1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

giới thiệu về Nguyễn Huy Tưởng

18 422 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 37,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng theo Nguyên An, Nguyễn Huy Tưởng đã gánh việc mở đầu một cách đích đáng cho dòng văn chương viết về truyền thống, về lịch sử trung đại Việt Nam trong nền văn chương hiện đại Việt Na

Trang 1

Thấm thoắt đã 55 năm nhà văn lớn Nguyễn Huy Tưởng rời cõi trần, ở cái tuổi quá trẻ và còn quá nhiều việc ông có thể làm ở phía trước (ông qua đời khi mới 48 tuổi) Nhưng 48 năm trên cõi tạm này cũng đã đủ cho ông để lại một di sản văn chương vô cùng đồ sộ, phong phú về đề tài và sâu sắc về giá trị

Mở đường cho dòng văn học lịch sử

Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng sinh ngày 6/5/1912, tại làng Dục Tú, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, nay là xã Dục Tú, huyện Đông Anh, Hà Nội Cha là một ông Tú nghèo, sống nhờ

vợ tần tảo buôn bán Khi Nguyễn Huy Tưởng lên 7 tuổi thì cha mất, mẹ gửi ông ra Hải Phòng sống cùng gia đình người chị, học tiểu học ở trường Bonnal Năm 1932, khi 20 tuổi, ông đậu bằng Thành Chung và cũng bắt đầu học chữ Hán Ra trường, sau 3 năm vất

vả tìm việc, đến 1935 ông thi đậu vào ngạch thư ký Nhà Đoan (cơ quan hải quan) Năm

1939, ông cưới vợ, là tiểu thư con một vị quan ở Hải Phòng Dù sống cuộc sống công chức Nhà Đoan, nhưng Nguyễn Huy Tưởng có một đời sống nội tâm phong phú, ông chăm đọc sách, chịu khó tìm ý tưởng, hàng ngày viết nhật ký

Nguyễn Huy Tưởng (đứng, thứ hai từ phải qua) cùng các văn nghệ sĩ ở Việt Bắc

Từ năm 1938, Nguyễn Huy Tưởng đã hoạt động cho hội Truyền bá quốc ngữ Cuối năm

1944, bắt đầu tham dự các buổi họp bí mật của hội Văn hóa cứu quốc Tháng 4/1944, ông chuyển từ Hải Phòng lên Hà Nội công tác và được gặp các trí thức Hà thành như Nguyễn Xuân Huy, Như Phong, Nguyên Hồng, Nam Cao, Trần Huyền Trân Tháng 6/1945, Nguyễn Huy Tưởng tham gia ban biên tập tạp chí Tiên Phong của Văn hóa cứu quốc Sau

đó 2 tháng, Nguyễn Huy Tưởng đi dự Đại hội quốc dân ở Tân Trào, Tuyên Quang Ông còn là đại biểu Văn hóa cứu quốc, giúp biên tập các tờ báo Cờ giải phóng, Tiên Phong Tiếp đó ông giữ chức vụ Tổng Thư ký Ban Trung ương Vận động đời sống mới Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Huy Tưởng trở thành một trong những người lãnh đạo chủ chốt của Hội văn hóa cứu quốc Ông qua đời ngày 25/7/1960, tại Hà Nội, khi mới 48 tuổi

Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Nguyễn Huy Tưởng đã để lại cho đời sau nhiều tác phẩm có giá trị về văn chương và lịch sử Về tiểu thuyết có “Đêm hội Long Trì” (1942),

“An Tư công chúa” (1944), “Truyện Anh Lục” (1955), “Bốn năm sau” (1959), “Sống mãi với Thủ đô”(1960) Về kịch có “Vũ Như Tô” (1943), “Cột đồng Mã Viện” (1944), “Bắc Sơn” (1946), “Những người ở lại” (1948), “Anh Sơ đầu quân” (tập kịch - 1949), “Lũy hoa” (1960) Về truyện ký có “Ký sự Cao Lạng” (1951), “Chiến sĩ ca nô” Ngay trong lĩnh vực truyện thiếu nhi, ông cũng để lại những dấu ấn sâu sắc, có lẽ bởi ông chính là giám đốc đầu tiên của NXB Kim Đồng; với “Lá cờ thêu sáu chữ vàng”, “Tìm mẹ”,

Trang 2

“Thằng Quấy”, “Con cóc là cậu ông giời”, “An Dương Vương xây thành Ốc”, “Kể

chuyện Quang Trung”, “Cô bé gan dạ” và một tập Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng, dày 1.700 trang

Nhà nghiên cứu - phê bình văn học, Tiến sĩ Nguyên An, đã từng nhận định về Nguyễn Huy Tưởng: Nếu không có Nguyễn Huy Tưởng thì văn đàn hiện đại Việt Nam, nhất là ở mảng lịch sử - truyền thống, sẽ vơi đi sự bề thế, vẻ kỳ vĩ, tráng lệ và chất bi thương hào hùng Cũng theo Nguyên An, Nguyễn Huy Tưởng đã gánh việc mở đầu một cách đích đáng cho dòng văn chương viết về truyền thống, về lịch sử trung đại Việt Nam trong nền văn chương hiện đại Việt Nam!

Những giá trị còn mãi theo thời gian

Trong cuộc hội thảo mới đây về nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, diễn ra tại quê hương ông mang tên “Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng từ khởi nguồn Dục Tú -Đông Anh”, một lần nữa những người trong giới đã cùng nhau khẳng định những giá trị “còn mãi với thời gian” của văn chương Nguyễn Huy Tưởng

Giáo sư Phong Lê, người đã dành rất nhiều thời gian để nghiên cứu về văn chương và con người Nguyễn Huy Tưởng khẳng định, không chỉ những tác phẩm lớn của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng có giá trị vô giá và luôn là đề tài nghiên cứu khoa học của các

nghiên cứu sinh; mà ngay cả những trang nhật ký tưởng là những câu chuyện rất đời, rất riêng tư của nhà văn lại khiến người đọc như tìm thấy bài học cho chính mình.“Qua nhật

ký và tự truyện của Nguyễn Huy Tưởng, điều bạn đọc có thể lưu tâm là một bối cảnh xã hội trong những chuyển động của buổi giao thời, với con đường nuôi thân lập nghiệp của một lớp người - một lớp tuổi trẻ rồi sẽ vào đời, trưởng thành và làm nên sự nghiệp vào năm 1930, đầu 1940 Một lớp tuổi trẻ rồi sẽ hướng vào con đường văn chương với mục đích kiếm sống nhưng cũng không phải hoàn toàn vì mục đích kiếm sống”, giáo sư Phong Lê khẳng định

Một trong những tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng đến nay vẫn khiến các nhà phê bình, nghiên cứu văn học tốn nhiều bút mực là vở kịch “Vũ Như Tô” Theo PGS.TS Lê

Nguyên Cẩn, bi kịch trong tác phẩm “Vũ Như tô” với giấc mơ Cửu Trùng Đài gợi ra nhiều vấn đề cần suy nghĩ mà một trong những vấn đề ấy gắn liền với các di tích lịch sử Còn TS Đỗ Thị Thanh Nga (Viện Văn học), người từng 10 năm nghiên cứu về nhà văn Nguyễn Huy Tưởng cũng một lần nữa khẳng định giá trị thời đại của vở kịch Vũ Như Tô

mà nhà văn muốn gửi gắm Theo TS Đỗ Thanh Nga, 7 thập kỷ sau khi ra đời, kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng giờ đây trở thành đối tượng của những nghiên cứu chuyên sâu và hứa hẹn những sự nhận chân mới Sức hấp dẫn của vở kịch chính là từ

Trang 3

những bài học nhân sinh, những kinh nghiệm lịch sử hàm chứa trong những giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng trên văn đàn Trung Quốc

(Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng)

Từ nhiều góc độ khác nhau, các nhà nghiên cứu đã phân tích về thân thế và sự nghiệp văn chương của nhà văn, nhà soạn kịch trứ danh Nguyễn Huy Tưởng Tôi chỉ muốn cung cấp thêm một đôi nét chấm phá về hình ảnh của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng trên sách báo Trung Quốc, nhằm góp phần nhỏ bé vào việc tìm hiểu tầm cỡ xuyên quốc gia của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng

Với từ khoá “Việt Nam tác gia Nguyễn Huy Tưởng”, sau 0,28 giây, trang mạng

www.google.com tiếng Trung đã cung cấp 831.000 kết quả liên quan đến cụm từ “Nhà văn Việt Nam Nguyễn Huy Tưởng”, mà sách báo giấy và sách báo điện tử Trung Quốc đã phản ánh về nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đáng kính và thân thiết của nhiều thế hệ người đọc Việt Nam và cả độc giả Trung Quốc

Qua nguồn báo chí phong phú đa dạng và quý báu ấy, chúng ta được biết:

Bộ sách tra cứu đầy quyền uy “Trung Quốc đại bách khoa toàn thư” do Quốc vụ viện (Chính phủ Trung ương) của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa chỉ đạo biên soan và xuất bản, gồm 80 quyển, mỗi quyển khoảng 12-15 triệu chữ Hán, dày trung bình 700 trang khổ 19x26 cm (tương đương 2.100 trang dịch ra tiếng Việt) Trong bộ sách đồ sộ này, phần văn học chia làm 3 quyển (2 quyển văn học Trung Quốc, 1 quyển văn học nước ngoài) Riêng phần “Văn học Việt Nam” trong quyển “Văn học nước ngoài” do bà Triệu Ngọc Lan (Giáo sư giảng dậy Bộ môn tiếng Việt, Trường Đại học Bắc Kinh) biên soạn, được chia làm 3 phần lớn: Văn học trước cách mạng dân tộc dân chủ, Văn học thời kỳ cách mạng dân chủ nhân dân, Văn học sau cách mạng Tháng Tám

Viết về văn học Việt Nam giai đoạn từ 1945 đến 1975, bộ sách này, có đoạn viết, phân tích về hoạt động và tác phẩm tiêu biểu của các nhà văn: Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Huy Tưởng, Đồ Phồn, Nam Cao, Nguyên Hồng, Huy Cận, Tô Hoài Trong

đó, Nguyễn Huy Tưởng được nhắc đến hai tác phẩm tiêu biểu “Ký sự Cao Lạng” và

“Truyện anh Lục”

Trang web www.cdmd.cnki.com, giới thiệu một Luận văn thạc sĩ năm 2005 của nghiên cứu sinh Hồ Như Khuê, trường Đại học Sư phạm Hoa Đông, với tiêu đề “ ‘Lôi vũ’ ở Việt Nam”, có đoạn viết: “… “Lôi Vũ” cũng ảnh hưởng đến sáng tác của một số kịch tác gia

và nhà văn Việt Nam Trong đó, kịch tác gia nổi tiếng Việt Nam Nguyễn Huy Tưởng

Trang 4

(tên Nguyễn Huy Tưởng in bằng cả chữ Hán và chữ Việt) cũng được văn đàn Việt Nam cho rằng nội dung có những ảnh hưởng của “Lôi Vũ”

Báo điện tử “Thiên hạ Luận văn” (www.lunwentienxia.com) có hẳn một tiết (tiết 2) phân tích ảnh hưởng của Lôi Vũ đến Nguyễn Huy Tưởng, nhà văn Việt Nam Kèm theo Phụ lục 1: Thư của Tào Ngu gửi Đặng Thai Mai; Phụ lục 2: So sánh hai bản dịch “Lôi Vũ” và

“Nhật xuất” của Đặng Thai Mai

Trang web Sách Văn học chiến tranh (www.tujiwar.com) nói về văn học kháng chiến của Việt Nam, viết: “Trong cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp, tại Việt Nam, các nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Ngọc, Nguyên Hồng, … đều viết ra những trường thiên tiểu thuyết khá thành công

Báo điện tử www.wangchao.net.com, giới thiệu bộ sách (gồm 3 cuốn) là Giáo trình đại học ở Trung Quốc “Tuyển tập tiểu thuyết hiện đại Việt Nam” (Tập 2) có nội dung giới thiệu tóm tắt Nguyễn Huy Tưởng và trích tác phẩm “Bốn năm sau” của ông

Như vậy là thân thế sự nghiệp và tác phẩm của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã được giảng dạy trong các trường đại học và cao đẳng ở Trung Quốc

Cửa hàng sách trên mạng “Xuân thu thư điếm” (http://xs.langlang.cc), giới thiệu tiểu thuyết “Truyện anh Lục” và Truyện thiếu nhi “Tìm mẹ” của nhà văn Việt Nam Nguyễn Huy Tưởng Trong đó, “Truyện anh Lục”, tác giả Nguyễn Huy Tưởng Việt Nam; Người dịch: Nhan Bảo, Tác gia xuất bản xã xuất bản, năm 1963, số lượng in 3.000 cuốn, giá bìa 20,000 đồng Nhân dân tệ Còn truyện dịch “Tìm mẹ” của Nguyễn Huy Tưởng, Xương Thuỵ Di dịch lời, Triệu Bạch Sơn vẽ tranh, do Nhà xuất bản Thiếu niên nhi đồng Thượng Hải ấn hành, năm 2006

Hiệu sách trên mạng này còn giới thiệu những sách dịch của Việt Nam khác, là:

“Xung kích” của Nguyễn Đình Thi, Nhà xuất bản Thanh Niên Trung Quốc xuất bản, Bắc Kinh; “Vùng mỏ” của Võ Huy Tâm, Nhà xuất bản Nhà văn (Tác gia xuất bản xã) ấn hành, Bắc Kinh; “Việt Bắc” tập thơ của Tố Hữu, Nhà xuất bản Nhà văn ấn hành, Bắc Kinh

Cửa hàng sách điện tử http://book.kong2.com giới thiệu hai cuốn sách “Ký sự Cao Lạng” Hoàng Mẫn Trung dịch, Nhà xuất bản Nhà văn ấn hành, năm 1957 và “Truyện anh Lục”, Nhà xuất bản Nhà văn ấn hành, năm 1963, Nhan Bảo dịch của nhà văn Việt Nam Nguyễn Huy Tưởng

Đặc biệt, trang web http://yuenan.8.Forumer.com, đã giới thiệu tóm tắt 29 nhà văn, nhà thơ tầm cỡ cây đa cây đề của Việt Nam từ cố chí kim: Nguyễn Trãi, Lê Tư Thành (Lê

Trang 5

Thánh Tông), Đặng Trần Côn, Lê Quý Đôn, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu, Tú Xương, Hồ Biểu Chánh, Tản Đà, Ngô Tất Tố, Tú Mỡ, Đặng Thai Mai, Nguyễn Công Hoan, Thế Lữ, Nhất Linh, Nguyễn Tuân,

Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Huy Tưởng, Lưu Trọng Lư, Đồ Phồn, Nam Cao, Xuân Diệu, Nguyên Hồng, Huy Cận, Tố Hữu, Tô Hoài

Nhân đây, chúng dịch toàn văn phần viết về nhà văn, kịch tác gia Nguyễn Huy Tưởng,

để mọi người cùng tham khảo

Nguyễn Huy Tưởng (1912 – 1960)

Nhà văn Việt Nam Nguyễn Huy Tưởng là người huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (thôn Dục

Tú, xã Dục Tú, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội ngày nay – VPT)

Thưở nhỏ, nhà văn đã học sâu Hán văn và Pháp văn Năm 17 tuổi, nhà văn bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương Năm 1941, sau khi thành lập Mặt trận Việt Minh, nhà văn là một trong những người sáng lập Hội Văn hoá Cứu quốc

Trong giai đoạn toàn quốc chuẩn bị Tổng phản công, nhà văn tham gia Đại hội đại biểu quốc dân toàn quốc Sau khi chính quyền nhân dân Việt Nam thành lập, năm 1946, nhà văn được bầu làm Đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khoá I, đồng thời đảm nhiệm các chức vụ lãnh đạo trong tổ chức Hội Văn hoá Việt Nam và Hội Văn nghệ Việt Nam, v.v…

Sau khi hoà bình lập lại ở Việt Nam, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng làm Uỷ viên Ban chấp hành của Hội Hữu nghị Việt - Xô và Hội Nhà văn Việt Nam

Trong thời gian từ năm 1942 đến năm 1945, là thời kỳ Việt Nam sống dưới hai tầng thống trị đen tối của thực dân Pháp và phát xít Nhật, nhà văn đã sáng tác một số tiểu thuyết và kịch bản về đề tài lịch sử mượn tích cổ nói chuyện kim, như “Đêm hội Long Trì”, bóc trần cuộc sống thối nát của vua chúa phong kiến; Viết vở kịch “Vũ Như Tô” nói

về một nghệ nhân đối địch với nhân dân, cuối cùng bị nhân dân trừng phạt; Viết vở kịch

“An Tư công chúa” phản ánh triều Trần chống lại ngoại tộc xâm lược, v.v…

Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, năm 1946, nhà văn viết xong kịch bản “Bắc Sơn”, ca ngợi cuộc Khởi nghĩa của nhân dân Bắc Sơn Năm 1948, ông lại hoàn thành kịch bản “Những người ở lại”, xây dựng hình tượng các chiến sĩ thời kỳ đầu kháng chiến

đã cùng sống chết với Thủ đô Tác phẩm “Ký sự Cao Lạng” viết xong năm 1950, là bộ ký

sự nói về quá trình tác giả đã ra mặt trận, cùng bộ đội sống và chiến đấu

Trang 6

Sau đó, nhà văn còn hoàn thành bộ tiểu thuyết “Truyện anh Lục” viết về đề tài cải cách ruộng đất Tác phẩm nổi bật viết sau năm 1958 có truyện vừa “Bốn năm sau”

Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng nhiệt tâm với văn học thiếu nhi, ông đã từng tham gia công tác sáng lập Nhà xuất bản Kim Đồng, đồng thời cũng viết không ít tác phẩm văn học thiếu nhi

Nhân dịp kỷ niệm Quốc khánh Trung Quốc lần thứ 60 (1949 – 2009), Tổng công ty Sách Trung Quốc đã tiến hành thống kê những sách văn học nước ngoài đã dược dịch sang Trung văn và xuất bản tại Trung Quốc trong 60 năm qua, tính đến ngày 20-5-2006 Tôi đã tìm thấy trên 150 đầu sách của Việt Nam đã được dịch và ấn hành tại đất nước đông dân nhất thế giới và có trên 300 nhà xuất bản lớn của Trung ương và địa phương này

Theo đó, nhiều nhà văn Việt Nam có nhiều tác phẩm được dịch và xuất bản ở Trung Quốc, như nhà thơ Tố Hữu có 9 tác phẩm “Người con gái Việt Nam”, “Gió lộng”, “Quê hương tôi”, “Việt Bắc”, “Chào Trung Quốc”, “Ba mươi năm đời ta có Đảng”, “Tiếng hát đôi bờ”, “Miền Nam chiến đấu”, “Tố Hữu thi tập”

Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng có 5 tác phẩm “Truyện anh Lục”, “Ký sự Cao Lạng”, “Bốn năm sau”, “Tìm mẹ”, “Thàng Quấy”

Nhà văn Nguyễn Đình Thi có 4 đầu sách: Tập thơ “Chiến sĩ”, tiểu thuyết “Vỡ bờ”,

“Xung kích”, “Mặt trận trên cao”

***

Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, Nhà xuất bản Kim Đồng vừa xuất bản bộ tiểu thuyết lịch sử “Lá cờ thêu sáu chữ vàng” (bản song ngữ Việt –Trung)

Giáo sư-Dịch giả Trung Quốc Chúc Ngưỡng Tu, người đã từng giảng dạy tiếng Việt ở trường Đại học Bắc Kinh trên nửa thế kỷ, đã từng dịch tiểu thuyết “Ông cố vấn” của nhà văn Hữu Mai sang tiếng Trung, nay lại chuyển ngữ bộ tiểu thuyết lịch sử trứ danh này của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng

Trả lời phỏng vấn của chúng tôi, Giáo sư - dịch giả Chúc Ngưỡng tu đã nói:

“Mối văn duyên giữa tôi với nhà văn Nguyễn Huy Tưởng bắt đầu từ hơn nửa thế kỷ về trước

Trang 7

Khi đó, tôi chỉ là một cậu học sinh trung học bình thường, nhưng ông Nguyễn Huy Tưởng đã là một nhà văn, nhà viết kịch rất nổi tiếng và có nhiều đóng góp cho nền văn học Việt Nam

Năm 1957, lần đầu tiên tôi được đọc tác phẩm văn học Việt Nam là Ký sự Cao Lạng của ông, qua bản dịch tiếng Trung của Dịch giả Hoàng Mẫn Trung, giáo viên dạy tiếng Việt trong Khoa Đông ngữ - Trường Đại học Bắc Kinh

Từ đó, tôi mới có mối lương duyên với hai ông tác giả và dịch giả này mặn nồng làm sao!

Về sau, ông Nguyễn Huy Tưởng trở thành nhà văn - đối tượng nghiên cứu, dịch thuật và giới thiệu của tôi; Còn Giáo sư Hoàng Mẫn Trung thì trở thành người thầy dạy tiếng Việt cho tôi và dìu dắt tôi trên con đường nghiên cứu ngôn ngữ và văn học Việt Nam

Năm 2001, công trình biên soạn Giáo trình giảng dạy văn học Việt Nam hiện đại cho học sinh Trung Quốc học tiếng Việt tại các trường đại học và cao đẳng được Bộ Giáo dục quốc gia phê chuẩn

Giáo trình này gồm ba tâp, nhóm soạn giả gồm 4 giáo sư trong đó có tôi Tôi được phân công biên soạn tập II, là phần tiểu thuyết và truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1954-1975 Tôi đã chọn phần cô Ngàn gặp lại anh Cường tại nông trường Điện Biên trong tiểu thuyết Bốn năm sau của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đưa vào giáo trình

Nhưng phải mười năm sau, cơ duyên dịch Lá cờ thêu sáu chữ vàng mới đến với tôi Đầu năm 2010, Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức Hội nghị Quốc tế giới thiệu văn học Việt Nam mà tôi may mắn là một trong số trên ba trăm đại biểu được mời từ khoảng 40 nước trên thế giới

Hội nghị đã giành được thành công tốt đẹp, có tác dụng to lớn và rất tích cực trong việc quảng bá văn học Việt Nam trên toàn thế giới

Được cổ vũ và khuyến khích bởi Hội nghị, tôi hăng hái muốn dịch giới thiệu thêm tác phẩm văn học Việt Nam cho bạn đọc Trung Quốc

Đúng lúc này, học giả Việt Nam Nguyễn Kim Anh, nguyên là cán bộ Nhà xuất bản Kim Đồng và là bạn thân của tôi đã giúp tôi làm quen với nhà văn Nguyễn Huy Thắng, là con trai của Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng

Khi được biết Lá cờ thêu sáu chữ vàng đã được Nhà xuất bản Kim Đồng xuất bản song ngữ Việt-Anh, tôi lập tức nảy ra ý nghĩ muốn dịch cuốn sách này ra tiếng Trung để xuất bản song ngữ Việt-Trung, với sự cộng tác của ông Nguyễn Kim Anh

Trang 8

Lý do cũng thật đơn giản: Một là vì đây là một tác phẩm rất hay và gắn bó với nhiều thế

hệ thiếu niên Việt Nam, trong sách có tình tiết rất lý thú là viên tướng Triệu Trung của nhà Tống lánh nạn sang Việt Nam đã đứng trong hàng ngũ của quân đội nhà Trần, tham gia trận đánh quân Nguyên tại Hàm Tử, xứng đáng để giới thiệu cho bạn đọc Trung Quốc; Hai là vì hiện nay số học sinh Trung Quốc học tiếng Việt và số học sinh Việt Nam học tiếng Trung đã lên đến nhiều nghìn người, nhưng đến nay vẫn chưa có lấy một quyển sách song ngữ Việt-Trung nào để cho các em dùng làm tài liệu đọc thêm và tham khảo đối chiếu, mà khuôn khổ cuốn sách này thích hợp xuất bản song ngữ

Thế là tôi và anh Thắng đã nhanh chóng đi đến thỏa thuận: Dịch Lá cờ thêu sáu chữ vàng của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đế xuất bản song ngữ Việt-Trung tại Việt Nam và Trung Quốc.”

Nguyễn Huy Tưởng sống trong lịch sử và viết về lịch sử

Ngày 3/5, Nhà xuất bản Kim Đồng, Hội nhà văn Hà Nội và Thư viện Hà Nội tổ chức hội thảo "Nguyễn Huy Tưởng và lịch sử" nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Nguyễn Huy Tưởng (1912 - 2012) Đề dẫn vào hội thảo, nhà phê bình văn học Phạm Xuân

Nguyên cho biết, hội thảo mang tên "Nguyễn Huy Tưởng và lịch sử", với dụng ý nhìn nhận về "cách một nhà văn nhìn lịch sử và cách một con người trở thành lịch sử"

Nguyễn Huy Thắng (ngồi bên trái) - con trai nhà văn Nguyễn Huy Tưởng - và nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên chủ trì buổi hội thảo

Theo Phạm Xuân Nguyên, câu hỏi mà Nguyễn Huy Tưởng nhắc lại đến hai lần cuối vở kịch "Vũ Như Tô": "Chẳng biết Vũ Như Tô phải hay những kẻ giết Vũ Như Tô phải" cho đến nay vẫn chưa mất tính thời đại Đó vẫn còn là một câu hỏi cần những câu trả lời của nhiều thế hệ tiếp nối Trong nguồn cảm hứng về bi kịch "Vũ Như Tô", nhà nghiên cứu Trần Đăng Suyền cho biết, "Vũ Như Tô" chứa đựng hai mâu thuẫn cơ bản: Mâu thuẫn giữa nhân dân lao động lầm than và hôn quân bạo chúa cùng phe cánh của chúng; mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, vĩnh viễn và lợi ích nhất thời, trực tiếp, thiết thực của nhân dân Mâu thuẫn đầu tiên đã được giải đáp bằng việc hôn quân Vũ Tương Dực cùng phe cánh của mình bị giết Mâu thuẫn thứ hai là một bi kịch Nguyễn Huy Tưởng chưa giải đáp, mà cũng chưa thể có câu trả lời Tựu chung, các ý kiến của các nhà nghiên cứu tại hội thảo cho thấy, mặc dù viết về lịch sử, những vấn đề mà Nguyễn Huy Tưởng đặt ra trong các sáng tác của mình vẫn luôn luôn mới và làm thao thức người đương thời

Nguyễn Huy Tưởng qua đời vào năm 1960, ở tuổi 48 Nhà văn lưu dấu ấn của mình trong nền văn học hiện đại Việt Nam với những sáng tác tiêu biểu từ truyện thiếu nhi cho tới

Trang 9

kịch, tiểu thuyết mang đậm cảm hứng lịch sử như "An Dương Vương xây thành Ốc",

"Cột đồng Mã Viện", "Lá cờ thêu sáu chữ vàng", "An Tư", "Đêm hội Long Trì", "Vũ Như Tô", "Kể chuyện Quang Trung"; những trang viết về cách mạng và kháng chiến như:

"Bắc Sơn", "Sống mãi với Thủ đô", "Ký sự Cao Lạng", "Gặp Bác" Trong số các sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng, nhiều tác phẩm đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường như các trích đoạn trong "Lá cờ thêu sáu chữ vàng", trích đoạn trong vở kịch "Vũ Như Tô" Tác phẩm "Đêm hội Long Trì" được chuyển thể thành bộ phim cùng tên với việc tái dựng không khí sống động của một thời kỳ điển hình trong lịch sử Việt Nam - thời Lê Mạt

Tại hội thảo, đánh giá về khuynh hướng khai thác đề tài lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng, nhiều nhà nghiên cứu nhận định, chính bầu không khí của làng quê Dục Tú, thuộc vùng Đông Ngàn, Kinh Bắc xưa đã thổi vào Nguyễn Huy Tưởng luồng cảm hứng lịch sử ngay

từ nhỏ Cùng với đó, bối cảnh lịch sử văn hóa của đất nước (dưới ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật những năm 1940 - 1945) đã nuôi dưỡng tinh thần yêu nước trong con người cậu thanh niên Nguyễn Huy Tưởng, đồng thời đẩy những suy tư về lịch

sử trở thành cảm quan sống và viết của ông Tưởng nhớ Nguyễn Huy Tưởng, không ít nhà nghiên cứu nhắc lại châm ngôn trong nhật ký đầu đời của nhà văn: "Người không biết lịch sử nước mình là một con trâu đi cày ruộng Cày với ai cũng được mà cày ruộng nào cũng được" Nguyễn Huy Tưởng cũng sớm xác định, bổn phận của một người yêu nước là "viết văn chương bằng chữ Quốc ngữ"

Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên đánh giá ý thức lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng và nhận định: "Thành tựu lớn nhất và cao nhất của Nguyễn Huy Tưởng ở vở kịch lịch sử 'Vũ Như Tô' đã khẳng định ý thức lịch sử của ông để cho người tiếp nhận lịch sử vẫn còn mãi thao thức" Từ một sự kiện lịch sử xảy ra ở thế kỷ XVI, dưới thời vua Lê Tương Dực, Nguyễn Huy Tưởng đã sáng tạo nên vở kịch "Vũ Như Tô" Lấy đề tài lịch sử nhưng không nhằm mục đích làm sử mà qua đó, nhà văn xây dựng được bi kịch của một người nghệ sĩ giữa khát vọng và hiện thực xã hội Vũ Như Tô là một kiến trúc sư thiên tài, khao khát muốn xây dựng một công trình kiến trúc vĩ đại, tuyệt mĩ cho non sông Để có thể hiện thực hóa khát vọng của mình, Vũ Như Tô nghe theo lời khuyên của Đan Thiềm - một cung nữ cũng mang những khát vọng nghệ thuật lớn lao như Vũ - mượn uy quyền và tiền bạc của hôn quân Lê Tương Dực để xây dựng "Cửu Trùng đài" Chính điều đó đã đẩy Vũ Như Tô - người vốn luôn trăn trở về cuộc sống của người dân - vào bi kịch đi ngược lại quyền lợi của nhân dân, bị họ coi là 'con yêu con quỷ hại dân hại nước' Cuối cùng, Cửu Trùng đài bị đốt và Vũ Như Tô tự động đi ra pháp trường nhận cái chết trên bi kịch của chính mình

Trang 10

Sự có mặt đặc biệt của Nguyễn Huy Thắng - con trai nhà văn Nguyễn Huy Tưởng - tại hội thảo "Nguyễn Huy Tưởng và lịch sử" thu hút sự quan tâm của nhiều người Nguyễn Huy Thắng đọc bài tham luận với tư cách một nhà khoa học, nhìn nhận về sự nghiệp của Nguyễn Huy Tưởng Theo Nguyễn Huy Thắng, không chỉ dừng lại ở "người viết sử bằng văn chương" hay "mang cốt cách của một người viết sử" mà ông muốn nhìn nhận về bố mình với tư cách một người viết sử Với những tiểu luận, lược sử về các sự kiện hay giai đoạn lịch sử quan trọng của dân tộc như hai tiểu luận "Hội nghị Diên Hồng", "Ý nghĩa việc thiên đô của Lý Thái Tổ trong lịch sử Việt Nam", Nguyễn Huy Tưởng không chỉ dựng lại sự kiện vào đúng thời điểm, bối cảnh nó diễn ra, mà còn đưa ra những bình luận chặt chẽ với bản lĩnh của một người làm sử Nguyễn Huy Tưởng là người đầu tiên phát hiện ra tính dân chủ đi trước khu vực của Hội nghị Diên Hồng ở Việt Nam từ thế kỷ thứ

13 Nguyễn Huy Thắng cũng viện dẫn những chứng cứ cho thấy có thể đã có một cuốn sách mang tên "Lịch sử cách mạng Việt Nam" của Nguyễn Huy Tưởng được xuất bản tại Thái Lan Tuy thông tin về cuốn sách sử vẫn chỉ là giả thiết, nhưng những chia sẻ của Nguyễn Huy Thắng tại hội thảo về cha mình soi tỏ hơn chân dung một Nguyễn Huy Tưởng thao thiết với lịch sử dân tộc Một con người nặng lòng đối với sử dân tộc và chính sự vững vàng về lịch sử, về gốc cội làm nên cảm quan sáng tác trong suốt sự

nghiệp văn chương của ông

Nhà phê bình, nghiên cứu Nguyên An đặt ra câu hỏi: "Nếu không có Nguyễn Huy Tưởng thì văn đàn Việt Nam hiện đại sẽ ra sao?" Và ông đưa ra nhận định: "Nếu không có Nguyễn Huy Tưởng thì văn đàn hiện đại Việt Nam, nhất là ở mảng lịch sử - truyền thống

sẽ vơi đi sự bề thế, vẻ kỳ vĩ, tráng lệ và chất bi thương hào hùng, mặc dù cạnh ông đã có

Tô Hoài, và sau ông, cũng đã có các tác giả đáng nể như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Xuân Khánh, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Mộng Giác, Bút Ngữ, Hà Ân, Nguyễn Quang Thân " Cũng theo Nguyên An, Nguyễn Huy Tưởng "đã gánh việc mở đầu một cách đích đáng cho dòng văn chương viết về truyền thống, về lịch sử trung đại Việt Nam trong nền văn chương hiện đại Việt Nam"

Các nhà nghiên cứu cũng nhắc đến vai trò của Nguyễn Huy Tưởng trong việc sáng tác truyện thiếu nhi Vào năm 1940 của thế kỷ 20, Nguyễn Huy Tưởng bắt đầu viết những truyện ngắn đầu tiên cho thiếu nhi trong loạt sách "Hoa xuân" Sáng tác cuối cùng của ông - "Lá cờ thêu sáu chữ vàng" - cũng là viết cho thiếu nhi Những hào khí dân tộc của cậu thiếu niên Trần Quốc Toản trong "Lá cờ thêu sáu chữ vàng" được đánh giá vẫn có sức tác động mạnh mẽ đến thế hệ trẻ trong thời đại ngày nay Khép lại buổi hội thảo, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên đề cập tới cuốn nhật kí vừa được công bố của Nguyễn Huy Tưởng như một mảng quan trọng trong sự nghiệp văn chương của nhà văn Tuy nhiên,

Ngày đăng: 17/04/2016, 19:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w