1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế máy in ruban hai màu

103 225 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 2,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay có các máy in lụa bán tự động trên thị trường làm giảm được sức lao động nhưng không thể tránh khỏi công việc liên tục của người thợ in là bóc giấy và cấp giấy.. - In trên máy t

Trang 1

Lời cảm ơn

Trước tiên, chúng em xin gửûi lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy Phan Đình Huấn đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Thầy đã giúp chúng em tháo gỡ những khúc mắc, những vấn đề khó khăn và giảng giải, chỉ dẫn những thiếu sót, nhờ vậy mà đề tài được hoàn thành đúng kế hoạch

Chúng em cảm ơn tất cả thầy cô đã tận tình giảng dạy trong suốt thời gian học tập tại trường

Cảm ơn tất cả bạn bè, gia đình và người thân đã hỗ trợ, động

viên và giúp đỡ chúng em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

Một lần nữa chúng em xin cảm ơn tất cả mọi người đã giúp chúng em hoàn thành tốt luận văn này Chúng em xin kính chúc các thầy cô dồi dào sức khỏe và đạt được nhiều thành tích trong công tác giảng dạy, nghiên cứu

Trong chương trình đào tạo của Trường Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh, sinh viên trước khi ra trường trở thành kỹ sư phải hoàn tất đề tài luận văn tốt nghiệp Theo sự phân công của bộ môn Cơ sở Thiết kế máy – Khoa Cơ Khí Trường Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh, em

được sự hướng dẫn của Thầy PGS.TS Phan Đình Huấn và nhận đề tài luận

văn tốt nghiệp: “Thiết kế máy in ruban hai màu” Do thời gian thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp hạn chế nên khó tránh khỏi những thiếu sót trong tính toán và thiết kế Em mong nhận được sự góp ý quý báo của Quý Thầy, Cô để

em ngày càng hoàn thiện hơn

Tp.HCM, tháng 6 - 2005

SV thực hiện

Nguyễn Hoàng Huy

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Mục lục ii CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ NGÀNH IN 1

1.1 Khái quát về in 1

1.2 Phương pháp in typo 2

1.3.Phương pháp in offset 3

1.4 Phương pháp in helio 5

1.5 Phương pháp in lụa 5

1.6 Phân tích và đánh giá kinh tế – kỹ thuật máy in lụa 6

1.7 So sánh in lụa trong gia công thủ công và gia công bằng máy in 7

CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU PHƯƠNG PHÁP IN LỤA 8

2.1 Lich sử phát triển của cộng nghệ in lụa 8

2.2 Khái niệm về in lụa 9

2.3 Các phương pháp in lụa 10

2.4 Các công cụ của ngành in lụa 10

2.5 Công nghệ chế bản in 12

2.6 Một số loại mực in 15

2.7 Những sai hỏng thường gặp trong in lụa và cách khắc phục 19

2.8 Phạm vi ứng dụng của công nghệ in lụa 22

2.9 In lụa ở nước ta 22

2.10 Kết luận 23

2.7 Giới thiệu một số loại máy in ruban 24

CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH VÀ LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN 33

Trang 3

3.1 Phân tích máy in lụa 33

3.2 Phân tích và lựa chọn hệ thống điều khiển 33

3.3 Phân tích và lựa chọn cơ cấu chấp hành 35

3.3.1 Cụm cấp ruban 35

3.3.2 Cụm in 38

3.3.3 Cụm sấy 44 3.3.4 Cơ cấu thu ruban 45

CHƯƠNG 4: THIẾT KẾ VÀ TÍNH TOÁN KẾT CẤU MÁY IN RUBAN HAI MÀU 48

4.1 Yêu cầu kỹ thuật 48

4.1.1 Yêu cầu của khách hàng 48 4.1.2 Yêu cầu kỹ thuật của máy in ruban 48 4.2 Tính toán bộ truyền đai răng 50

4.3 Tính toán bộ truyền đai thang 54

4.4 Tính toán chọn lựa các xylanh 58

4.4.1 Xylanh truyền động cụm in 58

4.4.2 Xylanh nâng, hạ dao in và dao gạt mực 59

4.5 Tính toán và lựa chọn công suất máy nén khí 61

4.5.1 Chọn áp suất làm việc của máy nén khí 61

4.5.2 Chọn lưư lượng cung cấp của máy nén 61

4.6 Tính toán nhiệt 62 4.7 Tính toán động học máy 63

4.7.1 Tính toán chiều dài đoạn ruban cho mỗi lần in 63

4.7.2 Tính toán hành trình của xylanh truyền động cụm dao in 63 4.7.3Tính toán hành trình của xylanh nâng hạ dao in và dao gạt mực 64 4.8 Lựa chọn các chi tiết máy 64

Trang 4

4.8.1 Cụm cấp và dẫn hướng ruban 65

4.9.1 Chế độ lắp của máy 70

4.9.2 Chế độ lắp cụm cấp ruban 71

4.9.3 Chế độ lắp cụm kẹp – kéo ruban 71

CHƯƠNG 5: THIẾT KẾ HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN 72

5.1.3 Điều khiển động cơ quạt thổi bộ phận sấy 75

5.2 Hệ thống điều khiển khí nén máy in ruban hai màu 76

CHƯƠNG 6: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG 82

6.1 An toàn và môi trường lao động trong ngành in 82

CHƯƠNG 7: KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI 96

Trang 5

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ NGÀNH IN

1.1 Khái quát về in

In là quá trình chuyển hình ảnh, chữ, ký hiệu, các dấu, từ bề mặt khuôn in có phủ mực sang bề mặt của vật liệu in (giấy, vải, thiếc, PE, ) nhờ áp lực để nhận được nhiều tờ in giống nhau Trong nhiều thập kỷ qua, từ chiếc máy in đầu tiên ra đời đến ngày nay cơ chế in vẫn không thay đổi Đó là phải chế tạo được một bản in mẫu , rồi từ bản mẫu đó được sao chép nhiều lần, ta sẽ được các bản in giống nhau Phần thể hiện cơ bản là mực in và phần phôi gia công vẫn là giấy Tuy nhiên, do cấu tạo bề mặt của khuôn

in và do cách nhận mực của khuôn in, người ta phân biệt thành 3 phương pháp in đặc trưng la ø:

- In Typo (in cao)

- In Offset (in phẳng)

- In Helio (in lõm)

Ngoài ra người ta còn đề cập thêm phương pháp in thứ tư nữa là in lưới, nhưng thực ra phương pháp chế bản không khác với in offset ; vẫn là in phẳng Ngoài những phương pháp in trên, ta còn thấy thêm những phương pháp in khác như : con mộc, in Roneo, Flexo, tĩnh điện, Tampo, Laser, Căn cứ vào cách chuyển mực lên bề mặt vật liệu in ta phân biệt thành

in trực tiếp và in gián tiếp:

- In trực tiếp là hình ảnh từ khuôn in được truyền thẳng sang bề mặt của vật liệu in Do đó, khi chế tạo khuôn in phải ngược chiều với bản mẫu và cấu tạo của máy cũng phải để lực ép trực tiếp lên khuôn in và vật liệu in In Typo, Helio, in lụa, Flexo đều là in trực tiếp

-In gián tiếp là tờ in không nhận mực trực tiếp từ khuôn in mà nhận gián tiếp qua bản cao su trung gian Do đó khi chế tạo khuôn in phải đồng

Trang 6

chiều với bản mẫu và chế tạo máy phải thêm ống trung gian In offset là in

gián tiếp

1.2 Phương pháp in Typo

Phương pháp in Typo do Gutemberg phát minh ra, vì chữ in được đúc ra

từ các ống type (Typographie) cho nên gọi là Typo Cấu tạo của khuôn in

gồm hai thành phần : phần tử in (chữ, hình ảnh, ) và phần tử để trắng

Phần tử để in nằm cao hơn phần tử để trắng và cùng nằm trên một mặt

phẳng , do đó trong quá trình in phần tử in nhận được mực Còn phần tử để

trắng nằm thấp hơn nên không nhận được mực

Ngày nay, phương pháp in Typo không còn thông dụng , một vài nơi

còn sử dụng để in số nhảy, in một vài tài liệu đen trắng với số lượng nhỏ

Sau đây là sơ đồ quy trình công nghệ in Typo

Công tác chuẩn bị

Đóng khuôn lên máy

Đưa giấy vào máy Bọc ống Dàn khuôn in

Lấy tay kê

Tán mực

In thử Dán ống

Trang 7

1.3 Phương pháp in Offset:

Phương pháp in Offset xuất hiện muộn hơn Typo và Helio khoảng 350 năm , nhưng nó lại trở thành phương pháp in thông dụng và phổ biến nhất ở hầu hết các nước Ở Việt Nam cũng thế, sản phẩm in bằng offset chiếm trên 80%

Khác với khuôn in Typo, các phần tử để in và các phần tử để trắng cùng nằm trên một mặt phẳng Khuôn in được cấu tạo theo nguyên tắc bắt – đẩy , tức là dựa vào tính thẩm thấu có lựa chọn do tác động lý – hóa khác nhau, những phần tử để trắng chỉ bắt nước đẩy mực và ngược lại các phần tử để in bắt mực , đẩy nước

Trong quá trình in , bản in lần lượt tiếp xúc với lô nước và lô mực Dung dịch làm ẩm ở máng nước sẽ được lô nước phủ lên các phần tử không

in và ngăn không cho mực thấm vào Các phần tử in nhận được mực rồi truyền qua ống cao su trung gian và từ đó chuyển sang bề mặt tờ in

In offset cho độ phân giải cao nhất hiện nay , màu sắc và chất lượng hình ảnh rất đẹp Khâu chế bảng in đơn giản và in được nhiều sản phẩm do dễ dàng tự động hóa Tuy nhiên , các máy công cụ tham gia vào việc chế bản thì rất tốn kém và phải bảo trì cao , vì ưu tính của loại in này và nhu cầu bức thiết của nó mà nhà in phải có sức đầu tư lớn Một sự hỏng hóc nhỏ trong quá trình in có thể gây nhiều tổn thất nghiêm trọng liên quan kéo theo như hụt vốn đầu tư hoặc “một ngày không có báo chí”,

Quy trình công nghệ và các công đoạn của quá trình in offset được biểu thị bằng sơ đồ tóm tắt sau đây:

Trang 8

Công tác chuẩn bị

Lắp và định vị vật liệu in

Điều chỉnh lượng mực Điều chỉnh áp lực dao gạt

Trang 9

1.4 Phương pháp in Helio (in lõm)

Phương pháp in này còn gọi là in ống đồng , vì ống khuôn in được phủ lớp đồng Khuôn in ống đồng có cấu trúc khác hẳn khuôn in Typo và Offset Các phần tử để in được khắc sâu và nằm dưới bề mặt bản in , chúng nằm trên nhiều mặt phẳng khác nhau vì độ nông , sâu khác nhau , trong lúc đó các phần tử để trắng nằm trên cùng mặt phẳng vì có độ cao bằng nhau Trong quá trình in , mực sẽ phủ kín toàn bộ bề mặt khuôn in Nhờ một dao gạt mực quét ngang để gạt hết mực ra khỏi các phần tử để trắng , chỉ còn lại trong các “hố” của phần tử in Độ nông , sâu của các phần tử in phụ thuộc vào độ lợt , đậm của bản mẫu Do độ nông , sâu khác nhau ở phần tử in , nên tờ in có những bộ phận mang lớp mực mỏng , dày khác nhau

Ở Việt Nam , Công ty Khoa học và Sản xuất in Thành phố Hồ Chí Minh có hệ thống in ống đồng hiện đại , nhưng do giá làm khuôn và mực chuyên dùng cao nên chưa thể in sách , báo , tranh ảnh Hiện chỉ sử dụng in bao bì mì ăn liền , in nhãn trên màng nhựa

1.5 Phương pháp in lụa

In lụa gồm những chuyển động phức tạp , khó nhất là khâu cấp và lấy giấy , khâu mở khung và đóng khung in xong phải quét mực Quá trình phức tạp và khó nhất là di chuyển được tờ giấy Công việc muốn nhanh và gọn đòi hỏi phải có hai nhân công Nếu một nhân công làm việc in thì trở nên phức tạp và tốn nhiều thời gian vì trước hết người in lúc nào tay cũng bị vây mực in , gây khó khăn trong phần lấy giấy mới khi in xong Vì vậy cần phải có máy móc để hổ trợ cho công việc in Hiện nay có các máy in lụa bán tự động trên thị trường làm giảm được sức lao động nhưng không thể tránh khỏi công việc liên tục của người thợ in là bóc giấy và cấp giấy Một công việc liên tục và nhanh sẽ gây ức chế tâm lý cho người thợ in khi in quá nhiều nhằm mục đích phải đạt năng suất đã đặt ra Do đó nếu có máy in lụa

Trang 10

tự động sẽ giải phóng được sức lao động và chi phí kinh tế cho con người và xã hội

1.6 Phân tích và đánh giá kinh tế – kỹ thuật máy in lụa

Mục tiêu của ngành cơ khí là chế tạo ra máy móc thay thế những công việc của con người , nâng cao tính năng của sản phẩm cũng như đạt được số lượng sản phẩm cao , chất lượng đồng đều Từ đó hạ thấp được giá bán sản phẩm , cạnh tranh được trên thị trường về mẫu mã và chất lượng Khi đã đạt doanh thu bình quân , các nhà kỹ thuật sẽ nâng cao tính năng của máy móc để ngày càng hoàn thiện hơn về sản phẩm cũng như mang lại lợi nhuận

cho các nhà đầu tư , đồng thơi nâng cao được mức sống của xã hội

Mục tiêu kỹ thuật ở đây không đánh trên sức mua và sức bán Những nhà kỹ thuật chỉ nhận biết các thông tin về kinh tế, các thông tin về lao động Từ đó biết được thị trường đang cần loại máy móc nào , phân tích đánh giá về tiềm năng kinh tế mà máy móc sẽ mang lại Nếu thấy có khả năng sinh lợi thì tiến hành ngay công việc chế tạo máy móc và thiết bị Ngoài ra kỹ thuật còn mang lại những thành quả lao động về trí óc , không những chỉ là kinh tế xã hội mà còn cạnh tranh trên cả phương pháp kỹ thuật Có thể là cùng chung trên một loại máy có chức năng như nhau nhưng về giá cả của máy thì khác nhau lúc đó thì người mua máy sẽ chọn loại máy nào rẻ hơn Công nghệ kỹ thuật nào cao hơn sẽ cho ra những sản phẩm máy móc tốt hơn Máy có những tính năng kỹ thuật mà chưa có máy nào có thì sẽ được bảo quản kỹ thuật đến lúc chính mùi mới cạnh tranh Mặt khác nó cũng đánh giá được tiềm lực về chất xám của mỗi quốc gia

1.7 So sánh in lụa trong gia công thủ công và gia công bằng máy in

Trong gia công thủ công để công việc in đạt được năng suất thì cần có hai nhân công

Trang 11

- In thủ công có lợi điểm là người in sẽ kiểm soát liên tục quá trình in nên các sai sót do mòn cọ quét mực , giấy hỏng và bản in bị hỏng thì dễ dàng phát hiện và sửa chữa kịp thời

- In trên máy thì các công việc trên trở nên khó khăn hơn vì phải ngưng máy và sau khi sửa xong phải gá đặt để định vị trí của khung lụa Tuy vậy,

in liên tục trên máy nếu không có sai sót thì chất lượng sản phẩm in đồng đều hơn , không mất quá nhiều sức lao động , không làm người lao động bị ức chế trong công việc Người đứng máy in thì không cần biết nhiều về công nghệ in Điều này có lợi mọi mặt về giá trị kinh tế

Trong in thủ công , người chủ kinh doanh phải trả lương cho 2 nhân công in Ngoài ra các nhu cầu riêng của công nhân cũng phải được đặt ra về chế độ in , chất lượng sản phẩm , năng suất làm việc Khi in trên máy các nhu cầu đó không phải là điều cân nhắc kỹ lưỡng vì chế độ máy in ổn định và chỉ trả lương cho một nhân công , người công nhân này không cần có kỹ thuật in lụa cao và điều quan trọng là không có thời gian chết do ngừng nghỉ trong công đoạn xếp giấy để phơi , năng suất in ra cao hơn

Trang 12

CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU PHƯƠNG PHÁP IN LỤA

2.1 Lịch sử phát triển của công nghệ in lụa

Nguồn gốc của in lụa đơn giản chỉ là kỹ thuật tô bằng khuôn tô (có tên tiếng Anh là stencilling) Vào thời nhà Thanh, người Trung hoa sáng chế ra

cách in bằng “màn lưới” tức

in lụa bây giờ Họ lấy một thanh đồng nung nóng, đập cán cho thật phẳng và mỏng khoảng 2-3 mm, họ khéo léo

“trổ” những chữ hay hình (theo bản mẫu) để cho mực có thể xuyên qua bên dưới, gọi là cái “rập”, lấy mực đậm phết lên chỗ “trổ”, mực thấm xuống phía dưới dính vào tấm giấy “bích chương”, xong tấm này làm tấm khác và cứ thế từng tấm nhân lên kết quả năng suất cao hơn vẽ tay gấp mấy chục lần Với kĩ thuật này vào thời kỳ đó có ý nghĩa rất lớn

Đến năm 1885, kỹ thuật “in lụa” bắt đầu lan truyền sang Châu Âu : Anh, Pháp, Đức,Thụy Sĩ Họ cải tiến từ cách “đóng khung gỗ” cho chắc và không

bị cong vênh, cách “căng lụa” cho thật thẳng, cách gắn “bản lề” khung lụa lên bàn in, nhất là cách làm chế bản in cho bền chắc và sắc nét v.v…

Kỹ thuật in lụa hiện đại bắt nguồn từ những patent của Samuel Simon được đăng ký vào đầu những năm 1900 ở Anh Ý tưởng này đã đựơc thực hiện bởi John Pilsworth ở San Francisco, California năm 1914 Ông đã sử dụng kỹ thuật in này để tạo các bản in nhiều màu như kỹ thuật in ngày nay

Hình 2.1: Hình ảnh khuôn tô (stencil) cơ bản

Trang 13

Kỹ thuật in lụa phát triển mạnh trong suốt chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) trong các ngành công nghiệp in cờ và các biểu ngữ Việc sử dụng giấy nén để tạo bản ở thời điểm này làm cho quá trình in lụa trở nên linh hoạt và phát triển rộng rãi Vì tính hữu dụng của lụa trong chiến tranh cho nên nó không được sử dụng trong quá trình in lụa Kể từ đó kỹ thuật in lụa dùng vật liệu polyeste cho màn lưới

Năm 1945, kỹ thuật in lụa bắt đầu có những nghiên cứu chuyên sâu Thụy Sĩ chế tạo và sản xuất “lụa” (hiệu Monyl, Nybolt), Anh và Đức chế tạo và sản xuất các loại mực in chuyên dùng cho ngành in lụa Mỹ nổi tiếng với các loại phim làm chế bản in Pháp thì rất thành công về màu vẽ và nhủ tương làm chế bản in thủ công, in bông trên vải sợi, tơ lụa Ở Châu Âu, Châu Mỹ xuất hiện các loại máy in lụa tự động, in trên các dây chuyền sản xuất hàng loạt cho năng suất và chất lượng cao

2.2 Khái niệm về in lụa

In lụa (in phẳng), là một trong những phương pháp in đang được áp dụng rộng rãi Thiết bị có cấu trúc đơn giản, mực được kéo trực tiếp lên khung lụa và lọt qua các lỗ trống để truyền mực lên giấy Khuôn in là một khung gỗ hay thép được căng một tấm lụa có phủ màng hóa chất đã được phơi hình ảnh và ăn mòn tạo thành một bản in các phần tử để trắng được che kín, chỉ có các phần tử in mới cho mực thấm xuống mặt vật liệu in Đây là phương pháp in rất thông dụng, có thể in trên các loại vật liệu như giấy, vải, gỗ, thủy tinh, kim loại, cao su,

Mặc dù in lụa cho đường nét sắc xảo, độ phân giải kém hơn so với in offset nhưng nói về phương pháp và công nghệ thì in lụa rẻ hơn nhiều so với

in offset Trong in lụa, bảng in có thể chế tạo lại nhiều lần mà không cần thay đổi khung lụa, đây là điểm lợi nhất trong in lụa Ngoài ra trong in lụa còn có

Trang 14

loại in Ruban là loại in trên băng vải, loại này có thể tự động hóa dễ dàng vì nó có loại phôi dài Mục tiêu ở đây là tự động hóa máy in lụa để giảm được sức nhân công và giảm được chi phí cho ngành in

Để thực hiện được quá trình in lụa cần có khuôn in, bàn in, dao gạt mực, các vật liệu, dung môi để pha chế mực và xử lý sản phẩm sau khi in

2.3 Các phương pháp in lụa

Hiện nay in lụa có thể thực hiện bằng các phương pháp sau đây:

- In trên bàn in thủ công

- In trên máy bán tự động

- In trên máy tự động

2.4 Các công cụ của ngành in lụa

-Khung của khuôn in lụa có khổ nhất định và hợp lý, phổ biến làm bằng gỗ vì ít phức tạp và giá thành rẻ Gỗ làm khung phải khô, nhẹ, không cong vênh khi sấy khô, không trương nở khi bị ẩm ướt, có thể như gỗ mỡ, gỗ de, gỗ thông, gỗ dỗi

-Lưới in là thành phần quan trọng nhất, có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng khuôn in và chất lượng sản phẩm Lưới có thể làm từ tơ tằm, sợi polyamit, sợi polyeste, sợi kim loại Mỗi loại vật liệu in và sản phẩm in có những thông số kỹ thuật của lưới in khác nhau In trên giấy cần lưới mịn hơn khi in trên vải

-Bàn in có độ cao phải thích hợp, thường cao khoảng 70 – 80 cm Độ dài và rộng tùy thuộc vào mức độ cần thiết và mặt bằng Bàn in phải thật phẳng, không được lồi lõm Vật liệu làm bàn in tốt nhất là kính

-Khung bàn in là nơi đặt toàn bộ mặt bàn và các thiết bị phụ trợ, vì vậy phải được thiết kế vững chắc, bằng phẳng Khung bàn in thường làm bằng thép

Trang 15

-Dao gạt mực là công cụ để đẩy, phết mực, làm cho mực thấm qua lưới

in, chuyển hình ảnh, chữ lên mặt vật liệu in Vật liệu để làm dao gạt có: lưỡi dao cao su, thân gỗ hay kim loại; cốt gỗ hay kim loại phủ cao su; chất dẻo -Mực dùng trong in lụa được chia thành hai loại: hòa tan trong nước (có mực in trực tiếp, mực axit, mực hoạt tính, mực bazơ – cation) và không hòa tan trong nước ( có mực hoàn nguyên không tan, hoàn nguyên tan, mực lưu huỳnh, mực phân tán, mực pichmăng, mực azo không tan)

-Keo sử dụng trong in lụa gồm có các loại như: keo ưa nước, keo từ este xenluloza, keo rong biển, keo nhựa cây, hồ silicat, hồ tổng hợp, hồ nhủ tương Tùy theo từng loại bột màu của mực in mà sử dụng keo hay hồ Đây là thành phần quan trọng trong thành phần mực in

-Các loại hóa chất thích hợp dùng trong in lụa như xăng, dầu, xà bông, dung môi và các loại dầu có hoạt tính cao “thường được gọi là dầu Ông già” là loại dầu rất cần thiết cho in lụa

-Thước kéo dùng để thoa keo trên mặt lụa

-Đèn chụp bảng

-Phim in là loại bản in mẫu

-Vật nặng có khối lượng lớn hơn 5 kg dùng để ép khung lụa trong quá trình chụp bảng

-Các loại tấm mica mỏng dùng để làm cố định giấy trong quá trình in -Ngoài ra còn các loại dụng cụ thủ công khác như: dao lam, kéo, băng keo,

2.5 Công nghệ chế bản in

Công nghệ chế bản in là một qui trình gồm nhiều bứơc : khuấy keo , pha keo , tráng keo , sấy khô , chụp phim , rửa phim ,sấy khô , touch bản

Trang 16

Khuấy keo : đây là công vịêc đầu tiên của việc chế bản in Keo mua về ở dạng bột mịn , loại keo tổng hợp này có thể tan trong nước Keo được pha với nước theo tỉ lệ thích hợp ở nhiệt độ sôi và được chưng cách thuỷ để giảm tổn hao do keo dính vào đồ chứa Keo phải được khuấy thật đều , hoà tan hết và có độ đậm đặc nhất định để đảm bảo sự đồng đều khi tráng bản Pha keo : keo sau khi được khuấy đều và để nguội được trộn với bột cảm quang theo tỉ lệ nhất định và khuấy đều để đảm bảo bột cảm quang tan hết trong keo Tỷ lệ bột cảm quang trong keo không được quá nhỏ và cũng không quá lớn , vì nếu tỷ lệ nhỏ thì keo bị non nên thời gian bắt sáng chậm nên thời gian chụp phim lâu Còn nế tỷ lệ này cao thì keo già thời gian chụp phim quá ngắn không kịp xử lý trong rửa bản và sấy bản Quá trình này phải được thực hiện trong bóng tối vì keo

cảm quang rất nhạy với ánh sáng sẽ

làm hỏng keo

Tráng keo : đây là công việc

đòi hỏi tay nghề của công nhân và độ

khéo léo Bản sau khi rửa sạch và để

khô được tráng phủ một lớp keo cảm

quang ở cả hai mặt vừa có diện tích

đủ để chụp phim Keo phải được tráng một

cách đều đặn trên bản , lớp này phải có độ dày

thích hợp vì nó ảnh hưởng đến thời gian chụp

phim và dộ sắc nét của bản sau khi chụp

Sấy khô: sau khi được phủ một lớp keo cảm quang bản cần được sấy khô trước khi chụp phim Khi sấy cần chú ý sấy khô đều hết diện tích keo đã tráng và cần chú ý để không làm cháy bảng

Hình 2.2 Luới in lụa

Trang 17

Chụp phim : đây là khâu rất quang trọng trong quá trình chế bản Có nhiều phương pháp chụp phim , các phương pháp này khác nhau ở chỗ sử dụng nguồn sáng khi chụp Chúng ta có thể chụp phim bằng ánh sáng của đèn hồ quang , đèn halogen hay có thể chụp phim bằng ánh sáng mặt trời Phim được đặt phía trước bản (gần nguồn sáng hơn) và mặt phải (mặt nhìn được hình ảnh của phim bình thường) quay về phía bản in , khi chụp ta cần một màng đen để không cho ánh sáng truyền qua bản và cần bảo đảm phim và bản in tiếp xúc đều với nhau để không làm đứt khúc các đường nét Khi chụp phim cần chú ý thời gian chụp , thông thường thời gian này được tính bằng giây (khoảng chừng vài chục giây tới vài phút )

Rửa phim : đây là khâu vô cùng quan trọng trong việc chế bản , nó đòi hỏi tay nghề và kinh nghiệm của công nhân Sau khi chụp phim xong , bản cần được rửa một cách nhanh chóng trước khi sấy khô bản Để rửa phim ta xối nước lạnh vào hai mặt bản rồi rửa sạch lớp keo ở mặt dưới (mặt trong của bản ) , vì keo này hoà tan trong nước nên dễ dàng bị trôi đi Thời gian rửa phim rất ngắn càng nhanh càng tốt , phải thực hiện không quá 20 giây

Sấy bản: đây cũng là một khâu vô cùng quang trọng và nó đòi hỏi thao tác phải nhanh nhẹn Sau khi rửa xong bản cần được giũ và lao sạch cho hết nước (chỉ được phép lao mặt trong của bản ) Khi sấy ta cần chú ý sấy khô đều hết các đường nét trên bản để không làm nhoè chúng Thời gian sấy chỉ được thực hiện trong vòng vài chục giây nếu không các đường nét sẽ bị nhoè

đi do keo giãn nở

Touch bản : đây là công đoạn cuối cùng của việc chế bản , nó không đòi hỏi thao tác nhanh nhưng nó đòi hỏi sự tỉ mỉ của công nhân Sau khi được sấy khô bản được đem ra ngoài sáng để có thể sửa chữa các hư hỏng của bản

Ta dùng keo để dán bít các lỗ thủng li ti trên bản và tráng keo những chổ còn

Trang 18

lại trên bản Sau khi tráng keo ta để cho bảng khô tự nhiên hay sấy khô lớp keo là có thể sử dụng

Khi đã chuẩn bị xong bản in người in sẽ chuẩn bị các khâu còn lại như mực giấy in và cách định vị

giấy

Bàn in sẽ được kẹp chặt

trên khớp bản lề của bàn in,

giấy được để dưới bàn in

Giấy được đặt trong các định

vị đã được rà gá

Mực in được đổ vào

khung in với lượng vừa đủ

Quá trình in có các công đoạn liên tục nhất

định Quét mực – mở khung (nhờ khớp bản lề) – lấy giấy ra – cấp giấy chưa

in vào – hạ khung lụa – quét mực -

Hình 2.3 chuẩn bị in

Trang 19

2.6 Một số loại mực in

Mỗi loại vật liệu khác nhau thì chúng ta dùng một loại mực in

Trang 20

Quá trình sấy khô mực: Sấy khô mực bằng cách làm bay hơi các dung

môi có trong mực Có thể phơi khô ngoài trời trong khoảng từ 20 – 30 phút hoặc sấy bằng buồng sấy trong vài giây

b)Mực in decal

Các loại mực này dùng để in các sản phẩm decal làm bằng các loại vật liệu: cao su, polycacbonate, melamine plastic, da, vật liệu phủ bề mặt bằng polyeste…Các loại mực này thường nằm trong dãy 9600 (Bảng 2)

Bảng 2 :

Trang 21

* Quá trình sấy khô mực: Có thể làm khô mực ở nhiệt độ phòng trong

khoảng từ 20-40 phút hoặc sấy cưỡng bức ở nhiệt độ 90-1500F trong vòng vài giây

c)Mực in sử dụng trong quá trình in các ống bằng sợi tồng hợp và các bình chứa được phủ bên ngoài bởi lớp polyetylen

Các loại mực in này thường nằm trong dáy 6100 (Bảng 3)

Bảng 3:

* Quá trình sấy khô mực: Có thể phơi khô mực ngoài trời trong khoảng từ

30 – 60 phút hoặc sấy cưỡng bức ở nhiệt độ 1800F

Trang 22

d)Mực in sử dụng trong quá trình in các sản phẩm bằng vật liệu styren, ABS, actate, A.C.B, các phim nhạy sáng, acrylic, bề mặt kim loại, …

Các loại mực này thường nằm trong dãy 9700 (Bảng 4)

Bảng 4:

* Quá trình sấy khô mực: Có thể làm khô mực ở nhiệt độ phòng trong

khoảng từ 15-20 phút hoặc sấy cưỡng bức ở nhiệt độ 90 – 1700F trong vòng

vài giây

e) Mực in dùng để in lên các vật liệu làm bằng sợi cô tông, các túi phao

đi biển, áo sơ mi, bản hiệu, rubăng…Mực in loại này được trình bày trên Bảng 5:

Bảng 5:

* Quá trình sấy khô mực: Có thể làm khô

mực ở nhiệt độ phòng từ 6 – 8 h

f) Mực in dùng để in các loại vải bằng

sợi tự nhiên và sợi tổng hợp, nilông…

Một số chủng loại của mực in này:

Bảng 6:

Trang 23

* Qúa trình sấy khô mực: Phơi khô suốt đêm và lưu hóa khoảng 7 ngày

hoặc lưu hoá nhiệt ở nhiệt độ 300-3500C trong vòng 7 – 10 phút

2.7 Những sai hỏng thường gặp trong in lụa và cách khắc phục

TT Dạng hư hỏng Nguyên nhân Cách khắc phục

1 Bít lưới

-Mực in bị quánh lại do in chậm hay nghỉ lâu, dung môi bay hơi quá lâu

-Rửa khuôn lưới không sạch

- Thêm dung môi vào mực

in

-Dùng bông thấm dung dịch cồn toluen (1:1) lau nhiều lần cho thông lưới

- Lưới quá thưa

-Điều chỉnh độ nhớt của mực in

-Thay lưới dày hơn

-Lượng mực dư bám ở mặt

-Kiểm tra chất lượng mực

in, điều chỉnh độ nhớt -Dùng đúng loại mực in thích hợp

-Thỉnh thoảng phải lau

Trang 24

dưới lưới in làm lem hình lượng mực dư bám ở mặt

dưới của lưới

6 Mực loang bẩn

trên vật liệu in

-Vật liệu (giấy, nylon, ) hút mực không tốt

-Bề mặt vật liệu quá láng, định vị vật liệu trên bàn in không tốt

-Vật liệu bị nhăn, gấp không cẩn thận khi lấy vật liệu mới in ra khỏi bàn in -Mực xuống quá nhiều (mực loãng)

-In chồng quá nhiều màu

-Sử dụng loại mực mau khô

-Định vị vật liệu in cho cẩn thận, nhẹ nhàng

-Lấy vật liệu in ra khỏi bàn in một cách cẩn thận

-Điều chỉnh lại độ nhớt của mực hoặc thay lưới in có mật độ lớn hơn

-Khi chụp tách màu phải chú ý kỹ thuật giảm màu hồng

7

Có chấm màu

dây bẩn trên

sản phẩm

Màng keo tráng trên bề mặt lưới bị xước do va chạm hay bị rỗ do đã sử dụng lâu ngày

Dùng dung dịch cảm quang touche lại những chổ bị xước hay rỗ

-Điều chỉnh lại thời gian phơi

-Sau khi phơi, rửa thật cẩn thận, nhẹ nhàng và không rửa quá lâu

-Sửa lại bản vẽ hay phim cho thật rõ ràng các đường nét đậm, đen

-Sửa lại khuôn lưới

-Điều chỉnh độ căng của bộ lưới in cho đồng đều -Sửa lại bản vẽ hay phim cho rõ ràng

Trang 25

-Điều chỉnh độ nhớt của mực in

11 Vật liệu in

không bắt mực

-Lần in sau cách lần in trước quá lâu, mực đã bị khô

-Lần in trước đã sử dụng quá nhiều chất làm khô làm cho mực bị chay cứng

- In nhiều màu

-Thứ tự in màu không đúng

-Nên tính toán, pha chế mực vừa đủ cho mỗi lần sử dụng

-Không pha quá nhiều chất làm khô

-Khi in nhiều màu, nên bố trí để thời gian chờ giữa các màu không lâu

-Thay đổi thứ tự màu in

-Làm loãng bớt mực in -Sau khi thử cả hai cách trên mà vẫn không được thì phải thay loại giấy khác

13

Mực in thấm

xuyên qua mặt

sau của giấy

-Giấy quá xốp -Mực in quá loãng

-Tráng lên giấy một lớp vecni

-Dùng mực ít loãng hơn -Đổi giấy khác

Trang 26

2.8 Phạm vi ứng dụng của công nghệ in lụa

-In lụa là một công nghệ đơn giản, cần ít vốn, dễ thực hiện

-Công nghệ in lụa có tính đa năng cao:

-In được hàng trăm chất liệu khác nhau như: giấy, carton, các kim loại đồng, thau, nhôm, sắt, thép, inox, sành sứ, gốm, thuỷ tinh, vải sợi, tơ lụa, da simili, cao su, gỗ, mica, nhựa, plastic v.v

-In được hàng ngàn loại sản phẩm khác nhau như: danh thiếp, thiệp cưới, bao bì lớn nhỏ, thùng nhựa, quần jean, áo pull, túi nylon, túi shop, túi du lịch, giỏ xách, cặp học sinh, ba lô, vali, áo mưa, yên xe, bóp, ví đầm, bìa sách, lịch, khăn lạnh

2.9 In lụa ở nước ta

Đầu thập niên 50, ông Phạm Đạt Tiết (1913 – 1962) - một kỹ sư cơ khí

yêu nghề in lụa từ Pháp trở về Việt Nam - mang những công nghệ mới về in lụa của Pháp về mở xưởng in bông ở số 41 đường Võ Tánh, quận nhì (nay là Nguyễn Trãi, quận 1) chuyên gia công in bông cho nhiều hãng dệt vải khắp Sài Gòn – Chợ Lớn

Bên cạnh đó ông đã đào tạo được một thế hệ chuyên viên in lụa nối nghiệp sau khi ông mất Ông là người đã khai sáng nên ngành in lụa ở Việt Nam

Ngành in lụa của chúng ta được hình thành từ 1950, mãi đến thập niên 60 mới gọi là “biết in lụa”, các mặt hàng in bông trên vải sợi tơ lụa và các mặt hàng quảng cáo mới được mọi người quan tâm Lúc bấy giờ, so với các nước trong khu vực Đông Nam Á, thấy bước tiến của mình quá chậm chạp Nhất là đối với Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, nhưng vẫn còn hơn một số nước láng giềng Đông Dương, kể cả Thái Lan, Malaysia, Indonésia

Trang 27

Đầu thập niên 70, ngành in lụa ở Việt Nam mới có chiều hướng tiến bộ, nhưng phát triển chưa mạnh vì trình độ kỹ thuật in lụa chưa cao, số người in lụa chưa nhiều, chuyên viên in lụa còn quá ít Máy móc chưa có, chủ yếu dùng phương pháp thủ công nên năng suất cũng như chất lượng không cao Đến đầu thập niên 90, thời kinh tế thị trường mở rộng, ngành in lụa bắt đầu phát triển mạnh, các nước phát triển đầu tư vào Việt Nam, các sản phẩm phục vụ ngành in lụa ngày càng đa dạng, phong phú Đồng thời, các máy móc phục vụ ngành in lụa cũng ra đời Phần lớn các loại máy này được nhập về từ các nước có ngành in lụa phát triển như Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Thụy Sĩ Ở Việt Nam rất ít nơi sản xuất máy phục vụ cho ngành in lụa nên đây là một thị trường đầy tiềm năng và mới mẻ

2 10 Kết luận

In lụa là dạng in thủ công, tất cả các công đoạn in đều đòi hỏi tay nghề thợ in phải có kinh nghiệm và điêu luyện Nhưng tất cả các công đoạn gia công đều rất rẻ tiền nên được tồn tại đến ngày nay Vậy nếu có máy in sẽ có lợi về nhân công cũng như giá trị ổn định về chất lượng của sản phẩm in Còn hơn thế nữa nếu máy in được tự động hóa sẽ giảm được nhiều chi phí về nhân công cũng như có thêm lợi nhuận về giá trị kinh tế Người công nhân sẽ không phải bị áp lực về công việc liên tục do phải làm một động tác trong nhiều giờ liền Do đó, nếu tự động hóa hoàn toàn được máy in lụa thì rất có lợi về kinh tế cho các hộ kinh doanh nói riêng và kinh tế xã hội nói chung, mang nhiều lợi ích cho nước nhà

Vậy máy in lụa tự động là một sản phẩm kỹ thuật có giá trị kinh tế, cần có trong ngành kỹ thuật in Khi áp dụng rộng rải máy in lụa tự động thì các trang giấy in sẽ có chất lượng đồng đều hơn, giảm thấp các chi phí về nhân

Trang 28

công, người thợ điều khiển máy in không cần có tay nghề in lụa cao, mang lại giá trị lợi nhuận cao trong cơ cấu kinh tế ngành in

2.11 Giới thiệu một số máy in ruban (in cuộn)

Máy in cuộn dùng để in trên các sản phẩm dạng cuộn như: ny lông, giấy, Máy in này có thể in một hoặc nhiều màu khác nhau

2.11.1Máy in ru băng kiểu băng tải được truyền động bằng động cơ bước

a).Nguyên lý hoạt động

Các cuộn rubăng được dán lên một băng tải đai Băng tải đai này được truyền động bởi một động cơ bước đặt ở cuối hành trình của máy Cuộn rubăng trước khi đi vào trạm in số 1 sẽ được dán lên băng tải thông qua một cơ cấu dán keo

Khi đi vào mỗi trạm in, trước khi in băng tải sẽ được giữ cố định bằng hệ thống hút chân không và ru băng được giữ cố định với băng tải thông qua keo dán

Ở cụm đầu in số 1,vị trí của khung lụa là cố định tại đó cuộn

rubăng được in màu đầu tiên

Sau đó cuộn ru băng được sấy bằng tia cực tím (UV)

Ở cụm đầu in số 2, khi cuộn rubăng đi tới thì người ta điều chỉnh vị trí của khung lụa trên bàn in số 2 sao cho đảm bảo chồng màu thứ 2 chính xác lên cuộn ru băng

Cuối cùng cuộn ru băng được sấy bằng tia cực tím và được đưa ra bên ngoài

Trang 29

Hình 2.4: Sơ đồ nguyên lý máy in cuộn

b).Ưu nhược điểm

a) Ưu điểm

 Đảm bào chồng màu chính xác

 Cuộn rubăng không bị co giãn trong quá trình in

 Cuộn rubăng không bị truợt trơn trong quá trình in

 In một lúc nhiều cuộn rubăng khác nhau

b) Nhược điểm

 Có thêm hệ thống băng tải làm kết cấu máy phức tạp

 Phài thường xuyên căng băng tải để hạn chế hiện tượng trượt trơn

 Gía thành băng tải đắt tiền dẫn đến giá thành máy cao

 Không in được những cuộn rubăng có kích thước lớn

CON LĂN CHỦ ĐỘNG

THÙNG SẤY KHUNG LỤA CÓ THỂ DI

CHUYỂN ĐƯỢC KHUNG LỤA CỐ ĐỊNH

ĐẦU IN 2 ĐẦU IN 1

Trang 30

c).Hình ảnh một số máy in lụa sản phẩm dạng cuộn của Đài Loan, Hàn

Quốc và Trung Quốc

Hình 2.5: Máy in rubăng kiểu băng tải 2 màu dẫn động

bằng động cơ bước của ĐÀI LOAN

Hình 2.6: Máy in rubăng kiểu băng tải 2 màu dẫn động bằng động cơ bước của

hãng GOLDEN GEAR BRAND - TRUNG QUỐC

Trang 31

Hình 2.7: Máy in ru băng kiểu băng tải 3 màu dẫn động bằng động cơ bước

của HÀN QUỐC

2.10.2Máy in rubăng kiểu băng tải được truyền động bằng xy lanh khí

nén:

a).Nguyên lý hoạt động

Hoạt động tương tư như máy in rubăng dẫn động bằng động cơ bước

nhưng hệ thống dẫn động đươc thay thế bằng xy lanh khí nén

b).Ưu nhược điểm

c) Ưu đểm:

 Chồng màu chính xác

 Không cần hệ thống căng băng tải

 Hệ thống truyền động đơn giản,rẻ tiền

 Thích hợp với việc in cùng lúc nhiều cuộn rubăng

 Không ảnh hưởng bởi sự trượt trơn của băng tải

Trang 32

d) Nhược đểm:

 Cần cuộn băng tải đủ dài so với chiều dài cuộn rubăng

 Chiều dài máy lớn

c).Máy tiêu biểu của ĐÀI LOAN

Hình 2.8: Máy in ru băng kiểu băng tải được truyền động bằng xi lanh khí nén

2.10.3Máy in rubăng không sử dụng băng tải được truyền động bằng động cơ bước

a).Nguyên lý hoạt động

Cuộn rubăng được di chuyển qua các trạm in và trạm sấy bằng nguyên

lý ma sát giữa con lăn và cuộn rubăng

Con lăn có đường kính lớn được bọc bên ngoài bời một lớp cao su

mỏng hoặc làm các khía nhám để tăng ma sát với cuộn rubăng

Con lăn được truyền động bằng một động cơ bước ở cuối hành trình

Trang 33

Ở trạm in 1,vị trí khung lụa cố định.Ở trạm in 2, khung lụa phải di chuyển sao cho đảm bảo chồng màu chính xác với màu đã in ở trạm 1

b).Ưu nhược điểm

e) Ưu điểm:

 Thích hợp in các cuộn decal có bề rộng lớn, làm bằng vật liệu cứng

 Chồng màu chính xác

 Kích thước máy gọn nhẹ

f) Nhược điểm:

 Rất khó in các cuộn rubăng có bề rộng nhỏ

 Đối với những cuộn ru băng mỏng có thể làm chúng bị giãn

c) Một số máy điền hình trên thế giới

Hình 2.9: Máy in decal 1 mau dẫn động bằng con lăn

Trang 34

Hinh 2.10: Máy in decal 2 màu dẫn động bằng con lăn của Mỹ

Hinh 2.11: Máy in decal 2 màu dẫn động bằng con lăn của Hàn

Trang 35

2.10.4Máy in decal sử dụng kết hợp chuyển động quay của con lăn và chuyền động tịnh tiến của khung lụa

a).Nguyên lý hoạt động:

Cuộn decal được truyền động qua các đầu in bằng hệ thống các con

lăn.Trong đó động cơ được đặt cuối hành trình

Tại các đầu in, vận tốc của cuộn rubăng bằng với vận tốc di chuyển

khung lụa nhưng ngược chiều nhau

b) Ưu nhược điểm:

Ưu điểm:

 Phối hợp giữa công nghệ in lụa và công nghệ in flexo làm cho máy có kết cấu đơn giãn hơn máy in flexo cùng loại

 Năng suất máy cao, in được những khổ decal lớn

 Sản phẩm in phong phú,có thể thay đổi dễ dàng so với in flexo

Nhược điểm:

 Có hệ thống truyền động và điều khiển rất phức tạp so với các máy in cuộn thông thường như trên

 Chiều dài máy lớn

 Không thích hợp với những cơ sở in nhỏ lẻ do giá thành máy cao

Trang 36

Một số máy tiêu biểu trên thế giới

Hinh 2.12: Máy in decal 2 màu phối hợp chuyển động quay của con lăn và chuyển

động tịnh tiến của khung lụa của hãng MIESTER-ĐỨC

Hinh 2.13: Máy in decal 2 màu phối hợp chuyển động quay của con lăn và chuyển

động tịnh tiến của khung lụa của hãng KLEMM-ĐỨC

Trang 37

CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH VÀ LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN

3.1 Phân tích máy in lụa:

Máy in lụa là một thiết bị in có thể thực hiện các thao tác in dựa trên nguyên tắc cơ khí hoá Máy in ruban là một loại máy in lụa mà sản phẩm

ở dạng băng hay cuộn Trong quá trình in ruban thủ công gồm các công

đoạn sau : định vị ruban , in ruban , ủi ruban , thu ruban ; do là in hai màu nên việc in được thực hiện hai lần nên mất nhiều thời gian Từ các công đoạn trên ta có thể chia máy in ruban ra các cụm và bộ phận sau : cụm

cấp ruban , cụm in (do in hai màu nên có hai cụm in) , bộn phận sấy , cụm thu ruban , bộ điều khiển

3.2 Phân tích và lựa chọn hệ thống điều khiển

Máy in lụa có các chuyển động cơ bản chủ yếu là chuyển động tinh tiến, trong quá trình in các chuyển động của máy đòi hỏi có sự liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau vì vậy kết cấu máy đỏi hỏi phải dễ điều khiển và làm việc tin cậy Ta có thể sử dụng các cơ bộ phận điều khiển như:

ª Rơle: là một công tắc diện có khả năng chịu được dòng cao, được tác động gián tiếp bởi dòng điều khiển có cường độ thấp Nó là thành phần quan trọng trong các thiết bị điều khiển hiện đại

ª Mạch số: là mạch điều khiển sử dụng các cổng logic cơ bản như: cổng AND, OR, NOT phối hợp lại với nhau để tạo thành mạch điều khiển

ª Vi xử lý: cũng là mạch điều khiển số nhưng không sử dụng các cổng logic cơ bản thuần tuý mà sử dụng một bộ vi sử lý (CPU) để tích toán thực hiện việc điều khiển

Trang 38

ª PLC (programmable logic controller): Là bộ điều khiển sử dụng các linh kiện bán dẫn có kích thước nhỏ hơn rơle, tin cậy trong môi trường sản xuất máy công nghiệp, cấu trúc dạng module, dễ điều khiển và dễ lập trình

ª Máy tính: là sử dụng máy tính để điều khiển, một máy tính có thể điều khiển một thiết bị hay một máy tính điều khiển cả một hệ thống

Ưu, nhược điểm của từng hệ thống điều khiển:

ª Rơle:

- Ưu điểm: dễ điều khiển, giá thành rẻ

- Khuyết điểm: phức tạp, cồng kềnh, không linh hoạt, đáp ứng chậm, rất khó sửa chữa khi hư hỏng và bảo dưỡng

ª Mạch số :

- Ưu điểm: đáp ứng nhanh, kích thước nhỏ, gọn, rẻ

- Khuyết điểm: khó sửa, thiếu linh hoạt Chỉ ứng dụng trong trường hợp điểu khiển đơn giản, sản xuất với số lượng lớn

ª Vi xử lý:

- Ưu điểm: dễ thay đổi trương trình, giá thành rẻ

- Khuyết điểm: khó sửa chữa, lập trình còn phức tạp: viết bằng hợp ngữ

Trang 39

- Khuyết điểm: đắt, những sản phẩm kéo theo rất đắt như cáp, module, màn hình

ª Máy tính:

- Ưu điểm: khả năng xử lý tính toán cao, khả năng dồ hoạ

- Nhược điểm: độ ổn định không cao

Qua phần phân tích ưu, nhược điểm của từng hệ thống trên ta thấy đối với máy in lụa dùng để in ruban hai màu thì sử dụng PLC là thích hợp nhất vì

ta dễ thay đổi chương trình khi có sự thay đổi về hình ảnh in trên ruban Hơn nữa sử dụng PLC thì kết cấu máy nhỏ gọn, dễ bảo trì, điều khiển chính xác

3.3 Phân tích và lựa chọn cơ cấu chấp hành

3.3.1 Cụm cấp ruban :dùng để cấp ruban cho máy in , ta có thể lựo chọn

các phương án sau :

Cấp ruban tự động tự do : phương án này đơn giản nhất , nó chỉ cần một trục gá cuộn ruban và một phận để giữa cho ruban căng thẳng Cách này đơn giản nhưng khó điều chỉnh khoảng cách giữa các trục ma sát , nếu khoảng cách này nhỏ quá thì ruban căng tốt nhưng bộ thu lại không kéo nổi hay có thể làm giản hoặc đứt ruban

Trục ma sát

Dây ruban Trục phụ

Tang cấp ruban

Trang 40

-Cấp ruban nhờ động cơ : phương án này cũng tương đối đơn giản , ta chỉ cần lắp thêm động cơ để có thể cấp ruban Tuy nhiên cách này cũng dẫn đến việc phức tạp trong điều khiển Động cơ sử dụng ở đây có thể là động cơ điện hay động cơ bước

-Trong việc cấp ruban ta còn chú ý đến việc giữ cho ruban luôn căng thẳng , để thực hiện việc đó ta có các phương án khác nhau:

+Sử dụng trục ma sát : cách này đơn giản nhất nhưng khó điều chỉnh lượng cấp ruban

+Sử dụng trục ma sát có đối trọng : cách này cũng tương đối đơn giản , dễ điều khiển lượng cấp ruban nhưng gây phức tạp trong lập trình khi vận hành máy

Ngày đăng: 21/03/2016, 22:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1], PGS.PTS Trịnh Chất – PTS Lê Văn Uyển, Tính toán & Thiết kế hệ dẫn động cơ khí (Tập 1 & 2), Nhà xuất bản Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính toán & Thiết kế hệ dẫn động cơ khí (Tập 1 & 2)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
[2], KS Huỳnh Trà Ngộ, Đại cương về kỹ thuật in, Nhà xuất bản Thế giới, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về kỹ thuật in
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
[3], Thiên Quang, Kỹ thuật in lụa, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật in lụa
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin
[4], PGS.TS Phan Đình Huấn, Kỹ thuật khí nén, Trung tâm Đào tạo Bảo dưỡng Công nghiệp, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật khí nén
[5], PTS Nguyễn Ngọc Phương, Hệ thống điều khiển bằng khí nén, Nhà xuất bản Giáo dục, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống điều khiển bằng khí nén
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
[6], PTS Lê Hoài Quốc – KS Chung Tấn Lâm, Bộ điều khiển lập trình vận hành và ứng dụng, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật,1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ điều khiển lập trình vận hành và ứng dụng
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
[7], Th.S Lê Trung Thực, Tự động hóa sản xuất, Bộ môn Chế tạo máy – Khoa Cơ khí trường Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự động hóa sản xuất
[9], GS Lại Khắc Liễm, Giáo trình Cơ học máy, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Cơ học máy
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
[10], PGS Hoàng Đình Tín, Truyền nhiệt & Tính toán thiết bị trao đổi nhiệt, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền nhiệt & Tính toán thiết bị trao đổi nhiệt
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
[11], Nguyễn Ngọc Cẩn, Kỹ thuật điều khiển tự động, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật điều khiển tự động
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
[12], Nguyễn Ngọc Cẩn, Trang bị điện trong máy cắt kim loại, Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang bị điện trong máy cắt kim loại
[14], PGS.TS Ninh Đức Tốn, Dung sai và lắp ghép, Nhà xuất bản Giáo duùc, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dung sai và lắp ghép
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo duùc
[13], PGS Trần Hữu Quế – Đặng Văn Tuấn, Vẽ kỹ thuật Cơ khí (Tập 1 &amp Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Hình ảnh khuôn tô (stencil) cơ bản - Thiết kế máy in ruban hai màu
Hình 2.1 Hình ảnh khuôn tô (stencil) cơ bản (Trang 12)
Hỡnh 2.3 chuaồn bũ in - Thiết kế máy in ruban hai màu
nh 2.3 chuaồn bũ in (Trang 18)
Hình 2.4: Sơ đồ nguyên lý máy in cuộn - Thiết kế máy in ruban hai màu
Hình 2.4 Sơ đồ nguyên lý máy in cuộn (Trang 29)
Hình 2.6: Máy in rubăng kiểu băng tải 2 màu dẫn động bằng động cơ bước của - Thiết kế máy in ruban hai màu
Hình 2.6 Máy in rubăng kiểu băng tải 2 màu dẫn động bằng động cơ bước của (Trang 30)
Hình 2.8: Máy in ru băng kiểu băng tải được truyền động bằng xi lanh khí nén - Thiết kế máy in ruban hai màu
Hình 2.8 Máy in ru băng kiểu băng tải được truyền động bằng xi lanh khí nén (Trang 32)
Hình 2.9: Máy in decal 1 mau dẫn động bằng con lăn - Thiết kế máy in ruban hai màu
Hình 2.9 Máy in decal 1 mau dẫn động bằng con lăn (Trang 33)
Hình 4.1: Xylanh tác động kép không ty - Thiết kế máy in ruban hai màu
Hình 4.1 Xylanh tác động kép không ty (Trang 68)
Sơ đồ điều khiển - Thiết kế máy in ruban hai màu
i ều khiển (Trang 76)
Hình 5.1: Sơ đồ mạch logic bộ chuyển phát - Thiết kế máy in ruban hai màu
Hình 5.1 Sơ đồ mạch logic bộ chuyển phát (Trang 78)
Sơ đồ mạch khí nén - Thiết kế máy in ruban hai màu
Sơ đồ m ạch khí nén (Trang 82)
Hình 6.1: Hướng dẫn điều chỉnh căng đai - Thiết kế máy in ruban hai màu
Hình 6.1 Hướng dẫn điều chỉnh căng đai (Trang 94)
Hình 6.2: Các dạng căng đai - Thiết kế máy in ruban hai màu
Hình 6.2 Các dạng căng đai (Trang 94)
Bảng 6.2: Kế hoạch bảo trì máy in - Thiết kế máy in ruban hai màu
Bảng 6.2 Kế hoạch bảo trì máy in (Trang 97)
Bảng 6.1: Nhiệt độ max cho phép trên mô tơ - Thiết kế máy in ruban hai màu
Bảng 6.1 Nhiệt độ max cho phép trên mô tơ (Trang 97)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w