1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 1

35 247 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 299 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người 1; về độc lập dân tộc gắn liền với chủnghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại 2; về s

Trang 1

Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh? Phân tích nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh? Nguồn gốc nào đóng vai trò quan trọng nhất? Vì sao?

Trả lời:

 Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh:

Theo Đại hội IX: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản củacách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể củanước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại Đó là

tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người (1); về độc lập dân tộc gắn liền với chủnghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại (2); về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kếtdân tộc (3); về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân (4); về quốc phòngtoàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân (5); về phát triển kinh tế và văn hoá, không ngừng nâng cao đời sốngvật chất và tinh thần của nhân dân (6); về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư (7); về chăm lobồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau (8); về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa làngười lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân (9)

Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn củaĐảng và dân tộc”

 Nguồn gốc hình thành:

 Giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam;

 Tinh hoa văn hóa nhân loại;

 Chủ nghĩa Mác – Lênin;

 Những nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất của Hồ Chí minh;

Giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam:

Dân tộc Việt Nam trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước đã để lại nhiều truyền thống tốt đẹp được Hồ ChíMinh kế thừa và phát triển, đó là:

 Chủ nghĩa yêu nước và ý chí đấu tranh kiên cường để dựng nước và giữ nước;

 Tinh thần cộng đồng, đoàn kết, tương thân tương ái;

 Truyền thống cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo trong lao động sản xuất, trong chiến đấu và tinh thầnham học hỏi, không ngừng mở cửa đón nhận tinh hoa văn hóa của nhân loại

 Trong các giá truyền thống trên thì yếu tố chủ nghĩa yêu nước là cốt lõi, là dòng chảy chính và chính nhờ vào yếu tố

đó mà Hồ Chí Minh đã tìm được con đường cứu nước đúng đắn

Tinh hoa văn hóa nhân loại:

* Tinh hoa văn hóa phương Đông:

Nho giáo: tinh thần “Nhân nghĩa”, đề cao “Trung – hiếu” Lý tưởng về một xã hội bình trị, một thế giới đại

đường “Tứ hải giai huynh đệ” Tư tưởng lấy dân làm gốc, “Dân vì bang bản”, đề cao văn hóa lễ giáo, tạo ra tinh thầnhiếu học…

Phật giáo: tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người như thể thương thân, một tình yêu

bao la Nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện…

Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn: tư tưởng dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc.

Sau này người đưa vào nội dung của chủ nghĩa xã hội là: Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

* Tinh hoa văn hóa phương Tây:

Trang 2

 Tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa dân tộc và nhân văn trong cách mạng tư sản Mỹ, Pháp với quyền dân tộc conngười;

 Tư tưởng dân chủ mà nhân dân của nó là Tự do – Bình đẳng – Bác ái;

 Tư tường Thiên chúa giáo: lòng nhân ái, đức hi sinh

Chủ nghĩa Mác Lênin:

 Chủ nghĩa Mác Lênin là nguồn gốc lý luận trực tiếp quyết định bản chất cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh.Đồng thời, chính tư tưởng của Người góp phần làm phong phú thêm lý luận CNML trong thời đại đế quốc chủ nghĩa đốivới một nước thuộc địa như VN

 Vai trò của CNML thể hiện trong tư tưởng HCM ở những nội dung sau: quyết định bản chất thế giới quan khoahọc của tư tưởng HCM là phương pháp tư duy biện chứng trên quan điểm duy vật Đồng thời, quyết định phương pháphành động biện chứng của HCM;

 Sự vận dụng và phát triển CNML ở HCM nổi lên ở một số điểm đáng chú ý sau:

+ Thông qua thực tiễn cách mạng, HCM đã tiếp thu CNML như một lẽ tự nhiên CNML là bộ phân văn hóa đặc sắcnhất nhân loại: tinh túy nhất, cách mạng nhất, triệt để nhất và khoa học nhất

+ HCM đến với CNML là xuất phát từ nhu cầu tất yếu của CMVN là tìm con đường giải phóng cho dân tộc, tự docho đồng bào CNML đã khắc phục được sự khủng hoảng về đường lối cách mạng của dân tộc, vạch ra con đường cứunước đúng đắn – Giải phóng dân tộc theo con đường CMVS

 Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo CNML bằng tinh thần triết học phương Đông, không sách vở, không kinh viện,không tìm kết luận có sẵn mà tự tìm ra giải pháp riêng, cụ thể phù hợp với thực tiễn CMVN

Nhân tố thuộc phẩm chất của Hồ Chí Minh:

 Hồ Chí Minh có tấm lòng yêu nước thương dân sâu sắc, có ý chí quyết tâm của một người yêu nước, có lýtưởng hoài bão lớn, bản lĩnh kiên định, tư tưởng hiến dân cuộc đời cho độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân

 Thông minh, trí tuệ, uyên bác, ham học hỏi và nhạy bén với cái mới

 Có tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo và đầu óc phê phán tinh tường, sáng suốt, dự báo khoa học

 Có đạo đức cách mạng, tác phong, nếp sống, phong cách …

 Nguồn gốc Chủ nghĩa Mác Lênin là quan trọng nhất Vì qua quan điểm của CNML, Hồ Chí Minh đã có sự chuyển biến

về chất tư tưởng cách mạng của mình để tiếp tục hấp thụ và chuyển hóa được những giá trị tích cực và tiến bộ củatruyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, giúp cho Người tổng kết thực tiễn, rút ra lýluận và hình thành nên một hệ thống những quan điểm cơ bản về CMVN, hình thành nên tư tưởng HCM về giải phóngdân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người

B: Nêu các giai đoạn hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh Thời kỳ nào đánh dấu quá trình hình thành cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường Cách mạng Việt Nam?

Trả lời:

1) Giai đoạn (1890 – 1911): tiếp nhận chủ nghĩa yêu nước và hình thành ý chí cứu nước;

2) Giai đoạn (1911 – 1920): tìm đương cứu nước, là thời kỳ HCM nghiên cứu, khảo sát thực tiễn, đến với CNML;3) Giai đoạn (1920 – 1930): tư tưởng HCM được hình thành;

4) Giai đoạn (1930 – 1969): tư tưởng HCM đã được thực hiện và phát triển ở Việt Nam, trong đó:

 Giai đoạn (1930 – 1941): tư tưởng HCM gặp khó khăn thử thách, từ phía kẻ thù và từ phía tổ chức của mình;

Trang 3

 Giai đoạn (1941 – 1945): tư tưởng HCM đã thực hiện đúng đắn ở VN HCM nổ sung, hoàn thiện đường lối đấutranh độc lập dân tộc, nêu cao tinh thần độc lập dân tộc, đại đoàn kết toàn dân để đấu tranh giành độc lập dẫn tớithắng lợi CMT8 năm 1945.

 Giai đoạn (1945 – 1969): tư tưởng HCM đã phát triển trong điều kiện mới, chia 2 giai đoạn nhỏ:

+ Giai đoạn (1945 – 1954): HCM bổ sung và phát triển tư tưởng về Đảng cầm quyền, Nhà nước dân chủ nhândân, về đường lối kháng chiến dẫn đến thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1954;

+ Giai đoạn (1954 – 1969): HCM bổ sung và phát triển tư tưởng về CNXH, về con đường đi lên CNXH và kết hợpsức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại dẫn đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giành lại độc lậpthống nhất toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam

 Thời kỳ 1920 – 1930 đánh dấu quá trình hình thành cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường Cách mạngViệt Nam Đây là giai đoạn HCM tham gia hoạt động thực tiễn trong phong trào Cộng sản Quốc tế, phong trào đấutranh giải phóng dân tộc thế giới và bắt đầu tiến hành tổ chức truyền bá CNML và chuẩn bị cho sự ra đời của ĐảngCộng sản Việt Nam Có những tư tưởng lớn đã góp phần hình thành tư tưởng HCM trong giai đoạn này là:

 Thứ nhất, con đường CMVN đi theo con đường nào? Đó là con đường cách mạng vô sản;

 Thứ hai, xác định được mục tiêu, nhiệ, vụ của CMVN;

 Thứ ba, đối tượng của CMVN là ai? Đó là chủ nghĩa thực dân phong kiến phản động;

 Thứ tư, xác định được lực lượng lãnh đạo CMVN đó là giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản;

 Thứ năm, lực lượng tiến hành CMVN đó là khối đại đoàn kết dân tộc bao gồm mọi giai cấp, mọi người Việt Namyêu nước;

 Thứ sáu, HCM đã xác định được mối quan hệ của CMVN đối với CMTG

Cơ sở khách quan và chủ quan dẫn đến sự hình thành Tư tưởng HCM về ĐLDT gắn liền với CNXH

- Đòi hỏi khách quan của cm VN từ cuối TK19 đầu TK20

+ thực dân Pháp xâm lược nước ta cuối TK19 đầu TK20

+ Phong trào yêu nước chống Pháp: tất cả đều thất bại

+ đòi hỏi mới về con đường cứu nước của VN nửa đầu TK20

- NAQ nghiên cứu kinh nghiệm cm thế giới

+ nghiên cứu cm Tư sản (Mỹ 1776 , Pháp 1789); cm vô sản (Công xã Paris 1817) Đây là những cuộc cm không triệt để, nó không giải quyết được tận gốc của vấn đề nười bóc lột người hoặc không lôi kéo được lực lượn trunggian

+ Nghiên cứu cm tháng 10 Nga: Khẳng định răng muốn có ĐLTD thì phải đi theo con đường của CMT10 Nga

- CN MLN soi đường cho cm VN

+ NAQ từ người yêu nước trở thành người CS ( đầu 1919 gia nhập Đảng xã hội Pháp; Tham gia nghiên cứu QT3; tháng 7/1920 đọc các luận cương của LN về vấn đề dân tộc và thuộc địa; 12/1920 bỉ phiếu tán thành quốc tế 3, tham gia sáng lập đảng CS Pháp.) Đây là bước ngoặt đặc biệt quan trọng trong cuộc đời hđ cách mạng của người

+ NAQ nghiên cứu lý luận Mac Lenin: tiếp thu lý luận MLN; phát hiện vai trò lịch sử toàn thế giới của giai cấp CN; cách mạng muốn thành công phải có 1 đảng cm chân chính lãnh đậo

Quan niệm của HCM về ĐLDT

- ĐLDT phải là 1 nền độc lập thật sự

- ĐLDT là quyền thiêng liêng của 1 dân tộc

Trang 4

- ĐLDT phải gắn liền với hòa bình

- ĐLDT phải đi tới tự do, hạnh phúc của nhân dân

Quan niệm của HCM về CNXH

- Về đặc trưng, bản chất của CNXh

- Về mục tiêu của CNXH

- CNXH tạo cơ sở củng cố, giữ vững ĐLDT

- Những đk đảm bảo cho ĐLDT gắn liền với CNXH ở VN

Mối quan hệ giữa ĐLDT với CNXH

- ĐLDT là mục tiêu trực tiếp, trước hết

- ĐLDT là tiền đề đi lên CNXH

- CNXH là bước phát triển tất yếu của ĐLDT

Vận dụng

- kiên định mục tiêu ĐLDT gắn liền với CNXH trong sự nghiệp đổi mới ở VN (đổi mới nhưng không đổi hướng)

- điều kiện mới của ĐLDT gắn liền với CNXH hiện nay (độc lập về chính trị; độc lập tự chủ về kinh tế; giữ vững bản sắc

 Hai là, để có độc lập tự do thật sự, không có con đường nào khác là con đường cách mạng vô sản

 Ba là, cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận của cách mạng vô sản, là một trong những “cái cánh” củacách mạng vô sản Gắn cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam với cách mạng thế giới, đưa dân tộc ta vào quỹđạo của thời đại, đưa cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên cách mạng xã hôi chủ nghĩa Đây là một sáng tạo lớn vềcon đường phát triển cách mạng ở các nước thuộc địa nửa phong kiến

 Bốn là, giữ vững độc lập, tự chủ, dựa vào sức mình là chính, tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hôi chủnghĩa , sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ, đồng thời không quên nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình Người cho rằng:Muốn được giải phóng các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình,trông cậy vào lực lượng của chính bản thân mình.Đồng thời, Người cũng chỉ ra rằng: “cách mạng thuộc địa không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà cókhả năng giành thắng lợi trước” và “trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủnghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn” Đây

là một luận điểm sáng tạo, có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn, một cống hiến rất quan trọng vàokho tàng lý luận Lênin và đã được thực tiễn cách mạng chứng minh

Mac- Năm là, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội phản ánh quan điểm cách mạng không ngừng, một quátrình vận động liên tục của lịch sử cách mạng Việt Nam, gồm hai giai đoạn, mỗi giai đoạn ứng với một niệm vụ nhấtđịnh vủa tiến trình phát triển

Trang 5

+ Giai đoạn thứ nhất là tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đánh đổ đế quốc, phong kiến, giành độclập cho dân tộc, đem lại ruộng đất cho dân cày, xây dựng chế độ dân chủ mới, tạo tiền đề tiến lên chủ nghĩa xã hội.+ Giai đoạn thứ hai là tiến hành cách mạng xã hôi chủ nghĩa, biến Việt Nam thành một nước có lực lượng sảnxuất hiện đại, văn hoá tiên tiến, nhân dân làm chủ Nhiệm vụ giai đoạn trước hoàn thành tạo tiền đề cho việc thực hiệnthắng lợi nhiệm vụ của giai đoạn sau và không ngừng phát triển theo một quy luật dẫn tới mục đích.

Tại sao Nhà nước của ta là NN của dân do dân và vì dân? Xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân cần lưu ý những điểm nào? Tại sao? Nêu những mặt yếu kém, hạn chế.

Nhà nước của ta là Nhà nước của dân do dân và vì dân là vì:

+ Do giai cấp công nhân lãnh đạo;

+ Đảng của GCCN lãnh đạo, đồng thời cũng là đầy tớ của nhân dân;

+ NN Chúng ta là NN của gccn lãnh đạo nhưng đồng thời cũng là NN của dân, do dân, vì dân và đặc điểm bảnchất của dân do dân vì dân là:

Nhà nước của dân theo quan điểm của Hồ Chí Minh

Nhà nước của dân là Nhà nước tập trung mọi quyền lực vào tay nhân dân Điều 1, Hiến pháp năm 1946 do Hồ Chí Minhlàm trưởng ban soạn thảo khẳng định: “Tất cả quyền bính trong nước là của đoàn thể nhân dân Việt Nam, không phânbiệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” Điều 32 của Hiến pháp 1946 cũng quy định: “Những việc quan

hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phán quyết” Dân cũng có quyền bầu cử và ứng cử vào Quốc hội, đồngthời thông qua Quốc hội để bầu ra Chính phủ Dân cũng có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồngnhân dân nếu những đại biểu đó tỏ ra không xứng đáng

“Nhà nước của dân là Nhà nước do dân làm chủ Người dân được hưởng mọi quyền dân chủ, nghĩa là người dân cóquyền tự do sống và làm việc theo khả năng và sở thích của mình trong phạm vi pháp luật cho phép Nhà nước củadân phải bằng mọi nỗ lực, hình thành được các thiết chế dân chủ để thực thi quyền làm chủ của nhân dân Trong Nhànước dân chủ, dân là chủ còn cán bộ nhà nước, từ chức Chủ tịch nước trở xuống đề là “công bộc” của nhân dân HồChí Minh luôn căn dặn cán bộ không dược ỷ thế lộng quyền: “Cậy thế mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàngphóng túng, muốn sao được vậy, còn khinh dư luận, không ngĩ đến dân Quên rằng dân bầu mình ra là để làm việc chodân, chứ không phải để cậy thế với dân”

Nhà nước do dân Đó là Nhà nước do dân dựng xây lên Cán bộ trong các ban, ngành của Chính phủ do dân

lựa chọn, bầu ra Tài chính của Chính phủ do dân đóng góp Đường lối lãnh đạo, cơ cấu tổ chức của Nhà nước do dângóp ý dựng xây Các hoạt động của Nhà nước do dân kiểm soát, Hồ Chí Minh thường khẳng định: Tất cả các cơ quanNhà nước là phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhândân “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”

Nhà nước vì dân Đó là Nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng của nhân dân Ngoài mục đích phục vụ

nhân dân, Nhà nước ta không có mục đích nào khác Sinh thời Hồ Chí Minh từng nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích,

là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân

Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo, - là vì mục đích đó Đến lúcnhờ quốc dân đoàn kết, tranh dược chính quyền, uỷ thác cho tôi gánh việc Chính phủ, tôi lo lắng đêm ngày, nhẫn nhục

cố gắng – cũng vì mục đích đó”

Trong Nhà nước vì dân, cán bộ từ Chủ tịch nước trở xuống đều là “công bộc” của dân Bác thường căn dặn cán bộ: Tất

cả những thứ chúng ta dùng hàng ngày đều do dân cung cấp Do vậy phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân “Việc gìlợi cho dân, ta phải hết sức làm Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”

Trang 6

Tóm lại, nhưng của dân, do dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh là Nhà nước dân chủ Trong đó, “bao nhiêu lợi íchđều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra… Nói tómlại, quyền hành và lực lượng đề ở nơi dân”.

+ Vì sao chúng ta lại xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân? Xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân là tưtưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước, là mục tiêu xuyên suốt cuộc đời hoạt động và lãnh đạo cách mạng của Hồ Chí Minh.Ngay từ năm 1927 – trong cuốn Đường cách mệnh, Người đã chỉ rõ: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làmcho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ítngười Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”

+ Làm thế nào để xây dựng được một Nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân? (Lưu ý những điểm nào)

Trước hết, phải giữ vứng bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước Nhà nước phải đặt dưới lãnh đạo của Đảng - độitiên phong của giai cấp công nhân Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định: Chỉ có liên minh với giai cấp công nhân, dưới

sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, nhân dân lao động mới có thể tự giải phong mình và xây dựng được một xã hộithực sự bình đẳng và tiến bộ

Thứ hai, phải bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân trong việc lựa chọn và bầu ra Chính phủ thông qua Tổngtuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu Mọi công dân đều có quyền bầu cử để lựa chọn các đại biểu đại diện chonguyện vọng và quyền lợi của mình Mọi công dân đều có cơ hội tham gia vào các công việc của Nhà nước thông quaquyền ứng cử và các cuộc trưng cầu dân ý

Thứ ba, phải bảo đảm cho dân có quyền kiểm soát chính phủ Hồ Chí Minh chỉ rõ: Dân có quyền góp ý với Chính phủ,dân có quyền bãi miễn các đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu họ không hoàn thành nhiệm vụ Tuynhiên, để thực hiện được điều này, đòi hỏi người dân phải có một trình độ nhất định Vì vậy, cùng với việc trao quyềncho dân, cần phải có chính sách giáo dục nâng cao nhận thức cho dân

Thứ tư, phải xây dựng một hệ thống luật pháp chặt chẽ và khoa học dựa trên nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân,đông thời làm cho pháp luật có hiệu quả trong thực tế Sự công bằng và trât tự xã hội chỉ có thể được thiết lập khi nóđược bảo đảm bằng một hệ thống luật pháp nghiêm minh Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Trăm đều phải có thần linhpháp quyền”

Thứ năm, phải xây dựng được đội ngữ cán bộ, từ Trung ương đến địa phương thực sự trong sạch, vững mạnh, đủ đức

đủ tài, vừa bảo đảm tốt vải trò người lãnh đạo, quản lý vừa thực sự là người đầy tớ trung thành của nhân dân

Các yếu tố đối với sự ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam?

- Đảng cộng sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng chủ nghĩa xã hội xác định đúng vấn

đề động lực cách mạng liên minh giai cấp vị trí of cách mạng thuộc địa

=> Đó là cơ sở lí luận cho cương lĩnh cách mạng của Đảng sau này Nhờ có chủ nghĩa Mác-Lênin mà phong trào côngnhân đã chuyển từ "tự phát" sang "tự giác"

2 Phong trào công nhân

Trang 7

- Từ đầu thế kỉ XX, cùng với sự phát triển của phong trào dân tộc trên lập trường tư sản, phong trào công nhân chốnglại sự áp bức, bóc lột của tư sản, thực dân cũng diễn ra từ rất sớm.

- Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất phong trào công nhân chưa trở thành lực lượng riêng biệt còn hoà lẫn với phongtrào yêu nước

Sự phát triển của phong trào công nhân trong nước đã khẳng định sự lớn lên trong nhận thức tư tưởng của GCCN vềcách mạng giải phóng dân tộc VN

Như vậy phong trào công nhân ngày 1 trưởng thành là 1 trong những điều kiện tất yếu dẫn tới sự ra đời của ĐảngCộng sản VN

3 Phong trào yêu nước

- Việt Nam là một quốc gia dân tộc được hình thành từ rất sớm, có nền văn hiến lâu đời, trong đó yêu nước là truyềnthống quý báu và đặc sắc, là dòng chủ lưu xuyên suốt lịch sử dân tộc VN

- Ngay từ khi thực dân Pháp đặt chân lên đất nước ta (năm 1858), nhân dân cả nước đã vùng lên chống thực dân Phápxâm lược

- Các phong trào yêu nước từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là sự nối tiếp truyền thống yêu nước, bất khuất của dântộc ta được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử (Ví dụ một số phong trào)

* Phân tích yếu tố riêng biệt trong quy luật ra đời của ĐCSVN

- Phong trào yêu nước có vị trí, vai trò cực kỳ to lớn trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc:

+ Chủ nghĩa yêu nước là giá trị tinh thần trường tồn trong lịch sử dân tộc và là nhân tố chủ đạo quyết định sự nghiệpchống ngoại xâm của nước ta

+ Phong trào yêu nước có trước phong trào công nhân

- Phong trào công nhân và phong trào yêu nước có mối liên hệ chặt chẽ:

+ Hầu hết công nhân đều xuất thân từ nông dân

+ Có chung kẻ thù: Bọn thực dân Pháp và phong kiến tay sai

- Phong trào yêu nước có tác động đến việc truyền bá Chủ nghĩa Mac-lenin và sự phát triển của phong trào công nhân:Bản thân Nguyễn Ái Quốc cũng xuất phát từ tinh thần yêu nước đi tìm con đường cứu nước mới cho dân tộc, Người đã

đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin

Vấn đề 1 : Nguồn gốc và quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

Bài làmChủ tịch Hồ Chí Minh - vị anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới, điều đó đã được dân tộc VN và cả nhânloại ngày nay thừa nhận Với thiên tài trí tuệ của mình, với lòng yêu nước nồng nàn và thương dân sâu sắc, Bác - từmột con người giản dị bình thường đã trở thành nhà tư tưởng vĩ đại, một nhà lý luận thiên tài của cách mạng VN Tư tưởng HCM là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hóa, nhân nghĩa và thực tiễn CM Việt Nam với tinh hoa văn hóa nhân loại được nâng lên tầm cao mới dưới ánh sáng CN Mác LêNin.

Tư tưởng ấy có giá trị vô cùng to lớn, định hướng cho cách mạng VN trong hơn nữa thế kỷ qua, góp phần thúc đẩy tiếntrình văn minh, tiến bộ của nhân loại Hiện nay tư tưởng HCM đang tiếp tục soi đường cho CM nước ta trong sự nghiệpđổi mới, cương lĩnh của Đảng ta năm 1991 đã xác định:” Đảng lấy CN Mác-Lênin và tư tưởng HCM làm nền tảng tưtưởng, kim chỉ nam cho hành động”

Vậy chúng ta hãy làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh là gì ? Nguồn gốc, quá trình hình thành hệ thống tư tưởng ấy và ý nghĩacủa nó trong tình hình hiện nay

Trang 8

1 Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh là gì ?

Tư tưởng HCM là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng ViệtNam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lê Nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kếthừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Đó là tư tưởng vềgiải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, kết hợp sức mạnhdân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dânl,xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; vềphát triển KT-VH, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng cầnkiệm liêm chính chí công vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạchvững mạnh, cán bộ, Đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân… Tư tưởng

Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là sản phẩm tinh thần to lớn của dân tộc

ta

Nói cách khác, khái niệm tư tưởng HCM bao gồm nguồn gốc, những nội dung chủ yếu và thực tiễn vận dụng tư tưởng

Hồ Chí Minh vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta

2 Điều kiện lịch sử, xã hội, gia đình :

Tư tưởng HCM là sản phẩm tất yếu của cách mạng VN, ra đời do yêu cầu khách quan, đáp ứng những nhu cầubức thiết do cách mạng VN đặt ra từ đầu TK XX cho đến nay

Từ năm 1858, đến đầu thế kỷ XX, nước ta đang bị đế quốc Pháp xâm lược Các phong trào vũ trang kháng chiến,chống Pháp liên tục nổi lên, dâng cao và lan rộng trong cả nước nhưng do chưa có một đường lối kháng chiến rõ ràng,bất cập trước lịch sử, dựa trên ý thức hệ phong kiến hoặc xu hướng dân chủ tư sản nên không tránh khỏi thất bại và

bị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp các phong trào yêu nước của nhân dân ta Tình hình đó cho thấy sự bế tắt vềđường lối cứu nước và phong trào cứu nước của nhân dân ta muốn giành được thắng lợi phải đi theo con đường cáchmạng mới

Nghệ Tĩnh – quê hương của Hồ Chí Minh là mảnh đất giàu truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm, đã nuôidưỡng nhiều anh hùng nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam Những tội ác của bọn thực dân và thái độ ương hèn, bạcnhược của bọn quan lại Nam triều đã thôi thúc Người ra đi tìm một con đường cách mạng mới để cứu dân, cứu nước

Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước, gần gủi với nhân dân Cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thânphụ của Người là một nhà Nho giàu lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, lao động cần cù, có ý chí kiên cường vượt quagian khổ, khó khăn để đạt được mục tiêu, chí hướng Chủ trương lấy dân làm hậu thuẫn cho mọi cải cách chính trị - xãhội của cụ Phó bảng Sắc đã có ảnh hưởng sâu sắc đối với sự hình thành tư tưởng chính trị và nhân cách của HCM

Khi còn ở trong nước, HCM tuy chưa nhận thức được đặc điểm của thời đại, nhưng từ thực tế lịch sử của đấtnước mình, người đã thấy rõ con đường của các bậc cha anh không đem lại kết quả, phải đi tìm một con đường mới.Trong khoảng 10 năm, HCM đã vượt 3 đại dương, 4 Châu lục, đặt chân lên khoảng gần 30 nước Nhờ đó, Người đãhiểu được bản chất chung của CNĐQ và hoàn cảnh chung của các nước thuộc địa trên thế giới Tiếp xúc với tác phẩm

Sơ khảo lần thứ I những Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của LêNin và các văn kiện ĐH III của Quốc tếCộng sản đánh dấu sự chuyến biến lớn trong nhận thức của HCM, nó khẳng định về mặt lý luận việc thực hiện mốiquan hệ hữu cơ giữa cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, cái mà đang rất cần đốivới

3 Nguồn gốc tư tưởng HCM :

a Tư tưởng HCM là sự kế thừa truyền thống văn hóa Việt Nam

Trang 9

Dân tộc VN trong hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã tạo lập cho mình một nền văn hóa riêng,phong phú và bền vững với những truyền thống tốt đẹp, cao quý Những truyền thống tốt đẹp đó đã ghi đậmdấu ấn trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thứ nhất, đó là chủ nghĩa yêu nước và ý chí kiên cường trong đấu tranh dựng nước và giữ nước Chủ nghĩayêu nước là dòng chủ lưu chảy xuyên suốt trường kỳ lịch sử VN, là chuẩn mực cao nhất trong bảng giá trị văn hóa VN.HCM là người tiếp thu, nhận thức rất sớm và sâu sắc những truyền thống tốt đẹp đó Trong cảnh nước mất, nhà tan,nhân dân lầm than dưới hai tầng áp bức bóc lột chính là nguồn động lực hun đúc cho Bác hình thành nguồn gốc tưtưởng đầu tiên của Người, nguồn gốc đó là toàn bộ tinh hoa văn hóa VN được kết tinh qua hàng ngàn năm dựng nước

và giữ nước, nổi bật nhất là chủ nghĩa yêu nước VN Người nói “chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịumất nước, nhất định không làm nô lệ” Đó cũng là tư tưởng, tình cảm chi phối mọi suy nghĩ và hành động của HCMtrong suốt cuộc đời Người nói:” Tôi chỉ có một ham muốn tột bậc là làm sao cho đất nước ta được hoàn toàn độc lập,dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” Nhận thức được sứcmạnh to lớn của truyền thống đoàn kết – yêu nước và nhân nghĩa ấy của dân tộc, người đã khẳng định “ Từ xưa đếnnay mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần yêu nước ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, tolớn, lướt qua mọi sự hiểm nguy, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước ” Sức mạnh đoàn kết, nhânnghĩa yêu nước ấy , theo Người phải phát huy mạnh mẽ hơn trong giai đoạn cách mạng mới của dân tộc :”phải ra sứcgiải thích, tuyên truyền, tổ chức lãnh đạo làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vàocông việc yêu nước, công việc kháng chiến”

Thứ hai, đó là tinh thần đoàn kết cộng đồng gắn kết cá nhân với gia đình, với làng, với nước; là lòng nhân ái, khoan

dung, trọng nghĩa tình, đạo lý Thấm nhuần truyền thống ấy, Người đã lần nêu rõ “Năm ngón tay cũng có ngón ngắnngón dài Nhưng vắn dài đều hợp nhau nên bàn tay Trong mấy triệu người, có người thế nầy, thế khác, nhưngthế nầy hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ Ta phải nhận rằng đã làcon Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường ta phải lấytình nhân ái mà cảm hóa họ Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chặt chẽ, vẻ vang”.Quan điểm xây dựng đại đoàn kết dân tộc, xóa bỏ thành kiến, cách biệt để tập họp lực lượng trong sự nghiệpcách mạng là tư tưởng xuyên suốt của Người trong quá trình hoạt động cách mạng cũng như trong toàn bộ di sản

tư tưởng của Người để lại cho Đảng, cho dân tộc

Thứ ba, dân tộc VN là một dân tộc có truyền thống lạc quan, yêu đời Cơ sở của sự lạc quan, yêu đời đó là niềm tin

vào sức mạnh của bản thân mình, dân tộc mình, niềm tin vào sự tất thắng của chân lý, chính nghĩa Trong thư gửiđồng bào Nam bộ (tháng 9-1945) khi đất nước còn đang bị chia cắt làm 2 miền, Hồ Chí Minh đã viết :”Tôi chắc và tất

cả đồng bào đều chắc rằng những người và những dân tộc yêu chuộng bình đẳng, tự do trên thế giới đều đồng tìnhvới chúng ta Chúng ta nhất địn h thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của toàn dân Chúng ta nhất định thắnglợi vì cuộc đấu tranh của chúng ta là chính nghĩa” Như vậy, sự kiên định, vững vàng lạc quan trước những khó khănthử thách luôn được thể hiện trong tư tưởng của Người

Thứ tư, dân tộc VN là một dân tộc cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo trong sản xuất và chiến đấu, đồngthời cũng là dân tộc ham học hỏi, cầu tiến bộ và không ngừng mở rộng cửa đón nhận tinh hoa văn hóa nhân loại

b Tư tưởng HCM là sự kết tinh tinh hoa văn hóa nhân loại, thể hiện tập trung trên những nét tiêu biểu sau :

Thứ nhất là tư tưởng Nho giáo : trong Nho giáo có các yếu tố duy tâm, lạc hậu, phản động nhưng cũng cónhững mặt tích cực như triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành đạo, giúp đời, lý tưởng về một XH bình trị, mộtthế giới đại đồng; đó là triết lý nhân sinh : tu tâm, dưỡng tính; đó là tư tưởng đề cao văn hóa, lễ giáo, tạo ra truyền

Trang 10

thống hiếu học HCM đã khai thách Nho giáo, lựa chọn những yếu tố tích cực, phù hợp để phục vụ nhiệm vụ cáchmạng

Thứ hai là Phật giáo : Phật giáo vào VN rất sớm và ảnh hưởng rất mạnh trong nhân dân, để lại nhiều dấu ấntrong VH VN Đó là tư tưởng vị tha, từ bi, cứu khổ, cứu nạn, thương người như thể thương thân; đó là nếp sống có đạođức trong sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện; đó là tinh thần bình đẳng chống lại mọi phân biệt đẳng cấp; đó là tưtưởng đề cao lao động; chống lười biếng; đó là cuộc sống gắn bó với nhân dân , với đất nước …

Ngoài ra, những mặt tích cực trong tư tưởng Phương Đông, Phương Tây và cả chủ nghĩa Tam dân của TônTrung Sơn cũng được HCM tìm thấy “những điều thích hợp với điều kiện nước ta”

Trong những năm tháng bôn ba, vừa kiếm sống vừa tham gia hoạt động cách mạng trên khắp 4 Châu lục,người đã tận mắt chứng kiến cuộc sống của nhân dân từ các nước tư bản phát triển như Mỹ, Anh, Pháp … đến cácnước thuộc địa Đó là những điều kiện thuận lợi để Người nhanh chóng chiếm lĩnh vốn kiến thức của thời đại, đặc biệt

là truyền thống dân chủ và tiến bộ, cách làm việc dân chủ và sinh hoạt khoa học của nước Pháp

Điều cốt lõi trong tư tưởng văn hóa HCM là lòng yêu nước, thương dân, thương yêu ccon người và niềm tin đốivới con người hết sức bao la sâu sắc, tất cả vì mọi người, tất cả do con người Đó là một nhân sinh quan, một triết lýsống rất nhân văn, là chủ nghĩa nhân đạo cộng sản Người nói :”Nghĩ cho cùng mọi vấn đề là vấn đề ở đời và làmngười là phải thương nước thương nhân loại đau khổ bị áp bức” Suốt đời người đã hy sinh chiến đấu chống áp bức,bất công, đem lại cuộc sống tự do hạnh phúc cho nhân dân, cho dân tộc, cho nhân loại

Văn hóa với Người còn thể hiện ở đạo đức mới : cần kiệm liêm chính chí công vô tư HCM là một người cộngsản coi trọng đạo đức và tấm gương mẫu mực về đạo đức Người đã từng nói :”cũng như sông thì co nguồn mới cónước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo, người cách mạng phải có đức không cóđức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân Vì muốn phải giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loạingười là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức : thì còn nổi việc gì” Đạo đức cách mạng là bộ phận hợpthành quan trọng của tư tưởng HCM, của văn hóa HCM, di sản vô giá cho chúng ta hôm nay và các thế hệ mai sau

c Chủ nghĩa Mác LêNin : là nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến tư tưởng HCM, là chủ nghĩa Mác LêNin,

đó là cơ sở hình thành thế giới quan và phương pháp luận của HCM Nhờ có thế giới quan và phương pháp luận của

CN Mác Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã hấp thụ và chuyển hóa được những nhân tố tích cực và tiến bộ của truyền thốngdân tộc cũng như của tư tưởng – văn hóa nhân loại để tạo nên hệ thống tư tưởng của mình Tư tưởng HCM về ĐCS, về

sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH bắt nguồn từ học thuyết của Mác về ĐCS

VN và trực tiếp từ học thuyết về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, đã được Lênin đưa ra Nhưng xuất phát từnhững điều kiện lịch sử cụ thể của VN, HCM đã vận dụng sáng tạo học thuyết ấy để đưa đến cách mạng VN từ thắnglợi này đến thắng lợi khác

d Những nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất của Nguyễn Ái Quốc

Thứ nhất : đó là tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo cộng với đầu óc phê phán tinh tường, sáng suốt trong việcnghiên cứu, tìm hiểu cuộc cách mạng tư sản hiện đại

Thứ hai : sự khổ công học tập nhằm chiếm lĩnh vốn tri thức phong phú của thời đại, vốn kinh nghiệm đấu tranhtrong phong trào giải phóng dân tộc, phong trào nhân dân quốc tế để có thể tiếp cận với CN Mác LêNin khoa học

Thứ ba : đó là tâm hồn của một nhà yêu nước, một chiến sỹ cộng sản nhiệt thành cách mạng, một trái tim yêunước, thương dân, yêu thương những người cùng khổ, sẳn sàng chịu đựng những hy sinh cao nhất vì độc lập của tổquốc, vì tự do của đồng bào

Chính những phẩm chất cá nhân cao đẹp này đã quyết định việc Nguyễn Ái Quốc tiếp nhận, chọn lọc, chuyển hóa, pháttriển những tinh hoa của dân tộc và thời đại thành tư tưởng đặc sắc của mình

Trang 11

4 Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng HCM :

Tư tưởng HCM không hình thành ngay một lúc mà phải trải qua một quá trình tìm tòi, xác lập, phát triển vàhoàn thiện, gắn liền với quá trình hoạt động phong phú của người

- Giai đoạn hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cách mạng (từ 1890-1911) : Trong thời trẻ, với nhữngđặc điểm quê hương gia đình và môi trường sống, HCM đã tích lũy được những hiểu biết và phẩm chất tiêu biểu sau :thứ nhất là truyền thống yêu nước và nhân nghĩa của dân tộc, vốn văn hóa dân tộc và bước đầu tiếp xúc với văn hóaphương Tây, hình thành hoài bão cứu dân cứu nước khi chứng kiến cuộc sống khổ cực, điêu đứng của nhân dân vàtinh thần đấu tranh bất khuất của cha anh

- Giai đoạn tìm tòi, khảo nghiệm (1911-1920) : đây là giai đoạn bôn ba tìm đường cứu nước HCM đã : tìmhiểu các cuộc cách mạng lớn trên thế giới và khảo sát cuộc sống của nhân dân các dân tộc bị áp bức Tiếp xúc vớiLuận cương của Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa, HCM đã tìm thấy con đường chân chính cho sự nghiệp cứunước giải phóng dân tộc Đứng hẳn về Quốc tế III, tham gia thành lập Đảng CS Pháp Sự kiện đó đánh dấu bướcchuyển biến về chất trong tư tưởng HCM, từ CN yêu nước đến CN Lênin, từ giác ngộ dân tộc đến giác ngộ giai cấp từngười yêu nước thành người cộng sản

- Giai đoạn hình thành tư tưởng về con đường cách mạng VN (1921-1930) : HCM hoạt động tích cực trong Bannghiên cứu thuộc địa của Đảng CS Pháp, tham gia sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa, SX báo Le Paria nhằm tuyên truyền

CN Mác LêNIn vào các nước thuộc địa HCM sang MátXCơVa dự hội nghị quốc tế nông dân và được bầu vào Đoàn Chủtịch của Hội giữa năm 1923 HCM về Quảng Châu tổ chức Hội VN cách mạng thanh niên, ra báo Thanh niên, mở cáclớp huấn luyện chính trị, đào tạo cán bộ, đưa Hội về nước hoạt động cuối năm 1924 Vào tháng 2 năm 1930, Ngườichủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước, sáng lập Đảng CS Việt Nam và trực tiếp thảo các văn kiện :Chánh cương vắn tắt, Sách lượt vắn tắt, Chương trình và Điều lệ vắn tắt của Đảng Các văn kện này cùng với 2 tácphẩm Người hoàn thành và xuất bản trước đó là Bản án chế độ Thực dân Pháp (1925) và Đường Kách Mệnh (1927),

đã đánh dấu sự hình thành cơ bản tư tưởng HCM về con đường cách mạng của VN

- Giai đoạn vượt qua thử thách, kiên trì con đường đã xác định của CM VN (1930-1941) : do không nắm đượctình hình thực tế các thuộc địa ở Phương Đông và Việt Nam, lại bị chi phối bởi quan điểm Tả khuynh, tại ĐH 6 (1928)Quốc tế CS đã chỉ trích và phê phán đường lối của HCM vạch ra trong Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Hội nghịTrung ương tháng 10 – 1930 của Đảng ta, theo chỉ đạo của Quốc tế CS cũng ra án “nghị quyết” thu hồi Chánh cươngvắn tắt và Sách lượt vắn tắt, đổi tên Đảng CS Việt Nam thành Đảng CS Đông dương Trong thời gian đó, HCM tiếp tụctham gia các hoạt động trong Quốc tế cộng sản, nghiên cứu CN Mác Lênin và chỉ đạo cách mạng VN kiên định quanđiểm của mình ĐH 7 Quốc tế Cộng sản 1935 đã có sự tự phê bình về khuynh hướng tả khuynh, cô độc, biệt phái, bỏrơi mất ngọn cờ dân tộc và dân chủ trong phong trào Cộng sản để cho các đảng tư sản, tiểu tư sản và phát xít nắm lấy

và chống phá CM ĐH có sự chuyển hướng về sách lượt, chủ trương thành lập mặt trận dân chủ chống Phát xít Năm

1936, Đảng ta đề ra “chiến sách” mới, phê phán những biểu hiện tả khuynh, cô độc, biệt phái trước đây Trên thực tế,

từ đây Đảng đã trở lại với Chánh cương vắn tắt, Sách lượt vắn tắt của HCM Nghị quyết HN TW tháng 11-1939 khẳngđịnh rõ “đứng trên lập trường giải phóng dân tộc, lấy quyền lực dân tộc làm tối cao, tất cả mọi vấn đề của cuộc cáchmạng, cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm vào cái mục đích ấy mà giải quyết”

- Giai đoạn phát triển và hiện thực hóa tư tưởng HCM (1941-1969) : đầu năm 1941 HCM về nước trực tiếp chỉđạo HN TW 8 (tháng 5-1941), đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc cao hơn hết, tạm thời gác khẩu hiệu “cách mạng điềnđịa”, xóa bỏ vấn đề lliên bang Đông dương, lập ra Mặt trận Việt Minh, thực hiện Đại Đoàn kết dân tộc trên cơ sở liênminh công nông Nhờ đường lối đúng đắn đó, sau 4 năm Đảng đã lãnh đạo CM tháng 8 thắng lợi Đó là thắng lợi đầutiên của tư tưởng HCM Sau khi giành được chính quyền, Đản g và nhân dân phải tiến hành 2 cuộc kháng chiến chống

1-6

Trang 12

Pháp và chống Mỹ, vừa xây dựng CNXH ở Miền Bắc, vừa đấu tranh giải phóng Miền Nam Đây là thời kỳ tư tưởng HCMđược bổ sung, phát triển và hoàn thiện trên một loạt vấn đề cơ bản của CM VN : về đường lối chiến tranh nhân dân

“toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính”, về xây dựng CNXH ở một nước vốn là thuộc địa nửaphong kiến quá độ lên CNXH không trải qua chế độ TBCN, trên điều kiện đất nước bị chia cắt và có chiến tranh, về xâydựng Đảng với tư cách là Đảng cầm quyền, về xây dựng nhá nước kiểu mới của dân, do dân, vì dân; về củng cố vàtăng cường sự đoàn kết nhất trí trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Trước khi qua đời (ngày 2/9/1969)HCM để lại di chúc thiêng liêng gửi gắm trong đó những tinh hoa của tư tưởng, đạo đức, tâm hồn cao đẹp của một vĩnhân hiếm có, đã suốt đời phấn đấu hy sinh vì tổ quốc và nhân loại Di chúc đã tổng kết sâu xa những bài học đấutranh và thắng lợi của cách mạng VN, đồng thời cũng vạch ra những định hướng mang tính cương lĩnh cho sự pháttriển của đất nước và dân tộc ta sau khi kháng chiến thắng lợi

Đảng ta và nhân dân ta ngày càng nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn di sản tinh thần vô giá mà HCM để lại chochúng ta ĐH đại biểu toàn quốc của Đảng lần VII đã khẳng định : Đảng lấy CN Mác Lênin và tư tưởng HCM làm nềntảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động Tư tưởng HCM đã thật sự là nguồn trí tuệ, nguồn động lực soi sáng vàthúc đẩy công cuộc đổi mới phát triển Những biến đổi chính trị to lớn trên thế giới diễn ra trong hơn 10 năm qua, vừakiểm chứng vừa khẳng định tính khoa học, đúng đắn, tính cách mạng, sáng tạo giá trị dân tộc, ý nghĩa quốc tế của tưtưởng HCM

5 Ý nghĩa thực tiễn :

Qua việc học tập và nghiên cứu tư tưởng HCM có ý nghĩa rất to lớn bởi vì :

Thứ nhất, tư tưởng HCM cùng với CN Mác Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng vàcách mạng VN Tư tưởng HCM trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của CN Mác Lênin HCM đã vận dụngsáng tạo và phát triển CN Mác Lênin vào điều kiện củ thể của nước ta, phù hợp với lịch sử và văn hóa VN, xuất phát từđất nước và con người VN nhằm giải đáp những yêu cầu thực tiễn và lý luận của cách mạng VN Vì vậy, phải nghiêncứu học lập CN Mác Lênin và đồng thời phải đẩy mạnh học tập nghiên cứu tư tưởng HCM

Thứ hai, cốt lõi của tư tưởng HCM là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH Dưới ngọn cờ tư tưởng HCM, cáchmạng VN đã vững bước tiến lên giành được thắng lợi lịch sử có ý nghĩa thời đại Trong quá trình đổi mới, mở cửa, hộinhập, hợp tác liên quốc gia, khu vực … các thế lực thù địch cũng lợi dụng để ráo riết thực hiện âm mưu diễn biến hòabình nhằm xóa bỏ CNXH ở nước ta Làm thế nào để không chệch hướng, làm thế nào để bảo vệ được độc lập, chủquyền dân tộc ? Chỉ có nắm vữn g cốt lõi của tư tưởng HCM và độc lập dân tộc gắn liền với CNXH thì chúng ta mới đổimới, hội nhập vững vàng, tự tin và chủ động

Thứ ba, tư tưởng HCM là mẫu mực của tinh thần độc lập, tự chủ, đổi mới và sáng tạo HCM là con người củađộc lập, tự chủ của đổi mới và sáng tạo Người luôn luôn xuất phát từ thực tiễn, hết sức tránh lặp lại những lối cũ,đường mòn, không ngừng đổi mới, tìm ra câu trả lời mới cho thực tiễn không ngừng biến đổi Đó là nét đặc sắc nhấtcủa tinh thần và phong cách HCM Ngày nay, thế giới đang diễn biến theo xu hướng khu vực hóa, toàn cầu hóa Để giảiquyết tốt những vấn dề đang đặt ra trong thực tiễn đổi mới thì phải nắm cái tinh thần khoa học và cách mạng, tínhbiện chứng của CN á Mác Lênin , tính độc lập tự chủ, đổi mới không ngừng sáng tạo của Chủ tịch HCM, biết gắn lý luậnvới thực tiễn, lời nói và việc làm thật sự cải biến hiện thực đất nước

Tóm lại, nghiên cứu học tập tư tưởng HCM là để thấm nhuần sâu sắc hệ thống quan điểm, phương pháp cáchmạng của HCM, để kiên định mục tiêu, lý tưởng nâng cao lòng yêu nước, tinh thần phục vụ nhân dân, nâng cao đạođức CM, vươn cao ngọn cơ lãnh đạo của Đảng, đưa sự nghiệp cách mạng nước ta đến thắng lợi

1-7

Trang 13

Vấn đề 2: Tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân :

Bài làm

Chủ tịch HCM là người khai sinh ra nước VNDCCH, sáng lập NNDCND đầu tiên ở Đông Nam Á, người đã dàycông xây dựng bộ máy NN ta ngày càng hòan thiện qua từng giai đọan lịch sử Vì vậy nghiên cứu tư tưởng HCM vềmột NN do Dân, của Dân, vì Dân là công việc có ý nghĩa thực tiễn quan trọng nhằm định hướng cho việc xây dựng

NN PQ của ta hiện nay Vấn đế chính quyền là vấn đề cơ bản của mỗi cuộc CM Trong quá trình tìm đường cứu nước,CTHCM phải tìm tòi, giải quyết hàng lọat vấn đề về đường lối chiến lược của CM, về giành chính quyền và giữ chínhquyền TTHCM về một NNPQ của dân, do dân, vì dân là một trong những nội dung tư tưởng cơ bản, hình thành khásớm trong hệ tư tưởng HCM, ngay cả trước khi người tiếp thu được CN Mác- Lê Nim và trở thành người cộng sản NNbao giờ cũng là bộ máy chuyên chính của một giai cấp NNcách mạng của ta mang bản chất công nhân- giai cấp trungtâm, đại diện cho lựu lượng tiến tiến và phương thức SX tiến bộ nhất của thời đại Đó là vấn đề thuộc nguyên tắc màHCM đã kế tục một cách trung thành những nguyên lý về NN và CM của CN M_LN

Nếu vấn đề cơ bản của mọi cuộc CM là vấn đề chính quyền thì vấn đề cơ bản của chính quyền ở chỗ nó thuộc

về ai, phục vụ cho quyền lợi của ai Điều HCM đặc biệt nhấn mạnh và có thể coi đó là nét phát triển sáng tạo củaNgười trong vấn đề NN, NN còn là cơ quan QL của nhân dân, do dân bầu ra, làm việc vì dân, chịu sự kiểm sóat củanhân dân Đó mới thật sự là NN của dân Vì thế từ rất sớm HCM đã khẳng định “ Hễ Chính phủ nào mà có hại cho dânchúng phải đập đổ CP ấy đi và gây lên CP khác” Qua khảo sát, rút kinh nghiệm các kiểu NN tiêu biểu trên thế giới vàcăn cứ vào thực tiễn VN, HCM đã điều chỉnh và hòan thiện tư duy về sự lựa chọn một hình thức NN phù hợp với hòancảnh nước ta Thực chất đó là NN của dân, do dân, vì dân

NN của dân:

Trước hết, CT HCM luôn luôn khẳng định NN của ta là NN của dân Ngay khi vừa giành được CQ (8/1945) nhạybén trước tình hình QT và trước đòi hỏi cấp bách của đất nước Người đã cùng tòan thể đồng bào lập tức bắt tay vàomột công việc trọng đại là thiết lập một NN của dân tộc VN, một NN đã được định rõ trong hiến pháp đầu tiên củanước ta: “ Tât cà quyền binh trong nước là của tòan thể nhân dân VN, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo,giai cấp, tôn giáo” Nội dung cơ bản của TTHCM về NN của dân là thực hiện quyền làm chủ về chính trị của nhân dân

Cơ quan quyền lực NN từ TW cho đến địa phương đều do nhân dân trực tiếp hay gián tiếp bầu ra Mọi quyền lực ,quyền hành đều thuộc về nhân dân Đội ngũ công chức trong bộ máy NN là con em của nhân dân, do nhân dân lựachọn cử ra và tòan bộ hệ thống NN cũng như mọi họat động của công chức đều phải vì lợi ích của nhân dân Ngòai lợiích của nhân dân, NN không có lợi ích nào khác Vì vậy, “ Việc vì có lợi cho nhân dân phải hết sức làm, việc gì có hạicho dân phải hết sức tránh” Muốn làm được như vậy, từng cơ quan NN cho đến từng công viên chức hết sức lắngnghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, di sâu, đi sát quần chúng nhân dân và chịu sự kiểm tra giám sát của nhândân, thật sự là những công bộc “đầy tớ trung thành” của nhân dân, kiên quyết chống lại thói quan liêu, của quyền,

“đứng trên dân, đè đầu, cưỡi cổ dân”

NN do dân :

Đã là NN của dân, do dân thì mọi quyết định của NN có liên quan đến sự sinh tồn và lợi ích của nhân dân phảiđược đông đảo quần chúng nhân dân tham gia bàn bạc, thảo luận và quyết định Như vậy, nhân dân không chỉ làngười trực tiếp xây dựng bộ máy NN, góp ý kiến xây dựng các chủ trương, chính sách, PL của NN mà còn là người trựctiếp hoặc gián tiếp tham gia quản lý XH, quản lý NN NN phải biết “Đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân… CPchỉ giúp kế họach cổ động “ Đã là NN do dân lựa chọn, bầu ra những đại biểu của mình, NN đó do dân ủng hộ, giúp

đỡ, đóng thuế để NN chi tiêu, họat động, NN đó lại do dân phê bình, xây dựng, giúp đỡ Do đó, Người yêu cầu : Tất cả

Trang 14

các cơ quan NN là phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát củanhân dân Nếu CP làm hại dân thì có quyền đuổi CP Nghĩa là khi các ơ quan đó không đáp ứng được lợi ích và nguyệnvọng của nhân dân thì dân sẽ bãi miễn nó Người ân cần căn dặn, để NN thật sự là của dân, xứng đáng là đại biểu củanhân dân thì NN phải thường xuyên thực hiện phê bình và tự phê bình, lấy ý kiến của dân tín nhiệm hay không khenchê rõ ràng để làm trong sạch bộ máy NN Công việc xây dựng NN là trách nhiệm của dân, NN muốn điều hành quản lý

XH có hiệu lực, thấm nhuần lời dạy của Bác, CP và nhân dân hòa với nhau làm theo phương châm “cùng ăn, cùng ở,cùng làm việc” Nhờ vậy mà mọi công việc kháng chiến dù khó khăn, gian khổ đến mấy vẫn hòan thành, đưa khángchiến đến thắng lợi Trong công cuộc kiến thiết, nhất là công cuộc đổi mới ngày nay, theo lời dạy của Người, mọi côngviệc lớn nhỏ, kể cả công việc xây dựng CQ đều phải dựa vào dân : “ Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lầndân liệu cũng xong” khẩu hiệu “dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra” không phải chỉ là đối với công việc XH, màtrước hết là đối với công việc xây dựng CQ Dân phải kiểm tra ngay cả bản thân chững việc làm của CQ bằng một cơchế kiểm tra hữu hiệu Có như vậy mới thực hiện triệt để quyền làm chủ về chính trị của nhân dân

NN vì dân:

Theo TT HCM, chỉ có một NN thực sự của dân, do dân tổ chức, xây dựng nguyện vọng của nhân dân, không

có đặc quyền, đặc lợi, thực sự trong sạch, cần kiệm kiêm chính, CT HCM đã nói “ Cả đời tôi chỉ có một mục đích, làphấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân” HCM đã chỉ rõ “ “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi

mà dân cứ chết rét, thì tự do độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết rõ gía trị của tự do, của độc lập khi mà dân được

ăn no, mặc đủ Và người cũng nhấn mạnh “Chúng ta phải thực hiện ngay :

- Làm cho dân có ăn

mà còn cao hơn nữa, Người đòi hỏi “Chính sách của Đảg và CP là phải hết sức chăm nôm đến đời sống của nhân dân.Nếu dân đói, Đảng, CP có lỗi, nếu dân rét Đảng, CP có lỗi, nếu dân dốt là Đảng, CP có lỗi, nếu dân ốm là Đảng, CP cólỗi từ đó HCM yêu cầu: …”Cán bộ Đảng và CQ từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhândân Phải lãnh đạo tổ chức, giáo dục nhân dân tăng gia SX và tiết kiệm Dân đủ mặc thì những chính sách của Đảng và

CP đưa ra sẽ dễ dàng thực hiện Nếu dân đói, rét, dôt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy cũng không thực hiệnđược”

Quan điểm NN vì dân của HCM đặt ra trong một trọng trách cực kỳ to lớn và nặng nề đối với hệ thống NN vàđội ngũ công chức, viên chức của ta Không hòan thành được trọng trách đó, chẳng những NN ta không giữ được cácdanh hiệu vẽ vang của dân, do dân, vì dân mà còn sẽ không được sự đồng tình, ủng hộ của chính những người chủ đãbầu ra đó là nhân dân

Xây dựng củng cố NNPQ của dân, do dân, vì dân thực chất là xây dựng một NN tiêu biểu cho quyền lực chínhtrị của tòan dân Một khi nền dân chủ được thực hiện triệt để thông qua việc quản lý và tổ chức các quá trình dân chủcủa NN, thì luật pháp của NN chính là sự kết động tinh thần dân chủ, bởi pháp luật đó là ý chí chung của tòan dân

Trang 15

Nhìn lại hơn nữa thế kỷ xây dựng NN, chúng ta họat động của NN ta ngày càng một thể hiện là NN dân chủ, gắn bóchặt chẽ với nhân dân, phục vụ lợi ích của nhân dân, là nơi thể hiện và phát huy quyền lực nhân dân dưới sự lãnh đạocủa Đảng Tuy nhiên, do được tổ chức và họat động trong điều kiện chiến tranh kéo dài, họat động quá lâu trong cơchế tập trung, quan liêu, cho nên ngày nay trước yêu cầu đổi mới của sự phát triển đất nước, họat động của bộ máy

NN bộc lộ những bất cập

Thực hiện đường lối đổi mới đề ra từ ĐH lần thứ VI của Đảng chúng ta đã thu được những thành tựu có ýnghĩa rất quan trọng trên các lĩnh vực, trong đó phải kể đến kết quả đáng nghi nhận về đổi mới tổ chức bộ máy họatđộng của NN, về cải cách nền hành chính quốc gia …Tuy nhiên trong giai đọan trước mắt, một trong những nội dungđòi hỏi bức xúc là phải thực hiện ngay trên thực tế mặt bản chất nhất của NN ta là dân chủ: Tất cả mọi việc làm củachính quyền các cấp và của mỗi cán bộ công chức NN đều phải tuân thủ và biểu hiện rõ rệt tinh thần dân chủ, tinhthần vì dân Ở đâu còn tư thù, tư oán, còn trù dập, còn sách nhiễu, còn chiếm công vi tư, xa hoa phung phí tiền bạccủa nhân dân thì ở đó chưa có dân chủ, chưa có một chính quyền thực sự vì dân

Hiện nay việc xây dựng và hòan thiện NN là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của tiến trình đổimới đất nước, nhằm nâng cao năng lực quản lý NN trong điều kiện mới Để đảo bảo quyền lực NN thuộc về nhân dânthực hiện đúng tư tưởng của HCM “dân là chủ”, và “dân làm chủ”, chúng ta đã và đang nổ lực phấn đấu xây dựng một

bộ máy NN trong sạch có hiệu lực tăng cường hiệu quả chỉ đạo, điều hành, nhằm đưa đường lối, chủ trương chính sáchcủa Đảng vào cuộc sống

Từ những quan điểm tư tưởng cơ bản của HCM về xây dựng NN của dân, do dân, vì dân ĐH lần thứ X củaĐảng đề ra chủ trương “ Phát huy dân chủ, tiếp tục xây dựng và hòan thiện NNPQXHCN” Dân chủ XHCN vừa là mụctiêu vừa là động lực và là những bước đi của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, thể hiện mối quan hệgắn bó giữa Đảng, NN và nhân dân NN đại diện quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức, thực hiệnđường lối chính trị của Đảng Mọi đường lối chính sách của Đảng và PL của NN đều vì lợi ích của nhân dân, có sự thamgia ý kiến của nhân dân

Tiếp tục xây dựng và hòan thiện NNPQXHCN, xây dựng cơ chế vận hành của NN PQXHCN, bảo đảm tất cảnguyên tắc quyền lực của NN đều thuộc về nhân dân; quyền lực NN là thống nhất, có sự phân công phối hợp giữa các

cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp

Thực tiễn qua 20 năm đổi mới và từ kinh nghiệm xây dựng và hòan thiện NN hơn nữa thế kỹ qua, chúng ta có

đủ cơ sở tin tưởng rằng Đảng và nhân dân nhất định sẽ hòan thiện NN theo hướng dân chủ, thực sự là NN của dân, dodân, vì dân để đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ, văn minh./

Tư tưởng HCM về xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân (Vị trí của vấn đề quản lý nhà nước bằng pháp

luật, vì sao Nhà nước phải được xây dựng trên cơ sở hiến pháp và pháp luật, có hệ thống P.luật hoàn chỉnh, tiến bộ; cóđội ngũ cán bộ, công chức )

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc Tư tưởng đó là sự kế thừa cóchọn lọc những tinh hoa nhân loại và của dân tộc, là sự tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điềukiện Việt Nam Trong toàn bộ nội dung tư tưởng của Người thì tư tưởng về nhà nước chính là sự kế thừa và phát triểncủa Hồ Chí Minh về các kiểu nhà nước trong lịch sử, là sự vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước vàođiều kiện nước ta

Trang 16

Xây dựng một nhà nước do nhân dân lao động làm chủ là tư tưởng nhất quán trong cuộc đời hoạt động cáchmạng của Hồ Chí Minh Xuất phát từ lòng yêu nước thương dân, Người đã ra đi tìm đường cứu nước và đã tìm thấy conđường cách mạng vô sản, đồng thời Hồ Chí Minh cũng lựa chọn xây dựng một nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, một nhànước của dân do dân, vì dân khác về bản chất so với nhà nước thực dân phong kiến Người đã nhận thức được tất cảcác nhà nước trước cách mạng vô sản đều chỉ là nhà nước của một số ít người, nhà nước của giai cấp bóc lột Vì thế HồChí Minh đã chỉ rõ : “Chúng ta đã hy sinh làm cách mạng thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mạng rồi thìquyền giao cho dân chúng, chớ để trong tay một số ít người”.

Từ thực tiễn nghiên cứu và khảo sát các kiểu nhà nước khác nhau trên thế giới, Hồ Chí Minh đã phê phán cáccuộc cách mạng tư sản Mỹ, Pháp, … là những cuộc cách mạng “không đến nơi” vì chính quyền Nhà nước thật sự khôngphải của số đông nhân dân, của người lao động, mà chỉ là một bộ máy của thiểu số giai cấp thống trị, bóc lột Khaithác và kế thừa những bài học kinh nghiệm của CM TG, đặc biệt là cuộc CMT10 Nga vĩ đại với mô hình NN CM kiểu mớicủa giai cấp CN và nhân dân lao động, qua thắng lợi CMT8 -1945, căn cứ vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của nước

ta, HCM và Đảng ta đả điều chỉnh và hoàn thiện nhận thức về mô hình NN CM của nước ta là: Nhà nước dân chủ nhândân

Nhà nước kiểu mới theo Hồ Chí Minh là một nhà nước của dân, do dân “Tất cả quyền bính trong lúc này là củatoàn thể nhân dân Việt Nam Việc nước là việc chung, mỗi một người con rồng cháu tiên, bất kỳ già trẻ gái trai, giàunghèo, nòi giống, tôn giáo đều phải gánh vác một phần …” Nhân dân là người bầu ra nhà nước, bầu ra quốc hội vàchính phủ Hồ Chí Minh nhấn mạnh “tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài

có đức để gánh vác công việc nước nhà” và “hễ là công dân đều có quyền đi bầu cử” Nhân dân có quyền kiểm soát,góp ý, phê bình chính phủ, dân có quyền bãi miễn đại biểu quốc hội, hội đồng nhân dân nếu họ không còn xứng đáng

và làm hại dân

Nhà nước kiểu mới là phải coi việc đưa lại quyền lợi chính đáng cho nhân dân là mục tiêu hoạt động của mình

Đó là nhà nước vì dân, phải đặt quyền lợi của nhân dân trên hết “Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm Việc gì cóhại cho dân ta phải hết sức tránh” Nhà nước phải chịu trách nhiệm trước dân, nhà nước là công bọc, là đầy tớ củanhân dân, phải yêu dân, kính dân

Như vậy nhà nước kiểu mới theo Hồ Chí Minh là nhà nước của dân, do dân, vì dân, thể hiện rõ quan điểm:

“Nước lấy dân làm gốc” Đó là nhà nước xây dựng trên khối liên minh chủ nghĩa, trí thức do Đảng cộng sản lãnh đạo lànhà nước quản lý xã hội bằng hiến pháp và pháp luật Vấn đề xây dựng một nhà nước pháp quyền dựa trên cơ sở phục

vụ nhân dân, đã được thể hiện rõ trong tư tưởng Hồ Chí Minh Người có ý thức rất sớm về tầm quan trọng của phápluật trong việc quản lý xã hội, trong bảng yêu sách của nhân dân An Nam do Người soạn thảo gởi đến hội nghị Vecsây

1919 đã thể hiện tư tưởng pháp quyền của Hồ Chí Minh Người đã yêu cầu “Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằngcách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu Châu” “Thay chế độ rasắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, pháp luật phải là ý chí của giai cấp công nhânđồng thời là ý chí của nhân dân lao động, là văn kiện của một giai cấp thống trị Luật pháp của chế độ thực dân phongkiến, đặt ra là để bảo vệ lợi ích cho giai cấp bóc lột…còn hiến pháp, pháp luật của ta là bảo vệ quyền lợi cho nhân dânlao động Pháp luật là phải lấy chữ nhân làm trọng và phải thấy mối quan hệ giữa đức trị và pháp trị Đây là điểm rấtđặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh, một tư tưởng thắm đượm chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa nhân văn, luôn chútrọng đến con người, vì sự nghiệp giải phóng con người, luôn tìm cách hướng con người đến cái chân thiện mỹ Ngườibao giờ cũng nhấn mạnh đến cả hai yếu tố “có lý có tình” Người đã kết hợp nhuần nhuyễn cả “đức trị” và “pháp trị”.Người dùng sức cảm hóa để ngăn ngừa tiêu cực có thể xảy ra với phương châm phòng bệnh hơn chữa bệnh Hồ Chí

Trang 17

Minh có tấm lòng độ lượng bao dung, nhân hậu nhưng Người cũng rất nghiêm khắc bỏ qua sai lầm, khuyết điểm,không bao che, luôn đòi hỏi sự bình đẳng trước pháp luật.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền Người đã có ý trước hết tính hợp hiến, hợp pháp củaquyền lực nhà nước Khi nhà nước Việt Nam mới ra đời năm 1945, Người muốn làm nhanh “càng sớm càng tốt” cuộctổng tuyển cử để bầu ra quốc hội và sau đó là ủy ban soạn thảo hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ CộngHòa Trong 24 năm làm chủ tịch nước (1945 – 1969) Hồ Chí Minh đã chủ trì soạn thảo hai hiến pháp năm 1946 và

1959 Đó là cơ sở pháp lý của quyền lực nhà nước Người cũng thường xuyên nhắc nhỡ hoạt động của bộ máy hànhpháp, trị pháp phải dựa trên cơ sở vững chắc của hiến pháp và pháp luật

Hồ Chí Minh không theo thuyết “tam quốc dân lập”, đây là lý luận xây dựng nhà nước tư sản được nhà nước ápdụng từ trước đến nay Quan điểm của Hồ Chí Minh là không có sự chia sẻ quyền lực mà quyền lập pháp (quốc hội)hành pháp (chính phủ), tư pháp (viện kiểm sát tòa án) phải thống nhất chặt chẽ với nhau để tất cả quyền lực đềuthống nhất là quyền lực của nhân dân Nhưng giữa các quyền đó có sự phân công, phối hợp nhau, tránh chòng chéo vàphản quyền

Nhà nước quản lý xã hội bằng hiến pháp và pháp luật là tư tưởng nhất quán của Hồ Chí Minh về nhà nướcpháp quyền Tư tưởng này được thể hiện rất sớm qua bản yêu sách 8 điểm gởi đến hội Nghị Vec-sây 1919 Người chútrọng đặc biệt đến việc xây dựng pháp luật và việc đưa pháp luật vào thực hiện có kết quả trong cuộc sống TheoNgười, phải tuyên truyền giáo dục pháp luật cho nhân dân, làm cho dân nắm được pháp luật, hiểu được luật và làmtheo luật Người yêu cầu các cơ quan nhà nước, cán bộ viên chức kể cả cán bộ chủ chốt phải gương mẫu chấp hành.Ngay cả Đảng cầm quyền cũng phải hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật Bản thân Hồ Chí Minh là mộttấm gương về chấp hành hiến pháp và pháp luật, không có ngoại lệ nào dù đó là chủ tịch nước

Về xây dựng bộ máy nhà nước, Hồ Chí Minh nhất quán quan điểm xây dựng ở Việt Nam Quốc hội thực sự là

cơ quan quyền lực cao nhất; chính phủ là cơ quan hành chính cao nhứt Với một nền hành chính quốc gia hoạt độngtheo nguyên tắc tập trung dân chủ đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của nhân dân Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng tổchức tư pháp hiện đại và dân chủ Tòa án được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc độc lập với cơ quan hành chính,trong xét xử có phụ thẩm nhân dân tham gia, thẩm phán do chính phủ bổ nhiệm, phiên tòa xét xử công khai, quyềnbào chữa của các bị cáo được bảo đảm trong xét xử Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không cóquyền can thiệp Tóm lại, một bộ máy nhà nước kiểu mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ máy nhà nước hiệnđại, dân chủ, có hiệu lực, tránh tùy tiện Hồ Chí Minh cũng coi trọng vấn đề cán bộ, công chức nhà nước, đề cao vị trí

và vai trò của họ Người cho rằng: “Cán bộ là dây chuyền của bộ máy Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động

cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt Cán bộ là những người đem chính sách của chính phủ, của đoàn thể thihành trong nhân dân, nếu cán bộ dỡ thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được” Người có quan điểm nhấtquán về tiêu chuẩn cán bộ – viên chức nhà nước là phải vừa có đức, có tài, vừa hồng “vừa chuyên” Hai mặt đó phảiluôn luôn đi đôi với nhau mà đức phải là gốc Theo Hồ Chí Minh tiêu chuẩn người cán bộ – công chức nhà nước cónhững yêu cầu là : phải tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng (là yêu cầu đầu tiên phải có), thành thạo côngviệc, phải có mối liên hệ mật thiết với dân, phải dám phụ trách, dám quyết đoán, dám chịu trách nhiệm nhất là trongnhững tình huống khó khăn, thất bại không hoang mang, thắng lợi không kiêu ngạo, phải trung thực, luôn có chí tiếnthủ, luôn luôn tự phê bình và phê bình, biết người, biết việc, không thành kiến, không bao che

Trong việc lựa chọn người vào đội ngũ cán bộ – công chức nhà nước, Hồ Chí Minh coi trọng biện pháp thituyển đội ngũ cán bộ – công chức Điều này thể hiện rõ trong hai sắc lệnh do Người ký 1948, 1950 hoặc sắc lệnh năm

1946 qui định tiêu chuẩn chuyên môn hóa cán bộ tư pháp Những qui định về thi tuyển, về tiêu chuẩn hoá đội ngũ viênchức nhà nước của Người vẫn có ý nghĩa quan trọng trong quá trình cải cách hành chính hiện nay

Ngày đăng: 21/02/2016, 10:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w