Máy ép khung bản là giải pháp tách chất rắn và lỏng được ứng dụng nhiều trong các ngành công nghiệp như hóa chất, chế biến thực phẩm, nhuộm, thuộc da, mạ, khai mỏ, xử lý nước thải công n
Trang 1ĐỀ TÀI : THIẾT KẾ MÁY ÉP BÙN
DẠNG KHUNG BẢN
LỜI CẢM ƠN
Thông qua luận văn tốt nghiệp này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban
giám hiệu nhà trường và tập thể quý thầy cô Khoa Cơ Khí trường Đại học Bách Khoa TP
Hồ Chí Minh đã ra sức giảng dạy, truyền đạt kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm thực
tế trong suốt thời gian học tập tại trường vừa qua Đó là những điều hữu ích và thiết thực
tạo cơ sở giúp em có kiến thức ban đầu để xây dựng nên luận văn tốt nghiệp hôm nay và
phục vụ cho công việc chuyên ngành sau này
Cùng với đó, em xin gửi lời cảm ơn đến thầy Lê Khánh Điền và Phan Đình Huấn
đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện thuận lợi phục vụ cho quá trình thực tập
và làm luận văn tốt nghiệp để em có thể đạt được kết quả như mong đợi
Và cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến tập thể Ban giám đốc và anh em Kỹ sư,
công nhân thuộc Cty TNHH Công Nghệ Sài Gòn đã hỗ trợ trong quá trình thực tập tại
xưởng và giúp đỡ hoàn thành hoàn chỉnh luận văn của em
Trong quá trình thực hiện luận văn không thể tránh khỏi những sai sót và nhầm
lẫn, em mong được sự phê bình, hướng dẫn và chỉ bảo để tiếp tục hoàn thiện luận văn
Em xin chúc mọi người dồi dào sức khỏe và đạt được nhiều thành công trong công
việc cũng như trong cuộc sống
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Đỗ Việt Trung
Trang 2Lời mở đầu
Máy lọc ép khung bản là máy lọc ép sử dụng áp suất và sức nén ép để giảm thể tích
của chất lỏng ( dạng lỏng) Máy ép khung bản là giải pháp tách chất rắn và lỏng được
ứng dụng nhiều trong các ngành công nghiệp như hóa chất, chế biến thực phẩm,
nhuộm, thuộc da, mạ, khai mỏ, xử lý nước thải công nghiệp, đô thị, nước thải giấy,
mía đường, luyện khoáng, dầu ăn, bột giấy
Thiết bị loại này ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu cũng như trong
thực tiễn Máy được thiết kế làm việc theo nguyên tắc gián đoạn Tuy nhiên, muốn
làm việc liên tục người ta phải lắp thêm một bộ phận vận hành phụ trợ
Nội dung luận văn tốt nghiệp bao gồm:
Chương I : Tổng quan về bùn và quá trình xử lý nước thải Chương II: Cơ sở lý thuyết và chọn phương án
Chương III : Cơ sở thiết kế máy lọc ép bùn Chương IV : Tính toán thiết kế máy ép bùn dạng khung bản Chương V : Lắp đặt và vận hành
Công nghệ xử lý bùn nói chung, máy ép bùn khung bản nói riêng có thể nói rất
phong phú và phức tạp Hệ thống thiết bị được thiết kế phụ thuộc rất nhiều vềtính chất
đặc trưng của loại bùn và loại thiết bị xử lý Không thể tính toán, thiết kế hoàn chỉnh
được hệ thống với mục tiêu tối ưu về kinh tế, kỹ thuật, môi trường khi ta chưa có được
số liệu nghiên cứu thực nghiệm Do đó chắc chắn thiết kế ban đầu này còn có những yếu
kém chưa được tính toán hoàn thiện do thời gian có hạn Song qua luận văn này, em hy
vọng sẽ nhận được sự góp ý chỉ dẫn của các chuyên gia để có thể thực hiện tốt hơn
trong việc giải quyết các vấn đề thực tế trong tương lai
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .1
MỤC LỤC .3
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ BÙN THẢI VÀ QUÁ TRÌNH XỬ LÝ BÙN THẢI 6
I.1 KHÁI NIỆM VỀ BÙN THẢI 6
I.1.1 Khái niệm bùn thải 6
I.1.2 Phân loại bùn thải 7
I.1.3 Các yếu tố đặc trưng bản chất của bùn 11
I.2 CÁC PHƯƠNG ÁN XỬ LÝ BÙN THẢI 11
I.3 TỔNG QUAN VỀ MÁY ÉP BÙN 13
I.4 KẾT LUẬN 16
CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CHỌN PHƯƠNG ÁN 17
II.1 QUÁ TRÌNH SỬ LÝ NƯỚC THẢI THÀNH BÙN 17
II.2 NGUYÊN LÝ VÀ ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA CÁC DẠNG ÉP BÙN 19
II.2.1 Thiết Bị Ly Tâm 20
II.2.2 Thiết Bị Lọc Băng Tải 22
II.2.3 Thiết Bị Lọc Khung Bản 25
II.3 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ QUÁ TRÌNH LỌC 28
II.4 PHƯƠNG TRÌNH VI PHÂN CƠ BẢN CỦA QUÁ TRÌNH LỌC 29
II.5.NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH LỌC 34
II.3.1 Ảnh hưởng của lớp bã 35
Trang 4II.3.2 Ảnh hưởng của kích thước hạt rắn (bã) 36
II.3.3 Ảnh hưởng của bề mặt hạt, dạng hạt và tính ỳ của hạt 37
II.3.4 Ảnh hưởng của dòng chảy 37
II.3.5 Ảnh hưởng của chênh lệch áp suất 37
II.3.6 Ảnh hưởng của nồng độ huyền phù 38
II.3.7 Ảnh hưởng của nhiệt độ 40
II.6 KẾT LUẬN 40
CHƯƠNG III : TÍNH TOÁN THIẾT KẾ MÁY ÉP BÙN KHUNG BẢN 41
III.1 TÍNH TOÁN CÁC THÔNG SỐ CƠ BẢN CỦA QUÁ TRÌNH LỌC 41
III.1.1.Tính công nghệ máy lọc ép 41
III.1.2 Xác định các thông số bằng thực nghiệm: 41
III.1 3.Xác định các kích thước bản lọc: 45
III.2 TÍNH CƠ KHÍ MÁY LỌC ÉP 46
III.2.1.Tính bền bản lọc: 46
III.2.2.Xác định số lượng bản lọc cần thiết để lọc hết số huyền phù 47
III.2.3.Xác định thể tích bã ẩm thu được sau một chu trình chạy máy: 47
III.2.4.Xác định thể tích không gian trống của một bản lọc: 48
III.2.5.Xác định chiều dài máy lọc ép: 49
III.2.6.Xác định trọng lượng máy lọc ép: 49
III.2.7.Xác định lực ép bản cần thiết: 50
III.2.8.Tính cơ cấu đỡ các bản lọc: 52
III.2.9.Tính bền cho dầm: 62
III.3 KẾT LUẬN 68
CHƯƠNG IV : LẮP ĐẶT VÀ VẬN HÀNH THIẾT BỊ 69
Trang 5IV.1.LẮP ĐẶT THIẾT BỊ: 69
IV.2 VẬN HÀNH THIẾT BỊ: 69
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 6CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ BÙN THẢI VÀ QUÁ TRÌNH XỬ LÝ BÙN THẢI
I.1 KHÁI NIỆM VỀ BÙN THẢI
I.1.1 Khái niệm bùn thải
1.1 Khái niệm:
Nước thải bùn đã được định nghĩa như là một hỗn hợp nhớt, hỗn hợp bán rắn bao gồm
chất hữu chứa vi sinh vật, kim loại độc hại, hóa chất hữu cơ tổng hợp, và giải quyết các
chất rắn ra khỏi nước thải công nghiệp và trong nước tại một nhà máy xử lý nước thải
Bùn thải một phần sản phẩm cuối cùng của một quá trình xử lý nước thải, xử lý nước thải
, hệ thống, sở hữu các nhà máy xử lý nước thải công khai vấn đề Sau khi điều trị hữu cơ
phân hủy và giết chết sinh vật gây bệnh, các sản phẩm còn lại cuối cùng là bùn thải Mặc
dù nhiều thành phần của nước thải đã được xử lý, bùn thải để áp dụng cho đất nông
nghiệp vẫn ònc chủ yếu là nước và nhiều độc chất Theo nghiên cứu có ít nhất 60.000 độc
chất và các hợp chất hóa học đã được tìm thấy trong bùn và nước thải Các nhà nghiên
cứu của Hiệp hội kỹ sư dân dụng Mỹ đã xác định rằng bùn thải có chứa độc tố sau đây:
• Polychlorinated biphenyls (pcbs)
• Clo thuốc trừ sâu, bao gồm DDT, dieldrin, aldrin, endrin, chlordane, heptachlor,
Lindane, mirex, kepone, 2,4,5T, 2,4D
• Clo hóa các hợp chất như dioxin
• Polynuclear hydrocacbon thơm
• Kim loại nặng, bao gồm; arsenic, cadmium, chromium, chì và thủy ngân
• Vi khuẩn, vi rút, động vật nguyên sinh, giun ký sinh, và nấm
• Linh tinh độc tố khác bao gồm; amiăng, sản phẩm dầu mỏ và các dung môi công
nghiệp
Ở Hoa Kỳ các nhà khoa học đã xác định vào năm 1994 rằng "mức độ đầy đủ của ô nhiễm
phóng xạ của nước thải bùn, tro và các sản phẩm liên quan trên toàn quốc c
Trang 7Hưa được biết." Hầu hết các chất phóng xạ bị xóa xuống cống của bệnh viện, doanh
nghiệp và giặt tẩy, một thực tế mà đã bị nhiễm ít nhất chín nhà máy xử lý nước thải trong
thập kỷ qua
1.2 Đặc điểm bùn thải:
Bùn thải có chứa một năng lượng bằng 10 lần số năng lượng cần thiết để xu lý nó Trung
bình, sấy khô nước thải bùn có chứa năng lượng than non, Chính xác hơn, nước thải bùn
chứa khoảng 7.780 Btu / pound Vì vậy, nó có thể sử dụng năng lượng sẵn có trong nước
thải bùn và để thu hồi năng lượng từ bùn thải trong " chất thải thành năng lượng "công
nghệ như khí hoá sinh khối
Khi năng lượng tái tạo, bùn thải có thể được tích hợp vào hệ thống xử lý nước thải có thể
làm cho các nhà máy xử lý nước thải trở thành mạng lưới xuất khẩu năng lượng tái tạo
thay vì nhập khẩu ròng của nhiên liệu hóa thạch dựa trên sức mạnh từ lưới điện Các
nước thải bùn hơn đó là sử dụng như một nhiên liệu ,trong việc tạo năng lượng tái tạo,
càng có nhiều rằng chúng tôi sẽ giảm phát thải khí nhà kính
Như vậy, bùn thải có thể được phát sinh từ nguồn phế thải công nghiệp, nông nghiệp
hoặc từ các trạm nước thải Chính vì vậy, thành phần vô cơ, hữu cơ trong bùn rất phức
tạp
Bùn thải có thể là tác nhân trực tiếp gây ô nhiễm tức thời cũng như lâu dài tới môi
trường Mặc khác bùn thải nếu không quản lý tốt thì có thể gây ô nhiễm tới nguồn nước,
phát sinh dịch bệnh ảnh hưởng đến hệ sinh thái và sức khỏe cộng đồng Do đó xử lý bùn
thải là nhiệm vụ không thể thiếu được trong xử lý nước
I.1.2 Phân loại bùn thải
Đặc tính phân loại bùn là cơ sở để chọn phương pháp xửa lý, chính nó cũng cho sự dự
đoán mức độ tối ưu của các thiết bị sử dụng
Bùn thải của hệ thống xử lý nước được xác định là chất thải nguy hại nếu thuộc 1
trong những trường hợp sau:
a) pH≥12,5 hoặc pH≤ 2,0;
b) Trong mẫu bùn thải phân tích có ít nhất 01 thông số (quy định tại Bảng 1) có
giá trị đồng thời vượt cả 2 ngưỡng Htc và Ctc
Trang 82.3 Giá trị ngưỡng hàm lượng tuyệt đối (Htc, ppm) được tính bằng công thức sau:
Htc = H.(1+19.T)
(1)
20 Trong đó:
+ H (ppm) là giá trị Hàm lượng tuyệt đối cơ sở được quy định trong trong Bảng 1;
+ T là tỷ số giữa khối lượng thành phần rắn khô trong mẫu bùn thải trên tổng khối
lượng mẫu bùn thải
Bảng 1 Hàm lượng tuyệt đối cơ sở (H) và ngưỡng nguy hại tính theo nồng độ
ngâm chiết (Ctc) của các thông số trong bùn thải
Công thức hóa học
Hàm lượng tuyệt đối cơ sở H (ppm) dùng để tính H tc
Ngưỡng nguy hại tính theo nồng độ ngâm chiết C tc (mg/l)
Trang 9- Các quy định ở Bảng 1 đánh dấu # áp dụng với bùn thải từ hệ thống xử lý nước của các
quá trình sản xuất đặc thù có tên ở bảng 2 dưới đây
- Các quy định ở Bảng 1 đánh dấu # # áp dụng thêm đối với bùn thải từ hệ thống xử lý
nước thải của quá trình sản xuất, điều chế, cung ứng các sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật
, chất bảo quản gỗ và các loại biôxit (biocide) hữu cơ khác (thứ tự 10 trong bảng 2)
Bảng 2 Các quá trình sản xuất đặc thù
đặc thù
Mã chất thải nguy hại (theo Thông tư 12/2011/TTBTNMT ngày
14 /4/2011)
1 Bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải của quá trình lọc dầu 01 04 07
2 Bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải của quá trình tái chế, tận thu
Trang 103 Bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải của quá trình sản xuất, điều
chế, cung ứng, sử dụng nhựa, cao su tổng hợp và sợi nhân tạo 03 02 08
4 Bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải của quá trình sản xuất, điều
5
Bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải của quá trình sản xuất, điều
chế, cung ứng, sử dụng chất béo, xà phòng, chất tẩy rửa, sát trùng
và mỹ phẩm
03 06 08
6 Bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải của quá trình sản xuất, điều
chế, cung ứng, sử dụng hoá chất tinh khiết và các hoá phẩm khác 03 07 08
7 Bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải của quá trình sản xuất thuỷ
8 Bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải của ngành dệt nhuộm 10 02 03
9 Bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải của quá trình sản xuất, điều
chế, cung ứng, sử dụng phẩm màu hữu cơ 03 03 08
10
Bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải của quá trình sản xuất, điều
chế, cung ứng các sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật, chất bảo quản
gỗ và các loại biôxit (biocide) hữu cơ khác
03 04 08
11
Bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải của cơ sở sản xuất, điều chế,
cung ứng và sử dụng hóa chất vô cơ (từ quá trình sản xuất, điều
chế, cung ứng, sử dụng muối, dung dịch muối và oxit kim loại)
02 05 01
12 Bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải của quá trình sản xuất, điều
chế, cung ứng và sử dụng hoá chất hữu cơ cơ bản 03 01 08
Trang 11I.1.3 Các yếu tố đặc trưng bản chất của bùn
Tổng lượng chất rắn (TSTotal Solids): Được tính bằng g/l hoặc % trọng lượng và xác
định được bằng cách sấy bùn ở 105 oC cho tới khi trọng lượng không đổi Đối với bùn
lỏng nói chung nó gần với hàm lượng của huyền phù được xác định bởi bộ lọc hoặc bộ
lọc trung tâm
Hàm lượng các chất bay hơi (VS Volatile Solids): Được tính bằng % trọng lượng TS
Nó được xác định bằng cách hóa khí trong lò từ 550600 oC
Đối với bùn hữu cơ ưa nước, nó thường gắn với hàm lượng chất hữu cơ và đặc tính của
hàm lượng các chất chứa nitơ
Thành phần cơ bản đặc biệt của bùn hữu cơ
C và H để đánh giá độ ổn định hoặc tính toán khả năng tạo nhiệt nội bộ;
N và P để đánh giá chất lượng của bùn nông nghiệp;
Các thành phần khác (kim loại nặng) Đối với bùn vô cơ thường sử dụng hàm
lượng Fe, Mg, Al, Cr, muối canxi (cacbonat và sunfat) silic
COD, BOD5, pH, các chất hòa tan
I.2 CÁC PHƯƠNG ÁN XỬ LÝ BÙN THẢI
Tất cả bùn cần xử lý trước khi thải ra môi trường, tuy nhiên cũng có thề sử dụng lại Điều
đó phụ thuộc vào sự phân loại bùn cũng như bản chất của bùn đã nêu ở trên
Xử lý bùn phải đáp ứng ở hai mục tiêu sau:
Giảm thề tích bùn bằng cô đặc, khử nước bằng sấy khô tự nhiên, tách bằng cơ học
hoặc khử nước bằng sấy nóng hay thiêu đốt
Giảm khả năng lên men hay phân hủy bùn gây ô nhiễm môi trường bằng phân hủy do
các vi khuẩn kỵ khí, ổn định hóa học, sấy khô, khử trùng và thiêu đốt trong giai đoạn cuối
cùng
Phần lớn bùn hữu cơ hay vô cơ ưa nước cần được xử lý sơ bộ là điều hòa hay phù hợp để
cho phép làm việc ở các thiết bị cơ khí khử nước khác nhau Mức độ khử nước trước hết
phụ thuộc vào loại bùn cần xử lý, những cũng phụ thuộc vào phương pháp điều hòa phù
hợp cũng như thiết bị sử dụng Bùn đã khử nước có thể tiếp tục được xử lý tiếp bằng các
cách khác như:
Trang 12 Cải thiện cấu trúc và giảm tỷ lệ hyđat của cặn bằng cách them vào các chất khác
(chẳng hạn như vôi hay mùn cưa, phoi bào trong phương pháp ủ phân)
Sấy khô bằng phương pháp nhiệt để có thể thải bỏ được
Cuối cùng là thiêu đốt trong các lò phù hợp với việc tiêu thụ năng lượng một cách
nhỏ nhất Có thể tận dụng nhiệt của các lò đốt này vào những mục đích khác
Điều hòa tách nước khỏi bùn
Để có thể lợi dụng các thiết bị khử nước khác nhau, cần thiết phải kết bông bùn để làm
mất tính ổn định của chất keo, tăng một cách nhân tạo kích thước các hạt Điều hòa bằng
các phương pháp vật lý (chủ yếu là nhiệt), hoặc các phương pháp hóa học (thêm chất
phản ứng vô cơ hay Polyme tổng hợp) Trong các phương pháp khác nhau thì điều hòa
bằng nhiệt có hiệu quả nhất để giảm tính hút nước của bùn Kết bông hóa học, cần phải
dùng các chất điện phân vô cơ (muối kim loại và đặc biệt là vôi) cũng làm giảm tỷ lệ
nước liên kết, nhưng ở mức độ nhỏ Sử dụng chất đa điện li không làm giảm tỷ lệ nước
liên kết mà đôi khi còn làm tăng Điều hòa bùn phù hợp hay không sẽ làm ảnh hưởng đến
độ mất nước của bùn, và điều hòa làm cơ sở để hoạt động các thiết bị khử nước của bùn
sau đó
Khử nước của bùn bằng lọc
Làm khô bùn bằng lọc là phương pháp khử nước được dùng nhiều nhất trong xử lý bùn từ
các trạm xử lý nước thải Có thể lọc trên lớp các hay bộ lọc “cơ khí”, trong chân không ,
dưới áp suất lớn Dưới đây là một số phương pháp khử nước của bùn bằng lọc:
Sân phơi bùn
Lọc chân không
Lọc dưới áp suất trong buồng kín
Các thiết bị lọc ép bùn băng tải, khung bản
Trang 13 Tách tốt các chất rắn ở bùn rất khóa xử lý (bùn hyđroxyt loãng, một số bùn hữu
cơ) Máy li tâm cũng đặc biệt thích hợp với bùn chứa dầu;
Giảm thời gian theo dõi sản xuất, ngoài thời gian mở máy và với điều kiện xử lý
bùn thống
Nhược điểm:
Năng lượng tiêu thụ lớn hơn nhiều so với các loại lọc ép băng tải
Không nhìn thấy bùn trong quá trình xử lý và cần một nhân lực có chuyên môn
hơi cao một chút để hiểu được nguyên nhân hiệu suất tách kém
Chi phí bảo dưỡng đáng kể
Ứng suất cơ lớn do tốc độ quay trực vít lớn Sau mỗi lần tác dụng lên một trong
hai bộ phận, cần phải cân bằng lại
Tương đối nhạy với sự thay đổi đột ngột chất lượng và nồng độ của bùn
Sấy khô – Thiêu đốt
Sấy khô là phương pháp dùng nhiệt để tách nước khỏi bùn do sự bay hơi của nước Có
thể sấy khô từng phần hoặc toàn bộ
Thiêu đốt không những dẫn đến loại bỏ toàn bộ nước trong bùn mà còn đốt cháy các chất
hữu cơ có trong bùn Đó là phương pháp thu được chất thải có khổi lượng nhỏ nhất
I.3 TỔNG QUAN VỀ MÁY ÉP BÙN
Ngày nay máy ép bùn được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp, và
cũng tạo ra các loại chất thải Chất thải nguy hại như hóa chất độc hại từ các ngành công
nghiệp nhuộm, cũng như các tác nhân gây bệnh từ nguồn chất thải có thể tích tụ trong
bánh chất thải, vì vậy yêu cầu để xử lý các chất thải sẽ khác nhau Vì vậy trước khi xả
nguồn chất thải ra môi trường, áp dụng sau khi lọc sẽ là một giai đoạn quan trọng khử
trùng Nó là để ngăn chặn những rủi ro sức khỏe cho người dân địa phương và công nhân
đang làm việc chung với chất thải (bánh lọc) cũng như ngăn chặn tác động tiêu cực đến
hệ sinh thái của chúng ta Kể từ khi thiết bị lọc ra đời sẽ tạo ra số lượng lớn các chất thải,
nếu nó đã được xử lý theo cải tạo đất, nó được khuyến khích để xử lý cho các khu vực bị
thay đổi đáng kể như khu vực khai thác nơi phát triển và định hình của thảm thực vật là
không thể Phương pháp khác là bằng cách đốt, trong đó sẽ phá hủy các chất ô nhiễm hữu
cơ và giảm khối lượng chất thải Nó thường được thực hiện trong một thiết bị đóng cửa
bằng cách dung lửa được kiểm soát
Hiện nay, có rất nhiều phương pháp để tách nước khỏi bùn.Nhưng hầu hết các nhà
máy, xí nghiệp đều chọn và sử dụng các thiết bị ép lọc hiện đại Sử dụng máy móc để đạt
Trang 14đươc năng suất và hiệu quả tối đa có thể.Những phương pháp thủ công như thiêu đốt
hoặc sấy khô thường tiêu tốn nhân công và chi phí cao
Các thiết bị khử nước hiện nay hầu hết đã được cải tiến phù hợp để tăng hiệu quả
tốt nhất cho công việc.Một số máy đã được phát minh từ lâu như máy ép khung bản Các
hình thức đầu tiên của máy ép khung bản được phát minh vào Anh vào năm 1853, được
sử dụng đi đầu cho việc sử dụng áp suấ lọc Tuy nhiên, có rất nhiều khó khăn liên quan
đến chúng, chẳng hạn như yêu cầu lao động cao và quá trình liên tục Sự phát triển lớn
trong công nghệ lọc khung bản bắt đầu vào giữa thế kỷ 20 Trong năm 1959, K Kurita và
S Suwa đã thành công trong việc phát triển đầu tiên tự động kéo ngang bộ lọc khung bản
để nâng cao hiệu quả loại bỏ bánh, và hấp thụ độ ẩm Chín năm sau, Công ty Kurita đã
bắt đầu phát triển màng linh hoạt để giảm độ ẩm trong bánh lọc Thiết bị này cho ph ép
tối ưu hóa các chu kỳ tự động lọc, nén bánh, tháo cặn và bộ lọc vải dẫn đến việc tăng cơ
hội cho các ứng dụng công nghiệp khác nhau
Máy ép khung bản Cùng với sự phát triểu của khoa hoc kĩ thuật,các mẫu máy ép bùn ngày càng đa dạng với
nhiều chủng loại khác nhau cũng như nguyên lý hoạt động khác nhau Rất nhiều công ty
trên thế giới đã sản xuất với nhiều mẫu mã khác nhau
Trang 15Các máy thong dụng hiện giờ như : máy ép băng tải, máy ép khung bản, máy ly tâm,
máy ép chân không Tùy theo nhu cầu khác nhau,mà các công ty, xí nghiệp sử dụng máy
và công suất khác nhau
Thiết bị lọc băng tải
Trang 16Thiết bị lọc li tâm
I.4 KẾT LUẬN
Ta thấy được rằng bùn thải từ các nhà máy,xí nghiệp có rất nhiếu các chất độc hại
khác nhau.Và vấn đề xử lý một cách hiệu quả tiêu tốn rất nhiều máy móc,thiết bị
nên sẽ tốn them nhiều chi phí.Vì thế sẻ mất them nhiều chi phí không cần thiết nếu
có được những thiết bị hiệu quả về năng suất
Có rất nhiều phương pháp để lọc bùn,tùy theo điiều kiện sản xuất của nhà máy,xí
nghiệp mà có thể chọn được phương pháp tốt nhât
Trang 17CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CHỌN PHƯƠNG ÁN
II.1 QUÁ TRÌNH SỬ LÝ NƯỚC THẢI THÀNH BÙN
Trong quá trình xử lý nước thải, ép bùn là giai đoạn cuối cùng để tách chất thải dạng rắn
ra khỏi nước Quy trình xử lý nước thải trải qua các quá trình sau
Trang 18Xử lý cơ học: loại bỏ rác thải qua 2 bước
+ Bước 1: Rác thải có kích thước > 15mm có trong nước thải bị loại bỏ bằng song
chắn rác thô
+Bước 2: Tiếp tục loại bỏ rác thải có kích thước >2mm có trong nước thải bằng
máy tách rác tinh.Máy tách rác sẽ hoạt động lien tục theo thời gian.Nước thải sau khi qua
máy tách rác đươc cho vào bể tách dầu và sau đó để vào bể điều hòa
Xử lý hóa lý : Nước thải tự động được bơm từ bể điều hòa đến bể phản ứng,số lương
bơm hoạt động và thời gian bơm phụ thuộc vào lưu lượng nước thải dòng vào.Tại đây
nước thải được điểu chinh pH và phèn (FeCl2) được cấp vào để đảm bào quá trình keo
tụ.Polyme cũng được cấp vảo bể phản ứng để tăng khả năng lắng của bông bùn tại bể
lắng sơ cấp.Trong trường hợp nước thài có màu thì chất khử màu sẽ châm vào
Xử lý sinh học :Nước thải sau khi được xử lý sơ bộ còn chứa phần lớn các chất hữu cơ ở
dạng hòa tan cùng các chất lơ lững đi vào aerotank Các chất lơ lững náy là một số chất
rắn và có thể la chất hữu cơ dạng hòa tan.Các chất lơ lững này làm nơi vi sinh vật bám
váo cư trú.sinh sản và phát triển,dần thành các hạt căn bong.Các hạt này dần dần to và lơ
lững trong nước.Các bong cạn này chính là bùn hoạt tính
Xử lý màubể lắng: Nước thải sau khi qua hệ thống sinh học nếu vẫn còn độ màu cao và
các hợp chất hữu cơ khó phân hủy thì được xử lý tiếp bằng cụm xử lý màu oxy hóa.Bùn
sinh ra ở cụm xử lý hóa lý được lắng xuống bể lắng và bơm định kì về bể nén bùn.Nước
thải sau khi lắng màu được thải ra nguồn tiếp nhận
Trang 19Bể lắng bùn
Xử lý bùn : Bùn ở bể nén bùn được bơm vào máy ép bùn.Lúc này, bùn có độ ẩm duy trì
ờ khoảng 97%98%.Lượng bùn này cần được tách nước thành bùn khô trước khi loại
bỏ.Biện pháp tách nước bằng máy ép bùn cho sản phẩm có độ ẩm còn khoảng 6685%,
tùy thuộc vào nồng độ bùn
II.2 NGUYÊN LÝ VÀ ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA CÁC DẠNG ÉP BÙN
Quá trình khử nước của bùn nhằm: (1) giảm chi phí vận chuyển bùn đến nơi thải bỏ, (2)
dễ xử lý và vận chuyển, (3) tăng nhiệt năng của bùn nhờ giảm hàm lượng nước trong bùn,
(4) giảm lượng vật liệu tạo độ rỗng trong quá trình ủ compost, (5) giảm sự phát sinh mùi,
(6) giảm sự hình thành nước rò rỉ
Trang 20II.2.1 Thiết Bị Ly Tâm
Máy li tâm
1.Ống nối dưới của vỏ , 2.Các trục đỡ, 3.Cơ cấu để hấp, 4 Cơ cấu rửa, 5.Cơ cấu khóa
truyền của nắp, 6.Nắp vỏ, 7.Khu các ổ trục, 8 Khu dẫn động , 9.Động cơ điện, 10.Khớp
nối bằng cao su ,11.Phanh đai
Quá trình phân ly dựa vào trường lực ly tâm để phân riêng hỗn hợp hai pha rắn lỏng
hoặc lỏnglỏng thành các cấu tử riêng biệt gọi là quá trình ly tâm Máy để thực hiện quá
trình đó gọi là máy ly tâm
Trong quá trình ly tâm lắng và lọc, nguyên liệu chuyển động quay cùng với rôto của máy
Lực ly tâm sẽ làm cho các cấu tử có khối lượng riêng khác nhau phân lớp theo hướng của
gia tốc trường lực Thành phần có khối lượng riêng lớn nhất sẽ tập trung ở vùng xa tâm
nhất, còn phần có khối lượng riêng nhỏ nhất tập trung ở tâm của rôto
Tùy theo cấu tạo bề mặt rôto mà quá trình ly tâm tiến hành theo nguyên tắc lọc ly tâm
hay lắng ly tâm Do đó cũng có hai loại máy ly tâm: máy ly tâm lắng và máy ly tâm lọc
Trang 21Lắng ly tâm
Nguyên lý làm việc của máy ly tâm lắng
Quá trình lắng ly tâm: Lắng trong huyền phù và phân riêng nhũ tương
Rôto của máy ly tâm lắng có dạng hình trụ, kín, thành của rôto không có đục lỗ Khi rôto
quay dưới tác dụng của lực ly tâm, huyền phù hay nhũ tương được phân thành các lớp
riêng biệt tùy theo khối lượng riêng của nó Lớp khối lượng riêng lớn ở sát thành rôto,
lớp có khối lượng riêng nhỏ ở phía trongLy tâm lắng gồm hai quá trình: quá trình lắng
pha rắn tiến hành theo những quy luật của thủy động lực học; quá trình nén bã tiến hành
theo những qui luật cơ học
Quá trình lắng trong máy ly tâm khác quá trình lắng trong trường trọng lực Lắng trong
trường trọng lực, vận tốc lắng coi như bằng nhau ở các vị trí khác nhau vì gia tốc trọng
Trang 22trường không phụ thuộc vào tọa độ rơi hạt lắng theo phương song song với nhau Trong
trường lực ly tâm vận tốc lắng và gia tốc ly tâm thay đổi phụ thuộc vào vận tốc gốc ω và
bán kính quay r (a= ω2r), hạt lắng theo phương đường kính rôto
Ưu điểm của thiết bị ly tâm là hạn chế mùi hôi, dễ khởi động, dễ lắp ráp Bùn sau ly tâm
có hàm lượng ẩm thấp Chi phí đầu tư thấp
Nhược điểm của thiết bị ly tâm là phải tách cát và nghiền hỗn hợp nhập liệu trước khi ly
tâm, yêu cầu công nhân vận hành kỹ thuật cao và nước sau khi ly tâm có hàm lượng cặn
Kết bông đối với các chất đa điện li trong máy kết bông có thời gian tiếp
xúc ngắn hay đôi khi trong ống dẫn;
Tháo bùn đã kết bông: tháo nước giải phóng qua các khe hở trên mặt lọc
Điều đó làm đặc nhanh chóng bùn để thu được hiệu quả cao hơn, bùn dư tháo
Trang 23nước được làm đặc hơn;
Nén bùn đã tiêu nước: bùn này có độ nén đủ lớn được hãm giữa hai lớp vải
lọc tạo lên một góc lượn và ép dần Các líp bùn tạo thành chạy liên tục quanh
tang quay khoan lỗ và sau đó là cực ròng rọc có hình răng cá sÊu tiếp tục hành
trình tuỳ theo loại thiết bị
Hiệu quả khư nước phụ thuộc vào áp suất hiệu dụng P, đặt vào lớp bùn trên
mặt băng, cũng như thời gian ép Một cách đơn giản, áp suất bề mặt P có dạng:
= 2Trong đó: T Lực căng vải lọc;
L – Bề rộng vải lọc;
D Đường kính tang quay
thu được bằng sức căng băng tải lọc quanh tang Nó rất nhỏ (0,31 bar), do
độ bòn cơ học của băng tải và tang quay P càng lớn thì đường kính tang càng
nhỏ Thời gian ép phụ thuộc diện tích tác dụng ép vào tang quay và tốc độ tở của
băng Nước tách rất do ứng suất của bùn khi chuyển qua tang quay và có thể
thay đổi từ mét phía sau đó là phía của “thảm bùn”
Trang 24Hình: Bề lọc ép băng tải , bề mặt tác dụng của máy ép
1.Áp lực P
2 Lực căng T của băng lọc
Ởcác bề lọc ép bùn băng tải, máy ép làm việc trong một khoang hở, lớp bùn nạp kín các
phía, dưới áp suất giúp cho việc truyền tải bùn về phía trước Nếu áp suất quá lớn thì độ
cô kết của thảm bùn bị phá hủ, bùn nhão phun ra bên cạnh ngoài khe hở lọc.áp suất gây
rão bùn đương nhiên phụ thuộc vào cấu trúc vật lý của bùn được tiêu nước Độ khô thu
được trên bộ lọc ép băng tải lớn hơn so với bộ lọc có buồng kín
Có hai khả năng cải thiện nhược điểm này :
Tăng số tang quen và giảm đường kính của tang quay ở cuối chu trình lọc (trong p
hạm vi giới hạn của sức bền cơ học);
Dùng hệ thống ép ngoài độc lập với sức căng của băng tải
Tuy nhiên các thiết bị bổ sung chỉ có thể dùng cho bùn có độ dính kết lớn, ví dụ có sợi
Thực vậy, bùn có nhiều keo không bền với lực nén bổ sung hoặc chỉ cho một tỉ lệ làm
khô nhỏ
Các bộ lọc ép băng tải cũ cho phép nhận các kết quả tốt đối với đa số bùn hữu cơ hay
hyđrôxit, vì nồng độ khô thu được đã gần tới độ khô giới hạn
Ưu điểm của thiết bị lọc băng tải là ít tốn năng lượng, chi phí đầu tư và vận hành thấp, dễ
bảo trì và vận hành Bùn sau khi lọc có hàm lượng ẩm thấp Nhược điểm của thiết bị này
Trang 25là bị hạn chế bởi trở lực thủy lực, cần phải nghiền hỗn hợp nhập liệu, rất nhạy đối với đặc
tính bùn đưa vào thiết bị, thời gian sử dụng vật liệu ngắn, không nên vận hành tự động
Thiết bị lọc băng tải là thiết bị tách nước của bùn, sử dụng áp lực cơ học để xử lý bùn đã
qua xử lý sơ bộ bằng hóa chất Hỗn hợp bùn lỏng được ép giữa hai lớp băng tải chạy qua
các trục ép có đường kính giảm dần Thiết bị gồm có 3 vùng:
+ Vùng nén trọng lực, tại đây, nước thấm qua lỗ rỗng của băng tải nhờ trọng lực
+ Vùng nén ép, tại đây, chất rắn được loại bỏ phần lớn nước tự do trước khi qua
vùng nén áp lực cao
+ Vùng nén áp lực cao, dưới tác dụng của áp lực sử dụng, hầu hết nước được tách
khỏi bùn
Thông thường, bùn đưa vào thiết bị ép băng tải có hàm lượng chất rắn dao động trong
khoảng 14% và sau khi ép thành bánh, hàm lượng chất rắn có thể đạt 1235% Hiệu quả
tách nước phụ thuộc vào bản chất của bùn xử lý
II.2.3 Thiết Bị Lọc Khung Bản
Trang 26
Ưu điểm của thiết bị lọc khung bản là bùn sau xử lý có hàm lượng ẩm thấp nhất và nước
sau lọc có hàm lượng cặn lơ lửng thấp
Nhược điểm của thiết bị này là phải vận hành theo từng mẻ, chi phí thiết bị và nhân công
vận hành cao, chiếm diện tích lớn, đòi hỏi công nhân vận hành và bảo trì kỹ thuật cao,
tiêu tốn hóa chất
Nguyên lý hoạt động
Mô hình thiết bị
Đây là thiết bị lôc áp lực làm việc gián đoạn nghĩa là nhập liệu vào liên tục, nước lọc tháo
ra liên tục nhưng bã được tháo ra chu kì
Nó được cấu tạo chủ yếu là khung và bản Khung giữ vai trò chứa bã lọc và là nơi nhập
huyền phù vào Bản tạo ra bề mặt lọc với các rãnh dẫn nước lọc hoặc là các lỗ lọc
Khung và bản thường được chế tạo dạng hình vuông và phải có sự bịt kín tốt khi gh ép
khung và bản
Khung và bản được xếp liên tiếp nhau trên giá đỡ Giữa khung và bản có vách ngăn lọc
ép chặt khung và bản là vách ngăn lọc Lỗ dẫn huyền phù nhập liệu của khung và bản
được nối liền tạo thành ống dẫn nhô ra để gh ép với hệ thống cấp liệu Nước lọc chảy ra
từ bản qua hệ thống đường ống và láy ra ngoài.Bã được giử lại trên bề mạch vách ngăn
lọc và được chứa trong khung Khi bã trong khung đầy thì dừng quá trình loc để tiến
hành rửa và tháo bã
Trang 27Trong quá trình lọc, chất rắn trong huyền phù được giữ lại nhờ một lớp vật liệu lọc (giấy
lọc hoặc màn bán thấm) Chiều cao lớp chất rắn này tăng theo thởi gian và tạo thành một
lớp bánh lọc có tác dụng như một lớp màng lọc mới làm tăng chất lượng của quá trình
lọc Độ lọc hiệu dụng phụ thuộc vào kích cỡ hạt rắn và chiều cao của lớp bánh lọc Vật
liệu lọc ban đầu có tác dụng giữ và tạo thành bánh lọc Bên trong vật liệu lọc không xảy
ra quá trình tách giữ, có nghĩa là các tiểu phan nhỏ hoặc đươc lưu trên lớp bánh lọc hoặc
được chui qua
Dịch lọc ban đầu không trong suốt vì các tiểu phân nhõ đã chui qua vật liệu lọc Chỉ khi
nào các hạt chất rắn kết tụ lại thành các lỗ rất nhỏ trên vật liệu lọc thì chất lượng lọc mới
tốt được Song ở đây các hạt giữ lại cũng tạo ra một sự cản trở của dòng chảy khi lọc Độ
cản trở tăng theo chiều cao của lớp bánh lọc
Muốn đảm bảo tốc độ lọc nhanh, người ta phải tăng sự trên lệch về áp suất qua màng và
đến một chiều cao bánh loc nhất định nào đó phải ngưng quá trình lọc lại để lấy chất rắn
Trang 28II.3 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ QUÁ TRÌNH LỌC
Trong công nghệ môi trường lọc đóng vai trò quan trọng, vì qua lọc người ta có
thể phân riêng huyền phù ở bất cứdạng nào, cũng có thể dùng để xử lý nước cấp, nước
thải, bùn thải Viêc phân riêng bằng phương pháp lọc sẽ nhanh và triệt để hơn so với
phương pháp lắng Đặc biết đốivới những huyền phù loãng có nồng độ pha rắn dưới 5%,
các hạt rắn có kích thước bé hoặc các hạt nhẹ không kết tủa, không có khả năng lắng, thì
chỉ có thể bằng phương pháp lọc mới tách được Phương pháp lọc được áp dụng nhiều
trong xửlý bùn thải, làm sạch nước, sản xuất Kali, màu, giấy, sợi, sôđa, trong công nghiệp
tuyển quặng, khai thác than và nhiều ngành khác Vì vậy, lọc là quá trình đã được biết
đến từ lâu, song lúc đầu người ta chỉ dùng vách ngăn bằng sỏi cát, gốm sứ, hoặc vải
Ngày nay, kỹ thuật lọc đã được phát triển ở trình độ cao và được áp dụng rộng rãi
Theo tính chất chung của phương pháp lọc, người ta đưa ra định nghĩa về lọc như sau:
“Việc tách hỗn hợp rắnlỏng(huyền phù) thành nước trong và bã nhờ lớp vách ngăn thì
gọi là lọc”
(Hình II.1).Biểu diễn quá trình lọc theo các bước sau đây:
Hình II.1.Quá trình lọc
1 Tạo bã và cho nước trong (nước lọc); 2Rửa bã sơ bộ; 3 Rửa bã triệt để bằng dòng
khí;4Tách bã khỏi vách ngăn; 5Làm sạch vách ngăn
Hình II.1.Quá trình lọc
Trong chu kỳ làm việc, thì bước 2 đến bước 5 sẽ không tạo thành nước trong và gọi là lọc
gián đoạn Nếu quá trình tiến hành liên tục đồng thời từ bước 1 đến bước 5 thì gọi là lọc
Trang 29liên tục Dòng chấtlỏng chảy qua lớp vách ngăn nhờ động lực do sự chênh lệch áp suất
được tạo ra có thể do cột thủy tĩnh áp lực trên bề mặt hoặc chân không ở phía dưới vách
ngăn Dựa vào động lực học người ta phân thành:
Lọc dưới áp suất thủy tĩnh (lọc trọng lực)
Lọc dưới áp lực và lọc chân không
Theo tính chất của sản phẩm mà khi lọc người ta sẽ thu được nước trong hay bã
II.4 PHƯƠNG TRÌNH VI PHÂN CƠ BẢN CỦA QUÁ TRÌNH LỌC
Quá trình lọc được thể hiện qua diễn biến phức tạp của dòng chảy trong môi trường xốp
Nhờ động lực (trọng lực, áp lực hoặc chân không) mà chất lỏng đi qua lớp vách ngăn và
tạo ra lớp bã Sự hình thành lớp bã có độ xốp nhiều hay ít phụ thuộc vào kích cỡ và cấu
tạo hạt rắn và nó trở thành lớp vách ngăn thứ hai Vì vậy, lớp vách ngăn chung cho quá
trình lọc không chỉ có lớp vách ngăn mà còn có lớp bã
Lọc bề mặt là dạng đơn giản nhất của quátrình lọc Với lọc bề mặt, tất cả các hạt rắn
được giữ lại ở vách ngăn, khi kích thước hạt lớn hơn đường kính mao quản Trong nhiều
trường hợp lọc bề mặt gắn liền với lọc sâu Trong thực tế các hạt rắn trong huyền phù có
kích thước nhỏ hơn lỗ mao quản của vách ngăn Tuy nhiên không phải chúng chui qua
được lỗ mao quản mà phần lớn được giữ lại do tính chất bắc cầu giữa các hạt rắn với
nhau, nên các lỗ mao quản bị bé lại và đến một lúc nào đó cả nước trong cũng bị giữ lại
khi toàn bộ mao quản đã bị lấp kín Đây là nguyên nhân của lọc sâu Tính chất thấm ướt
của hạt rắn và vật liệu vách ngăn đóng vai trò quan trọng trong lọc sâu Cơ sở lý thuyết là
tác dụng đồng thời giữa thẩm thấu và hấp phụ
Sự chuyển động của chất lỏng qua lớp vách ngăn có thể biểu thị giống phương trình
Fourier trong dẫn nhiệt:
= ℎ (1) Trong đó: k hằng số lọc;
h cột thủy tĩnh của chất lỏng ở chiều cao z qua lớp vách ngăn;
sự thay đổi cột thủy tĩnh của chất lỏng
Trang 30Vận tốc à chiều cao h là hàm số của z
Vậy theo các hướng chuyển động x, y, z ta có vận tốc thành phần:
Lấy một nguyên tố thể tích với cạnh dx, dy, dz để khảo sát, ta thấy vì dòng chất lỏng có
vận tốc và khối lượng riêng không thay đổi nên lượng chất lỏng đi qua
nguyên tố thể tích cũng thay đổi theo thời gian Dòng chất lỏng chuyển động theo hướng
y qua mặt xOz sẽ có vận tốc = ( , , , ) và khối lượng riêng = ( , , , ) ở
Tương tự ta có lượng chất lỏng đi qua các mặt dxdy và dydz
Vậy lượng chất lỏng thay đổi khi qua các mặt của nguyên tố thể tích là:
∆ = (3 )
Trang 31∆ = ( ) (3 )
∆ = ( ) (3 )
Tổng lượng thay đổi trong nguyên tố thể tích:
Khi dòng chuyển động choán đầy các mao quản lớp lọc (bã và vách ngăn), lượng
chất lỏng chứa trong nguyên tố thể tích là:
= (5)
= ℎể í ℎ ự
ℎể í ℎ ℎ ọ à độ ố
Vì có áp lực của cột chất lỏng lên khối thể tích (lớp bã) mà khối lượng riêng, độ xốp và
kích thước của bã thay đổi theo hướng lọc (ví dụ hướng z) Khi đó lượng lỏng M tương
ứng lực khối lượng:
= ( ) (5 )
Nên lấy đạo hàm theo thời gian ta được:
Trang 32Sự thay đổi kích thước bã tỷ lệ với lực nén lên bã theo hướng z nên :
( ) = − (7) hoặc:
( )
= − (8)
là hệ số nén theo hướng z Dấu trừ (− ) thể hiện giảm dần theo hướng z.Thể
tích của bã tỷ lệ nghịch với độ xốp và được tính:
= (1 − ) = (9) Nghĩa là:
( ) = [(1 − ) ( ) − ] = 0 (10) Rút ra:
1 − =
( ) (11) Kết hợp với phương trình (8) có dạng:
=1 − ( ) = − (1 − ) (12)
Vì có sự cân bằng giữa và áp lực của cột chất lỏng, nên:
+ = à = − (13) Quan hệ giữa khối lượng riêng, kích thước và độ xốp của bã theo áp suất được
biểu thị:
Trang 33khối lượng riêng theo áp suất thường
Trang 34Khi hệ số nén bé, các thừa số , , ≈ 0 kết hợp vớiphương trình (2) và (18) có
dạng:
ℎ+ ℎ+ ℎ = + (19) Thay = ℎ vào ta được:
ℎ+ ℎ+ ℎ = + ℎ (19 ) Phương trình vi phân riêng phần (19)và (19a)mô tả dòng chất lỏng qua lớp lọc
II.5.NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH LỌC
Những đại lượng liên quan đến quá trình lọc là năng suất, độ tách nước và độ
ẩm của bã Những yếu tố cơ bản có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình lọc gồm:
Huyền phù: lượng, kích cỡ, bề mặt, dạng, tính ỳ và độ phân tán của hạt
trong huyền phù; nhiệt độ, độ nhớt, tính điện ly của lỏng (nước); trọng
lượng riêng của nước trong và bã
Vách lọc (gồm vách ngăn và bã): thể tích mao quản, độ lớn mao quản,
dạng mao quản và trở lực dòng
Chênh lệch áp suất: áp suất ở hai phía vách lọc, vận tốc dòng qua vách
lọc, cấu tạo và trở lực lớp bã, dòng chuyển động của chất lỏng
Những yếu tố này độc lập với nhau nhưng có quan hệ tác động lẫn nhau
(Hình II.3) biểu diễn mối quan hệ này
Trang 35Hình II.3 Quan hệ giữa các yếu tố của quá trình lọc
Số vòng quay, độ nhúng sâu và một số yếu tố khác được nêu cụ thể ở những
máy móc riêng, nhưthùng quay, băng tải, v.v…
II.3.1 Ảnh hưởng của lớp bã
Yêu cầu lọc là trong một thời gian ngắn có một lượng lớn huyền phù được
phân riêng thành bã và nước trong, tức năng suất lọc (tính theo huyền phù/ bề
mặt lọc ìthời gian hoặc m3 nước trong/ bề mặt lọc ìthời gian) là lớn nhất
và lượng nước trong và bã được tách triệt để Vận tốc của nước trong tỷ lệ thuận với động
lực và tỷ lệ nghịch với trở lực,tức bằng động lực nhân với khả năng đi qua của nước
trong Trở lực của vách ngăn rất bé so với trở lực của lớp bã, nên trở lực chung của quá
trình lọc tính theo trở lực của bã Do đó, sự hình thành lớp bã và độ xốp của nó rất có ý
nghĩa đối với quá trình lọc Lớp bã càng mỏng và độ xốp càng lớn thì khả năng chảy qua
của chất lỏng càng nhanh Như vậy lớp bã cần thể tích tự do và lượng mao quản lớn
Trang 36Hình II.4 Quan hệ giữa trở lực và chiều dày lớp bã
(Hình II.4)biểu thị sự phụ thuộc của trở lực lớp bã vào chiều dày của nó trong quá trình
lọc huyền phù chứa bụi than có kích thước hạt 0.5ỡm Trở lực tăng nhanh khi bắt đầu
hình thành lớp bã, đến độ dày nào đó trở lực tăng chậm lại và tuyến tính với chiều dày
Vì vậy đểquá trình lọc tốt cần lớp bã có cấu tạo và chiều dày thích hợp để dòng chất lỏng
đi qua dễ dàng, tức lớp bã có trở lực bé nhất
II.3.2 Ảnh hưởng của kích thước hạt rắn (bã)
Giả thiết lớp bã chỉ chứa các hạt rắn có dạng hình cầu cùng kích thước, thì thể tích mao
quản chiếm 26% ở mật độ cao và 48% ở độ xốp cao Kích thước của từng hạt không ảnh
hưởng nhiều đến thể tích mao quản của khối hạt Tuy nhiên dòng chảy của chất lỏng qua
lớp bã phụ thuộc vào kích thước mao quản, nên cũng chịu ảnh hưởng kích thước từng hạt
riêng lẻ Hạt nhỏ tạo ra mao quản nhỏ, nên trở lực lớn và dòng chất lỏng đi qua khó khăn
Mặt khác giả thiết toàn bộ hạt trong lớp bã có cùng kích thước không có trong thực tế
Với các hạt dạng cầu có kích thước bé hơn đường kính mao quản được tạo bởi các hạt
lớn sẽ dễ chui vào mao quản choán mất thể tích tự do Ngoài ra do kích thước hạt khác
nhau dễ tạo khả năng bắc cầu Vì vậy, trở lực lớp bã càng lớn khi kích thước hạt không
đều Lớp bã được tạo do các hạt có kích thước lớn sẽ hình thành mạng mao quản có kích
thước lớn và dòng chất lỏng sẽ đi qua dễ dàng hơn.Mặt khác, ở cùng một độ ẩm lớp bã co
kích thước bé sẽ khô hơn lớp bã có kích thước lớn hơn Vì ẩm được phân bố đều khắp và
tổng bề mặt của hạt lớn bé hơn của hạt nhỏ Từ những điều kiện này mà các lớp bã có
kích thước hạt lớn thì quá trình lọc sẽ thuận lợi hơn