1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thuật ngữ bóng đá trong tiếng Việt

97 1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Tính cấp thiết của đề tàiTrong xu thế phát triển mạnh mẽ chung của toàn thế giới, việc khoa học kỹ thuật nhân loại ngày một tiến bộ và phát triển, thì việc xuất hiện nhiều những lĩnh vực tri thức mới, nhận thức mới và các khái niệm mới là nhu cầu chung tất yếu của toàn nhân loại. Việc toàn cầu hóa tri thức nhân loại dẫn đến việc cần “định danh” các thuật ngữ mới này để làm sao trong ngôn ngữ sử dụng các khái niệm trở nên than quen và dễ sử dụng là yêu cầu cần thiết phải có. Chính vì vậy đã dẫn đến cuộc “bùng nổ thuật ngữ” – tức là sự xuất hiện ồ ạt các thuật ngữ mới, các trường thuật ngữ mới và các hệ thống thuật ngữ mới. Thuật ngữ không chỉ có vai trò hết sức quan trọng trong việc đưa ra tính chính xác trong các lĩnh vực chuyên môn khác nhau mà có đưa ngôn ngữ của các dân tộc trở nên gần gũi và dễ định hình. Mỗi ngành khoa học đều cố gắng xây dựng cho mình một hệ thống thuật ngữ riêng biệt để làm phương tiện nghiên cứu, giáo dục và truyền bá khoa học đến quảng đại quần chúng nhân dân. Vì vậy, có thể nói, trong xã hội toàn cầu hóa hiện nay, vai trò của thuật ngữ có ý nghĩa vô cùng đặc biệt và cần có sự nhìn nhận một cách khách quan, đúng đắn về vấn đề này. Trong xu hướng toàn cầu hóa ấy, việc ngôn ngữ trong thể thao xuất hiện ngày một dày đặc các thuật ngữ chuyên môn, chuyên biệt là điều hoàn toàn dễ hiểu. Đặc biệt là ngôn ngữ trong môn thể thao được yêu thích nhất tại Việt Nam là bóng đá. Việc nghiên cứu để nắm được những đặc điểm về hình thức và nội dung của các thuật ngữ thuộc môn thể thao này, để tiến tới việc chuẩn hóa chúng là điều vô cùng cần thiết. Chính vì những yếu tố khá đặc biệt của ngôn ngữ trong môn thể thao này mà chúng tôi chọn đề tài “THUẬT NGỮ BÓNG ĐÁ TRONG TIẾNG VIỆT” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn với đề tài “Thuật ngữ bóng đá trong tiếng Việt ”

là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, không sao chép của bất cứ ai

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của riêng mình!

Hà Nội, tháng 7 - 2015

Người cam đoan

Nguyễn Việt Hưng

Trang 2

DANH MỤC VIẾT TẮT

TN: Thuật ngữ

BĐ: Bóng đá

TNBĐ: Thuật ngữ bóng đá

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 8

1.1 Một số vấn đề chung về thuật ngữ 8

1.2 Thuật ngữ bóng đá và thuật ngữ bóng đá trong tiếng Việt 23

1.3 Tiểu kết 28

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC CẤU TẠO CỦA THUẬT NGỮ BÓNG ĐÁ TRONG TIẾNG VIỆT 30

2.1 Tiêu chí nhận diện thuật ngữ bóng đá trong tiếng Việt 30

2.2 Phương thức tạo thành thuật ngữ bóng đá trong tiếng Việt 33

2.3 Cấu tạo thuật ngữ bóng đá trong tiếng Việt 40

2.4 Nhận xét, đánh giá về việc cấu tạo thuật ngữ bóng đá trong tiếng Việt 51

2.5 Tiểu kết 52

Trang 4

Chương 3: ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG NGỮ NGHĨA CỦA THUẬT NGỮ BÓNG

ĐÁ TRONG TIẾNG VIỆT 55

3.1 Các lớp thuật ngữ được sử dụng trong tiếng Việt 55

3.2 Các mô hình định danh của thuật ngữ bóng đá trong tiếng Việt và cách sử dụng 59

3.3 Nhận xét, đánh giá về việc định danh thuật ngữ bóng đá trong tiếng Việt 76

3.4 Tiểu kết 77

KẾT LUẬN 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Minh họa các từ về bóng đá được gọi là thuật ngữ và từ không được gọi là thuật ngữ

Bảng 2.2 Minh họa về các TNBĐ thuần Việt

Bảng 2.3 Minh họa về các TNBĐ Việt Nam vay mượn nước ngoài

Bảng 2.4 Minh họa về các TNBĐ Việt Nam ghép lai

Bảng 2.5 Minh họa về các TNBĐ Việt Nam sao phỏng

Bảng 2.5 Minh họa về các thuật tố trong TNBĐ Việt Nam

Trang 5

Bảng 2.6 Thống kê thuật ngữ bóng đá theo thuật

Bảng 2.7 Cấu tạo của các thuật ngữ có 1 thuật tố

Bảng 2.8 Nguồn gốc của các thuật ngữ có 1 thuật tố

Bảng 2.9 Cấu tạo thuật ngữ bóng đá có 2 thuật tố

Bảng 2.10 Cấu tạo thuật ngữ bóng đá có 3 thuật tố

Bảng 2.11 Cấu tạo thuật ngữ bóng đá có 4 thuật tố

Bảng 2.12 Cấu tạo thuật ngữ bóng đá có 5 thuật tố

Bảng 3.1 Các lớp thuật ngữ bóng đá

Bảng 3.2 Số lượng TNBĐ là đơn vị định danh trực tiếp và gián tiếp

Bảng 3.3 Thống kê mô hình định danh thuật ngữ chỉ vị trí thi đấu

Bảng 3.4 Thống kê mô hình định danh thuật ngữ chỉ chiến thuật thi đấu

Bảng 3.5 Thống kê mô hình định danh chỉ cơ sở vật chất phục vụ thi đấu

Bảng 3.6 Thống kê mô hình định danh thuật ngữ chỉ các giải đấu

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xu thế phát triển mạnh mẽ chung của toàn thế giới, việc khoa học kỹ thuật nhân loại ngày một tiến bộ và phát triển, thì việc xuất hiện nhiều những lĩnh vực tri thức mới, nhận thức mới và các khái niệm mới là nhu cầu chung tất yếu của toàn nhân loại Việc toàn cầu hóa tri thức nhân loại dẫn đến việc cần “định danh” các thuật ngữ mới này để làm sao trong ngôn ngữ sử dụng các khái niệm trở nên than quen và dễ sử dụng là yêu cầu cần thiết phải có Chính vì vậy đã dẫn đến

cuộc “bùng nổ thuật ngữ” – tức là sự xuất hiện ồ ạt các thuật ngữ mới, các trường

thuật ngữ mới và các hệ thống thuật ngữ mới Thuật ngữ không chỉ có vai trò hết sức quan trọng trong việc đưa ra tính chính xác trong các lĩnh vực chuyên môn

Trang 6

khác nhau mà có đưa ngôn ngữ của các dân tộc trở nên gần gũi và dễ định hình Mỗi ngành khoa học đều cố gắng xây dựng cho mình một hệ thống thuật ngữ riêng biệt để làm phương tiện nghiên cứu, giáo dục và truyền bá khoa học đến quảng đại quần chúng nhân dân Vì vậy, có thể nói, trong xã hội toàn cầu hóa hiện nay, vai trò của thuật ngữ có ý nghĩa vô cùng đặc biệt và cần có sự nhìn nhận một cách khách quan, đúng đắn về vấn đề này

Trong xu hướng toàn cầu hóa ấy, việc ngôn ngữ trong thể thao xuất hiện ngày một dày đặc các thuật ngữ chuyên môn, chuyên biệt là điều hoàn toàn dễ hiểu Đặc biệt là ngôn ngữ trong môn thể thao được yêu thích nhất tại Việt Nam là bóng đá Việc nghiên cứu để nắm được những đặc điểm về hình thức và nội dung của các thuật ngữ thuộc môn thể thao này, để tiến tới việc chuẩn hóa chúng là điều

vô cùng cần thiết Chính vì những yếu tố khá đặc biệt của ngôn ngữ trong môn thể thao này mà chúng tôi chọn đề tài “THUẬT NGỮ BÓNG ĐÁ TRONG TIẾNG VIỆT” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đây là công trình nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện những đặc điểm

cơ bản của hệ TNBĐ trên phương diện hình thức cấu tạo và nội dung ngữ nghĩa Trong việc nghiên cứu này, chúng tôi đã áp dụng quan niệm của các nhà ngôn ngữ học về thuật tố cấu tạo thuật ngữ, các đặc điểm quan trọng mà thuật ngữ bắt buộc phải có và lý thuyết điển mẫu trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu

Luận văn sẽ xác định những đơn vị tạo thành hệ TNBĐ, các mô hình cấu tạo

thuật ngữ, làm rõ những phương thức tạo thành TNBĐ, tính có lý do của các thuật ngữ này dựa trên các đặc điểm cơ bản được dùng làm cơ sở định danh trong quá trình tạo ra các TNBĐ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Khảo sát, phân tích các đặc điểm của TNBĐ về hình thức cấu tạo và nội dung ngữ nghĩa để sau này có thể đưa ra một số phương hướng, cách thức xây dựng và

Trang 7

chuẩn hóa TNBĐ, góp phần phát triển và chuẩn hóa hệ thuật ngữ này trong tiếng Việt, phục vụ tốt quá trình nghiên cứu hệ thống thuật ngữ Việt Nam.

3.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau đây:

- Tìm hiểu các vấn đề về lý thuyết liên quan đến đề tài

- Tập hợp hệ thống TNBĐ Việt Nam

- Khảo sát về mặt hình thức cấu tạo của hệ TNBĐ

- Khảo sát về mặt nội dung ngữ nghĩa của hệ TNBĐ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các thuật ngữ biểu đạt các khái niệm được sử dụng trong BĐ Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Ở Việt Nam, hiện nay có nhiều sách viết về BĐ được xuất bản Trong số này,

chúng tôi chọn các cuốn sách sau làm tư liệu nghiên cứu:

- Từ điển bách khoa bóng đá của B.Rohr và G.Simon, xuất bản năm 2006 tại NXB Thế giới

- Tôi yêu thể thao - Bóng đá của Lưu Hải Yến, xuất bản năm 1012 tại NXB

Mỹ thuật

- Luật bóng đá của tổng cục Thể dục thể thao, in năm 1996 tại NXB Thể dục thể thao

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Để đạt kết quả trong việc nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp sau:

Trang 8

(1) Phương pháp miêu tả: Dùng để miêu tả các phương thức tạo thành thuật ngữ, các kiểu hình thức cấu tạo thuật ngữ, các lớp thuật ngữ được sử dụng trong lĩnh vực chuyên môn BĐ Việt Nam, và đặc điểm định danh của hệ TNBĐ.

(2) Phương pháp phân tích thành tổ trực tiếp: Dùng phân tích cấu tạo thuật ngữ theo thành tố trực tiếp nhằm xác định các thuật tố cấu tạo nên thuật ngữ Từ đó, tìm ra được các nguyên tắc cơ sở tạo thành các mô hình cấu tạo và các quy luật cấu tạo nên những thuật ngữ này

(3) Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: Được áp dụng để nghiên cứu hình thức ngữ nghĩa của các TNBĐ Việt Nam , từ đó thiết lập được các mô hình định danh thuật ngữ, các nét đặc trưng làm cơ sở định danh của hệ thuật ngữ nghĩa là cơ sở tạo nên thuật ngữ mới trong hệ TNBĐ Việt Nam

(4) Phương pháp thống kê: Sử dụng để tìm hiểu số lượng tần số xuất hiện, tỉ lệ phần trăm của các phương thức tạo thành thuật ngữ, các kiểu cấu tạo thuật ngữ, các lớp thuật ngữ được sử dụng trong lĩnh vực chuyên môn của BĐ, các mô hình định danh thuật ngữ

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

- Luận văn sẽ góp phần sưu tầm, tổng hợp hệ TNBĐ Việt Nam, giúp nhìn

nhận toàn cảnh các vấn đề về TNBĐ Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung

- Đóng góp cho việc chính lý hệ thống TNBĐ hiện có, định hướng cho việc

sáng tạo các TNBĐ chưa có Điều này giúp ích cho sự phát triển của lĩnh vực BĐ

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Giúp cho học viên, cầu thủ và những người quan tâm có hiểu biết sâu sắc

hơn về các thuật ngữ trong các giáo trình hướng dẫn về BĐ Việt Nam, góp phần chuẩn hóa và giữ gìn sự trong sáng, phát triển của tiếng Việt trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập khu vực và quốc tế

Trang 9

Kết quả nghiên cứu của luận văn là cầu nối trí thức ngôn ngữ học với tri

thức khoa học của lĩnh vực bóng đá, đóng góp vào thư viện khoa học của ngành ngôn ngữ học một tài liệu về hệ thuật ngữ bóng đá

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, khảo sát và phụ lục, luận

văn gồm có ba chương được sắp xếp như sau:

Chương 1: Cở sở lí luận

Chương 2: Đặc điểm hình thức cấu tạo của thuật ngữ bóng đá Việt Nam

Chương 3: Đặc điểm nội dung ngữ nghĩa của thuật ngữ bóng đá Việt Nam

Trang 10

Thuật ngữ là một khái niệm của ngành ngôn ngữ học Nó được sinh ra trong quá trình phát triển các lĩnh vực chuyên biệt của cuộc sống, như: các môn khoa học, các môn thể thao, nghệ thuật,…Vì vậy, nó có liên hệ mật thiết với rất nhiều mặt khác nhau của đời sống Trong mọi lĩnh vực hoạt động nói chung, ta đều phải dùng đến từ ngữ để biểu đạt các khái niệm ngành, nghề nghiệp, chuyên môn… Vậy

“thuật ngữ” là gì?

Xem xét các quan niệm về thuật ngữ đã có, ta thấy các nhà nghiên cứu trong

và ngoài nước có những quan điểm khác nhau, chia thành 2 xu hướng sau Xu hướng thứ nhất, xem xét thuật ngữ trong mối quan hệ với từ ngữ thông thường, được sử dụng trong ngôn ngữ toàn dân Xu hướng thứ hai, xem xét thuật ngữ trong mối quan hệ với khái niệm mà nó biểu thị

Theo xu hướng thứ nhất, Moixeev cho rằng: “Có thể xác định chức năng ngôn ngữ của thuật ngữ như là một chức năng gọi tên, định danh Thuật ngữ định danh sự vật, hiện tượng trong hiện thực và định danh những khái niệm về chúng” [26,21] Mỗi thuật ngữ chỉ biểu thị một khái niệm, và ngược lại, mỗi khái niệm chỉ biểu thị

bằng một thuật ngữ Ví dụ: “Muối” là một thuật ngữ trong hóa học nhằm chỉ hợp

chất có thể hòa tan trong nước

Vinogradov cũng cho rằng thuật ngữ không chỉ đảm nhận chức năng định danh mà còn là đảm nhận chức năng định nghĩa, tức là hoặc nó là phương tiện biểu thị rõ ràng và bấy giờ thì nó là một kí hiệu giản đơn, hoặc là một đơn vị định nghĩa theo logic, bấy giờ thì nó là một thuật ngữ khoa học [26,12]

Xu hướng thứ hai trong nhận diện và phân biệt thuật ngữ được thể hiện trong quan điểm của một số nhà nghiên cứu khác Theo A.S.Gerd định nghĩa: “ Thuật ngữ

là một đơn vị từ vựng ngữ - nghĩa có chức năng định nghĩa và được khu biệt một cách nghiêm ngặt bởi đặc trưng tính hệ thống, tính đơn nghĩa” [18,3]

Theo ý kiến của D.N.Usakop nêu trong Đại từ điển tiếng Nga hiện đại, thì thuật ngữ là “Từ (hay tổ hợp từ) biểu thị chính xác khái niệm nhất định thuộc lĩnh vực chuyên môn được thừa nhận để biểu thị cái gì đó trong môi trường nghề nghiệp

Trang 11

nhất định Các thuật ngữ gọi tên chính xác khái niệm là đối tượng nghiên cứu của thuật ngữ học và của các nhà thuật ngữ học” [18,3].

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra những định nghĩa hoàn toàn không đồng nhất với nhau về thuật ngữ nhưng nhìn chung, các nhà khoa học đều có chung điểm cốt lõi là xem xét quan hệ giữa thuật ngữ và khái niệm nó biểu thị Nguyên Văn Tu định nghĩa: “Thuật ngữ là từ hoặc nhóm từ dùng trong cách ngành khoa học, kĩ thuật, chính trị, ngoại giao, nghệ thuật.v…v… và có một ý nghĩa đặc biệt, biểu thị chính xác các khái niệm và tên các sự vật thuộc ngành nói trên” [43,176] Nguyễn Đức Tồn quan niệm: “Thuật ngữ là từ ngữ biểu hiện một khái niệm hoặc một đối tượng trong phạm vi một lĩnh vực khoa học hoặc chuyên môn” Trong quan niệm về thuật ngữ nêu trên đây, ta thấy thuật ngữ được đặt trong quan

hệ với khái niệm do nó biểu thị Theo các ý kiến đó, thuật ngữ là tên gọi của khái niệm thuộc lĩnh vực, ngành khoa học, công nghệ nào đó

Từ các định nghĩa đã nêu trên đây, có thể đi tới cách hiểu: Thuật ngữ là những

từ, cụm từ cố định, biểu thị các khái niệm, sự vật, hiện tượng thuộc những lĩnh vực khoa học khác nhau

1.1.2 Vị trí của thuật ngữ trong ngôn ngữ

Thuật ngữ có vai trò quan trọng trong đời sống và ảnh hưởng tới tất cả các chuyên ngành, lĩnh vực Vì thế, khi xem xét vị trí của thuật ngữ, các nhà khoa học

Áo cho rằng: thuật ngữ học nằm ở giữa ngôn ngữ học, logic học, bản thể học, lí thuyết thông tin, các khoa học chuyên ngành khách thể liên quan Các nhà khoa học

Xô Viết lại cho rằng ngôn ngữ học, logic học, tâm lí học, điều khiển học, lí thuyết

về các hệ thống và các ngành khoa học khác là các ngành khoa học cận kề và góp phần phát triển thuật ngữ học Thuật ngữ học nằm trong khu vực đường bao giữa ngôn ngữ học, logic học, bản thể học, khoa học máy tính và các khoa học chủ thể liên quan như toán học, vật lí học, hóa học, sinh vật học, khoa học chế tạo máy, luật học, xã hội học, tâm lí học,…Như vậy, khi sắp đặt vị trí của thuật ngữ, ta thấy tính chất liên ngành của khoa học này là khá rõ

Trang 12

Đi vào tìm hiểu vị trí của thuật ngữ trong ngôn ngữ,học, các nhà nghiên cứu cũng có những quan điểm rất khác nhau Họ đưa ra nhiều ý kiến để lí giải câu hỏi: thuật ngữ học nằm ở đâu trong ngôn ngữ học Có thể thấy hiện có hai phái như sau: Theo phái thứ nhất, thuật ngữ được là một bộ phận của từ vựng học Các nhà ngôn ngữ học thuộc trường phái này cho rằng thuật ngữ được tạo nên bởi các đơn vị

từ vựng của ngôn ngữ tự nhiên và đối tượng nghiên cứu của thuật ngữ học là đơn vị ngôn ngữ Theo thống kê của nhà ngôn ngữ học Tiệp Khắc K.Sokhora, 90% từ mới

là thuộc hệ thống thuật ngữ khoa học và kĩ thuật Thuật ngữ là phần từ vựng bị chi phối nhiều nhất trong hệ thống từ vựng Xét theo tiêu chí phạm vi sử dụng, từ vựng được phân chia thành từ vựng toàn dân, từ vựng địa phương, tiếng lóng, từ ngữ nghề nghiệp và thuật ngữ Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ [16,130] Đinh Trọng Lạc thì cho rằng từ ngữ khoa học gồm có thuật ngữ, từ ngữ khoa học chung, và lớp từ ngữ đa phong cách Thuật ngữ là thành tố quan trọng nhất của từ ngữ trong phong cách khoa học Nó là bộ phận cấu thành không thể thiếu trong ngôn ngữ khoa học nói riêng và ngôn ngữ nói chung [4,57]

Theo phái thứ hai, thuật ngữ là một hệ thống có tính độc lập, chúng là đối tượng của thuật ngữ học, một ngành khoa học có vị trí riêng “Đối tượng của thuật ngữ học là thuật ngữ với các lớp, loại khác nhau và hệ thống thuật ngữ hiểu theo nghĩa rộng Thuật ngữ học là chuyên ngành độc lập, ra đời và phát triển từ ngôn ngữ học trong thế kỉ XX, gồm 2 lĩnh vực chính: thuật ngữ học lí thuyết và thuật ngữ học ứng dụng” [42,23] “Đối tượng của thuật ngữ học không chỉ là thuật ngữ như là đơn vị từ vựng có mục đích chuyên biệt, mà hệ thống thuật ngữ, vốn không hoàn toàn là một phạm trù ngôn ngữ học” [42,18]

Trường phái thứ nhất tồn tại từ rất lâu Tuy nhiên với sự phát triển mạnh của thuật ngữ như hiện nay, trường phái thứ hai bắt đầu hình thành Nó tạo nên một ngành khoa học là Thuật ngữ học Đây là một ngành khoa học còn rất mới nhưng trước hết, nó phải thuộc về ngôn ngữ học hiện đại,

1.1.3 Những đặc điểm của thuật ngữ

Trang 13

Hiện nay trên thế giới vấn đề đặc điểm của thuật ngữ có nhiều quan điểm khác nhau Sager cho rằng phải tuyệt đối tuân thủ các quy định về việc đặt thuật ngữ do

tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế đưa ra như sau:

1 Thuật ngữ phải liên hệ trực tiếp với khái niệm Thuật ngữ phải biểu đạt khái niệm một cách rõ ràng

2 Thuật ngữ phải có tính hệ thống về mặt từ vựng, phải tuân theo cấu trúc từ vựng hiện hành, nếu từ vựng có nguồn gốc nước ngoài thì việc phiên âm phải thống nhất

3 Thuật ngữ phải tuân theo các quy tắc chung về hình thành thuật ngữ của mỗi một ngôn ngữ, các trật tự ghép và các cụm từ

4 Thuật ngữ nên tạo ra, sản sinh ra thuật ngữ mới dựa trên các phụ tố

5 Thuật ngữ không được dùng từ trùng lặp, vừa có một từ nước ngoài, vừa có một từ trong nước có cùng nghĩa

6 Thuật ngữ phải chính xác, thể hiện đúng nội dung khoa học một cách rõ ràng

7 Không nên có các thuật ngữ đồng nghĩa hoàn toàn hoặc tương đối

8 Thuật ngữ không nên có các biến thể hình thái học

9 Thuật ngữ không được có từ đồng âm, dị nghĩa

10 Thuật ngữ phải đơn nghĩa

11 Nội dung thuật ngữ phải chính xác, không được trùng về ngữ nghĩa với các thuật ngữ khác

12 Ngữ nghĩa của các thuật ngữ nên độc lập với ngữ cảnh

Cũng theo A.A.Rê-phô-mat-xki: “Thuật ngữ là tính đơn nghĩa, tính hệ thống, không có từ đồng nghĩa” [45,80] Theo V.X.Ku-lê-ba-kin và I.A.Kli-mô-bin-xki :

“Không có thuật ngữ đa nghĩa trong một ngành; Không có từ đồng nghĩa; Thuật ngữ phải phản ánh những đặc trưng cần và đủ của khái niệm; Thuật ngữ phải có tính hệ thống” [17,420]

Trang 14

Như vậy, các nhà thuật ngữ học nước ngoài nhấn mạnh đến tính chính xác, tính ngắn gọn, tính hệ thống và tính đơn nghĩa của thuật ngữ Họ coi đấy là những đặc điểm tiêu biểu của thuật ngữ.

Ở trong nước, đánh giá về đặc điểm của thuật ngữ còn thiếu thống nhất về số lượng và tính chất các tiêu chuẩn Hoàng Xuân Hản là người đầu tiên đưa ra một cách khá đầy đủ và có hệ thống các yêu cầu của một thuật ngữ: Tính chính xác; Tính dễ nhớ; Tính hệ thống; Tính ngắn gọn; Tính dân tộc [14,11]

Năm 1964, Ủy ban Khoa học nhà nước đã tổ chức hội nghị bàn về vấn đề xây dựng thuật ngữ tại Hà Nội Trong hội nghị này, bản báo cáo chính đã đưa ra các đặc điểm của thuật ngữ và những đặc điểm này đã được nhiều đại biểu tán thành, đấy là: Thuật ngữ phải có: Tính khoa học (chính xác, hệ thống và ngắn gọn); Tính dân tộc; Tính đại chúng

Năm 1985, Nguyễn Thiện Giáp đã đưa ra ba đặc điểm cơ bản của thuật ngữ là: Tính chính xác; Tính hệ thống; Tính quốc tế [36]

Dựa trên tất cả các ý kiến trên, có thể thấy thuật ngữ có những đặc điểm:

Tính chính xác, tính hệ thống, tính quốc tế, tính đại chúng, tính dân tộc, tính ngắn gọn.

Trong đó, những đặc điểm quan trọng mà một thuật ngữ chuẩn mực bắt buộc phải có là tính chính xác, tính hệ thống và tính quốc tế Trong quá trình phát triển của xã hội, khoa học, người Việt đưa thêm tính đại chúng và tính dân tộc và coi đấy cũng là những thuộc tính cơ bản mà thuật ngữ bắt buộc phải có, vì thuật ngữ thuộc ngành khoa học, ngành tri thức cao và thuật ngữ chỉ được các nhà khoa học hay các nhà chuyên môn sử dụng trong giao tiếp với nhau chứ không phải để quần chúng sử dụng Điều này cũng có nghĩa là tính quốc tế là tiêu chuẩn bắt buộc mà thuật ngữ phải có còn tính dân tộc chỉ là tiêu chuẩn thứ yếu mà thôi Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Nếu hiểu tính quốc tế của thuật ngữ chỉ có ở khía cạnh hình thức biểu hiện thì nó sẽ làm mâu thuẫn với yêu cầu về tính dân tộc, dễ hiểu trong hình thức cấu tạo của thuật ngữ Cần phân biệt những tính chất với tư cách là đặc trưng phân biệt thuật ngữ với những lớp từ vựng khác và những yêu cầu khi xây dựng thuật ngữ

Trang 15

Tính dân tộc, tính dễ hiểu, tính ngắn gọn… không phải là đặc trưng của thuật ngữ

mà những từ ngữ thông thường cũng phải có, càng phải có” [37,225]

1.1.3.1 Tính chính xác

Thuật ngữ phải mang tính khoa học, vì thế tất yếu phải có tính chính xác, vì

tính khoa học đã bao hàm trong nó tính chính xác Tính chính xác là đặc điểm quan trọng nhất mà thuật ngữ cần phải có Với tính chất này, mỗi thuật ngữ chỉ dùng để chỉ một khái niệm Thuật ngữ không có hiện tượng đồng âm, đa nghĩa, đồng nghĩa Không có tình trạng một thuật ngữ để chỉ nhiều khái niệm, hoặc nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ một khái niệm Thuật ngữ của mỗi khái niệm cần phải tương ứng với khái niệm đó, với nội hàm của nó, trong bất cứ trường hợp nào cũng không được mâu thuẫn với nó Sẽ là lí tưởng nhất khi thuật ngữ phản ánh được đặc trưng

cơ bản, nội dung bản chất của khái niệm mà nó biểu hiện Tính chính xác của thuật ngữ đòi hỏi trong nội bộ một ngành khoa học, mỗi khái niệm chỉ nên có một thuật ngữ biểu hiện và ngược lại, mỗi thuật ngữ chỉ được dùng để chỉ một khái niệm, tức

là phải đảm bảo tính đơn nghĩa

Tính chính xác giúp thuật ngữ biểu đạt đúng nội dung khái niệm khoa học, chặt chẽ Muốn có được một thuật ngữ chính xác thì phải hiểu tường tận về ngành khoa học có thuật ngữ này, vì tất cả thuật ngữ đều là các yếu tố của một lí thuyết nhất định Và để hiểu thuật ngữ nào đó, cần phải hiểu tất cả lí thuyết của một ngành khoa học nào đó Khi thuật ngữ gọi tên và định nghĩa chính xác về một khái niệm khoa học, người đọc sẽ hiểu và có một khái niệm chính xác về đối tương khoa học

ấy Muốn bảo đảm được mức độ chính xác của thuật ngữ thì lí tưởng nhất là khi đặt một hệ thống thuật ngữ trong một lĩnh vực chuyên môn cần tránh những hiện tượng đồng nghĩa bằng cách trong nội bộ một ngành khoa học, mỗi khái niệm chỉ nên có một thuật ngữ biểu hiện Ngoài ra, một yêu cầu cần có nữa để đáp ứng tính chính xác của thuật ngữ là thuật ngữ phải có tính đơn nghĩa, nghĩa là mỗi thuật ngữ chỉ được dung để biểu hiện một khái niệm

1.1.3.2 Tính hệ thống

Trang 16

Tính hệ thống là một tiêu chuẩn cần thiết đối với thuật ngữ Thuật ngữ không thể đứng biệt lập một mình mà bao giờ cũng chiếm một vị trí trong hệ thống khái niệm và là yếu tố của một hệ thống thuật ngữ nhất định Nếu tách một thuật ngữ ra khỏi hệ thống thì nội dung thuật ngữ của nó không còn nữa Tính hệ thống của thuật ngữ giúp chúng ta có thể hiểu được thuật ngữ một cách chính xác và rõ ràng Do đó, khi đặt thuật ngữ không thể tách rời từng khái niệm ra để định kí hiệu, mà phải đặt

nó trong một hệ thống khái niệm hay một hệ thống thuật ngữ nhất định

Cũng giống như ngôn ngữ, thuật ngữ cần phải được sắp xếp theo hai mặt là

hệ thống khái niệm và hệ thống kí hiệu Khi nói đến tính hệ thống của thuật ngữ, cần phải chú ý đến cả hai mặt là hệ thống khái niệm (tức là xét về nội dung) và hệ thống kí hiệu (xét về hình thức)

Đầu tiên, xét theo hệ thống khái niệm, thuật ngữ được sắp xếp theo hệ thống dọc về ngữ nghĩa Theo nghĩa này, mỗi thuật ngữ đều có cái trường của nó trong phạm vi một hệ thuật ngữ nhất định Nó bị quy định bởi trường khái niệm, trong mọi hệ thống thuật ngữ, nó tương ứng với những khái niệm này hay những khái niệm kia Trong hai hệ thống trên hệ thống trường khái niệm có tính tất yếu hơn trường kí hiệu từ vựng

Tính hệ thống về khái niệm của thuật ngữ kéo theo tính hệ thống về kí hiệu của nó Những thuật ngữ có kí hiệu giống nhau sẽ ở chung trong một trường Điều

đó giúp thuật ngữ không cản trở đối với cách hiểu, thể hiện được vị trí của nó trong

hệ thống thuật ngữ

1.1.3.3 Tính quốc tế

Thuật ngữ biểu đạt khái niệm, tri thức khoa học nên có tính quốc tế Tính quốc

tế là đặc điểm rất quan trọng của thuật ngữ, bởi vì vốn từ vựng riêng của từng ngôn ngữ mang sắc thái của dân tộc sử dụng ngôn ngữ đó, nhưng khoa học lại là tài sản tri thức chung của toàn nhân loại Theo Nguyễn Thiện Giáp: “Thuật ngữ là bộ phận

từ vựng đặc biệt biểu hiện những khái niệm khoa học chung cho những người nói các tiếng khác nhau Vì vậy sự thống nhất thuật ngữ là cần thiết và bổ ích Chính điều này đã tạo nên tính quốc tế của thuật ngữ” [36,274] Tính quốc tế của thuật ngữ

Trang 17

đòi hỏi một thuật ngữ phải có nội dung và hình thức biểu đạt gần gũi không phải chỉ với một cộng đồng ngôn ngữ mà với các cộng đồng ngôn ngữ khác

Tính quốc tế của thuật ngữ biểu hiện ở hai mặt: hình thức và nội dung Mặt hình thức thường được chú ý nhiều hơn cả, vì thông thường, khi nói đến tính quốc

tế của thuật ngữ người ta thường chỉ chú ý tới biểu hiện hình thức bên ngoài của nó Tính quốc tế của thuật ngữ được biểu hiện ở mặt ngữ âm và các thành tố cấu tạo nên thuật ngữ Các ngôn ngữ dùng các thuật ngữ giống nhau hoặc tương tự nhau thường xuất phát từ một gốc chung Trong đó, hiện tương sao phỏng thuật ngữ của các ngôn ngữ biểu hiện rõ nhất tính quốc tế của các thuật ngữ qua việc chọn đặc trưng định danh giống nhau Vì thế, ngữ âm của một số thuật ngữ được sao phỏng y hệt về cấu tạo ngữ âm Trong tiếng Việt, phần lớn các thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Hán, hoặc các ngôn ngữ châu Âu Tuy nhiên, do tính chất đa dạng và sự khác biệt giữa các ngôn ngữ, tính quốc tế của thuật ngữ về mặt hình thức cấu tạo cũng chỉ có tính tương đối và khó có thuật ngữ nào có sự thống nhất tất cả các ngôn ngữ Thứ hai, tính quốc tế của thuật ngữ không phải chỉ được thể hiện ở mặt hình thức cấu tạo ngữ âm, mà còn thể hiện ở mặt nội dung Cùng một sự vật, khái niệm khoa học các ngôn ngữ chọn cùng một đặc trưng nào đó để làm cơ sở định danh và đưa vào tên gọi làm thành hình thái bên trong của tên gọi Ví dụ: Cách đặt tên: Con ngươi- đồng tử- pupil (tiếng Anh)- pupille (tiếng Pháp), trong ba ngôn ngữ nói trên, tên gọi bộ phận này của mắt- “con ngươi” đều được đặt dựa vào hình ảnh con người

in trong đó)

Tính quốc tế về mặt nội dung của thuật ngữ tuy khó nhìn thấy hơn nhưng đó mới chính là biểu hiện phổ biến và căn bản Có thể khẳng định rằng, tính quốc tế về mặt nội dung là điều hiển nhiên đúng vì chúng biểu thị các khái niệm khoa học là tri thức chung của nhân loại

1.1.3.4 Tính đại chúng

Tính đại chúng của thuật ngữ được hiểu là đặt thuật ngữ sao cho dễ hiểu; quần chúng dễ dùng, dễ hiểu, dễ nhớ

Trang 18

Tuy nhiên, yêu cầu này chỉ đúng ở một thời điểm nào đó Trong tình hình phát triển của khoa học hiện nay, nếu đặt nặng yêu cầu về tính đại chúng thì thuật ngữ rất

có nguy cơ bị hiểu nhầm, đơn giản hoặc dung tục hóa

1.1.3.5 Tính dân tộc

Thuật ngữ lại được xây dựng ở một ngôn ngữ cụ thể nên cần có tính chất ngôn ngữ dân tộc Khoa học là tài sản chung của toàn thể nhân loại, đó là tài sản quý giá mà con người đã tạo ra trong quá trình lao động, sản xuất Tuy nhiên, việc xây dựng thuật ngữ khoa học ở mỗi quốc gia lại có những đặc điểm riêng về mặt ngôn ngữ Vì vậy, khi xây dựng thuật ngữ khoa học chúng ta cần phải chú ý đến tính dân tộc Thuật ngữ, dù là thuộc lĩnh vực khoa học, chuyên môn nào, cũng nhất thiết phải là một bộ phận của từ ngữ dân tộc Trong quá trình xây dựng thuật ngữ khoa học, mỗi dân tộc đều cố gắng tận dụng tối đa vốn từ của dân tộc mình để diễn đạt các khái niệm khoa học Việc làm này không những giúp cho thuật ngữ đến được với nhân dân mà còn nhằm giữ gìn và phát triển sự trong sáng của tiếng Việt Đồng thời, phải khẳng định: tính dân tộc không mâu thuẫn với tính quốc tế, bởi lẽ đối với tiếng Việt và nhiều ngôn ngữ khác, con đường xây dựng thuật ngữ chủ yếu dựa vào ngôn ngữ quốc gia, dùng chất liệu ngôn ngữ dân tộc để đặt thuật ngữ Do

đó, tính dân tộc vẫn được đảm bảo

1.1.3.6 Tính ngắn gọn

Tính ngắn gọn của thuật ngữ có nghĩa là trong thành phần cấu tạo thuật ngữ chỉ cần chứa một số lượng đặc trưng tối thiểu cần thiết, nhưng vẫn đủ để đồng nhất hóa và khu biệt hóa các khái niệm được phản ánh bằng thuật ngữ đó Mỗi yếu tố thuật ngữ tương ứng với khái niệm hay tiêu chí của khái niệm trong lĩnh vực chuyên môn nào đó Bàn về một thuật ngữ nên gồm bao nhiêu thuật tố để đảm bảo tính ngắn gọn, Reformatxki cho rằng, những từ ghép và từ tổ chỉ có thể gồm hai, ba hoặc nhiều lắm bốn yếu tố Những thuật tố gồm ba từ đã là cồng kềnh trong sử dụng Còn D.S.Lotte đã cho rằng: “Số lượng tổng cộng của các thành tố thuật ngữ thành phần (thí dụ: thuật ngữ từ tổ chỉ có thể là các tổ hợp hai, ba và hạn hữu là bốn yếu

Trang 19

tố vì sự cồng kềnh khiến cho chúng sẽ không được chấp nhận trong thực tế thuật ngữ” [22,33].

Vậy tính ngắn gọn có mâu thuẫn với tính chính xác hay không? Có thể thấy, tính ngắn gọn, trong một chừng mực nào đó, không mâu thuẫn với tính chính xác,

mà có phần làm tăng thêm chính xác của thuật ngữ và để thuật ngữ không trở thành những cụn từ mang tính chất miêu tả D.SLotte nhấn mạnh cả tính chính xác và tính ngắn gọn của thuật ngữ và ông cho rằng, thuật ngữ càng ngắn tính khoa học của thuật ngữ càng cao: “cùng với tính chính xác, tính ngắn gọn của thuật ngữ là một giá trị lớn của nó” [22,33]

1.1.4 Thuật ngữ và một số khái niệm liên quan

1.1.4.1 Thuật ngữ và từ vựng thông thường

Thuật ngữ là một bộ phận của từ vựng do vậy thuật ngữ có nhiều điểm chung với từ vựng thông thường Cụ thể:

- Thuật ngữ và từ ngữ thông thường đều phải tuân theo quy luật ngữ âm chung và quy luật kết cấu của ngữ pháp chung

- Thuật ngữ và từ thông thường đều bị quy định bởi trường từ vựng: “Mỗi thuật ngữ đều bị ảnh hưởng bởi hai trường: trường từ vựng và trường khái niệm Trường từ vựng là những liên hệ của thuật ngữ với các từ khác trong ngôn ngữ nói chung Tất cả các từ không phải thuật ngữ cũng nằm trong các trường như vậy” [22,272]

Ngoài ra, thuật ngữ cũng có những sự khác biệt so với từ vựng thông thường

Thứ nhất, khái niệm được biểu thị bởi từ thông thường khác khái niệm được

biểu thị bởi thuật ngữ So với từ ngữ thông thường thì thuật ngữ có ngoại diên hẹp hơn nhưng nội hàm sâu hơn và được biểu thị một cách logic chặt chẽ hơn Bên cạnh

đó, trong khi từ ngữ thông thường biểu đạt các khái niệm thông dụng ai cũng có thể biết đến, thì thuật ngữ lại diễn đạt các khái niệm chuyên môn chỉ một số nhà chuyên môn biết đến “Nếu như từ thông thường, từ phi chuyên môn tương ứng với đối tượng thông dụng, thì từ của vốn thuật ngữ lại tương ứng với đối tượng chuyên môn

Trang 20

mà chỉ có một số lượng hạn hẹp các chuyên gia biết đến” [33,10] Như vậy, thuật ngữ biểu thị khái niệm khoa học, tạo thành hệ thống thuật ngữ của một ngành khoa học nhất định mà chỉ nằm trong hệ thông từ vựng của một ngôn ngữ cụ thể.

Thứ hai, nội dung khái niệm do từ thông thường biểu thị phụ thuộc vào

những biển đổi của hệ từ vựng, còn nội dung khái niệm thuật ngữ biểu thị phụ thuộc vào sự phát triển của ngành khoa học đất “Thuật ngữ có đặc điểm là tính chính xác Chính xác ở đây là chính xác và chuẩn tắc về nội dung khái niệm do nó biểu thị Nội dung đó có thay đổi hay không, thay đổi như thế nào là tùy theo sự phát triển, khám phá của ngành khoa học chứ không lệ thuộc vào những biến đổi của hệ thống

từ vựng, ngôn ngữ như các từ thông thường” [24,220]

Thứ ba, thuật ngữ không có tính biểu cảm, còn từ ngữ thông thường mang

tính biểu cảm

Thứ tư, thuật ngữ chỉ có một nghĩa, không có từ đồng nghĩa, không có hiện

tượng đã nghĩa còn từ ngữ thông thường chỉ được xác định chính xác nghĩa của nó trong sự kết hợp với những từ khác tại một ngữ cảnh nhất định “Khác với một từ thông thường, một thuật ngữ khoa học kĩ thuật bất kì nào cũng phải mang một nội dung hạn chế, được xác định chắc chắn Nội dung đó phải thuộc về thuật ngữ mà không phụ thuộc và ngữ cảnh, trong khi đó, ý nghĩa của một từ thông thường chỉ được chính xác hóa trong sự kết hợp với những từ khác tại một ngữ cảnh nhất định Khi đó, trong lời nói đôi khi người ta còn dung đến những biện pháp phụ trợ như ngữ điệu,v.v…” Giá trị của mỗi thuật ngữ đều được xác định bởi mối quan hệ của

nó với những thuật ngữ khác trong hệ thống ấy Nếu tách một thuật ngữ ra khỏi hệ thống của nó thì nội dung thuật ngữ của nó không còn nữa

Thứ năm, thuật ngữ và từ thông thường đều có chức năng định danh, nhưng

thuật ngữ khác từ thông thường ở chỗ, ngoài chức năng định danh, thuật ngữ còn có chức năng định nghĩa Chức năng định nghĩa là một đặc tính chính của thuật ngữ (khoa học) khác với từ thông dụng Trong thuật ngữ, chức năng định danh mà các

từ khác trong ngôn ngữ cũng có, hợp với chức năng định nghĩa mà chỉ thuật ngữ mới có

Trang 21

Khi đi tìm mối quan hệ giữa thuật ngữ và từ vựng thông thường, các nhà ngôn ngữ học cho rằng từ ngữ thông thường và thuật ngữ có quan hệ xâm nhập và có thể chuyển hóa lẫn nhau Khi từ ngữ thông thường trở thành thuật ngữ, tính biểu cảm tu

từ của nó sẽ không còn nữa, và nó cũng không phụ thuộc vào ngữ cảnh mà phụ thuộc vào hệ thống thuật ngữ

Tóm lại, thuật ngữ và từ ngữ thông thường có mối quan hệ biện chứng với nhau và có thể chuyển hóa lẫn nhau Thuật ngữ không cách biệt hoàn toàn với từ ngữ thông thường và cũng chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, cấu tạo từ và ngữ pháp của ngôn ngữ như từ ngữ thông thường Do đó, từ ngữ thông thường và thuật ngữ có quan hệ xâm nhập và có thể chuyển hóa lẫn nhau

1.1.4.2 Thuật ngữ và danh pháp

Thuật ngữ và danh pháp có điểm chung lớn nhất chính là tính ngắn gọn, chính xác Tuy nhiên, theo các nhà ngôn ngữ học: giữa thuật ngữ và danh pháp có sự khác biệt là lớn hơn So sánh thuật ngữ và danh pháp, người ta có thể hình dung theo sơ

đồ sau: Tín hiệu - danh pháp - thuật ngữ - từ Sơ đồ của tác giả cho thấy, danh

pháp gần với tín hiệu, còn thuật ngữ thì gần với từ hơn Danh pháp mang tính cụ thể còn thuật ngữ mang tính khái quát cao hơn Qua nghiên cứu một số quan điểm của các nhà ngôn ngữ học chúng tôi thấy rằng thuật ngữ và danh pháp là hai vấn đề khác nhau Cụ thể:

- Thuật ngữ: tính khái niệm là đặc trưng quan trọng nhất Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ, thuật ngữ luôn luôn biểu thị khái niệm được xác định trong một ngành khoa học và lệ thuộc vào hệ thống khái niệm của ngành khoa học đó Nó bao gồm những từ và ngữ cố định, là tên gọi chính xác của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn Ví dụ các thuật ngữ: bệnh nhân, phẫu thuật, động mạch, suy hô hấp,… trong Y học; văn bản, tiểu thuyết, biểu tượng, bút danh, ẩn dụ,… trong Văn học; âm vị, hình vị, từ vị, cú vị, nghĩa vị, ngữ pháp vị, âm tố, âm vực, nguyên âm, bán nguyên âm,…

Trang 22

Thuật ngữ có thể được cấu tạo trên cơ sở các từ hoặc các hình vị có ý nghĩa

sự vật cụ thể Nội dung của thuật ngữ ít nhiều tương ứng với ý nghĩa của các từ tạo nên chúng

Thuật ngữ được xây dựng trên mối quan hệ logic với các hệ thống khái niệm khoa học và được biểu đạt hợp lý bằng các đơn vị từ ngữ của một ngôn ngữ

- Danh pháp: tính đối tượng mà nó gọi tên mới là quan trọng nhất Danh pháp (danh từ khoa học) là tên gọi cụ thể của các đối tượng được dung trong từng ngành khoa học, nó không gắn trực tiếp với các khái niệm của khoa học này mà chỉ gọi tên

sự vật trong khoa học đó mà thôi Ví dụ trong Văn học thì sử thi, tác giả, dân ca, tác phẩm văn học là thuật ngữ, còn tên các tác giả, tác phẩm cụ thể như: sử thi Ê đê, tác giả Tố Hữu, dân ca Bắc Ninh, tác phẩm Chí Phèo… là danh pháp Như vậy về mặt chức năng, danh pháp giống với các tên riêng còn thuật ngữ gắn liền với hệ thống các khái niệm Danh pháp có thể được quan niệm là một chuỗi kế tiếp nhau của các chữ cái như: (vitamin A, vitamin B,v.v…), là một chuỗi các con số như (MA65, TU

104, Ma68) hay bất kì các gọi tên võ đoán nào

Danh pháp mang nặng chức năng của kí hiệu, nó không gắn trực tiếp với các khái niệm khoa học, danh pháp chỉ “gọi tên” sự vật và hiện tượng khoa học Ở danh pháp thì tính đối tượng của nó là rất quan trọng Số lượng tên gọi là vô hạn còn khái niệm chỉ là hữu hạn mà thôi và muốn hay không, danh pháp cũng làm cho người đọc người nghe liên tưởng tới những khái niệm về các sự vật, hiện tượng được biểu đạt nội dung qua hệ thuật ngữ Mỗi ngành khoa học khác nhau lại có những tiêu chuẩn đặt danh pháp khác nhau tùy thuộc vào đặc trưng riêng của mỗi ngành

1.1.4.3 Thuật ngữ và từ nghề nghiệp

Thuật ngữ và từ nghề nghiệp có một số điểm giống nhau sau:

Phạm vi sử dụng: chúng đều được sử dụng trong một phạm vi hẹp Thuật ngữ thuộc ngành khoa học cao nên thuật ngữ diễn đạt các khái niệm chuyên môn chỉ một số lượng các nhà chuyên môn biết đến Từ nghề nghiệp là một lớp từ bao gồm

Trang 23

những đơn vị từ ngữ được sử dụng phổ biến trong phạm vi những người cùng làm một nghề nào đó.

Tính toàn dân: Từ nghề nghiệp dễ dàng trở thành từ vựng toàn dân khi những khái niệm riêng của nghề nào đó trở thành phổ biến rộng rãi trong toàn xã hội Các thuật ngữ cũng có thể trở thành từ vựng toàn dân khi trình độ khoa học và kiến thức của quần chúng nhân dân được nâng lên

Bên cạnh đó, thuật ngữ và từ nghề nghiệp cũng có những sự khác biệt Cụ thể: Thuật ngữ chỉ khái niệm của một ngành khoa học, do đó, nó phải đảm bảo tính chính xác, tính hệ thống, tính quốc tế Trong khi đó, từ ngữ nghề nghiệp là những từ ngữ biểu thị những công cụ, sản phẩm lao động và quá trình sản xuất của một nghề nào đó trong xã hội Những từ ngữ này thường được những người cùng trong ngành nghề đó biết đến và sử dụng Nhưng người không làm nghề ấy tuy ít nhiều cũng có thể biết những từ ngữ nghề nghiệp những ít hoặc hầu như không sử dụng chúng So với thuật ngữ, từ nghề nghiệp có những sắc thái riêng Từ nghề nghiệp mang tính cụ thể, sinh động, nhiều sắc màu và một số từ nghề nghiệp có khả năng gợi hình ảnh cao Chính vì vậy, mức độ khái quát trong nghĩa từ nghề nghiệp nói chung thấp hơn so với thuật ngữ

1.1.4.4 Về khái niệm thuật tố

Như đã nói ở trên, thuật ngữ là từ hay tổ hợp từ của một ngôn ngữ tự nhiên

nào đó Các từ đó trong thuật ngữ ấy góp phần làm rõ khái niệm mà thuật ngữ đưa

ra Nó cũng mang các tính chất như của thuật ngữ Các từ cấu tạo nên thuật ngữ này được gọi là thuật tố Mỗi thuật tố này cũng phải tương ứng với một khái niệm hay tiêu chí của khái niệm trong lĩnh vực chuyên môn nào đó

Trong thuật ngữ chỉ có một tiếng thì số lượng thuật tố là 1 Thuật ngữ càng dài thì số lượng thuật tố càng lớn Ví dụ: Thuật ngữ “Cúp” chỉ có một thuật tố là “Cúp”; Thuật ngữ “Cúp vô địch” có hai thuật tố là: “Cúp”, “vô địch”

Trang 24

Điều này đương nhiên sẽ dẫn đến vấn đề về độ dài tối ưu của thuật ngữ Thường thuật ngữ có nhiều thuật tố sẽ dài và đủ ý nghĩa Xu hướng gần đây, chúng

ta thấy xuất hiện một số thuật ngữ phức, tương đối dài Thuật ngữ đơn (chỉ có một tiếng) xuất hiện ít đi Song nếu điều này được chấp nhận thì phạm phải tính chất ngắn gọn của thuật ngữ Do vậy, ta chỉ lựa chọn các thuật tố thật cần thiết để tạo thuật ngữ

Trong các thuật tố, tường sẽ có một thuật tố chính, còn lại là các thuật tố phụ

bổ sung thêm ý nghĩa cho thuật tố chính Ví dụ: Thuật tố “vô địch” là thuật tố phụ, bổ sung thêm ý nghĩa cho thuật tố chính là “Cúp” Thuật tố “hải quan”, “kiểm tra”, “hàng hóa” bổ sung ý nghĩa cho “Thủ tục”

Phân tích cấu trúc một thuật ngữ chính là việc xác định số lượng, ý nghĩa của các thuật tố và mối liên hệ giữa chúng Điều này đã từng được nhiều nhà ngôn ngữ học ở Liên Bang Nga đưa ra, như D.S.Lotte, V.P.Daninenko, T.L.Kandeljaki [25,26] Khái niệm thuật tố cho phép chúng ta phân biệt về mặt ngữ nghĩa giữa từ phức, từ ghép và thuật ngữ là tổ hợp từ Sự phân biệt này rất quan trọng bởi trong từ điển, ta thấy chỉ đưa vào thuật ngữ là từ phức, từ ghép chứ không có thuật ngữ là tổ hợp từ

1.2 Thuật ngữ bóng đá và thuật ngữ bóng đá trong tiếng Việt

1.2.1 Khái quát chung về bóng đá thế giới và bóng đá Việt Nam

Bóng đá là môn thể thao đồng đội được chơi giữa hai đội với nhau, mỗi đội

có 11 cầu thủ trên sân theo các quy tắc đề ra trong Luật bóng đá (tiếng Anh: Laws

of the Game) Các vận động viên tham gia chơi bóng đá được gọi là các cầu thủ Trong trận đấu bóng đá, hai đội, mỗi đội gồm 11 cầu thủ sẽ tìm cách đưa trái bóng vào khung thành (còn gọi là cầu môn) Mục tiêu của trò chơi là ghi điểm bằng cách đưa bóng vào khung thành của đội đối địch Đội nào đưa bóng vào khung thành đối phương nhiều hơn (ghi được nhiều bàn thắng hơn) sẽ là đội giành chiến thắng, nếu hai đội có số lần đưa bóng vào khung thành đối phương như nhau, hoặc không đội nào làm được việc này thì trận đấu sẽ kết thúc với kết quả hòa Quy tắc cơ bản nhất của môn bóng đá là các cầu thủ, trừ người bảo vệ khung thành (được gọi là thủ môn), được phép sử dụng bất cứ bộ phận nào trên cơ thể để chơi bóng trừ hai cánh

Trang 25

tay và bàn tay của họ (tuy nhiên cầu thủ phải dùng tay để thực hiện việc ném biên) Bên cạnh số cầu thủ chính thức mỗi đội cũng còn một số cầu thủ dự bị để thay thế khi cần thiết, thông thường trong một trận bóng đá thi đấu chính thức, mỗi đội chỉ được phép thay đổi 3 cầu thủ Trong một trận đấu thông thường, cầu thủ có thể chơi

ở bất cứ vị trí nào và có thể đưa quả bóng theo bất cứ hướng nào trên sân, trừ trường hợp cầu thủ rơi vào thế việt vị thì không thể nhận bóng Dựa vào các quy tắc

cơ bản này, cầu thủ thường dùng chân để thực hiện các động tác kỹ thuật như rê bóng, lừa bóng, chuyền bóng cho đồng đội, sút bóng, với mục đích chính là tìm cách đưa bóng vào khung thành đối phương và ngăn không cho đối phương đưa bóng vào khung thành đội nhà Cầu thủ hai đội có thể va chạm nhau thông qua các pha tranh bóng, tắc bóng nhưng tuyệt đối không được phạm những lỗi ghi trong luật như chuồi bóng từ phía sau, đạp người, đẩy người, tiểu xảo hay những hành vi phi thể thao khác Điều khiển trận đấu là tổ trọng tài bao gồm 1 trọng tài chính và 2 trọng tài biên, những người này có toàn quyền điều khiển trận đấu theo các quy định của Luật bóng đá, quyết định của trọng tài chính dù đúng hoặc sai cũng thường

là quyết định cuối cùng và không thể đảo ngược Ngoài ba trọng tài làm việc trên sân còn có một trọng tài thứ tư (còn gọi là trọng tài bàn) quản lý việc thay người, theo dõi thời gian bù giờ và thay thế trọng tài trên sân trong trường hợp cần thiết Trọng tài chính sử dụng một chiếc còi cùng hai loại thẻ, thẻ vàng và thẻ đỏ, có trách nhiệm bắt đầu, kết thúc hoặc tạm dừng trận đấu Một trận đấu bóng đá thông thường

có hai hiệp, mỗi hiệp 45 phút với khoảng thời gian 15 phút nghỉ giữa hai hiệp

Môn bóng đá với các luật chơi gần như ngày nay bắt đầu phổ biến từ giữa thế kỷ 19 tại các trường học trên nước Anh Bộ luật bóng đá hiện đại cổ nhất

mà ta biết là bộ luật mà ngày nay thường được biết đến dưới tên Bộ luật Cambridge (tiếng Anh: Cambridge Rules) Sở dĩ có tên gọi này vì chính trong khuôn viên Trinity College thuộc Đại học Cambridge, đại diện của năm trường Eton, Harrow, Rugby, Winchester và Shrewsbury đã tổ chức họp mặt để thống nhất một luật chơi đầu tiên cho môn bóng đá Cũng trong thập niên 1850, các đội bóng nghiệp dư bắt đầu được thành lập và thường mỗi đội xây dựng cho riêng họ những luật chơi mới của môn bóng đá, trong đó đáng chú ý có câu lạc bộ Sheffield F.C Việc mỗi đội bóng có luật chơi khác nhau khiến việc điều hành mỗi trận đấu giữa họ diễn ra rất khó khăn Nỗ lực đáng kể nhất trong việc chuẩn hóa luật chơi

Trang 26

môn bóng đá là việc thành lập Hiệp hội bóng đá Anh (The Football Association, thường viết tắt là FA) vào ngày 26/10/1863 tại Great Queen Street, Luân Đôn Sau

5 cuộc họp diễn ra từ tháng 10 đến tháng 12, bộ luật đầy đủ và toàn diện đầu tiên của môn bóng đá gồm 13 điều đã được FA thông qua Hiện nay cơ quan chịu tránh nhiệm quản lý và theo dõi luật bóng đá trên thế giới là Ủy ban bóng đá quốc

tế (International Football Association Board, thường viết tắt là IFAB) IFAB được thành lập năm 1886, tại Manchester trong một buổi họp với sự có mặt của đại diện

FA, Hiệp hội bóng đá Scotland (Scottish Football Association), Hiệp hội bóng đá

xứ Wales (Football Association of Wales) và Hiệp hội bóng đá Ireland (Irish Football Association)

Ở Việt Nam, theo các dữ liệu lịch sử, bóng đá là môn thể thao đã theo chân người Pháp du nhập vào Việt Nam từ những năm cuối thế kỷ 19 Đây là thời kỳ mà người Pháp đã đặt xong nền đô hộ lên toàn bộ lãnh thổ Nam Kỳ và tiến hành xây dựng nơi đây thành thuộc địa của họ Bởi vậy bóng đá cũng tiếp cận với người Việt sớm nhất tại địa bàn phía Nam này, với những người đầu tiên chơi bóng là các binh lính, công chức và thương gia người Pháp Sau đó, người Việt, từ một số ít có điều kiện tham gia chơi với người Âu lúc ban đầu, dần dần môn thể thao đồng đội giản

dị mà hấp dẫn này trở thành phong trào và khá phổ biến đối với người Việt

Sau khi đất nước thống nhất, từ năm 1975, có một thời gian các hoạt động thể thao trong đó có bóng đá hầu như bị ngưng trệ Mãi đến tháng 8/1989 một tổ chức của nhà nước ra đời để quản lý và điều hành bóng đá là Liên đoàn Bóng đá Việt Nam Năm 1991, một đội tuyển quốc gia (thống nhất) mới được hình thành và bắt đầu tham gia vào đấu trường quốc tế Giải đấu đầu tiên mà đội tuyển tham dự là SEA Games 16 (1991) tổ chức tại Manila, Philippines Các câu lạc bộ bóng đá cũng đã chính thức góp mặt mang tên các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước và các địa phương như: CLB Quân đội, Công an TP.HCM, Công an Hà Nội, Hải quan, Cảng Sài Gòn, Sông Lam Nghệ An, Đồng Tháp, Lâm Đồng, An Giang, Khánh Hòa, Thanh Hóa, Nam Định…

Bước sang thế kỷ 21, bóng đá Việt Nam có nhiều chuyển biến tích cực, và trong một mức độ nhất định, đã dần dần tiến lên thời kỳ “bán chuyên nghiệp” rồi

“chuyên nghiệp hóa” Tổ chức Liên Đoàn bóng đá Quốc gia vốn trước đây hoàn toàn do nhà nước quản lý và điều hành, cũng từng bước chuyển sang “xã hội hóa”

Trang 27

để tranh thủ sự cống hiến cho bóng đá từ các doanh nghiệp – đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân Các câu lạc bộ (mà chủ yếu là của các doanh nghiệp) cũng chủ động xây dựng cho mình các kế hoạch phát triển bóng đá dài hạn cho CLB mình Điển hình như CLB bóng đá Hoàng Anh Gia Lai với kế hoạch đào tạo tài năng trẻ

từ lứa tuổi thiếu niên Hiện nay, Liên Đoàn bóng đá Việt Nam đang chịu trách nhiệm quản lý một hệ thống 11 đội tuyển quốc gia, bao gồm: ĐT quốc gia, ĐT U-

23, ĐT U-21, ĐT U-19, ĐT U-17, ĐT Nữ, ĐT U-20 nữ, ĐT U-17 nữ, ĐT Futsal nam, ĐT Futsal nữ và ĐT bóng đá bãi biển Đồng thời có nhiệm vụ điều hành một mạng lưới các giải đấu trong nước, bao gồm: giải bóng đá vô địch quốc gia (V-League), giải hạng nhất quốc gia, giải vô địch hạng nhì, hạng ba; cúp bóng đá Việt Nam, siêu cúp bóng đá Việt Nam; các giải vô địch U-21, U-19, U-17, U-15; giải vô địch bóng đá thiếu niên, nhi đồng Việt Nam; giải vô địch bóng đá nữ, U-19 nữ, U-

17 nữ Việt Nam; giải vô địch Futsal Việt Nam và giải vô địch bóng đá bãi biển

Tóm lại, bóng đá Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 đến nay, mặc dầu có những gián đoạn do hoàn cảnh lịch sử, bóng đá Việt Nam đã từ buổi sơ khai với dáng dấp phong trào, chủ yếu là để giải trí và rèn luyện sức khỏe, đã tiến dần đến tầm vóc bán chuyên nghiệp và chuyên nghiệp hóa theo kịp với đà tiến bộ của bóng đá hiện đại trên thế giới

1.2.2 Tình hình nghiên cứu về thuật ngữ bóng đá trong tiếng Việt

Thuật ngữ bóng đá (TNBĐ) trong tiếng Việt rất phong phú, đa dạng do môn thể thao này đã phát triển lâu đời, có hệ thống luật thi đấu rõ ràng, chi tiết Bên cạnh

đó, nó lại kèm theo cả sự phức tạp, bởi môn thể thao này có nguồn gốc từ nước ngoài Đại đa số TNBĐ là lấy từ phương Tây, trong đó nguồn chính từ Pháp và Anh Hiện giờ, TNBĐ lại liên tục được cập nhật do sự mở rộng của môn thể thao này trên toàn thế giới

Việc nghiên cứu TNBĐ đã diễn ra từ lâu với khối lượng tài liệu khá phong phú song chủ yếu để hướng dẫn cho người mới chơi chứ không nhằm mục đích nghiên cứu Ở đây, người viết chỉ xin kể đến một số tài liệu nổi bật

Tài liệu đầy đủ nhất là “Từ điển bách khoa bóng đá” của B.Rohr và G.Simon xuất bản năm 2006 tại NXB Thế giới Cuốn sách có đầy đủ thông tin về bóng đá, từ lịch sử môn bóng đá tới phần cung cấp các luật chơi, cách gọi các đội bóng, các cầu thủ nổi tiếng Phần lịch sử được trình bày theo từng năm với thông tin chọn lọc Phần thuật ngữ, tên gọi trình bày theo thứ tự A tới Z với ghi chú cả tiếng Việt và

Trang 28

tiếng Anh Chủ yếu các TNBĐ trong cuốn sách này có nguồn gốc từ nước ngoài và trình bày bằng tiếng Anh Thuật ngữ tiếng Việt hay xuất hiện ở những chữ cái riêng biệt của tiếng Việt như: đ, ê, ơ, ư, ô Trong cuốn sách, gần 1/3 là tên các cầu thủ và đội tuyển, câu lạc bộ thi đấu Vì thế, việc tìm các thuật ngữ phức tạp và dễ bị lẫn vào tên gọi

Tài liệu thứ hai có nói về các TNBĐ là cuốn “Luật bóng đá” của Tổng cục

Thể dục thể thao, xuất bản năm 1996 Cuốn sách nêu ra các điều luật thi đấu của môn thể thao rất chi tiết từ sân thi đấu, bóng, cầu thủ, trọng tài cho tới chi tiết diễn

ra trong trận đấu Từ việc đọc luật này, có thể rút ra được nhiều TNBĐ, ví dụ: cầu thủ, trọng tài, giao bóng, bàn thắng hợp lệ, bóng ngoài cuộc, việt vị, phạt đền, ném biên,…Tuy nhiên, cuốn sách không thiên về TNBĐ mà chỉ sử dụng thuật ngữ này

để giải thích về luật Người chưa biết gì về bóng đá sẽ cảm thấy khó hiểu với một số thuật ngữ xa lạ

Tài liệu thứ ba mang tính bổ sung cho cuốn “Luật bóng đá” của Tổng cục Thể dục thể thao là cuốn “Tôi yêu thể thao Bóng đá” của Lưu Hải Yến Vì mới xuất

bản (năm 2012) nên cuốn sách cập nhật một số thuật ngữ chuyên môn mới Phần giải thích về luật dễ hiểu hơn Trong đó, tác giả cũng chú ý nói về lịch sử bóng đá cùng sự thay đổi trong hiện tại Tuy nhiên, đây cũng chỉ là cuốn sách hướng dẫn cách chơi Phần TNBĐ do mỗi người tự tìm hiểu và bổ sung

Như vậy, có thể khẳng định: qua việc nghiên cứu các tài liệu tham khảo trên, chúng tôi thấy chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về TNBĐ Vì vậy, với tình yêu đối với bóng đá, từ góc độ ngôn ngữ học, chúng tôi mạnh dạn đi vào tìm hiểu đề tài này

1.2.3 Khái niệm về thuật ngữ bóng đá trong tiếng Việt

TNBĐ xuất hiện lâu đời trên thế giới nhưng ở Việt Nam thì vẫn đang trong quá trình bổ sung, chuẩn hóa Đồng thời, các tài liệu về TNBĐ chủ yếu đi theo hướng thực hành nên hầu như không có định nghĩa rõ ràng về TNBĐ Dựa vào quan điểm của các nhà ngôn ngữ học về thuật ngữ, chúng tôi xin đưa ra khái niệm về

TNBĐ trong tiếng Việt như sau: Thuật ngữ bóng đá là từ, cụm từ cố định được dùng để biểu thị đối tượng hoặc khái niệm trong lĩnh vực bóng đá

1.3 Tiểu kết

Trang 29

Trong chương 1, luận văn đã hệ thống hóa các quan điểm lí luận về thuật ngữ của các nhà khoa học Từ đó, đưa ra một cách hiểu về thuật ngữ cụ thể, rõ ràng cùng với những đặc điểm chung của thuật ngữ Cụ thể đó là: Tính chính xác, Tính hệ thống, Tính quốc tế, Tính đại chúng, Tính dân tộc, Tính ngắn gọn.

Ở Việt Nam, các nhà khoa học đã bàn nhiều đến các phương châm của việc đặt thuật ngữ khoa học tiếng Việt Trong các phương châm mà các nhà khoa học đã đưa ra, luận văn xác định, việc đặt thuật ngữ và lien hệ chuẩn hóa thuật ngữ cần có các phương châm sau: tính khoa học, tính quốc tế và tính dân tộc, tính đại chúng

Để làm rõ định nghĩa trên, luận văn cũng đi vào phân tích sự khác nhau giữa thuật ngữ với các khái niệm ngôn ngữ khác Trong đó, có sự khác biệt giữa:

- Thuật ngữ và từ vựng: thuật ngữ mang tính ngắn gọn, chính xác; từ vựng nói chung cụ thể, đa dạng, có thể mang tính biểu cảm

- Thứ hai là thuật ngữ và danh pháp: thuật ngữ gắn liền với hệ thống khái niệm còn danh pháp chỉ gọi tên các sự vật, đối tượng trong một ngành khoa học

- Thứ ba là thuật ngữ và từ nghề nghiệp: thuật ngữ chỉ khái niệm mang tính khoa học cao, từ nghề nghiệp chỉ dùng để chỉ nghề

Bên cạnh đó, luận văn cũng trình bày về vị trí của bộ môn Thuật ngữ học trong chuyên ngành nghiên cứu ngôn ngữ

Luận văn giới thiệu những nét khái quát về bóng đá thế giới và bóng đá Việt Nam Đặc biệt lưu ý khái niệm về thuật ngữ bóng đá trong tiếng Việt cùng tình hình nghiên cứu về thuật ngữ bóng đá Từ đó, ta thấy, bóng đá là bộ môn thể thao phát triển lâu trên thế giới và rất được yêu thích ở Việt Nam Vì thế, từ lâu, thuật ngữ dành cho bộ môn thể thao này đã vô cùng đa dạng Việc xem xét về thuật ngữ bóng

đá cũng đã được chú ý, tuy nhiên mới trong khuôn khổ của việc giới thiệu các từ ngữ chuyên môn trong ngành bóng đá, chưa có một nghiên cứu nào dưới góc độ ngôn ngữ học Do vậy, tác giả luận văn muốn đưa ra cái nhìn đầy đủ hơn về thuật ngữ của ngành này dưới góc độ ngôn ngữ học

Trang 30

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC CẤU TẠO CỦA THUẬT NGỮ BÓNG ĐÁ

TRONG TIẾNG VIỆT 2.1 Tiêu chí nhận diện thuật ngữ bóng đá trong tiếng Việt

Trong thực tế sử dụng, từ ngữ về bóng đá rất đa dạng Tuy nhiên, không phải tất cả đều là thuật ngữ Thuật ngữ có những đặc điểm riêng với các yếu tố đã được trình bày ở chương 1 Ví dụ:

Trang 31

Bảng 2.1 Minh họa các từ về bóng đá được gọi là thuật ngữ

và từ không được gọi là thuật ngữ

Đội trưởng

ĐáLuậtBóngChạyNgãKhán giảQuần áoCỏ

Cổ vũ

Với các yếu tố về thuật ngữ như trình bày ở chương 1, chúng tôi thống kê được 491 đơn vị hiện đang được sử dụng như TNBĐ nhưng chỉ có 464 thuật ngữ chân chính vì chúng đáp ứng được các đặc điểm mà thuật ngữ bắt buộc phải có là tính chính xác, tính hệ thống và tính quốc tế Chẳng hạn như ví dụ trong bảng nêu

trên, những từ thông thường được sử dụng trong bóng đá như bóng, chạy, ngã

không phải là thuật ngữ bóng đá mặc dù chúng được sử dụng trong bóng đá Hay những từ như biệt danh, biếu không (số 25,26 trong phụ lục 2) cũng không phải là thuật ngữ Lí do là bởi chúng không đáp ứng được những thuộc tính cơ bản mà một thuật ngữ phải có Vì thế trong luận văn này chúng tôi sẽ chỉ coi 464 đơn vị ngôn ngữ là TNBĐ và trong chương 2 và chương 3 chúng tôi sẽ phân tích các đặc điểm của TNBĐ trên cơ sở dữ liệu của 464 thuật ngữ này Chúng tôi sẽ trình bày tất cả

Trang 32

491 đơn vị ngôn ngữ trong phần phụ lục 2 464 thuật ngữ bóng đá tuân theo các bộ tiêu chí nhận diện về thuật ngữ khoa học Việt Nam.

Đầu tiên là bộ tiêu chí về đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa Cụ thể như sau:

Ví dụ: Thuật ngữ “dắt bóng” có hai thuật tố là: dắt và bóng Hai thuật tố tương hỗ cho nhau, tạo thành cum từ có cấu trúc chính phụ chỉ về việc một cầu thủ đưa bóng đi trên sân theo ý mình, thường với tốc độ chậm

- Nội dung:

+ TNBĐ được dùng để gọi tên chính xác các khái niệm và đối tượng thuộc lĩnh vực bóng đá Các khái niệm, đối tượng này mang tính khái quát cao Thường

nó chỉ các khái niệm chung, cơ bản, điển hình của bóng đá và được biểu đạt một

cách rõ ràng, đơn nghĩa Ví dụ: phạt góc, phạt đền, phòng thủ, hậu vệ, tiền vệ, ….

+ Ngoài ra, còn có các thuật ngữ của các ngành khác được nhập vào TNBĐ

Ví dụ: Rách dây chằng, Rách cơ, Rách bao nang, Vỡ mắt cá, … là thuật ngữ của

ngành ý tế song lại được dùng trong bóng đá

Thứ hai, chúng ta có thể xác định bộ tiêu chí điển hình của một thuật ngữ theo các tính chất của thuật ngữ Theo như chương 1, tính chất của thuật ngữ là: tính chính xác, tính hệ thống, tính quốc tế, tính dân tộc, tính đại chúng, tính ngắn gọn Căn cứ vào mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn, chúng ta có các nhóm TNBĐ Việt Nam như sau:

- Nhóm 1: Thỏa mãn cả sáu tiêu chuẩn là tính chính xác, tính hệ thống, tính

quốc tế, tính dân tộc, tính đại chúng, tính ngắn gọn Số TNBĐ thuộc nhóm này là

chiếm 39%, ví dụ: Luật bàn thắng bạc, Luật danh dự, Luật thi đấu, Luật bóng đá,

Trang 33

bóng đá tổng lực, phòng ngự phản công, đổ bê tông, thị trường chuyển nhượng, hàng tấn công, hàng hậu vệ, thủ môn, tiền đạo, tiền vệ, cú ăn ba …

- Nhóm 2: Thỏa mãn năm tiêu chuẩn gồm ba tiêu chuẩn bắt buộc là tính

chính xác, tính hệ thống, tính quốc tế và hai tiêu chuẩn cần là tính quốc tế, tính dân tộc TNBĐ thuộc nhóm này chiếm 21,75% và tất cả các thuật ngữ này không thỏa

mãn tính đại chúng Ví dụ: Yếu tố sân nhà, thời gian giữa hiệp, phòng thay đồ, sân nhà, sân khách, hiệu số bàn thắng thua, trận derby, xà ngang, cột dọc, thẻ vàng, thẻ

đỏ, trận cầu lớn…

- Nhóm 3: Thỏa mãn bốn tiêu chuẩn trong đó có ba tiêu chuẩn bắt buộc là

tính chính xác, tính hệ thống, tính quốc tế và một tiêu chuẩn cần là tính ngắn gọn Tức là, các thuật ngữ này không thỏa mãn tính dân tộc và tính đại chúng Nhóm này

chiếm 19,75% Ví dụ: Lên hạng, trung vệ thòng, Liên đoàn bóng đá, V-league, Ngoại hạng Anh, …

- Nhóm 4: Thỏa mãn bốn tiêu chuẩn trong đó có ba tiêu chuẩn bắt buộc là

tính chính xác, tính hệ thống, tính quốc tế và một tiêu chuẩn cần là tính dân tộc Tức

là các thuật ngữ này không thỏa mãn tính đại chúng và tính ngắn gọn Nhóm này

chiếm 17% Ví dụ: Ăn vạ trong vòng cấm địa, Bỏ bóng đánh người, huấn luyện viên trưởng, bác sĩ thể thao, huấn luyện viên thể lực, ngả người móc bóng, …

- Nhóm 5: Thỏa mãn một đến hai tiêu chuẩn bắt buộc và có thể thỏa mãn

hoặc không thỏa mãn các tiêu chuẩn cần Nhóm này chiếm 2,5% Ví dụ: Cách chơi căng thẳng, cách chơi bảo thủ,

Dựa vào bộ tiêu chí này, chúng ta có thể xác định được đơn vị ngôn ngữ nào

là thuật ngữ điển hình, đơn vị ngôn ngữ nào là thuật ngữ phi điển hình Các thuật ngữ điển mẫu là những thuật ngữ thỏa mãn đầy đủ cả ba tiêu chuẩn bắt buộc: tính chính xác, tính hệ thống và tính quốc tế Các tiêu chí còn lại, về nguyên tắc là không bắt buộc nhưng chúng càng thỏa mãn được bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu (tính dân tộc, tính đại chúng, tính ngắn gọn) Các thuật ngữ không điển hình là những thuật ngữ chỉ thỏa mãn được một đến hai tiêu chuẩn bắt buộc và có thể thỏa mãn hoặc không thỏa mãn các tiêu chuẩn cần

Trang 34

Dù số lượng TNBĐ nhiều và đa dạng, tuy nhiên trong luận văn này, tác giả xin chỉ xem xét những TNBĐ điển hình Vì các thuật ngữ đạt chuẩn sẽ giúp việc phân tích các đặc điểm của TNBĐ được chính xác hơn Những cụm từ có chứa các phụ từ quan hệ từ chúng tôi sẽ loại ra vì chúng khiến cho các cụm từ chủ chúng cũng bị mất tính chất định danh, mang tính miêu tả, định nghĩa khái niệm Những cụm từ có chứa các phụ từ, quan hệ từ trong kết cấu nội bộ của chúng đều không phải là TNBĐ chuẩn mực Như vậy, theo cách khảo xét này, chúng ta thấy có thể xếp các thuật ngữ thuộc nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3 và nhóm 4 vào TNBĐ điển hình

Nó chiếm 97,5% Những thuật ngữ này đáp ứng được các tiêu chuẩn của một thuật ngữ điển mẫu ở những mức độ khác nhau, và chúng không cần phải chuẩn hóa nữa Các thuật ngữ thuộc nhóm 5 là các thuật ngữ phi điền mẫu Do đó ở luận văn này chúng tôi sẽ miêu tả và phân tích các điển mẫu nhằm tìm ra các đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của TNBĐ Việt Nam

2.2 Phương thức tạo thành thuật ngữ bóng đá trong tiếng Việt

Có thể thấy, phương thức hình thành TNBĐ trong tiếng Việt cũng giống với cách hình thành thuật ngữ ở các ngành khác Vì thực chất TNBĐ Việt Nam cũng là một tiểu hệ thống của hệ thuật ngữ tiếng Việt nói chung Đó là:

- Đặt thuật ngữ trên cơ sở tiếng Việt

- Đặt thuật ngữ trên cơ sở tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài

Phương thức hình thành TNBĐ trong tiếng Việt dựa trên quan điểm nghiên cứu cho rằng thuật ngữ khoa học của bất kỳ ngôn ngữ nào trên thế giới cũng được xây dựng dựa trên hai nguyên tắc là: dựa vào ngôn ngữ bản ngữ và dựa vào ngôn ngữ nước ngoài

Thuật ngữ thuần Việt đương nhiên không gây nên sự khó hiểu và bất cập nào trong sử dụng Song thuật ngữ tiếp nhận từ nước ngoài thì có thể không sử dụng được ngay Một số thuật ngữ khó hiểu, khó đọc cần có quá trình Việt hóa, phiên âm

để phù hợp với nước ta Từ đó, ta thấy với mảng thuật ngữ tiếp nhận từ nước ngoài,

ta có thể chia làm hai loại nhỏ:

Trang 35

- Thuật ngữ trên cơ sở ngữ liệu vốn có tương ứng với phương thức sao phỏng thuật ngữ nước ngoài

- Thuật ngữ mượn thuật ngữ nước ngoài có phiên âm, Việt hóa cho phù hợp tình hình sử dụng ở nước ta

Như vậy, từ các phương thức trên, ta có ba lớp TNBĐ trong tiếng Việt với những đặc trưng khác nhau cả về hình thái và ngữ nghĩa trong vốn thuật ngữ của tiếng Việt:

- Lớp thuật ngữ thuần Việt

- Lớp thuật ngữ sao phỏng

- Lớp thuật ngữ phiên âm

Tiếp theo, luận văn sẽ đi vào trình bày từng phương thức tạo thành TNBĐ Việt Nam

2.2.1 Thuật ngữ hóa từ ngữ thông thường

Thuật ngữ hóa từ ngữ thông thường là phương thức tạo nên thuật ngữ qua việc: “dùng phép chuyển di ngữ nghĩa của từ để tạo thuật ngữ” [28,23] Ở đó, “mặt biểu hiện (vỏ ngữ âm) của từ và cái biểu vật giữ nguyên không thay đổi, còn ý nghĩa thì thay đổi” [28,24] Lê Quang Thiêm gọi đây là quá trình trí tuệ hóa các từ thông thường [28,24] Nó góp phần làm phong phú cả vốn thuật ngữ lẫn vốn từ thông thường mà lại tiết kiệm được ngôn ngữ, không phải sáng tạo hay vay mượn ngôn từ khác

Trong TNBĐ Việt Nam, vốn thuật ngữ sử dụng từ thuần Việt này khá nhiều

Nó vừa tồn tại trong ngôn ngữ đời thường vừa có mặt trong ngôn ngữ chuyên môn

Có thể thấy rõ hơn qua bảng ví dụ sau:

Bảng 2.2 Minh họa về các TNBĐ thuần Việt

Trang 36

Bong gân Bong gân là khi cầu thủ thi đấu quá sức, hoặc va chạm bị

chấn thương dây chằng (mô nối hai hoặc nhiều xương tại một khớp) Khi bong gân, một hoặc nhiều dây chằng bị giãn hoặc bị rách

Bóng bổng Đường bóng đi vòng lên trên cao rồi đi xuống

Tạt bóng Bóng được dẫn ở bên cánh rồi chuyền vào trong khu vực

cầu môn (có thể bổng hoặc sát đất)Bóng chết Tình huống đá phạt được trọng tài cho phép do có lỗi từ

cầu thủ đối phương và khi đó cầu thủ đối phương không được chạm bóng trước

Bóng đá bãi biển Trận đấu bóng đá được diễn ra trên bãi biển

Bóng đá nữ Trận đấu bóng đá với các cầu thủ là nữ

Trọng tài chính Người điều hành trận đấu, có nhiệm vụ thực thi luật bóng

đá để điều khiển trận đấu mà đã được giao

Trọng tài biên Giúp trọng tài chính quan sát những tình huống bóng biên,

việt vị

Thủ môn Người canh giữ cầu môn, được phép dùng tay chơi bóng

trong khu vực 16m50Hậu vệ Là cầu thủ chơi ở vị trí phía sau hàng tiền vệ và có nhiệm

vụ chính là hỗ trợ cho thủ môn, ngăn cản đối phương ghi bàn thắng, đồng thời tham gia các tình huống tấn công của đội nhà khi có cơ hội

Trung vệ Là hậu vệ chơi ở khu vực giữa trung tâm trước cầu môn,

ngay trên thủ môn

Tiền vệ Cầu thủ có vị trí chơi ở phía dưới tiền đạo và phía trên hậu

vệ Chức năng chính của họ là đoạt bóng từ đối phương, phát động tấn công để đưa bóng lên cho tiền đạo, hoặc tự mình ghi bàn

Trang 37

Tiền đạo Cầu thủ chơi ở vị trí cao nhất, gần khu vực cầu môn đối

phương, có nhiệm vụ ghi bàn thắng

Đội trưởng Là một thành viên của đội bóng được lãnh đạo đội bóng

chọn để chỉ huy đội bóng trong trận đấu

Huấn luyện viên Là người trực tiếp huấn luyện, đào tạo và hướng dẫn các

hoạt động của một đội bóng

Phạm lỗi Tranh chấp, cản bóng sai luật

Quả đá phạt Là một tình huống cố định xảy ra khi một cầu thủ bị đối

phương phạm lỗi (bao gồm cả lỗi việt vị)Quả phạt 11m (đá

phạt đền)

Là một kiểu đá phạt trong bóng đá, vị trí của quả đá phạt này là 11 mét tính từ khung thành và thủ môn của đội bị phạt

Phạt góc Một quả phạt góc được trao cho đội tấn công khi quả bóng

đã hoàn toàn vượt qua hẳn đường biên ngang trên sân phía ngoài khung cầu môn, dù ở mặt đất hay trên không do người chạm bóng cuối cùng là cầu thủ đội phòng ngự (kể

cả thủ môn)Xuống hạng Là những đội bóng được ít điểm nhất sau mùa giải diễn ra

tại các giải đấuĐội vô địch Là đội bóng được điểm cao nhất tại mùa giải diễn ra theo

thể thức đấu vòng tròn tính điểm và là đội bóng chiến thắng tất cả các đối thủ theo thể thức đấu loại trực tiếp

2.2.2 Vay mượn từ các từ ngữ nước ngoài

Thực tế, trong thuật ngữ Việt Nam hiện nay số lượng từ vay mượn tiếng nước ngoài khá nhiều Đó là bởi trong tiến trình lịch sử, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực chúng ta tiếp nhận từ nước ngoài, chứ không phải bản thân ta sáng tạo ra Vì thế, đương nhiên, ta sẽ phải tiếp thu cách gọi, định nghĩa có liên quan tới lĩnh vực ấy từ nước ngoài Bóng đá cũng là môn thể thao xuất phát từ nước ngoài, do vậy trong quá trình đưa bóng đá trở thành môn thể thao “vua” ở Việt Nam, ta đã sử dụng

Trang 38

thuật ngữ của nước ngoài như một thói quen để hiểu về bóng đá Nhờ vậy mà số lượng của các TNBĐ Việt Nam đã tăng lên rõ rệt Cũng nhờ điều đó mà chúng ta

có tiếng nói thống nhất về bóng đá với các nước khác trên thế giới

Theo khảo sát của chúng tôi, TNBĐ Việt Nam được tạo ra bằng cộng đồng vay mượn chiếm khoảng 90,2% Có thể thấy rõ hơn qua bằng ví dụ sau:

Bảng 2.3 Minh họa về các TNBĐ Việt Nam vay mượn nước ngoài

Chơi pressing Pressing là phương pháp tranh chấp bóng bằng cách áp

sát thật nhanh, tạo cho đối phương áp lực lớn qua đó giành lại quyền kiểm soát bóng

Coach Huấn luyện viên

Coaching Huấn luyện

Coaching Zone Khu vực kỹ thuật

CONCACAF Ngăn cản đối phương bằng thân mình

Concordia Sự đồng tâm, đồng lòng

CONMEBOL Liên đoàn bóng đá Nam Mỹ

Cool Đội bóng chơi bình tĩnh, tự chủ nhưng kém nhiệt tìnhCopa Conmebol Từ 1992-1999 được tổ chức tại Nam Mỹ, gần giống với

cúp UEFACopa de Ora Giải bóng đá thế giới thu nhỏ do Liên đoàn bóng đá

Uruguay tổ chức 12/1980-01/1981 nhân kỷ niệm 50 năm World cup đầu tiên

Copa Interamericana Cúp liên châu Mỹ

Copa Internacional Giải đấu mời giữa các câu lạc bộ của châu Âu và Nam

Mỹ (được tổ chức có 4 lần từ 1951 đến 1963)Copa Latina Cúp Latinh

Trang 39

La Liga Giải bóng đá vô địch Tây Ban Nha

Premier League Giải Ngoại hạng Anh

Bundesliga Giải bóng đá vô địch Đức

Serie A Giải bóng đá vô địch Italia

Cách thức vay mượn để tạo nên các thuật ngữ vay mượn này chủ yếu được thực hiện bằng con đường ghép lai và sắc phỏng

2.2.2.1 Ghép lai

Ghép lai là con đường hình thành thuật ngữ trong đó một phần hình thức là bản ngữ, một phần là mượn, nhưng ý nghĩa là hoàn toàn mượn Về hình thức ngôn ngữ, ghép lai là còn đường tạo thuật ngữ mới bằng việc sử dụng một thuật tố hay một số yếu tố Việt ghép với yếu tố có tiếng nước ngoài (đã phiên âm hay để nguyên trạng)

để tạo ra thuật ngữ mới Phương thức ghép lai được sử dụng khi chưa tìm được từ tiếng Việt thích hợp để dịch thuật ngữ hoặc có thể đã tìm được từ tiếng Việt để dịch thuật nhưng cụm từ này quá dài, và khi sử dụng phương thức này người không biết ngoại ngữ vẫn có điều kiện cập nhập vốn thuật ngữ của mình Thống kê cho thấy,

có TNBĐ Việt Nam được tạo ra theo phương thức ghép lai chiếm 19% Ví dụ:

Bảng 2.4 Minh họa về các TNBĐ Việt Nam ghép lai

Chơi pressing Pressing là phương pháp tranh chấp bóng bằng cách áp

sát thật nhanh, tạo cho đối phương áp lực lớn qua đó giành lại quyền kiểm soát bóng

Cúp Final Tên chính thức của trận chung kết của bóng đá Anh

Cúp Phần thưởng mà các đội thi đấu để giành lấy

Cúp Anpo Diễn ra hàng năm tại các địa điểm ở Thụy Sỹ và Áo giữa

các CLB Châu Âu đang chuẩn bị mùa giải mới tại các trung tâm thể thao vùng núi An Pơ

Cúp Bắc Phi Giải thi đấu thứ hai cho các đội đoạt cúp quốc gia vùng

Trang 40

Bắc Phi từ 1930-1949Cúp Anglo – Italia Thi đấu hai lượt đi và về giữa các CLB được mời của

Anh và Italia

Cúp Ban-căng Tên gọi giải đấu các CLB của các nước vùng BancăngCúp bóng đá Bắc Âu Giải thi đấu hàng năm tư 1923-1933 của các nước vùng

ScandinavơCúp bóng đá nữ

UEFA

Cúp châu Âu của các đội nữ vô địch quốc gia

Cúp bóng đá quốc tế Giải đấu để lấp chỗ trống cho các CLB châu Âu đang

nghỉ giữa mùaCúp CAF Là giải đấu hàng năm của các đội đứng thứ 2 hoặc thấp

hơn trong các giải quốc gia châu PhiCúp Challenge Là tên ban đầu của cúp FA

Cúp Châu Âu các

quốc gia

Giải tiền thân của giải vô địch châu Âu

Cúp Châu Âu Là các giải Cup dành cho các CLB thành viên UEFACúp FIFA

đó Trường hợp này được gọi là sao phỏng ý nghĩa Nếu xét về mặt hình thức ngôn

Ngày đăng: 16/01/2016, 23:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Balamarchuck, K.S(1975), Từ vựng thuật ngữ trong từ điển Ngữ văn, Phan Thị Nguyệt, Dương Kì Đức chỉnh lý, Hồ Anh Dũng dịch. Tài liệu dịch của Viện Ngôn ngữ học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng thuật ngữ trong từ điển Ngữ văn
Tác giả: Balamarchuck, K.S
Năm: 1975
3. Diệp Quang Ban (2010), Từ điển thuật ngữ Ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Ngôn ngữ học
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
4. Belakhov L.Iu (1976), Những vấn đề tiêu chuẩn hóa Nhà nước về thuật ngữ. Như Ý dịch. Tài liệu dịch của Viện Ngôn ngữ học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề tiêu chuẩn hóa Nhà nước về thuật ngữ
Tác giả: Belakhov L.Iu
Năm: 1976
5. Bernd Rohr – Gunter Simon (2013), Từ điển bách khoa bóng đá, Vũ Hoa cùng Hữu Tâm, Tâm Tình, Bình Giang dịch, Nxb Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển bách khoa bóng đá
Tác giả: Bernd Rohr – Gunter Simon
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2013
6. Nguyễn Tài Cẩn (1999), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb. ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb. ĐHQGHN
Năm: 1999
7. Đỗ Hữu Châu(1981), Từ vựng-ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng-ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1981
8. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1997), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb. Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb. Giáo dục Việt Nam
Năm: 1997
9. Cosunop G.G, Xumburôva X.I (1968), Công tác thuật ngữ, nguyên lí và phương pháp, Matxcơva, Tài liệu dịch của Viện ngôn ngữ học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác thuật ngữ, nguyên lí và phương pháp
Tác giả: Cosunop G.G, Xumburôva X.I
Năm: 1968
10. Gerd, A.C. (1978), Ý nghĩa thuật ngữ và các kiểu loại ý nghĩa thuật ngữ, Lê Ngọc Văn dịch, Tài liệu dịch của Viện ngôn ngữ học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý nghĩa thuật ngữ và các kiểu loại ý nghĩa thuật ngữ
Tác giả: Gerd, A.C
Năm: 1978
11. Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
12. Nguyễn Thiện Giáp (2008), Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương, Nxb. ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb. ĐHQG Hà Nội
Năm: 2008
13. Nguyễn Thị Bích Hà (2000), So sánh cấu tạo thuật ngữ kinh tế thương mại trong tiếng Nhật và tiếng Việt hiện đại, Luận án tiến sĩ Ngữ Văn, ĐHKHXH &NV, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh cấu tạo thuật ngữ kinh tế thương mại trong tiếng Nhật và tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hà
Năm: 2000
14. Hoàng Văn Hành (1983), "Về sự hình thành và phát triển thuật ngữ tiếng Việt", Tạp chí Ngôn ngữ, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về sự hình thành và phát triển thuật ngữ tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Năm: 1983
15. Kapanadze, L.A. (1978), Về những khái niệm thuật ngữ và hệ thuật ngữ, Tài liệu dịch của Viện ngôn ngữ học, (Trần Thị Tuyên dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về những khái niệm thuật ngữ và hệ thuật ngữ
Tác giả: Kapanadze, L.A
Năm: 1978
16. Lê Khả Kế (1967), Xây dựng hệ thuật ngữ khoa học bằng tiếng Việt // Tiếng Việt và dạy đại học bằng tiếng Việt, Nxb. KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng hệ thuật ngữ khoa học bằng tiếng Việt // Tiếng Việt và dạy đại học bằng tiếng Việt
Tác giả: Lê Khả Kế
Nhà XB: Nxb. KHXH
Năm: 1967
17. Lê Khả Kế (1984), Chuẩn hóa thuật ngữ khoa học tiếng Việt, Chuẩn hóa chính tả và thuật ngữ, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn hóa thuật ngữ khoa học tiếng Việt, Chuẩn hóa chính tả và thuật ngữ
Tác giả: Lê Khả Kế
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1984
18. Nguyễn Văn Khang (2000), "Chuẩn hóa thuật ngữ nhìn từ bối cảnh xã hội", Tạp chí Ngôn ngữ, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn hóa thuật ngữ nhìn từ bối cảnh xã hội
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Năm: 2000
19. Nguyễn Văn Khang (2010), "Những vấn đề đặt ra đối với việc xử lí từ ngữ nước ngoài trong tiếng Việt", Tạp chí Ngôn ngữ, số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề đặt ra đối với việc xử lí từ ngữ nước ngoài trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Năm: 2010
20. Vân Lăng - Như Ý (1977), "Tình hình và xu hướng phát triển thuật ngữ tiếng Việt trong mấy chục năm qua", Tạp chí Ngôn ngữ , số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình và xu hướng phát triển thuật ngữ tiếng Việt trong mấy chục năm qua
Tác giả: Vân Lăng - Như Ý
Năm: 1977
21. Klimoviskij J. A. A., Thuật ngữ và tính chế ước của định nghĩa khái niệm trong hệ thống, Tài liệu dịch của Viện Ngôn ngữ học, (Như Ý dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ và tính chế ước của định nghĩa khái niệm trong hệ thống

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Minh họa các từ về bóng đá được gọi là thuật ngữ - Thuật ngữ bóng đá trong tiếng Việt
Bảng 2.1. Minh họa các từ về bóng đá được gọi là thuật ngữ (Trang 31)
Bảng 2.4. Minh họa về các TNBĐ Việt Nam ghép lai - Thuật ngữ bóng đá trong tiếng Việt
Bảng 2.4. Minh họa về các TNBĐ Việt Nam ghép lai (Trang 39)
Bảng 2.5. Minh họa về các thuật tố trong TNBĐ Việt Nam - Thuật ngữ bóng đá trong tiếng Việt
Bảng 2.5. Minh họa về các thuật tố trong TNBĐ Việt Nam (Trang 42)
Bảng 2.7. CẤU TẠO CỦA CÁC THUẬT NGỮ CÓ 1 THUẬT TỐ - Thuật ngữ bóng đá trong tiếng Việt
Bảng 2.7. CẤU TẠO CỦA CÁC THUẬT NGỮ CÓ 1 THUẬT TỐ (Trang 45)
Bảng 2.9.  CẤU TẠO THUẬT NGỮ BÓNG ĐÁ CÓ 2 THUẬT TỐ - Thuật ngữ bóng đá trong tiếng Việt
Bảng 2.9. CẤU TẠO THUẬT NGỮ BÓNG ĐÁ CÓ 2 THUẬT TỐ (Trang 48)
Bảng 2.10.  CẤU TẠO THUẬT NGỮ BÓNG ĐÁ CÓ 3 THUẬT TỐ - Thuật ngữ bóng đá trong tiếng Việt
Bảng 2.10. CẤU TẠO THUẬT NGỮ BÓNG ĐÁ CÓ 3 THUẬT TỐ (Trang 51)
Bảng 2.12. CẤU TẠO THUẬT NGỮ BÓNG ĐÁ CÓ 5 THUẬT TỐ - Thuật ngữ bóng đá trong tiếng Việt
Bảng 2.12. CẤU TẠO THUẬT NGỮ BÓNG ĐÁ CÓ 5 THUẬT TỐ (Trang 55)
Bảng 3.1. Các lớp thuật ngữ bóng đá - Thuật ngữ bóng đá trong tiếng Việt
Bảng 3.1. Các lớp thuật ngữ bóng đá (Trang 61)
Bảng 2.3. Minh họa về các TNBĐ Việt Nam vay mượn nước ngoài - Thuật ngữ bóng đá trong tiếng Việt
Bảng 2.3. Minh họa về các TNBĐ Việt Nam vay mượn nước ngoài (Trang 87)
Bảng 2.4. Minh họa về các TNBĐ Việt Nam ghép lai - Thuật ngữ bóng đá trong tiếng Việt
Bảng 2.4. Minh họa về các TNBĐ Việt Nam ghép lai (Trang 88)
Bảng 2.5. Minh họa về các thuật tố trong TNBĐ Việt Nam - Thuật ngữ bóng đá trong tiếng Việt
Bảng 2.5. Minh họa về các thuật tố trong TNBĐ Việt Nam (Trang 90)
Bảng 2.6. THỐNG KÊ THUẬT NGỮ BÓNG ĐÁ THEO THUẬT TỐ - Thuật ngữ bóng đá trong tiếng Việt
Bảng 2.6. THỐNG KÊ THUẬT NGỮ BÓNG ĐÁ THEO THUẬT TỐ (Trang 91)
Bảng 2.12. CẤU TẠO THUẬT NGỮ BÓNG ĐÁ CÓ 5 THUẬT TỐ - Thuật ngữ bóng đá trong tiếng Việt
Bảng 2.12. CẤU TẠO THUẬT NGỮ BÓNG ĐÁ CÓ 5 THUẬT TỐ (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w