Giáo trình bệnh lý thú y
Trang 1 V PHÂN LOẠI VIÊM
I - PHÂN LOẠI THEO LÂM SÀNG
1 Căn cứ vào vị trí xảy ra viêm
Như viêm gan, viêm thận, viêm da… Khi cần
phân loại chi tiết hơn nữa như viêm kẽ thận,
viêm kÏ cơ tim…
Cách gọi tên cũng đơn giản: Sau tên cơ quan hay tổ chức thêm chữ viêm (chữ la tinh itis)
Thí dụ: Viêm gan: hepatitis; viêm thận: Nephritis
Cách phân loại này đơn giản, tiện trong lâm
sàng nhưng không nêu được những đặc điểm
và bản chất phức tạp của viêm.
Trang 22 Căn cứ vào thời gian tiến triển của viêm
a/ Viêm quá cấp tính (peracuta inflammatio)
Quá trình viêm xảy ra mau lẹ, có khi chỉ vài giờ con
vật đã chết Thường do những kích thích rất mạnh
gây nên.Tổn thương ở thể này không kịp xuất hiện
Hay gặp ở một số bệnh truyền nhiễm như Nhiệt thán, Đóng dấu lợn, Tụ huyết trùng…
b/ Thể cấp tính (Acuta inflammtio)
Quá trình viêm xảy ra nhanh, ồ ạt với những triệu
chứng toàn thân rõ ràng như: sốt cao, rối loạn thần
kinh rối loạn tim mạch, hô hấp, tiêu hóa… Các biểu hiện cục bộ như sưng, nóng, đỏ, đau rõ Về mặt mô học, hiện tượng xung huyết, rỉ viêm và các tế bào
xâm nhập nhiều, nhất là bạch cầu đa nhân trung tính chiếm ưu thế Thể viêm này kéo dài thường từ 24 giờ đến ba tuần lễ
Trang 3sự cân bằng giữa sức đề kháng của cơ thể và yếu
tố gây bệnh Mycobacteria (Tuberculosis), Brucella, các loại nấm (Fungi), một số giun sán và ấu trùng của chúng có thể tạo nên ở mô bào một loại cấu
trúc gọi là u hạt quá mẫn (hypersensitivity
granuloma), hay u hạt truyền nhiễm (Infectious
granuloma),
d/ Thể á cấp tính (Subacuta inflammtio)
Thể này viêm kéo dài hơn thể cấp tính, thời gian
trung bình từ vài ngày đến vài tuần lễ Thể này, nếu
sự cân bằng giữa nguyên nhân gây viêm và sức đề kháng của cơ thể thay đổi thì bệnh có thể chuyển thành thể cấp tính, hoặc thể mãn tính
Trang 4 II PHÂN LOẠI THEO m« HỌC
Chủ yếu là dựa vào những biến đổi cơ bản tại ổ
viêm để phân loại Căn cứ vào những thay đổi về hình thái, cấu trúc của mô bào và thành phần chất
rỉ viêm, người ta chia viêm ra ba loại cơ bản là:
viêm biến chất, viêm rỉ, viêm tăng sinh
Cách phân loại này cũng chỉ tiện cho nghiên cứu
và học tập Thực tế phải hiểu rằng một loại viêm
nào đó chỉ là một trong ba quá trình trên chiếm ưu thế, còn hai quá trình khác biểu hiện yếu hơn hoặc chậm hơn mà thôi Thực ra không có một ranh giới
rõ ràng dứt khoát giữa ba quá trình trên trong viêm, chúng có thể xảy ra đồng thời hoặc trước - sau hay xen kẽ nhau, thậm chí có thể chồng chéo lên nhau trong cùng một phản ứng viêm
Trang 5 1 Viêm biến chất (inflammatio alterativa) .
chủ yếu còn phản ứng huyết quản, rỉ viêm và tăng sinh thể hiện nhẹ
tim, gan, não tủy… VBC cơ tim gặp ở bệnh LMLM thể ác tính, bệnh Derzsy ở ngỗng con…
đôi khi cũng thấy diễn biến m¹n tính thể hiện ở sự tăng sinh mạnh ở mô kẽ của tổ chức bị viêm
bệnh gây nên
Trang 6 2 Viêm rỉ ( Inflammatio exudativa) .
huyết quản thể hiện rõ, hiện tượng rỉ viêm
chiếm ưu thế Do thành mạch quản bị tổn
thương là tăng tính thấm khiến cho các thành phần trong máu như nước, các thành phần
Protít và các loại bạch cầu thoát mạch đi vào ổ viêm Thể viêm này hiện tượng biến chất, tăng sinh xảy ra ở mức độ nhẹ
ta phân rỉ viêm ra mấy loại sau: viêm thanh
dịch, viêm tơ huyết, viêm mủ, viêm xuất huyết
và viêm cata.
Trang 7a/ Viêm thanh dịch
nhiều dịch thể trong, chứa nhiều Albumin (3 - 5
%).
có hệ thống mạch quản phong phú phân bố
rộng rãi khắp các vách xoang như màng phổi (pleuritis serosa), bao tim (pericarditis serosa), màng bụng (peritonitis serosa)
dạ dày (gastritis serosa), đường ruột (enteritis serosa), nội mạc tử cung (endometritis serosa)
trường hợp ở thể á cấp tính như: viêm bao
khớp, viêm bao dịch hoàn
Trang 8 Nguyên nhân gây viêm thanh dịch có rất nhiều Viêm thanh dịch ở phổi hầu hết là do virut, vi
khuẩn Quá trình viêm ở đây đầu tiên là viêm thanh dịch, sau phát triển thành viêm tơ huyết, viêm mủ Nguyên nhân virut có thể gặp trong bệnh cúm ngựa, lợn…
viêm rỉ Khi dịch rỉ viêm ít, quá trình viêm dừng lại thì thanh dịch bị hấp thu nhanh chóng và
không lưu lại tổn thương gì trong mô bào Nếu dịch rỉ nhiều sẽ gây chèn ép các cơ quan lân
cận làm rối loạn chức năng.
Trang 9 b.Viêm tơ huyết (Inflammatio fibrinosa)
dịch rỉ viêm chứa nhiều tơ huyết (fibrin).
fibrinous Diptheria)
ở thanh mạc Đặc điểm của thể viêm này là tơ huyết quện với tổ chức hoại tử phía dưới tạo
thành một vẩy chắc khó long ra Khi bóc ra để
lộ ở dưới một vết loét xuất hưyết
Newcastle, ở đường ruột trong bệnh do trực
trùng hoại tử ở bò, trong bệnh dịch tả lợn
hồng (nhuộm H.E)
Trang 10 Viêm tơ huyết thể màng giả (Inflammatio
fibrinous crouposa)
mỏng phủ lên bề mặt tổ chức bị viêm, hoặc kết vón lại thành cục, sợi, thỏi, có khi chèn đầy các xoang trong cơ thể Mô bào phía dưới chỉ tổn thương nhẹ, vì vậy khi bóc lớp tơ huyết đi
không để lại vết loét Viêm tơ huyết thể màng giả có thể xảy ra ở niêm mạc và thanh mạc.
tức là tăng sinh tế bào xơ thay thế cho tơ huyết
cơ năng các cơ quan.
Trang 11 c.Viêm mủ ( inflammatio purulenta)
Viêm mủ là quá trình viêm trong đó mủ là thành phần chính của dịch rỉ viêm Sự hình thành mủ là một quá trình đòi hỏi phải có bạch cầu đa nhân trung tính, các enzim phân huỷ protit và tổ chức
bị hoại tử Như vậy riêng sự có mặt của bạch
cầu đa nhân trung tính chưa thể coi là mủ,
nhưng nếu chúng xuất hiện với số lượng lớn
trong một thời gian dài thì mủ cũng được hình
thành Như vậy trong thành phần mủ gồm bạch cầu đa nhân trung tính sống hoặc chết, kết hợp với thành phần tế bào tổ chức hoại tử; một số
thành phần khác của máu như huyết thanh, tơ
huyết và một số tế bào khác…
Trang 12 Trạng thái có mủ rất khác nhau, phụ thuộc
vào nguyên nhân và điều kiện hình thành
Glucococcus Màu sắc cũng rất phức tạp
thường có màu trắng sữa, trắng xám, màu vàng do Staphylococcus, hoặc vàng xanh do Pneumococcus, nếu lẫn máu sẽ có màu đỏ nâu hay nâu sẫm, khi có vi khuẩn sinh hơi
yếm khí phát triển mủ sẽ có màu xanh đen rất bẩn, do sunfua sắt tạo nên.
trực khuẩn sinh mủ Corynebacterium
pyogenes, Staphylococcus aureus,
Streptococcus…
Trang 13 Một số vi khuẩn gây viêm hạt truyền nhiễm cũng
có thể xuất hiện mủ quanh vi khuẩn như
actinomycose, blastomycese, thời kì đầu của viêm lao, nhất là viêm màng não lao cũng có viêm mủ Một số vi khuẩn vốn không gây viêm mủ nhưng do thay đổi độc lực hay sức đề kháng mà sau này có thể hấp dẫn bạch cầu đa nhân trung tính đến
nhiều, gây mủ như vi khuẩn nhiệt thán v.v
cũng gây viêm mủ
hấp, đường niệu sinh dục Ví dụ: viêm mủ cata nội mạc tử cung trong bệnh xảy thai truyền nhiễm
hoặc do các nguyên nhân khác
Trang 14 Viêm tấy mủ : là quá trình viêm xảy ra trong mô liên kết thưa, điển hình nhất là TCLK dưới da hay kẽ cơ Đặc điểm của loại viêm này là mủ
lan đi rất nhanh, rộng, không có ranh giới rõ
ràng với tổ chức xung quanh, do một số vi
khuẩn như Streptococcus sản sinh ra enzim
hyaluronidaza có tác dụng thuỷ phân axit
Hyaluronilic - một thành phần cấu tạo quan
trọng của mô bào, làm cho chất cơ bản chuyển
từ dạng đông sang dạng lỏng Ngoài ra một số
vi khuẩn như Streptococcus còn sản sinh ra
enzim Streptokinaza có tác dụng làm tan tơ
huyết, tạo điều kiện làm tan vi khuẩn cũng như các sản phẩm viêm (nhất là mủ) dễ lan trong tổ chức.
Trang 15 Viêm mủ bọc (abces) là viêm mủ tạo thành các túi nắm sâu trong các cơ quan đặc chắc (gan, cơ, phổi v.v ), còn gọi là túi mủ.
huyết quản tân tạo, nguyên bào sợi, BCĐNTT,
ĐTB, và limphô bào; các mao mạch liên tục cung cấp các BCĐNTT để biến thành tế bào mủ nên
được gọi là màng sinh mủ (membrana pyogenica) Bọc mủ có thể lớn dần, lượng mủ ngày càng
nhiều, làm cho áp lực mủ tăng lên, làm rách màng
có thể chảy vào các xoang cơ thể, chảy vào lòng mạch theo dòng máu gây huyết nhiễm mủ Đường thoát mủ sẽ tổ chức hoá và mủ theo đó chảy liên tục ra ngoài tạo thành lỗ dò (fistula)
Trang 16 Viêm mủ trên da:
những lớp mủ nhỏ có ranh giới rõ ràng với vùng
lân cận, nằm rải rác có khi nhiều tạo thành đám
lớn có màng mủ bao bọc, như ap – xe n»m sâu cả dưới lớp bì Khi vỡ ra hình thành một vết loét lớn
và khi lành để lại một vết sẹo ngoài da
nhạy, mãnh liệt của cơ thể chống lại những kích
thích bệnh, đi đôi với sự thực bào và các phản
ứng khác của bạch cầu là sự hình thành kháng thể dịch thể cũng như phản ứng sốt v.v… đều là
những phản ứng chống đỡ có hiệu lực của cơ thể
Trang 17 d Viêm xuất huyết (Inflammatio hemorrhagia)
thấm tăng lên, hồng cầu thoát mạch nhiều đi vào ổ viêm gây VXH VXH thường kết hợp với các loại viêm rỉ khác nên trong thành phần dịch rỉ viêm
ngoài hồng cầu còn có thanh dịch, BC và tơ huyết
huyết, nhiệt thán, DTTB, DTL, liên cầu khuẩn cấp, xoắn khuẩn hoặc sài sốt chó
axit phênic v.v…
nhưng nhiều nhất vẫn là niêm mạc, thanh mạc
Trang 18e Viêm ca ta (Inflamatio catarrhalis):
chính của DRV là dịch nhày (niêm dịch) được sinh
ra từ các tế bào biểu mô nằm trong các tuyến
nhờn dưới niêm mạc, hoặc từ các tế bào cốc,
ngoài ra còn có các BC, liên bào long, mảnh vỡ tế bào, mảnh vụn tơ huyết và có khi cả hồng cầu
đường tiêu hóa (dạ dày, ruột…), niêm mạc đường
hô hấp (mũi, khí quản, phế quản,…), niêm mạc
đường niệu sinh dục và hạch lympho
Trang 19Về đại thể, tùy loại viêm mà trên niêm mạc có các
biểu hiện khác nhau Chất rỉ viêm có thể trong hoặc
đục, vàng xám hay xanh lục, hồng nhạt đỏ hoặc sẫm; trạng thái có thể lỏng loãng như nước, nhày dính hoặc sền sệt có khi có lẫn cục máu đông nhỏ, các mảnh
vụn hoặc sợi tơ huyết có màu vàng hoặc trắng xám Nguyên nhân gây viêm cata thường là những kích
thích nhẹ và trong khoảng thời gian ngắn
+ Vi khuẩn, virus có độc lực yếu hoặc thời kỳ đầu khi chúng mới kích thích gây bệnh Thí dụ: trong bệnh
LMLM, DTTB, cúm, dịch tả lợn…
+ Các kích thích nhẹ và kéo dài của một số loại hóa
chất: Thí dụ niêm mạc đường hô hấp viêm cata khi hít phải formalin, clorin, brômin
+ Một số thức ăn kém phẩm chất cũng có thể gây
viêm cata niêm mạc đường tiêu hóa
+ Yếu tố thời tiết (lạnh) và một số dị nguyên (phấn
hoa, bụi )
Trang 20Tiến triển: trong viêm cata, niêm dịch tiết ra nhiều có tác dụng bảo vệ niêm mạc và rửa trôi chất kích thích Trong viêm cata cấp tính, nếu nguyên nhân bị mất đi hoặc ngừng tác động thì niêm dịch cũng như các
thành phần khác được tiêu đi, biểu mô tổn khuyết
được các tế bào đồng loại tăng sinh bù đắp, niêm mạc được khôi phục cả về cấu tạo lẫn cơ năng
Nếu yếu tố gây viêm tiếp tục tác động tăng hoạt động của các tuyến nhờn và chuyển thành viêm cata mãn tính Niêm mạc có thể teo lại, mỏng đi, bề mặt nhẵn
bóng gọi là viêm cata teo đét; hoặc là các tuyến nhờn tăng sinh phình to ra
Sự tăng sinh mô liên kết dưới niêm mạc cộng với sự tăng lên của các tế bào viêm mãn tính ở trên, làm cho vùng viêm dày lên, gây viêm cata phì đại
Có khi vùng niêm mạc teo và vùng tăng sinh xen kẽ
làm cho bề mặt niêm mạc ghồ ghề, lồi lõm không đều Loại tiến triển này hay gặp ở nội mạc tử cung viêm
cata.
Trang 21 3 Viêm tăng sinh:
chức cục bộ chiếm ưu thế, còn hiện tượng biến
chất (thoái hóa, hoại tử) của TB và xung huyết rỉ
viêm ở mức độ yếu – thể hiện của viêm tăng sinh rất đa dạng và phức tạp Có thể thấy quá trình
viêm tăng sinh xảy ra chủ yếu ở mô kẽ nên gọi là viêm kẽ Như trong viêm kẽ cơ tim cấp tính, viêm
kẽ thận cấp tính, trong TCLK tập trung nhiều TB có khả năng sinh sản mạnh như §TB, limphô bào và
tế bào plasma Trường hợp viêm tăng sinh ở
xương và màng xương làm cho xương dày lên
hoặc hình thành u xương Trong một số bệnh ở
gia súc, TB thần kinh đệm tăng sinh tạo thành
những “ hạt thần kinh đệm” như trong bệnh dại,
bệnh Newcastle) v.v…
Trang 22 Ngoài mô kẽ ra, viêm tăng sinh còn tăng sinh tế bào lưới tạo thành các hạt như: “ hạt phó thương hàn” Trong bệnh suyễn lợn (Mycoplasmosis ) sự tăng sinh lan tràn tế bào dạng limphô ở hạch phổi
và quanh các phế quản, vách phế nang và lòng
phế nang làm con vật khó thở
cung hoặc viêm da quanh hậu môn, tạo thành các
nụ thịt, u nhú hoặc “ polip” trên các niêm mạc
phần tế bào tạo nên một cấu trúc đặc biệt về tổ
chức, thường được mô tả dưới thuật ngữ “phản ứng hạt” và quá trình viêm gọi là viêm hạt
(graunomatous – inflammatio)
hạt quá mẫn
Trang 23 Những hạt do các dị vật này gây nên thương tập trung nhiều ĐTB và BCĐNTT bao quanh dị vật Các ĐTB này rất lớn, nhân nhiều và phân bố
khẵp NSC của tế bào, được gọi là tế bào khổng
lồ dị vật (foreign - body - giant – cell), bao quanh
tổ chức hạt này là một màng gồm nhiều tế bào
xơ non
phản ứng với một số vi khuẩn như
Mycobacterium (Tuberculosis), các nấm khuẩn Actinomyces, Cryptococcus, Blastomyces, Cấu trúc của loại hạt này thường có lớp màng xơ
gồm nhiều nguyên bào xơ, huyết quản tân tạo và
tổ chức hạt đặc hiệu điển hình là hạt lao