là giải quyếtcuộc chiến tranh Đông Dương bằng một giải pháp theo kiểu Triều Tiên (chia cắt Việt Nam) duytrì chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dương, mục tiêu trước mắt ở Trung Quốc là nhằm thông quahội nghị Giơ nevơ để hình thành một khu đệm ở phía Nam (Trung Quốc) ngăn chặn Mĩ thay thếPháp ở Đông Đương, tránh đụng đầu trực tiếp với Mĩ Như vậy, cũng có nghĩa là Trung Quốcmuốn thực hiện một chính sách cổ truyền của đế chế Trung Hoa đối với khu vực Đông Nam Á

đó là : chủ trương duy trì hòa bình ở sườn phía Nam bằng cách thiết lập một sự cân bằng vựatrên sự kình địch chống đối giữa các quốc gia trong khu vực đó là hòa bình theo kiểu Tàu

Chính vì vậy đối với ta đoàn kết với Lào-Campuchia luôn được xem là tính nguyên tắcđường lối đối ngoại của Đảng, nhằm đảm bảo mục tiêu hòa bình độc lập dân tộc và phát triển,không những trong sự nghiệp chống kẻ thù chung, chống chủ nghĩa đế quốc mà còn chống cả thếlực bành trướng trong khu vực

Trung Quốc không chỉ gây sức ép với Việt Nam trên lập trường hội nghị, mà trực tiếp với cácnhà lãnh đạo trong cuộc kháng chiến chống Pháp ở Việt Nam Cho nên từ ngày 3-5/7/1954 thủtướng Chu Ân Lai đã gặp Hồ chủ tịch ở biên giới Việt-Trung, sau đó đã giử điện văn đến banchấp hành trung ương Đảng với nội dung là thúc ép Việt Nam trên bàn hội nghị

Trước tình hình quốc tế diễn biến bất lợi cho cách mạng Việt Nam để tránh bị cô lập Đảng đãchấp nhận sự nhượng bộ đi đến đình chiến lập lại hòa bình ở Đông Dương

Sau đó hội nghị trung ương lần VI khóa II họp từ 15-18/7/1954 quyết định chủ trương kếtthúc chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương Tại hội nghị Hồ Chí Minh đã đọc bản báo cáo

về nhiệm vụ mới tình hình mới Điều chỉnh lại cương lĩnh kháng chiến chống thực dân Pháp, báocáo cũng đã nhận định rõ “sau chiến thắng Điện Biên Phủ âm mưu và kế hoạch can thiệp của Mĩcũng thay đổi, để kéo dài chiến tranh Đông Dương phá hoại hội nghị Giơ nevơ tìm mọi cách hấtcẳng Pháp để chiếm ba nước Việt Nam-Miên-Lào biến nhân dân Việt-Miên-Lào thành nô lệ của

Mĩ và gây thêm tình hình căng thẳng trên thế giới Như vậy, Mĩ không những là kẻ thù của nhândân thế giới mà Mĩ đang biến thành kẻ thù chung và trực tiếp của nhân dân Việt-Miên-Lào.Trước tình hình mới đó trong bản báo cáo, Đảng ta đã nêu lên khẩu hiệu mới là “Hòa bình,thống nhất, độc lập, dân chủ” chống đế quốc Mĩ kéo dài mở rộng chiến tranh ở Đông Dương Vàngày 13/5/1954 Mĩ đã đưa Ngô Đình Diệm lên làm thủ tướng bù nhìn chuẩn bị thay cho Pháp ởĐông Dương Sự kiện đó cùng với sức ép của Trung Quốc đã buộc Đảng ta phải chuyển hướngđường lối đối ngoại và Trung Quốc cũng chuyển hướng đường lối xem Mĩ là kẻ thù trực tiếpnguy hiểm

Với sự chuyển hướng đường lối đối ngoại của hội nghị trung ương lần VI khóa II ngày20/7/1954 hội nghị Giơ nevơ về Đông Dương đã được kí kết với sự tham dự của chín nước “theotài liệu sự thật quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua” của bộ ngoại giao Việt Namcông bố 4/10/1979 đã đánh giá về thắng lợi của Việt Nam tại bàn hội nghị Giơ nevơ như sau :

“chiến thắng Điện Biên Phủ và hiệp định Giơ nevơ 1954 đánh dấu một bước thắng lợi của cáclực lượng cách mạng ở Đông Dương, đồng thời là một đóng góp quan trọng mở đầu sự tan rãhoàn toàn của hệ thống thuộc địa của đế quốc Pháp và báo hiệu quá trình sụp đổ không thể tránhđược của chủ nghĩa thực dân cũ chủ nghĩa đế quốc thế giới Những giải pháp của hiệp định Giơnevơ đã ngăn cản nhân dân ba nước Việt Nam-Campuchia-Lào chưa đạt được thắng lợi hòantoàn trong cuộc kháng chiến chống Pháp ”

Riêng Mĩ là nước duy nhất tham dự hội nghị và không kí kết hiệp định, với mưu đồ sau nàyrảnh tay biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới thành căn cứ quân sự, làm bàn đạptấn công miền Bắc, ngăn chặn phe xã hội chủ nghĩa Vì vậy, mục tiêu độc lập thống nhất tổ quốccủa ta vẫn chưa thể hoàn thành và cũng vì thế mà đường lối đối ngoại của ta vẫn là đường lối đối

Trang 7

ngọai một phe dựa vào phe xã hội chủ nghĩa vẫn là chủ yếu Trung Quốc-Liên Xô đồng thời đoànkết với nhân dân hai nước Lào -Campuchia và nhân dân tiến bộ trên thế giới.

II Sau hiệp định Giơ nevơ và sự chuyển hướng đường lối đối ngoại

Trong hội nghị ban chấp hành trung ương Đảng họp 15-18/7/1954 đã nhận định Mĩ vẫn là kẻthù chính của nhân dân thế giới và đang trở thành kẻ thù trực tiếp của nhân dân Đông Dương.Hội nghị đề ra nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới là chuyển mũi nhọn đấu tranhvào Mĩ và bọn hiếu chiến Pháp để củng cố hòa bình thực hiện thống nhất hoàn thành độc lập vàdân chủ trong cả nước Sau hiệp định Giơ nevơ bộ chính trị cũng đề ra nghị quyết về tình hìnhmới của cách mạng cả nước và cách mạng miền Nam, bộ chính trị cũng đã phân tích sâu sắc vềtình hình những đặc điểm tình hình cách mạng nước ta, mà đặc điểm lớn nhất là nước ta chiathành hai miền

1 Bối cảnh thế giới

 Trung Quốc cuối 1957 trong kế hoạch hoạt động khôi phục sự giảm sút của mình thì MaoTrạch Đông đã khai thác các sự kiện quốc tế (điển hình như cuộc nổi dậy một số người tạiBungari 10/1956 để lên án sự sai lằm của cộng sản đặc biệt là của Liên Xô) Mao Trạch Đông đã

đề cập đến tình hình xây dựng chủ nghĩa xã hội theo đường lối khác với Liên Xô

Tháng 5/1958 tại kì họp lần thứ II của đại hội lần thứ VIII Đảng cộng sản Trung Quốc MaoTrạch Đông đã đưa ra sáng kiến thực hiện đường lối ba ngọn cờ hồng với phương châm “dốclòng hân hái tiến lên hàng đầu sản xuất nhiều nhanh, tốt rẻ” thực hiện công xã nhân dân, đại nhảyvọt và với đường lối đó đã đưa đến cái giá phải trả cho kế hoạch của Mao Trạch Đông là quan hệgiữa Liên Xô và Trung Quốc trở nên căng thẳng do Liên Xô không tán thành phương hướng xâydựng chủ nghĩa xã hội theo kiểu Trung Quốc Tháng 8/1960 Liên Xô đã rút toàn bộ chuyên gia

về nước quan hệ hai nước rạn nứt nội bộ Đảng cộng sản Trung Quốc có nhiều phân hóa

 Mĩ đem Việt nam làm thí điểm cho chính sách quân sự bạo lực, sử dụng quân sự tối đa đểđẩy lùi ảnh hưởng “làng sóng đỏ” ngọai trưởng Mĩ Đalet đã nói “không có sự chung dung và nếu

ai không chịu hệ tư tưởng Mĩ nghĩa là thù” và Mĩ tích cực can thiệp quân sự vào các nước Cuba

1961 Bosevia, đặc biệt là Việt Nam và Mĩ đã cho ra đời nhiều tổ chức quân sự thiết lập những tốchức quân sự do Mĩ chi phối thành những đồn lũy chống cộng : Sento, Seato Song song đócũng kí hàng loạt hiệp ước quân sự với : Đài Loan, Nhật Bản, Thái Lan

2 Trong nước

a Miền Nam

Nhân dân Việt Nam bị dồn vào tình thế cực kì quan trọng Ngô Đình Diệm sau khi lên cầmquyền dưới sự giúp đỡ của Mĩ đã cố tình phá hoại cuộc tổng tuyển cử, đẩy mạnh sự đàng ápkhủng bố đối với đồng bào miền Nam lập các tòa án thi hành luật 10/59 mở hàng loạt chiến dịch

tố cộng diệt cộng, cải cách điền địa

Trong hoàn cảnh đó bộ chính trị họp hội nghị vào tháng 6/1956 ra nghị quyết, nhận địnhphương hướng trước mắt của cách mạng miền Nam là ngăn chặn những thủ đoạn phát xít và âmmưu gây chiến của Mĩ-Diệm đòi quyền lợi thiết thực và cấp bách của quần chúng giữ vững vàphát triển thực lực, chuẩn bị điều kiện đánh đổ Mĩ-Diệm, nghĩa là miền Nam đang trong tư thếgiữ gìn lực lượng

b Miền Bắc

Được giải phóng Đảng lãnh đạo nhân dân miền Bắc hàng gắn vết thương chiến tranh thựchiện cải cách ruộng đất cải tạo quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa làm cho miền Bắc vững mạnh

và trở thành hậu phương vững chắc cho sự nghiệp giải phóng miền Nam

3 Đường lối đối ngoại của Đảng

Sau hiệp định trước quan hệ quốc tế hết sức phức tạp đòi hỏi Đảng ta phải nhận định mộtcách khách quan và đánh giá đúng mức những sự kiện quốc tế, chuẩn bị một đối sách ngoại giaođộc lập tự chủ đặc biệt trong những quyết định về quan hệ quốc tế

Nghị quyết lần thứ XV của ban chấp hành trung ương Đảng khóa II 1/1959 xác định nhiệm

vụ chiến lược cho cách mạng cả nước là hòan thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong

cả nước và đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội

Trang 8

Đối với quốc tế hội nghị nhận định : cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thếgiới có nhiệm vụ góp phần vào bảo vệ tăng cường phe xã hội chủ nghĩa, ủng hộ phong trào độclập dân tộc, đồng thời cũng phải tranh thủ sự ủng hộ đồng tình giúp đở của phe xã hội chủ nghĩacũng như phong trào độc lập dân tộc và phong trào hòa bình dân chủ trên thế giới Ngoài ra Đảngcòn chủ trương tranh thủ giải quyết vấn đề thống nhất đất nước bằng con đường hòa bình.

Riêng về quan hệ Trung Quốc, Trung Quốc không ngừng ép ta theo đường lối trường kì mayphục đối với cách mạng miền Nam Việt Nam và Trung Quốc luôn có chiều hướng tác động đốivới ta Chính vì vây, đường lối xây dựng của nước ta ít nhiều bị ảnh hưởng của Trung Quốc và

cả trong công tác đối ngoại

Sự rạn nứt giữa Liên Xô-Trung Quốc cũng đã tạo nên mối quan hệ rạn nứt với các nước xãhội chủ nghĩa, gây khó khăn trong việc đồng tình giúp đỡ Việt Nam Vì vậy, Đảng ta phải cóđường lối đối ngoại khéo léo biết ứng xử, để có nhiều thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủnghĩa xã hội miền Bắc, chống Mĩ ở miền Nam, giải quyết như thế nào trước rạn nứt Liên Xô-Trung Quốc Đoàn kết với Liên Xô tranh thủ sự giúp đỡ của Trung Quốc cũng chính là sự tăngcường sự đồng tình và giúp đỡ phe xã hội chủ nghĩa và tìm mọi biện pháp để giải quyết nhữngvấn đề phức tạp giữa Liên Xô-Trung Quốc đồng thời cũng tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân tiến

bộ thế giới

-ĐƯỜNG LỐI NGOẠI GIAO CỦA ĐẢNG TRONG CÁCH MẠNG LICH SỬ KHAI PHÁ VÙNG ĐẤT NAM BỘ

Phần I CUỘC KHAI KHẨN ĐẤT ĐAI Ở VÙNG ĐỒNG NAI-ĐƯỜNG LỐI NGOẠI GIAO CỦA ĐẢNG TRONG CÁCH MẠNGGIA ĐỊNH TK XVII-ĐƯỜNG LỐI NGOẠI GIAO CỦA ĐẢNG TRONG CÁCH MẠNG XVIII

I Sơ lược vài nét về lịch sử cư dân, tình hình vùng đất Nam Bộ xưa trước khi người Việt đến

- Lịch sử vùng đất Nam Bộ xưa trước khi vương quốc Phù Nam thành lập, do tư liệu tìm được

về vấn đề này còn quá ít chưa đủ cơ sở để minh định Tuy vậy, những tư liệu đó cũng giúp chúng

ta lập được giả thuyết có độ tin cậy nhất định về những nét chính như sau :

+ Trên phần đất thuộc miền Đông Nam Bộ từ sông Vàm Cỏ đến sông Đồng Nai đã có một bộlạc thuộc giống người Ăngdônêdiêng sinh sống trước khi Phù Nam lập quốc TK I Đó là các bộtộc Xtiêng, Mạ, Kho, Mohong Các bộ lạc này dân số quá ít, kinh tế sản xuất thô sơ, sống chủyếu bằng nghề săn bắt, hái lượm sản vật có sẩn trong thiên nhiên làm lúa, rãy trên đất cao gò đồi.+ TK I vương quốc Phù Nam ra đời, lãnh thổ nước này bao gồm toàn bộ Campuchia và mộtphần Nam Thái và một phần Hạ Lào, toàn bộ Nam Bộ ra đến đèo cả của Việt Nam và có thểphần lãnh thổ chính của vương quốc Phù Nam gồm Đông Nam Campuchia và toàn bộ Nam BộViệt Nam ngày nay Còn bên vùng đất còn lại là những Vương quốc nhỏ lệ thuộc vào Phù Nam,Vương quốc Phù Nam tồn tại TK I đến TK VI

Thời kì Phù Nam vùng đất Nam Bộ ngày nay được khai phá ra sao, thì vấn đề này cho đến naykhông đủ tư liệu để làm rõ, chỉ có điều theo một ít thư tịch cổ của Trung Quốc như : Tân ĐườngThư, Sử Kí Nam Triều của nhà Tề (479-501), sử kí của Khang Thái và Châu Ứng (TK III) Cóthể cư dân Phù Nam làm nghề nông theo lối cổ, gieo giống một năm gặt hái ba năm, bên cạnh đó

họ còn chuyên nghề buôn bán, giỏi về chiến tranh, cũng thường di cướp phá dân láng giềng, bắt

kẻ bại trận làm nô lệ

+ Những di tích khảo cổ tìm được, cũng chứng minh rằng cư dân Phù Nam biết đánh cá,trồng trọt, chăn nuôi, làm thủ công, luyện kim, gốm, dệt, nhuộm vải bằng thảo mộc, làm đườngmía… Ngoài ra họ còn thạo đường thủy, thường buôn bán xa bằng thuyền

Như vậy, dưới thời Phù Nam vùng đất Nam Bộ đã được khai phá không ít và thời kì này các bộlạc sinh sống ở vùng đất miền Đông Nam Bộ ngày nay đã lệ thuộc vào vua chúa Phù Nam nhưng

họ không chịu Ấn hóa tiếp tục bảo tồn tín ngưỡng riêng

Trang 9

+ Đầu TK III vương quốc Chăm pa hình thành gồm cả phần đất Phù Nam từ đèo Cả đếnPhan Thiết đến gần Bà Rịa và khu vực cư trú của các bộ lạc nói trên trở thành vùng đệm của haivương quốc đó.

+ Từ TK VI vùng Khơme nổi lên thôn tính Phù Nam rồi của kế nghiệp Phù Nam Các dân tộctrên lại ở dưới quyền vương triều Khơme (hồi đó gọi là Chân Lạp) Tuy chịu ảnh hưởng củaKhơme Nhất là về mặt ngôn ngữ nhưng họ vẫn sống tự trị với phong tục tập quán riêng và cóthể tiến lên thành lập các tiểu vương quốc : Mạ, Xương Tinh, Xích Thổ…

+ Thời kì này đã có người Khơma đến sinh sống trên vùng đất Nam Bộ ngày nay (Thư tịch

cổ Trung Quốc gọi vùng này là Thủy Chân Lạp), song số dân rất ít, họ chỉ thành lập một ít sócKhơme, sống heo hắt và nghèo nàn Những sóc Khơme đó chưa hợp thành những đơn vị hànhchính, lệ thuộc triều đình, chưa chịu sự lệ thuộc của vương triều Cavich (Thủy Chân Lạp) Lúc

đó người Khơme sống tập trung và khai phá đất đai trên vùng đất Khơme ngày nay (Lục ChânLạp) Trong lúc triều đình Chân Lạp phải tập trung lực lượng ở phía Nam Biển Hồ để đối đầuvới vương quốc Xiêm La đang tiếp tục lấn đất Chân Lạp ở phía Tây cho nên trên danh nghĩavùng đất Nam Bộ ngày nay hồi đó thuộc Chân Lạp Nhưng thuộc một cách lỏng lẽo và trongthực tế và người Khơme không tập trung sinh sống và khai phá vùng này Vì vậy, có thể nói rằngvùng đất Nam Bộ là đất tự do, đất hoang cả về kinh tế lẫn chủ quyền

+ Chính lưu dân của người Việt, với việc tiến hành khai khẩn đất hoang và lập thôn ấp mới ở

TK XVII đã đem lại sinh khí mới cho vùng đất này

Tóm lại, Trước khi người Việt đến định canh định cư ở miền Tây và một phần miền Đông

Nam Bộ ngày nay cho đến tận sông Bến Nghé đã có một số sóc Khơme sống rải rác trên cácdòng đất cao Còn lưu vực sông Đồng Nai thì các dân tộc sinh sống trên đồi núi rừng rậm rấtthưa thớt, biết trồng lúa nhưng chưa thạo nghề cày cấy, họ hướng về sân bắt hái lượm là nhiềuhơn canh tác, nên vùng bình nguyên bao la bát ngát vẫn chưa có người khai phá

II Sự di cư của người Việt vào đất Nam Bộ

1 Nguồn gốc lưu dân

Thành phần chủ yếu của lưu dân là nông dân và thợ thủ công nghèo khổ bị điêu đứng cùngcực thiên tai, vì tai nạn chiến tranh và bị giai cấp phong kiến áp bức bóc lột

Số người đi theo kiểu này rất ít vì đường đi quá gian lao và nguy hiểm

4 Tiến trình di cư

- Diễn ra liên tục, số lượng cư dân ngày càng đông đi đôi với mức độ ngày càng khốc liệt củacuộc chiến tranh phong kiến Trịnh – Nguyễn, cùng với mức độ ngày càng gay gắt của mâu thuẫn

xã hội giữa địa chủ với nông dân

- Tiến trình di cư đó có lúc diễn ra lẻ tẻ, có lúc diễn ra ồ ạt nhất là khi các chúa Nguyễn chiêudân vào Nam khai khẩn

III Tiến trình phân bố, địa điểm cư trú và khẩn hoang của lưu dân người Việt và một bộ phận người Hoa.

- Địa điểm đặt chân sớm nhất của lưu dân người Việt trên đất Nam Bộ là ở Mối Xuy (Moxoài)

Bà Rịa vì đây là nơi địa đầu vừa nằm trên trục giao thông đường bộ từ Bình Thuận vào Nam vừagiáp biển, có cửa biển vào được, ghe thuyền từ Bắc vào Nam Đây là vùng đất rộng lớn từ làngLong Hương, Phước Lễ và lên đất đỏ ngày nay

Trang 10

- Từ Mô Xoài – Bà Rịa lưu dân người Việt tiến dần đến vùng Đồng Nai định cư và khai khẩn.Các địa điểm định cư và khai khẩn sớm nhất khu vực này là Bàn Lân, Bến Gỗ, Bến Cá, Bến Rùa,

cù lao Tân Triều, cù lao Tân Chánh

- Năm 1679 ngoài cư dân người Việt vùng này có thêm lưu dân người Hoa (nhóm Trần ThuậnXuyên) đến đây định cư va khai phá

- Cũng như ở Đồng Nai lưu dân người Việt đến định cư khai phá vùng đất Xoài Khôn (BếnNghé) từ nửa cuối TK XVII tại đây họ khai phá các khu đất cao như : Chợ Quán, Gò Công, MaiChùa, Chùa Gò (Phước Sơn Tự), khu vực Bà Chiểu, Gò Vấp, kéo dài đến Hóc Môn theo trục lộ

đi về phía Tây Ninh Như vậy, đến những năm cuối TK XVII trên suốt khu vực rộng lớn từ MôXoài đến Bến Nghé cùng với người Khơme, người Hoa, người Việt cũng đã đến định cư và khaiphá Tuy nhiên lúc bấy giờ dân cư còn quá ít, hầu hết là dân phiêu bạc phương tiện lại thiếu thốn,trình độ kĩ thuật còn hạn chế Cho nên trên cả khu vực rộng lớn đó những địa điểm định cư khaiphá còn rãi rác, đất hoang rừng rậm còn nhiều

- Sang TK XVIII các điểm định cư khai phá ở khu vực Sài Gòn – Bến Nghé và vùng xungquanh tiếp tục được mở rộng thêm, sau khi Nông Nại Đại Khố (cù lao phố Đồng Nai - Biên Hòa)

bị tàn phá 1772, thì vùng Xoài Khôn Chợ Lớn ngày nay trở thành một trung tâm thương mại khásầm uất

- Thời gian này lưu dân người Việt cũng đi vào định cư và khai phá khu vực hai bên bờ sôngVàm Cỏ Tây, bờ Bắc sông Tiền và ở các cù lao theo các cửa sông Tiền bao gồm các vùng Tân

An, Gò Công, Chợ Gạo, cù loa Minh, cù lao Bảo ở Tiền Giang

- Ở vùng Đồng Tháp Mười rãi rác, cũng có một số ít vùng đất không bị ngập lục, gây thiệt hại.cũng có một số ít lưu dân trụ lại định cư lâu dài và khai phá một vài vùng gọi là đất phước nhưTân Châu, Cao Lãnh

- Đáng chú ý nhất đến nửa đầu TK XVIII các địa điểm định cư và khai phá được hình thànhtrên hầu khắp các cù lao đó, là một loại đất dòng nổi trên mặt nước được phù sa bồi đắp hàngnăm như : cù lao Tân Huề, cù lao Giang, cù lao Ông Chưởng, cù lao Mây, cù lao Lâm Thôn trênsông Tiền, cù lao Cát, cù lao Dung ở vùng Sông Hậu

- Vùng Mỹ Tho từ chợ cũ Mỹ Tho đến vùng trấn Định ngày nay là Tân Lí Tây (Tân Hiệp),ngoài lưu dân người Việt còn có nhóm người Hoa Dương Ngạn Định đến định cư khai khẩn

1679 nhóm Trần Thuận Xuyên đến khai phá

- Ở bờ Nam sông Tiền vào đầu TK XVIII một bộ phận lưu dân người Việt phần lớn là tín đồthiên chúa giáo đến lánh nạn, do sự cấm đạo của chúa Nguyễn, họ đến sinh sống ở vùng CáiMơn, Cái Nhum Ở vùng đất Sóc Xoài, Ba Vát, Mỏ Cày

- Ở khu vực Sóc Trăng, Ba Thắt cũng có một số cư dân người Việt đến định cư khai khẩn đấtđai với người Khơme

- Ở khu vực ven biển phía Tây Nam từ Hà Tiên xuống Rạch Giá, Cà Mau

- Cuối TK XVII đầu TK XVIII số lượng lưu dân người Việt đến định cư khai khẩn tăng lên khánhanh do hoạt động chiêu mộ của Mạc Cửu, đó là người Trung Quốc bỏ nước đến đây cư ngụcùng với 200 bộ hạ Họ đã lập thành 7 xã kéo dài từ Kampotxom đến Cà Mau gồm có Cần Bột,Trảng Kè, Hương Út (Vĩnh Thơm) Phú Quốc, Hà Tiên, Rạch Giá, Cà Mau

Tóm lại : Đến cuối TK XVIII lưu dân người Việt đã đến định cư khai khẩn đất đai để sinh

sống ở rất nhiều nơi ở vùng đất Nam Bộ Tuy nhiên, mật độ phân bố không đều khu vực có sốlượng lưu dân người Việt đông nhất đó là Bà Rịa – Đồng Nai – Sài Gòn – Mỹ Tho – Bến Tre,nhất là vùng gần sông Vàm Cỏ Tây gần sông Tiền và những vùng có nhiều thuận lợi để làm lúanước, bởi vì có lượng nước ngọt để tưới tiêu và cũng nhờ mạng lưới sông gạch thiên nhiên chằngchịt

IV Phương thức khai khẩn

1 Thuận lợi và khó khăn

Trang 11

- Đất ở đây là đất phù sa mới, phì nhiêu, thời tiết khí hậu tương đối thuận hòa, mùa màng ít bịthất bát.

b Khó khăn

- Môi trường thiên nhiên cũng không kém phần khắc nghiệt

- Đất đai phần lớn là rừng rậm hoang vu, đồng cỏ, đầm lầy đã dẫn đến việc khai khẩn gặp nhiềukhó khăn

- Phải đương đầu với nhiều thú dữ nguy hiểm, muổi, rắn rết, bệnh tật

- Đất đai màu mở là điều kiện cho sâu bọ, cỏ dại phát triển Nhiều vùng còn thiếu nước ngọt,nhiễm phèn mặn

3 Qui mô khai vỡ

- Qui mô nhỏ: Thuộc về những người nông dân nghèo, chiếm số đông trong lưu dân, hình thứckhai khẩn qui mô nhỏ là hình thức chủ yếu đóng vai trò chính

- Loại qui mô lớn: Thuộc về những người nông dân có vật lực, những người giàu có được chínhquyền chúa Nguyễn triệu tập từ các tỉnh phía ngoài vào

4 Hình thức tổ chức khẩn hoang

- Người dân bao gồm cả người giàu và người nghèo tự động tiến hành khai hoang

- Nhà nước sử dụng binh lính đồn trú, khẩn hoang đất canh tác đế có thêm lương thực

- Nhà nước mộ dân lập đồn điền

V Thành quả khai hoang

Theo Lê Quí Đôn ghi trong sách Phủ Biên Tạp Lục thì tổng diện tích khai khẩn tính đến nhữngnăm 70 của thế kỉ XVIII đó là 2241 mẫu và ngoài 32 000 sở (1 sở bằng 4 đến 5 mẫu

1 Nông nghiệp

Nhờ có công cuộc khẩn hoang của lưu dân mà vùng Đồng Nai – Gia Định (toàn Nam Bộ ngỳanay) là vựa lúa lớn, sản xuất thóc gạo dư thừa so với nhu cầu lương thực tại chỗ Ngoài ra, cònđem đi trao đổi mua bán các nơi trong nước và cả với nước ngoài Không những vậy, vùng đồngbằng sông Cửu Long cũng là nơi cung cấp lúa gạo chủ yếu của cả Đàng trong

- Trên cơ sở một nền nông nghiệp và thủ công nghiệp đã khá phát triển và ở mức độ nhất định,

đã mang tính chất sản xuất hàng hóa, thì việc buôn bán ở vùng Đồng Nai – Gia Định sớm được

mở rộng hơn trở thành một hoạt động kinh tế sôi nổi ở đây Cũng chính vì lẽ đó mà đến cuối thế

kỉ XVIII ở vùng này xuất hiện nhiều thị tứ mua bán sầm uất, trong đó có một số nhanh chóng trởthành trung tâm thương mại và buôn bán quốc tế nổi tiếng như : thương cảng cù lao Phố ĐồngNai, Sài Gòn, Hà Tiên, Mỹ Tho, Đại Phố

- Ngoài các thương cảng và thị tứ nói trên thì mạng lưới các chợ đã sớm hình thành ở thành thị

và nông thôn nhất là các trục lộ giao thông chính, bến đò, hình thành ở nơi giao thông thuận lợiđông người qua lại

Như vậy, ở thành thị, các chợ nơi nào cũng đầy ấp những mặt hàng nông - lâm - thủy sản

VII Tổ chức xã hội, nếp sông văn hóa, tinh thần của cộng đồng cư dân ở vùng đất mới

1 Tổ chức xã hội

- Ở vùng đất mới, nếp sống sinh hoạt xã hội có tổ chức hơn và làng xớm đã trở thành làng, xớmtruyền thống ở quê hương mình nơi đặc trung chung là ý thức cộng đồng “tình làng nghĩa xóm”tương thân tương ái Lưu dân người Việt cũng nhanh chóng kết thành “chòm xóm” để dựa vào

Ngày đăng: 19/08/2012, 00:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w