1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử và văn hóa Ấn Độ

62 746 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 375 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦUẤn Độ là một trong những trung tâm văn minh cổ xưa nhất của loài người và đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ cho đến trước khi người Anh đặt nềnthống trị của họ trên vai những cư d

Trang 1

MỞ ĐẦU

Ấn Độ là một trong những trung tâm văn minh cổ xưa nhất của loài người

và đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ cho đến trước khi người Anh đặt nềnthống trị của họ trên vai những cư dân của bán đảo rộng lớn ở Nam Á này Ấn

Độ mang trong lòng nó những giá trị văn minh vừa chúi lói lại vừa huyền bí,vừa rất mềm dẻo, uyển chuyển lại vừa có sức sống mạnh mẽ, lan tỏa và thuphục cả những cư dân xa xôi đến đây

Khái niệm Văn minh Ấn Độ được hiểu ở đây không chỉ là nền văn minhtồn tại trên lãnh thổ Cộng hòa Ấn Độ hiện đại, quốc gia lớn nhất trên bán đảo

Ấn Độ, mà trên toàn bộ bán đảo Ấn Độ, hay có thế gọi là một “Thế giới ẤnĐộ” Tất nhiên không gian văn minh giới hạn trên lãnh thổ bán đảo Ấn Độ chứkhông phải mở rộng ra cả vùng ảnh hưởng lớn nhất của văn minh Ấn Độ làkhu vực Đông Nam Á

Ảnh hưởng của Văn minh Ấn Độ với phương Đông nói riêng và thế giớinói chung đã bắt đầu từ khi nó mới ra đời nhưng chỉ được bắt đầu coi trọngđúng mức từ cuối thế kỷ XIX Qua gần 2 thế kỷ nghiên cứu, diện mạo của mộttrong những trung tâm văn minh rực rỡ ở phương Đông thời Cổ - Trung đạiđược dựng lên với những thành tựu huy hoàng và đặc trưng riêng biệt của nó.Khó có thể khái quát hết mọi mặt của Văn minh Ấn Độ, một nền vănminh rực rỡ và vĩ đại trong quá khứ bởi tính chất đồ sộ, phong phú và sâu sắccủa nền văn minh này Ở đây tiểu luận hướng đến việc trình bày những điềukiện hình thành và phát triển của nó, khái lược những thành tựu chính của nó

và từ đó rút ra một vài đặc điểm nổi bật nhất

Lịch sử và văn hóa Ấn Độ có một sức hấp dẫn, cuốn hút mạnh mẽ với cácnhà nghiên cứu và những ai ham thích khám phá Bởi vì nó vẫn còn nhiều điều

“Huyền bớ”, cần “Phỏt hiện” để phác họa nên một bức tranh hoàn chỉnh trờn

Trang 2

vựng đất mênh mông này Những giá trị của văn minh Ấn Độ được thừa nhậnrộng rãi trên thế giới và nhiều thành tựu trong đó là di sản văn hoá thế giới.

Vị trí địa lý của Ấn Độ có những điểm rất độc đáo Nằm ở phía Nam châu

Á, bán đảo Ấn Độ gần như hình tam giác, được coi là một “Tiểu lục địa” do sựrộng lớn và tính chất khép kín, riêng biệt của nó Dãy núi Himalaya hùng vĩ,được gọi là “núc nhà của thế giới” án ngữ ở phía Đông Bắc ngăn cách Ấn Độvới thế giới bên ngoài Chỉ có phía Tây Bắc có những đèo tương đối thấp làcon đường bộ duy nhất giau lưu với bên ngoài dù rất khó Chính qua nhữngcon đường này mà người Ba Tư, người Hy Lạp, người Mông Cổ, người Thổ điqua để vào Ấn Độ, cũng như các thương nhân, nhà truyền giáo Ấn Độ đi rabên ngoài Bao quanh ba mặt Đông, Tõy và Nam Ấn Độ là Ấn Độ Dương Tuynhiên vào thời Cổ đại, việc giao lưu bằng đường biển rất khó khăn

Vị trí địa lý ấy của Ấn Độ đó tạo cho Ấn Độ tính chất tách biệt khỏi phầncòn lại của thế giới, tạo ra một thế giới riêng, “thế giới Ấn Độ” Mặt kháckhông vì thế mà Ấn Độ không giao lưu với bên ngoài Theo thời gian, nhữngyếu tố văn hóa từ bên ngoài cũng xâm nhập vào nơi đây, và văn minh Ấn Độtỏa phát ra bên ngoài, chủ yếu là sang khu vực Đông Nam Á

1.2 Điều kiện tự nhiên

Trang 3

Thiên nhiên Ấn Độ vô cùng phong phú đa dạng, mang trong lòng nónhững mặt trái ngược nhau, ảnh hưởng sâu sắc tới nền văn minh của cư dân.Bán đảo Ấn Độ gần như bị cắt đôi bởi dãy núi Vindya, tạo ra 2 miền Nam Bắc

rõ rệt, thậm chí 2 miền Đông Tây cũng có những điểm khác nhau lớn

Nửa phía Bắc là hai đồng bằng rộng lớn do sông Ấn (Indus) và sông Hằng(Ganga) tạo nên Đõy chính là cái nôi của nền văn minh Ấn Độ, đồng thờicũng là khu vực văn minh phát triển rực rỡ nhất, không chỉ của Ấn Độ mà còncủa cả thế giới thời Cổ đại

Đồng bằng sông Ấn ngày nay nằm ở lãnh thổ Pakistan Sông Ấn bắt nguồn

từ dãy núi Himalaya và đổ ra vịnh Ả Rập Lưu vực sông Ấn là nơi khởi phát củanền văn minh Ấn Độ, nền văn minh Harappa – Mohenjo-Daro nổi tiếng Cư dânbản địa cổ xưa gọi đó là sông Sindu, người láng giềng Ba Tư phát âm chệchthành Hindhu nên gọi tên nước là xứ Hindu – Hindustan, ban đầu là để gọi miềnBắc Ấn Độ, rồi thành tên cả bán đảo Người Hy Lạp gọi tên sông là Indus và tênnước là India, trở thành tên quốc tế của Ấn Độ Tuy nhiên chính người Ấn Độlại gọi nước mình là Bharat, theo tên một ông vua huyền thoại

Trong khi đó đồng bằng sông Hằng nằm ở khu vực Đông Bắc Ấn Độ

ngày nay và hiện nay vẫn là vùng tập trung đông đúc của cư dân Ấn Độ Sông

Hằng (Ganga) là con sông quan trọng nhất của tiểu lục địa Ấn Độ Sông Hằngdài 2.510 km bắt nguồn từ dãy H i malaya của Bắc Trung bộ Ấn Độ, chảy theohướng Đông Nam qua Bangladesh và vào vịnh Bengal Tên của sông được đặttheo tên vị nữ thần Hindu Ganga Sông Hằng có lưu vực rộng 907.000 km²,một trong những khu vực phì nhiều và có mật độ dân cao nhất thế giới

Sông Hằng được tạo thành bởi hai con sông đầu nguồn là sông Bhagirathi

và sông Alaknanda ở dãy núi Himalaya của bang Uttaranchal thuộc Ấn Độ.Nguồn nước thường được mọi người thừa nhận là Bhagirathi, một con sông bắtnguồn từ một động băng tại độ cao 4.000 m và là con sông nhỏ hơn trong haichi lưu của sông Hằng Sông Alaknanda bắt nguồn từ khu vực nằm dưới đỉnh

Nanda Devi (7.817 m) gần biên giới Tây Tạng (…) Sông Hằng đã có nhiều

Trang 4

nhánh sông tạo thành một mạng lưới đường thủy cũng như tạo ra một trongnhững đồng bằng châu thổ rộng lớn và phì nhiêu nhất thế giới Dòng chính củasông Hằng tiếp tục chảy theo hướng Nam (…) trước khi đổ vào Vịnh Bengal.Tại Vịnh Bengal, cửa sông Meghna có bề rộng 30 km Lưu lượng nước hàngnăm của sông Hằng chỉ xếp sau sông Amazon (châu Mỹ) và sông Congo (châuPhi) Do sông Hằng mang theo trong mình lượng phù sa lớn nờn vựng đồngbằng châu thổ do nó tạo ra tiếp tục mở rộng về phía vịnh Bengal1.

Sông Hằng có một vị trí đặc biệt trong lịch sử nền văn minh Ấn Độ Sựphì nhiêu của đồng bằng sông Hằng là điều kiện đặc biệt quan trọng cho cưdân Ấn Độ xây dựng nên nền văn minh rực rỡ nhất của mình – nền văn minhsông Hằng Dấu ấn của nó đậm nét trong các thành tựu văn minh, đặc biệt đây

là dòng sông thiêng trong tôn giáo lớn nhất – Hinđu giáo Đối với tín đồ tôngiáo này – chiếm phần lớn dân cư Ấn Độ, được tắm trong dòng nước sôngHằng để tẩy rửa mọi uế tạp cuộc đời là hạnh phúc thiêng liêng Các nghi lễ tôngiáo quan trọng nhất của người Hinđu giáo cũng được tiến hành bên bờ sôngHằng Đó được xem là dòng Sông Mẹ trong tâm thức người Ấn Độ

Hai miền đồng bằng trù phú tạo nên bởi sông Hằng và sông Ấn đã lànhững điều kiện vô cùng thuận lợi cho sự phát triển nền văn minh Cũng giốngnhư sông Nile ở Ai Cập, sông Euphrat và Tigre ở Lưỡng Hà, Hoàng Hà vàTrường Giang ở Trung Quốc, lưu vực của hai dòng sông này rất màu mỡ và lànơi khởi nguồn của nền văn minh Với lương phù sa phong phú và lượng mưadồi dào, ở đây cư dân có thể canh tác dễ dàng bằng công cụ đồng từ rất sớm

Và nền văn minh vì thế cũng ra đời sớm

Nửa phía Nam là vùng cao nguyên Đờcan, với núi cao rừng rậm chiếmphần lớn diện tích lãnh thổ, ít thuận lợi, có hai dãy nỳi Gỏt Đụng và Gỏt Tõychạy dọc hai bên bờ biển, tạo thành hai đồng bằng duyên hải kéo dài, thuận lợicho cuộc sống con người

1 www.vi.wikipedia/An-do/song-hang

Trang 5

Sự chia cắt về địa hình tạo cho Ấn Độ một khí hậu cực kỳ phong phú, đadạng Vựng chõn nỳi Himalaya có khí hậu lạnh, với tuyết rơi và các ngọn núiphủ băng vĩnh cửu, “Mặc dầu vậy, vai trò của Himalaya giữ cho Ấn Độ đằngsau nó được nhiều thế kỷ bình yên, chậm rãi xây dựng nền văn hóa riêng biệtcủa mình, vẫn hết sức là rõ ràng, chắc chắn”2 Sự hùng vĩ của Himalaya phảichăng tạo cho con người Ấn Độ có những suy tư về các vị thần bất tử và ýnghĩa của cuộc sống con người như người Hy Lạp suy tư về đỉnh Olempơ?Miền đồng bằng sông Ấn khụ núng và chịu ảnh hưởng của sa mạc Thar với cátbay dữ dội Phải chăng đó là nguyên nhân chôn vùi nền văn minh thung lũngsông Ấn, nền văn minh đầu tiên của người Ấn Độ? Miền Đồng bằng sôngHằng rộng lớn, có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, phú sa màu mỡ, rấtthuận lợi cho sự phát triển của nền nông nghiệp nhiệt đới như khu vực ĐôngNam Á

Như vậy bán đảo Ấn Độ chứa đựng những yếu tố trái ngược nhau, cótuyết rơi giá lạnh, có sa mạc nóng cháy, có núi cao rừng rậm và lại có nhữngđồng bằng rộng lớn, màu mỡ: “Thật là một thiên nhiên, vừa đóng kín lại vừagợi mở, vừa là một tiểu lục địa thống nhất, cách biệt với bên ngoài, vừa chiacắt và khác nhau bên trong, vừa hùng vĩ và vừa cực kỳ đa dạng.”3 Nhà Ấn Độhọc người Anh là Max Muller đã nhận xét rằng Ấn Độ “được trời phú chonhiều nhất về của cải, sức mạnh và vẻ đẹp thiên nhiên – trên một số điểm cóthể coi là thiên đường trên mặt đất”4

2 Dân cư – nguồn gốc nhân chủng:

Nguồn gốc nhân chủng của Ấn Độ rất phức tạp và vẫn còn nhiều điều bí

ấn với khoa học và vẫn chưa có được câu trả lời dứt khoát Điều đó tạo nêntính chất đa dạng trong thành phần dân cư Ấn Độ

2 Lương Duy Thứ (chủ biên), Phan Nhật Chiêu, Phan Thu Hiền, Đại cươnglịch sử văn hóa Phương Đông,

NXB Giáo dục, Hà Nội, 1997, trang 129.

3 Lương Ninh (cb), Đinh Ngọc Bảo, Đặng Quang Minh, Nguyễn Gia Phu, Nghiêm Đình Vỳ, Lịch sử thế giới

Cổ đại, tái bản lần thứ 7, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003, trang 84.

4 Jawaharlal Nehru, Phát hiện Ấn Độ, tập 1, NXB Văn học, Hà Nội, 1990, trang 137.

Trang 6

Bộ phận xuất hiện sớm nhất trên lãnh thổ Ấn Độ là những người da đenNegroid, đến nay còn rất ít và nói một thứ tiếng gọi là Munda Tiếp sau đó làngười Dravida, là một nhánh của chủng tộc Australoid Ngày nay cả hai nhómnày đều sống ở miền Nam Các bằng chứng khảo cổ học đã cho thấy vào buổiđầu thời đại văn minh họ đã sống ở lưu vực sông Ấn Có thể chính họ là nhữngngười xây dựng nên nền văn minh sông Ấn, nền văn minh đầu tiên ở Ấn Độ.Tuy nhiên, “Về nguồn gốc chủng tộc Đraviđa, đến ngày nay khoa học chưa cócâu trả lời dứt khoỏt”5.

Thành phần cư dân đông đảo nhất trên bán đảo Ấn Độ là người Aryan,một nhánh của chủng tộc Indo – Europe Họ đã thiên di vào Ấn Độ từ vùngĐịa Trung Hải vào khoảng giữa thiên niên kỷ thứ II TCN, chiếm cứ lãnh thổ

Ấn Độ và xây dựng nên nền văn minh sông Hằng rực rỡ Trong ngữ hệ Ấn –

Âu, “Aryan” có nghĩa là quý phái, và người Aryan gọi những cư dân khác là Dara, ban đầu nghĩa là kẻ thù, về sau khi họ đã chinh phục được Ấn Độ thì từ

đó chuyển nghĩa thành nô lệ.

Tiếp sau đú cỏc tộc người Hy Lạp, Ba Tư, Hung Nô, Mông Cổ… cũngxâm nhập vào Ấn Độ Các tộc người dần hòa trộn vào nhau, do đó khiến choviệc tách bạch các tộc người trở nên khó khăn, tạo thành một cộng đồng cư dânphức tạp, song vẫn có những nét chung mang đậm dấu ấn Ấn Độ

Ngôn ngữ Ấn Độ rất đa dạng, phong phú, với khoảng 1500 đến 2000 ngônngữ khác nhau mà ngày nay được công nhận là 14 ngôn ngữ bản địa chínhthức, với tiếng Anh và tiếng Hindu là tiếng phổ thông

Sự phức tạp về vấn đề nhân chủng đó có ảnh hưởng nhiều tới tiến trìnhphát triển của văn minh Ấn Độ thời Cổ - Trung đại Hai bộ phận cư dân chínhcủa Ấn Độ thời Cổ - Trung đại là người Dravida và người Aryan chính là chủnhân của hai nền Văn minh sông Ấn và Văn minh sông Hằng nổi tiếng Mặtkhác, sự xâm nhập của các tộc người như Hy Lạp, Ba Tư, Ả Rập, Mông Cổkhiến cho nền văn minh Ấn Độ thêm tính chất phong phú, nhiều màu sắc hơn

5 Chiêm Tế, Lịch sử thế giới Cổ đại, tập 1, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2000, trang 197.

Trang 7

3 Giao lưu văn hóa:

Mặc dù Ấn Độ tương đối tách biệt với thế giới bên ngoài nhưng vẫn cónhững con đường cho sự du nhập giá trị văn hóa và bản thân nền văn minh Ấn

Độ vừa hấp thụ, vừa tỏa phát ra xung quanh

Qua những con đường bộ duy nhất ở phía Tây Bắc, qua những chuyếntiếp xúc đường biển hiếm hoi, người Ấn Độ đã giao lưu với các tộc ngườikhác Tuy nhiên từ ban đầu, sự tiếp xúc này không có ý nghĩa nhiều đối với sựhình thành của nền văn minh Ấn Độ Điều đó chỉ quan trọng ở chỗ sau nàytrong quá trình phát triển của nền văn minh Ấn Độ, những yêu tố du nhập từbên ngoài đã được “Ấn Độ húa” và góp phần làm phong phú và rực rỡ hơn nềnvăn minh vĩ đại này

Những ảnh hưởng đó chủ yếu qua đường bộ, từ hoạt động trao đổi, buônbán tới các hoạt động truyền giáo, du lịch…Người Hy Lạp, người Ả Rập rồingười Mông Cổ đã lần lượt đến Ấn Độ Nhưng có những bằng chứng rõ ràngkhẳng định rằng người Ấn Độ đã tiếp thu những thành tựu từ nền văn minh AiCập và Lưỡng Hà, những nền văn minh ra đời sớm nhất thế giới Chẳng hạn cónhững sản phẩm thủ công được tìm thấy ở thành phố cổ Harappa mô phỏngnhư ở Lưỡng Hà6

J.Nehru đó trớch lời nhà khảo cổ John Marshall, người phát hiện ra di chỉkhảo cổ Harappa và Mohenjo – Daro rằng: “Nền Văn minh thung lũng Indus

có quan hệ và buôn bán với những nền văn minh chị em của nó: Ba Tư,Mesopatamia, và Ai Cập, vượt xa chúng trên một vài phương diện”7

Ngoài ra còn những dấu tích khác về mặt nhân chủng học chứng tỏ sựgiống nhau giữa cư dân thung lũng sông Ấn và miền Nam cao nguyên Đờcanvới cư dân Địa Trung Hải và khu vực Lưỡng Hà Điều đó chứng tỏ đó cú sựgiao lưu của những nền văn minh này và Văn minh thung lũng sông Ấn đó cúgiao lưu, tiếp thu các giá trị văn minh từ bên ngoài

6 Lương Ninh (cb), Lịch sử thế giới Cổ đại, sđd, trang 88.

7 Jawaharlal Nehru, Phát hiện Ấn Độ, tập 1, sđd, trang 105.

Trang 8

Tóm lại, những điều kiện trên đây đã tạo cho cư dân Ấn Độ những điềukiện khá thuận lợi xây dựng nên những nền văn minh rực rỡ của mình từ rấtsớm Những điều kiện này đồng thời cũng quy định nhiều đặc trưng và hướngphát triển của các thành tựu văn minh.

II KHÁI LƯỢC LỊCH SỬ NỀN VĂN MINH ẤN ĐỘ

1 Nền văn minh thung lũng sông Ấn (từ đầu thiên niên kỷ III đến giữa thiên niên kỷ II TCN):

Nền Văn minh thung lũng sông Ấn là nền văn minh đầu tiên trong lịch sử

Ấn Độ Trước khi phát hiện ra hai di chỉ khảo cổ Harappa và Mohenjo – Darongười ta vẫn chưa biết gì về nền văn minh này Chúng được tình cờ phát hiện ở

2 địa điểm cách xa nhau (Harappa ở Tây Punjap, thượng lưu sông Indus;Mohenjo – Daro ở vùng Sind, bắc hạ lưu sông Indus) Sau đó các cuộc khaiquật liên tiếp được tiến hành và đã thu thập được rất nhiều hiện vật, trên cơ sở

đú đó phác họa nền một trong những nền văn minh sớm và rực rỡ trong lịch sửloài người

Lúc này cư dân lưu vực sông Ấn đã sử dụng công cụ kim loại để canh tác

và xây dựng Tuy nhiên chưa thấy có dấu hiệu của đồ sắt

Các dấu tích lâu đời nhất về hoạt động của con người trên lãnh thổ ngàynay của Pakistan bắt nguồn từ thời kỳ Đồ đá cũ có độ tuổi vào khoảng 500.000năm Vào khoảng 8.000 năm TCN việc chuyển đổi từ săn bắn và hái lượmsang trồng trọt và chăn nuôi đã hoàn tất tại đây, kèm theo đó là việc định cư.Nền văn minh sông Ấn phát triển từ nền văn hóa nông nghiệp lâu đời này, mộtnền văn hóa nông nghiệp cũng xuất hiện trờn cỏc đồi của vùng Belutschistan

trong Pakistan ngày nay

2 Nền văn minh thung lũng sông Hằng – Thời đại Veda:

Ở vào khoảng thời gian nửa đầu thiên niên kỷ thứ II TCN, một nhánh củadòng họ Aryan rộng lớn, thường được gọi là người Indo – Aryan, di cư đến Ấn

Độ Họ đem theo cùng với họ là tiếng Phạn và một tôn giáo dựa trên nghi lễhiến tế các vị thần tượng trưng cho các thế lực của thiên nhiên như Indra, thần

Trang 9

mưa và sấm, thần Agni (lừa) và Varuma, chúa tể của các sông biển và mùamàng Những bài ngợi ca vị thần ấy được tập hợp lại thành bốn tập Kinh Veda

Lâu đời nhất là tập Rigveda (1.500-1.200 Tr C.N.) Tiếp sau đó là các tậpSamaveda, Atarvaveda và Yagivaveda được sáng tác vào đầu thiên niên kỷ ITCN Bốn tập kinh điển này đã phản ánh khá rõ nét các mặt của lịch sử thời kỳnày Vì thế nền văn minh sông Hằng còn được gọi là nền văn minh Veda.Người Aryan lúc đó mới ở trong tình trạng tan rã của chế độ công xãnguyên thủy, thấp kém hơn trình độ cư dân văn minh Harappa – Mohenjo-Daro Tuy nhiên đây cũng chính là thời kỳ nền Văn minh thung lũng sông Ấnlụi tàn Người Indo – Aryan đã chinh phục hầu khắp miền Bắc Ấn Độ và đãxây dựng nên nền Văn minh sông Hằng, hay còn gọi là nền Văn minh Vedatheo tên gọi của Kinh Veda Rõ ràng, theo các nhà nghiên cứu, quá trình thiên

di của người Aryan cũng chính là quá trình chinh phục các cư dân bản địa Dấu

ấn của việc đó phản ánh không chỉ trong kinh Veda mà còn trong 2 bộ sử thi vĩđại Mahabharata và Ramayana “Thuật lại nhiều cuộc xung đột đổ máu đã xảy

ra giữa thổ dân và kẻ đến xâm lược”8 Họ đã dồn đuổi người Dravida ra khỏilưu vực sông Ấn Những bộ phận bị chinh phục còn ở lại thì bị biến thànhnhững người như nô lệ, dần trở thành đẳng cấp Sudra trong chế độ đẳng cấpVarna

Nền văn minh sông Hằng phát triển phồn thịnh Với đặc trưng rõ nét của mộtnền văn minh nông nghiệp lúa nước như các nền văn minh Phương Đông khác

Về kinh tế, người Aryan chuyển từ đời sống chăn nuôi du mục sang đờisống nông nghiệp định cư, trồng trọt đã đẩy chăn nuôi xuống hàng thứ yếu Đó

là nhờ việc những kẻ đi chinh phục đã tiếp thu kỹ thuật canh tác của cư dânDraviada vốn ở trình độ phát triển cao hơn họ, đồng thời chinh phục lưu vựcsông Hằng màu mỡ hơn hẳn đồng bằng sông Ấn

8 Chiêm Tế, Lịch sử thế giới Cổ đại, sđd, trang 203.

Trang 10

Về tổ chức xã hội, xã hội người Dravida phân chia theo chế độ đẳng cấpVarna một cách rất chặt chẽ, trong đó duy trì sự thống trị với cư dân bản địa bịchinh phục.

Tôn giáo chính của Ấn Độ, đạo Bàlamụn, sau này biến đổi dần trởthành Hinđu giáo dần được hình thành về các mặt kinh điển, giỏo lớ và tổchức của nó

3 Văn minh Ấn Độ từ thế kỷ VI TCN đên thế kỷ XII:

Tiếp sau thời đại Veda, nền văn minh Ấn Độ tiếp tục phát triển mạnh mẽđạt tới trình độ cao Ban đầu lãnh thổ của Ấn Độ bị chia cắt từ thế kỷ VI TCNcho đến thế kỷ IV TCN với nhiều tiểu quốc thường xuyên gây chiến với nhau.Đây là thời kỳ xuất hiện 2 bộ sử thi vĩ đại: Mahabharata và Ramayana Cho

nên giai đoạn này còn được gọi là thời kỳ sử thi

Sau cuộc chinh phục bị thất bại của Alexandre Makedonia, ảnh hưởng củavăn minh Hy Lạp và các nước Cận Đông tràn vào Ấn Độ Đúng giai đoạn này,Sandra Gupta, vua của một tiểu quốc miền Tây Bắc đứng lên lãnh đạo phongtrào giải phóng và thống nhất miền Bắc Ấn Độ vào năm 321 TCN, hình thànhnên vương triều Maurya Đến thời kỳ trị vì của Asoka, các mặt trong nền vănminh Ấn Độ phát triển đến đỉnh cao thời Cổ đại, đạo Phật được tôn làm quốcgiáo, lấn át đạo Bàlamụn

Tuy nhiên sau thời kỳ Asoka, Ấn Độ rơi vào tình trạng phân liệt và chiacắt, tạo điều kiện cho ngoại xâm vào chiếm một số vùng ở miền Bắc Ấn Độ.Tiểu quốc phát triển nhất giai đoạn này là Sandra đó cú những sự hưng thịnh

về kinh tế, kiến trúc đô thị và giao lưu buôn bán với nước ngoài, nhất là Đế chếRoma

Vương triều Gupta hình thành vào thế kỷ IV TCN một lần nữa lại thốngnhất Ấn Độ và kéo dài tới thế kỷ VI Lãnh thổ của nó bao gồm miền Bắc,Trung và một số vùng miền Nam, cùng đảo Srilanka ở Ấn Độ Dương Vào thời

kỳ này nghệ thuật Phật giáo có nhiều biểu hiện phát triển mạnh mẽ Tuy nhiênthời kỳ đó không kéo dài, vương triều Gupta suy yếu rồi sụp đổ vào cuối thế

Trang 11

kỷ VI Đầu thế kỷ VII, một lần nữa Ấn Độ lại được thống nhất dưới vươngtriều Hacsa Tuy nhiên sau khi vua Hacsa chết, Ấn Độ lại bị chia cắt.

Từ thế kỷ VII đến thế kỷ XII, Ấn Độ rơi vào tình trạng chia cắt kéo dài và

bị ngoại tộc xâm lược: người Ả Rập, người Thổ Nhĩ Kỳ Chính thời gian nàyđạo Hồi xâm nhập vào Ấn Độ và dần chiếm địa vị quan trọng, chỉ đứng sauđạo Hinđu

4 Văn minh Ấn Độ từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XIX:

Vào đầu thế kỷ XIII, các tiểu quốc Hồi giáo Ấn Độ dần được thống nhấtlại dưới sự trị vì của Vương triều Hồi giáo đóng đô tại Dehli Vương triều nàytồn tại từ năm 1206 tới năm 1526 Tuy nhiên nó dần bị Ấn Độ hóa Đõy cũng

là thời kỳ nền văn minh Ấn Độ tiếp tục phát triển mạnh và có những thành tựu

to lớn

Vào cuối triều đại Dehli, lợi dụng sự suy yếu của các Xuntan Hồi giáo,một nhánh của người Mông Cổ đã tràn vào Ấn Độ, thống nhất phần lớn lãnhthổ dưới sự cai trị của Vương triều Hồi giáo Mogol Người Mông Cổ đã nhanhchóng Ấn Độ hóa, nhanh và mạnh mẽ hơn người Hồi giáo trước đó Đến mứccho đến khi người châu Âu xâm nhập Ấn Độ, đã gần như không còn sự phânbiệt giữa người Ấn Độ và kẻ thống trị Mông Cổ nữa Dấu ấn văn minh của thời

kỳ này chính là những thành tựu kiến trúc mang đậm phong cách Ấn Độ Mogol mà lăng Taj Mahal là một ví dụ điển hình, một viên ngọc tuyệt đẹptrong lịch sử kiến trúc Ấn Độ

-Triều đại Mogol là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Ấn Độ,cũng là giai đoạn cuối cùng trong lịch sử văn minh Ấn Độ Cổ - Trung đại Vàothế kỷ XVIII, XIX, vương triều Mogol suy yếu, các nước thực dân chõu õu,chủ yếu là Anh đã xâm nhập và đặt ách thống trị lên toàn bộ bán đảo Ấn Độnăm 1849 và năm 1957, vương triều Mogol bị phế bỏ hoàn toàn

III NHỮNG THÀNH TỰU CHÍNH CỦA NỀN VĂN MINH ẤN ĐỘ

CỔ - TRUNG ĐẠI

1 Chữ viết

Trang 12

1.1 Chữ viết nền văn minh sông Ấn

Thời đại Harappa – M o henjo- D ar o , ở miền Bắc Ấn đã xuất hiện một loạichữ cổ mà ngày nay người ta còn lưu giữ được khoảng 3000 con dấu có khắcnhững kí hiệu đồ hoạ

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng chữ viết sông Ấn, hoàn toàn không cóquan hệ với các chữ viết đã biết, cho đến nay vẫn chưa được dịch mã một cáchchắc chắn Cỏc dũng chữ khắc đặc trưng thường không dài quá 4 hay 5 kýhiệu Dòng chữ khắc dài nhất được tìm thấy bao gồm 26 ký hiệu

Một vài học giả nghi ngờ rằng chữ viết sông Ấn không phải là một hệthống chữ viết mà là một phương tiện hỗ trợ cho thương mại thời bấy giờ.Tiếng nói của nền văn hóa sông Ấn cũng không được biết đến; một phỏngđoán cho rằng tiếng nói này là tiền thân của các thứ tiếng Dravidia trong miềnNam Ấn Độ ngày nay Thế nhưng từ đấy không thể tự động suy đoán là nhữngngười tạo nên nền văn hóa sông Ấn giống như những người nói tiếng Dravidiangày nay vì tiếng nói, trái với một lượng dân cư lớn, có thể dịch chuyển rấtnhanh

1.2 Chữ Phạn (Sanscrit)

Thế kỉ VII TCN, ở đây đã xuất hiện chữ Brami, ngày nay còn khoảng 30bảng đá có khắc loại chữ này Thời kỳ Asoka, chữ khắc trên văn bia hầu hết làthứ chữ này

Trên cơ sở chữ Brami, thế kỉ V TCN ở Ấn Độ lại xuất hiện chữ Sanscrit

(chữ Phạn), dùng để ghi lại tiếng Phạn Đõy là cơ sở của nhiều loại chữ viết ở

Ấn Độ và Đông Nam Á sau này, như chữ Thái, chữ Khmer, chữ Mã Lai…Điều

đó cho thấy vai trò rất quan trọng của chữ Sanscrit, sánh ngang chữ Hy Lạp vàchữ Latinh ở châu Âu, chữ Hán của Trung Quốc hay chữ tượng hình Ai Cập vàchữ hỡnh nờm của người Lưỡng Hà

Tiếng Phạn là một ngôn ngữ tế lễ của các tôn giáo như Hinđu giáo, Phậtgiáo và Đạo Jain Nó có một vị trí quan trọng trong văn hóa Ấn Độ và các vănhóa vùng Đông Nam Á tương tự như vị trí của tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp

Trang 13

trong châu Âu Trung Cổ Ngày nay nó là một trong nhiều ngôn ngữ chính thức

của Ấn Độ, mặc dù tiếng Hindi và các thứ tiếng địa phương khác ngày càngđược dùng phổ biến

Chữ Phạn không được dùng phổ biến trong giới bình dân mà là thứ chữviết bác học, rất khó học và đọc, chủ yếu được dùng để ghi chép kinh điển.Thậm chí các kinh điển của Phật giáo cũng được dịch ra chữ Phạn Sau nàynhiều thứ chữ viết khác ở Ấn Độ và Đông Nam Á được sáng tạo từ nguyên bảnchữ Phạn

Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, tiếng Phạn và chữ Phạn là một thứngôn ngữ “rất đẹp” trong hệ ngôn ngữ Ấn – Âu

2 Văn học nghệ thuật

2.1 Văn học

Nền văn học cổ Ấn Độ là một trong những nền văn học rất phát triển vàothời Cổ Trung đại, sánh ngang với những trung tâm văn minh rực rỡ nhất tronglịch sử loài người Đó là một nền văn học đồ sộ về quy mô, đầy tính chất triết

lí cao siêu và phong phú về thể loại, về ngôn ngữ Ở đây chỉ nêu ra một vàithành tự nổi bật nhất của nền văn học vĩ đại này

2.1.1 Kinh Veda:

Kinh Veda vừa là một bộ kinh cầu nguyện đồ sộ với 19.562 câu thơ, vừa

là một tác phẩm văn học có giá trị Nó được hình thành trong suốt thời gianngười Aryan vào chinh phục Ấn Độ và xây dựng nên nền văn minh của mình.Ngôn ngữ được sử dụng để truyền tụng và biên tập, viết nên là tiếng Phạn.Cấu trúc của kinh Veda bao gồm 4 tập: Rigveda; Sama Veda; Yajua veda

và Atacva Veda Tập Rig Veda được sáng tác vào khoảng Thiên niên kỷ IITCN, dài 1028 bài thơ và là tập quan trọng nhất

Nội dung của các tập kinh Veda chủ yếu là dành để ca ngợi thần linh vàchiến công của người Aryan chinh phục Ấn Độ Mặt khác nó cón phản ánh cácmặt của đời sống Ấn Độ Cổ đại như chế độ đẳng cấp Varna, quân sự và cả tìnhyêu Chẳng hạn, tập Rig Veda ca ngợi thần sét Indra :

Trang 14

Tôi muốn ca ngợi sự tích anh hùng của thần Indra

Những chiến công của vị thần Thiên Lôi ấy,

Ngài đó chộm con ác long cho nước mưa tuôn chảy,

Và mở toang các hang động trên non cao 9

Trong Atacva Veda cũng có những bài thơ tỏ tình:

Như gió lay ngọn cỏ,

Anh lay chuyển lòng em,

Rồi em sẽ yêu anh,

Và không rời anh nữa 10

Ngoài ra kế tiếp đạo Bàlamụn cũn cú những tác phẩm khác như Bramana(Phạn thư), Araniaca (rừng rậm), Upanisad (Nghĩa sõu)…Tuy nhiờn chỳngkhông có nhiều giá trị văn học bằng bộ Veda mà chủ yếu mang tính chất giảithích triết lí trong kinh Veda

2.1.2 Sử thi:

Thành tựu văn chương nổi bật nhất của văn minh Ấn Độ chính là hai bộ

sử thi đồ sộ thuộc hàng lớn nhất thế giới là Mahabharata và Ramayana

Mahabharata là một tác phẩm sử thi bằng tiếng Phạn vĩ đại nhất của Ấn

Độ cổ đại Mahabharata bao gồm hơn 74.000 câu thơ đôi và những đoạn văn

xuôi dài, tổng cộng khoảng 1,8 triệu từ, và là cuốn thiên sử thi dài nhất trên thếgiới, gấp bảy lần tổng số câu thơ của hai bộ sử thi Hy Lạp cổ đại là Iliad

Odyssey cộng lại Tác phẩm này được coi là "Đại Bách khoa toàn thư" về vănhóa truyền thống, về các truyền thuyết và về các thể chế chính trị - xã hội của

Ấn Độ cổ xưa Nó là tấm gương phản chiếu toàn bộ đời sống con người Ấn Độtruyền thống

Cuốn sử thi này cũng chiếm vị trí quan trọng trong triết học và tôn giáo tại

Ấn Độ, do nó cũn chứa Bhagavad Gita, một kinh văn quan trọng hàng đầu củaHinđu giáo (đạo Hindu) dài chừng 700 câu thơ

9 Vũ Dương Ninh (chủ biên), Nguyễn Quốc Hùng, Nguyễn Gia Phu, Đinh Ngọc Bảo, Lịch sử văn minh thế

giới, tái bản lần thứ tám, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2006, trang 74.

10 Vũ Dương Ninh (chủ biên), Lịch sử văn minh thế giới, sđd, trang 74.

Trang 15

Cái tên Mahabharata có thể được dịch thành: Bharath Vĩ đại, mang nghĩa

là Ấn Độ vĩ đại hay còn được hiểu là "Câu chuyện vĩ đại về triều vua Bharath".

Theo dân gian, cuốn Mahabharata được coi là tác phẩm của Vyasa Với độdài đáng kinh ngạc, những nghiên cứu ngữ văn về cuốn sử thi có một lịch sửdài làm sáng tỏ những đầu mối về sự phát triển và những lớp ngữ nghĩa Tuycòn nhiều tranh cãi, cuốn sử thi được ước đoán ra đời trong khoảng 8 đến 9 thế

kỷ Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam thì Mahabharata ra đời khoảng thế kỷ

V TCN và được sửa chữa dần, hoàn thiện khoảng thế kỷ V SCN11

Nội dung cơ bản của bộ sử thi Mahabharata nói về cuộc chiến tranh khốcliệt giữa hai dòng họ KauravaPandava, cả hai đều là dòng dõi vua Bharata

vào khoảng thế kỷ XI TCN đến thế kỷ X TCN Do đó tên Mahabharata có

nghĩa là "Các truyện vĩ đại của triều đại nhà Bharata"

Bên cạnh nội dung chính, chỉ chiếm chừng 1/4 độ dài tác phẩm, bộ sử thinày còn có rất nhiều sự tích thần linh, những truyện ngụ ngôn về muông thú,những cuộc phiêu lưu và những câu chuyện tình thú vị, hấp dẫn li kì (như

chuyện nàng Savitri cãi lại Diêm vương để được lấy anh chàng đốn củi )

Nhưng trong tác phẩm Mahabharata, các giáo sĩ Hinđu giáo đã đưa vào những

giáo lýtriết học tự biện siêu hình về pháp (dharma), nghiệp (karma), về sự giảithoát (moksha), những ẩn dụ triết học, châm ngôn xử thế

Sử thi gồm 18 phần, gọi là 18 parva:

Trang 16

Bộ sử thi Mahabharata đã trở thành nguồn cảm hứng cho các thi nhân,

nghệ sĩ sáng tác những tác phẩm văn, thơ, nhạc, họa và những công trình kiếntrúc, điêu khắc trong nền văn học - nghệ thuật Ấn Độ và những nước chịu ảnhhưởng của nền văn học - nghệ thuật này

Tục ngữ Ấn Độ cú cõu: "Cái gì không tìm thấy ở trong Mahabharata thìcũng không thể tìm thấy được ở Ấn Độ"

Ramayana là một sử thi cổ đại viết dưới dạng trường ca tiếng Sanskrit và

là một phần quan trọng của bộ kinh Hinđu giáo Đây là bộ sử thi bằng tiếngPhạn nổi tiếng thứ hai của Ấn Độ cổ đại Người ta cho rằng tác giả của

Ramayana là nhà thơ Va n miki

Tên gọi Ramayana là một từ ghép tatpurusha của Rāma và ayana "đi đến,

tiến đến", được dịch ra là "những cuộc du hành của R a ma " Ramayana bao

gồm 24.000 câu trong bảy tập và kể về câu chuyện của một hoàng tử, Rama

của xứ Ayodhya, vợ là Sita bị bắt đi bởi vua quỷ vua xứ Lanka, R a vana Trongdạng hiện tại của nó, Vanmiki Ramayana có niên đại có thể từ thế kỷ V TCNđến thế kỷ I TCN, hay là khoảng cùng thời với những bản đầu tiên của sử thi

Mahabh a rata

Trang 17

Ramayana được cho là sáng tác bởi Vanmiki và được viết bằng văn vần

và ra đời sau bộ Mahabharata nhưng lại kể về chuyện xảy ra trước thời đại củaMahabharata

Sử thi này gồm 24.000 câu thơ đôi, tức 48.000 dòng thơ, chưa bằng 1/4khối lượng dòng thơ của bộ Mahabharata nhưng bố cục chặt chẽ hơn Chủ đềcủa tác phẩm là câu chuyện tình duyên giữa hoàng tửRama và người vợ chungthủy Sita

Xưa kia ở vương quốc Kosala có ông vua già yếu tên là Dasaratha, có bốnngười con trai do ba bà vợ sinh ra Con cả Rama hơn hẳn các em về tài đức.Vua có ý định nhường ngôi cho chàng, nhưng vì bị trói buộc bởi lời hứa với bà

vợ thứ hai Kaikeyi xinh đẹp cho nên đã đày Rama vào rừng và trao ngôi lạicho Bharata, con của Kaikeyi

Rama đem vợ là Sita cùng em trai Laksmana vào rừng sống ẩn, luyện tập

võ nghệ Quỉ vương R a vana ở đảo Lanka lập mưu cướp nàng Sita đem về làm

vợ Hắn dụ dỗ và ép buộc nàng nhưng nàng đã kịch liệt chống cự

Mất Sita, Rama đau buồn, tìm cách cứu nàng Cuối cùng nhờ sự giúp đỡcủa tướng khỉ Hanuman, anh em Rama đã tiêu diệt quỉ vương Ravana và cứunàng Sita

Sau chiến thắng vẻ vang đó, Rama nghi ngờ tiết hạnh của Sita, nổi cơnghen dữ dội, không muốn nhận lại nàng làm vợ Để Rama tin ở lòng chungthủy của mình, Sita đã bước vào lửa Thần lửa Agni biết được nàng trong sạch,

đã cứu nàng Thấy vậy Rama vô cùng sung sướng, dang tay đón nàng Haingười đưa nhau trở về kinh đô trong cảnh chào đón nồng nhiệt của dân chúng.Ramayana ngợi ca chiến công và đề cao đạo đức của hoàng tử Rama, cangợi mối tình chung thuỷ của nàng Sita, đồng thời phản ánh sự phát triển của

xã hội người Aryan Tuy là một tác phẩm ca ngợi đẳng cấp quý tộc vũ sĩnhưng đã khắc họa được những gương mặt có tâm hồn trong sáng Rama lànhân vật lí tưởng kiểu mẫu của đạo Hinđu, của đẳng cấp vương công quý tộcđồng thời là khát vọng của nhân dân về một vị minh quân, một anh hùng tài ba,

Trang 18

đức độ, đem lại hạnh phúc cho xã hội Sita thánh thiện, là mẫu người phụ nữ

Ấn Độ cổ đại, một người vợ tiết hạnh, một người con gái nhân hậu, quả quyết,

hi sinh quên mình Tướng khỉ Hanuman có trái tim nóng bỏng nhiệt tình, làhoỏ thõn của lực lượng quần chúng nhân dân làm hậu thuẫn cho những anhhùng chiến đấu cho tự do và công lý, giải phóng bảo vệ đất nước.Tác phẩmcũng đã nêu bật được khát vọng chiến thắng cỏi ỏc, đem lại nguồn an ủi choquần chúng nhân dân bị áp bức, do đó được nhân dân rất ưa chuộng Vì thế,

những câu chuyện và những nhân vật trong Ramayana đã được nhiều văn nghệ

sĩ khắc họa trong thơ ca và trong các công trình mỹ thuật - điêu khắc ở Ấn Độ

và các nước Đông Nam Á

Đặc điểm nổi bật khiến Ramayana sống mãi trong lòng người đọc là sứcgợi cảm của nó, với sự kết hợp của yếu tố tưởng tượng kì ảo và việc phản ánhhiện thực khách quan, nét hoang đường kì ảo và việc miêu tả tính cách conngười trần tục, những cảnh oai hùng và những cảnh bi tráng

Ramayana đã song hành cùng lịch sử dân tộc Ấn Độ dẫu qua nhiều sự gọtgiũa của các thi sĩ vô danh, qua nhiều lời kể của các nghệ nhân dân gian, songvẫn là tiếng ca bất hủ về lòng hướng thiện, tư tưởng yêu hòa bình, đề cao sựcông bình bác ái; với những triết lí mang tầm nhân loại có giá trị cho muônđời: lẽ hài hòa, bổn phận, khát vọng, đúng như Vanmiki đã nói: “chừng nàosông chưa cạn, đá chưa mũn thỡ anh hùng ca Ramayana còn Thơ và kịch làmsay mê lòng người và giải thoát họ ra khỏi vòng tội lỗi”

2.1.3 Các tác phẩm của Kalidasa:

Kalidasa là nhà thơ và nhà soạn kịch lớn nhất thời Gupta, sống vàokhoảng thế kỷ thứ V Tác phẩm lớn nhất của ông là vở kịch Sơkuntơla Vởkịch này phỏng theo một câu chuyện dân gian chép trong sử thi Mahabharata,nhưng đã được tác giả cải biên và thêm nhiều tình tiết khác nữa

Nội dung vở kịch là miêu tả cuộc tình duyên đầy éo le, trắc trở của nàngSơkuntơla và vua Đusyanta Chuyện kể rằng nhà vua trẻ tuổi Đusyanta đi săn

đã gặp nàng Sơkuntơla xinh đẹp tại một khu vườn và hai người yêu nhau say

Trang 19

đắm, tự do kết hôn theo nghi lễ không lệ thuộc bố mẹ Rồi chàng phải về cung,

để Sơkuntơla ở lại với một lời hứa và một chiếc nhẫn để làm tin Thẫn thờ vìbuồn nhớ, Sơkuntơla tiếp đón một vị đạo sĩ tới nhà không chu đáo Tức giận,

vị đạo sĩ này đã niệm chú nguyền rủa rằng nàng sẽ bị người yêu quên lãng trừphi có một vật làm tin phục hối trí nhớ Và Đusyanta đó lóng quyờn nàng nênkhi nàng về kinh đô với cái thai trong bụng thì nhà vua không nhận nang vìnàng đã đánh rơi chiếc nhẫn khi qua sông Quá đau buồn nàng đã kêu gọi mẹ

là tiên nữ Menaka đưa mình về trời Sau này một người đánh cá nhặt đượcchiếc nhẫn và dâng vua nên nhà vua nhớ ra Song chàng không tìm được nàng.Mãi về sau khi nhà vua mang quân lính lên trời dẹp yêu quái và thắng lợi mớiđược thần linh ban cho người vợ của mình Và hai vợ chồng đã sinh ra Bharat,thủy tổ của người Ấn Độ theo truyền thuyết

Tuy là nhà soạn kịch của cung đình nhưng tác phẩm này của Kalidasa đãnói lên tiếng nói tự do, khát vọng hạnh phúc và chống lại những lễ giáo khắtkhe và chừng nào đó có tính chất phê phán chế độ đẳng cấp Varna

Qua hàng ngàn năm, Kalidasa và vở kịch bất hủ của ông vẫn là niềm tựhào của nhân dân Ấn Độ, nguồn cảm hứng đề tài của nhiều ngành nghệ thuậtkhác nhau như kịch, điện ảnh, họa, nhạc, …Đú là viên ngọc sáng không chỉ ở

Ấn Độ mà cũn trờn phạm vi nền văn học thế giới Kaliadasa được xếp vàohàng ngũ các đại văn hào thế giới

Kalidasa cũn cú một tác phẩm nữa cũng được xếp vào hàng các kiệt táccủa văn chương thế giới, đó là bài thơ “Sứ mõy” Với độ dài 500 câu thơ, đó làmột bản trường ca trữ tình tuyệt đẹp, mang màu sắc bi ca Nội dung bài thơ kể

về Yaksha (Tiểu thần), đình thần của vị thiên vương Kubera (Vị thần của sựgiàu có) bị đày xuống phương Nam, mòn mỏi, nhớ mong người vợ trẻ nơi quê

nà Tới mựa giú, vị thần này thường ngước lên trời xanh, trông theo đám mâybay về phương Bắc tới chõn nỳi Himalaya – quê hương mình, nơi có người vợhiền đang chờ mong Yaksha đã nhờ áng mây bay làm sứ giả chuyển tới chonàng bức thư tình yêu, kể về những nhớ nhung thầm kín, những nỗi sầu muộn

Trang 20

cách xa, lòng nhớ quê hương và những lời nhắn nhủ người vợ yêu dấu Hànhtrình của đám mây sứ giả trải qua nhiều miền đất của Ấn Độ, vì thế nhiều cảnhthiên nhiên tuyệt đẹp và kỳ thú hiện lên trong thơ Mặt khác những tình cảmthương nhớ thật da diết:

“Anh thấy đôi mắt em trong mắt con hươu nhỏ

Đôi cánh tay nơi nhánh nho mềm

Nét mặt em sáng trong trên vầng trăng tỏ

Đôi mày cong dịu dàng trong sóng nước dòng sông

Và mái tóc óng ả, trờn mỡnh loài chim công

Ôi! Anh phát ghen! Nhưng toàn thể hình em

trọn vẹn, ngọt ngào và sống động

Nơi này, anh chẳng biết tỡm đõu

Khi anh vẽ hình em trờn đỏ

Anh quỳ dưới chân em, nước mắt bỗng tuôn trào

Màn sương lệ cũng ngăn anh nhìn ngắm

Người anh yêu! Định mệnh phũ phàng sao!”12

Nghệ thuật thơ đạt tới trình độ điêu luyện Đặc biệt sự miêu tả tinh tế cảmxúc của con người và cảnh thiên nhiên kỳ vĩ mãi làm say mê nhiều thế hệ đờisau

Chỉ riêng vở kịch Sơkuntơla và bài thơ Sứ mây đã mang lại cho Kalidasa

vinh quang bất diệt trên văn đàn Ấn Độ và thế giới, tới mức sau này nhiều tácphẩm có xu hương mô phỏng nghệ thuật của chúng

2.2 Nghệ thuật: Kiến trúc – Điêu khắc – Hội họa – Sân khấu

2.2.1 Kiến trúc – điêu khắc

Kiến trúc và điêu khắc chính là thành tựu nổi bật nhất trong nền nghệthuật Ấn Độ Cổ - Trung đại Kiến trúc thường mang dấu ấn tôn giáo và điêukhắc cũng vậy Chúng gắn bó với nhau thành một chỉnh thể khó mà tách biệt

12 Lưu Đức Trung, Phan Thu Hiền, Hợp tuyển văn học Ấn Độ, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000, trang 235 – 236.

Trang 21

Kiến trúc đô thị là một dấu ấn đặc biệt quan trọng của nền văn minh

sông Ấn Các thành phố thời kỳ này hầu hết đã bị chôn vùi trong đất cát, chỉnhờ có việc khảo cổ qua nhiều năm ròng người ta mới có những nét phác họatương đối đầy đủ về kiểu kiến trúc đô thị của cư dân sông Ấn Rõ ràng Vănminh sông Ấn là một nền văn minh mang rất nhiều dấu ấn đô thị ở trình độphát triển khá cao so với các nền văn minh phương Đông cùng thời

Cho đến nay, thành phố lớn nhất được tìm thấy trong thung lũng sông Ấn

là Mohenjo Daro, đồi của người chết, nằm trong tỉnh Sindh của Pakistan ngày

nay, ngay cạnh sông Ấn Cùng với những di chỉ khảo cổ quan trọng khác như

Kot Diji, Lothal và Harappa, đặc điểm của Mohenjo Daro là chất lượng caođồng nhất trong xây dựng thành phố, đặc biệt là trong hệ thống cung cấp nước

và hệ thống nước thải Các thành phố được xây dựng tương tự như một bàn cờ,giống thành phố New York ngày nay, chứng minh cho những hiểu biết tiến bộtrong khoa vệ sinh và quy hoạch đô thị cũng như cho một chính phủ làm việc

có hiệu quả

Mohenjo – Daro là thành phố được khảo sát tốt nhất của văn hóa sông Ấn.Trong các thập niên 1920 và 1930, cơ quan khảo cổ Anh đã tổ chức khai quậtrộng khắp tại đây và đào lộ thiên nhiều phần lớn của thành phố đã hoàn toàn bịchôn vùi trong bùn lầy của sông Ấn 4.500 năm trước đó Thành phố được xâydựng trên một nền nhân tạo làm bằng gạch đất sét và bằng đất, hẳn là để bảo vệchống lụt Cạnh một vùng nằm cao hơn, rộng 200 m và dài 400 m, được xem

là thành lũy, là một vùng được coi như là khu dân cư, nơi có nhiều nhà dân.Giữa 2 khu vực này là một khoảng trống rộng 200 m Các con đường chính cónhiều ngang 10 m chạy xuyên qua thành phố theo hướng Bắc – Nam và đườngnhỏ thẳng góc với đường lớn theo hướng Đông – Tây , từ đó hình thành cáckhu nhà cho người dân thành phố Trong khu thành lũy mà mục đích vẫn chưa

rừ cú một bể nước được làm bằng một loại gạch đặc biệt nung từ đất sét, đượckhám phá trong năm 1925, có độ lớn vào khoảng 7 m x 12 m và có thể đi lênqua 2 cầu thang Bể nước được bao bọc bởi một lối đi, có một giếng nước cung

Trang 22

cấp riêng trong một phòng cạnh đó Người ta vẫn chưa rõ đây là một bể nước

để tắm rửa trong nghi lễ hay là một bể bơi công cộng Cũng trên nền này làmột căn nhà lớn làm từ gạch nung được xem như là kho trữ ngũ cốc mặc dầuchức năng này chưa được chứng minh

Kiến trúc – điêu khắc Phật giáo:

Kiến trúc Phật giáo là kiểu kiến trúc tôn giáo ra đời sớm nhất trong lịch sử

Ấn Độ, bắt đầu từ thời vương triều Maurya Nó gồm cỏc thỏp (Stupa), trụ đá

và chùa chiền

Stupa là cỏc thỏp thờ các di vật của Đức Phật, vừa là thỏp, vựa là mộtáng, nơi đặt xá lị (di cốt) Phật Đó là một tòa tháp độc đáo, nổi bật nhất và còntồn tại đến ngày nay là Stupa Sanchi, xây dựng dưới triều vua Asoka, một ôngvua rất sùng tín đạo Phật Ban đầu Stupa được xây bằng gạch, rồi dần dầnđược ốp đá cho rộng ra Nó cao 15 m, đường kính lên tới 35 m, bao gồm 3 bộphận chính là một bán cầu, trờn cú một vọng lâu và một gàng rào bao quanh.Trờn cỏc cột và các cổng đá, người nghệ sĩ dân gian chạm khắc nổi nhiềuchỏm muông, thú vật, nhưng nhiều nhất là hình ảnh Đức Phật và bánh xechuyển phỏp luõn, cỏc tín đồ sùng đạo gầy gò, khổ hạnh Stupa Sanchi trởthành một phong cách nghệ thuật Ấn Độ trong nghệ thuật kiến trúc cổ điển ẤnĐộ

Chùa thờ Phật thường có hai loại: chùa nổi và chùa hang

Loại hình chùa nổi chịu ảnh hưởng của nghệ thuật kiến trúc Hy Lạp và Ba

Tư Điều đó cũng thật dễ hiểu khi mà cỏc chựa được bắt đầu xây dựng vào thời

kỳ Hy Lạp hóa, nền văn hóa Hy Lạp tỏa phát ảnh hưởng ra xung quanh, trướchết là vùng Cận Đông, rồi lan tỏa tới tận Ấn Độ

Chùa hang ở Ấn Độ rất độc đáo, được xây dựng bằng cách đục vào lòngnúi thành hang và được tạc đừe thành tượng Phật, cột chống đỡ Hoàn toànkhông có việc đưa các vật liệu bên ngoài để xây dựng chùa Nổi tiếng nhất làchùa hang Ajanta

Trang 23

Đây là dãy chựa được đục vào vỏch nỳi, cú tới 29 gian chựa, cỏc gianchùa thường hình vuông và nhiều gian mỗi cạnh tới 20m Trờn vỏch hang cónhững bức tượng Phật và nhiều bích hoạ rất đẹp.

Kiến trúc – điêu khắc Hinđu giáo:

Các công trình kiến trúc Hinđu giáo được xây dựng nhiều nơi trên đất Ấn

Độ và được xây dựng nhiều vào khoảng thế kỉ VII - XI

Nhiều tháp Hinđu được tạc bằng đá nguyên khối theo tinh thần của thờiAjanta và đều tuân theo những nguyên tắc chuẩn của kiến trúc Hinđu giỏo.Trờn tổng thể, cỏc thỏp Hinđu đều bao gồm: Tháp cổng (Gopura); Tiền sảnh(Mandapam); Đại sảnh (Mahamandapam); Tháp thờ (Sikhara hay Vimana).Tháp mang phong cách miền Bắc thường là bình đồ nhiều múi, trong khiphong cách phương Nam lại là tháp hình hộp, bình đồ vuông

Các đền đài xây dựng là để thờ ba vị thần chính của đạo Hinđu: ThầnSáng tạo Brahma; Thần hủy diệt và Thần Bảo tồn Vishnu Trong đó đền thờthần là phổ biến nhất dù trong Hinđu giáo, thần Sáng tạo Brahma mới là vịthần tối cao, được xây dựng nhiều vào khoảng thế kỉ VII - XI

Tiêu biểu cho các công trình Hinđu giáo là cụm đền tháp Khajuraho ởTrung Ấn, gồm tất cả 85 đền xen giữa những hồ nước và những cánh đồng

Kiến trúc – điêu khắc Hồi giáo:

Những công trình kiến trúc Hồi giáo nổi bật ở Ấn Độ là tháp Mina, đượcxây dựng vào khoảng thế kỉ XIII và lăng Taj Mahan là công trình là một côngtrình kiến trúc nổi tiếng thế giới, theo phong cách Hồi giáo điển hình vớinhững mái tròn Tuyệt đẹpđẹp Tầm vóc đồ sộ và vẻ đẹp rực rỡ của nó xứngđáng là “Viờn ngọc” trong nền nghệ thuật kiến trúc Ấn Độ

Lăng Taj Mahal nằm tại thành phố Agra, Ấn Độ Hoàng đế Sh a h Jah a n

(lên ngôi năm 1627 đã ra lệnh xõy nó cho người vợ yêu dấu của mình là

Mumtaz Mahal.Công việc xây dựng bắt đầu năm 1632 và hoàn thành năm

1648 Đã có nhiều kiến trúc sư và thợ thủ công tham gia xây dựng công trìnhnày nhưng Ustad Ahmad Lahauri được coi là kiến trúc sư chính Sau khi hoàn

Trang 24

tất, ông ra lệnh chặt hết tay của những người thợ xây để không bao giờ họ còn

có thể xõy nờn một ngôi đền đẹp như thế này nữa

Phong cách: Taj Mahal là hình mẫu tuyệt vời nhất của Kiến trúc M o g ol,một phong cách tổng hợp các yếu tố của các phong cách k iến trúc Ba Tư, ThổNhĩ Kỳ, Ấn Độ, Hồi giáo

Lịch sử: Shah Jahan, vị hoàng đế của Đế quốc Mụgụn trong giai đoạn cực

thịnh của nó, nắm trong tay nhiều nguyền tài nguyên to lớn Năm 1631 người vợthứ hai của ông đã qua đời Shah Jahan không thể khuây khoả trước mất mát đó.Quá buồn đau, Shah Jahan hạ lệnh xây dựng nên Taj Mahal làn nơi chôn cấtngười vợ yêu dấu, ngay gần cung điện của mình để được gần gũi mãi mãi

Vật liệu: chủ yếu được xây dựng bằng đá cẩm thạch trắng và tường bao

thì bằng đá cẩm thạch đỏ, với những viên ngọc, đá quý trang trí nội thất

Cấu trúc:

- Khuôn viên: Lăng mộ nằm trọn trong một khu vườn lớn kích thước 320

m ì 300 m, vườn có những đường đi đắp cao chia mỗi phần của nó thành 16

bồn hoa hay luống hoa thấp Một bể nước bằng đá cẩm thạch cao ở trung tâmvườn, khoảng giữa mộ và cổng chính, và một bể phản chiếu gióng theo trụcbắc – nam phản chiếu hình ảnh Taj Mahal Mọi nơi trong vườn đều được bố trínhững đường đi với các hàng cây và vòi phun nước

- Tường bao quanh: Taj Mahal được bao quanh bởi một bức tường đá sa

thạch đỏ Mặt quay ra con sông không có tường bao Bên ngoài bức tường lànhiều công trình phụ trợ khác, gồm cả lăng mộ của những người vợ khác củaShah Jahan, và một ngôi mộ lớn cho người hầu thân cận của Mumtaz

- Cổng chính: được xây chủ yếu bằng đá cẩm thạch Cổng mái vòm của

nó phản ánh hình ảnh cổng mái vòm của ngôi mộ, và trờn cỏc vũm cung của

nó được trang trí bằng những nét chữ viết Cổng được trang trí hoa lá theo kiểuphù điêu đắp nổi thấp khảm Những vòm trần và những bức tường được trangtrí các hình học phức tạp, như những hình được tìm thấy tại các công trình xâybằng đá sa thạch khác trong phức hợp

Trang 25

- Lăng mộ: Điểm nhấn của Taj Mahal là lăng mộ đá cẩm thạch trắng, một

tòa nhà lớn với một ô cửa hình vòm, trên đỉnh là một vòm lớn

Lăng mộ đứng trên một bệ hình vuông Phũng chớnh là nơi đặt bia kỷniệm Shah Jahan và Mumtaz (mộ ở dưới một cấp)

Nền dài khoảng 55 mét mỗi cạnh Vũm đá cẩm thạch trên mộ là điểmđáng chú ý nhất Nó cao bằng với nền tòa nhà khoảng 35m Chiều cao của nónổi bật nhờ được đặt trên một cấu trúc hình trụ cao khoảng 7 mét

Tại mỗi góc của mặt nền lăng mộ là các ngọn tháp theo kiểu giáo đườngHồi giáo: bốn ngọn tháp lớn cao hơn 40m Trên đỉnh mỗi ngọn tháp là bancông cao nhất Mỗi ngọn tháp đều được xây hơi nghiêng ra phía ngoài của mặtnền, để cho khi thỏp cú bị sụp đổ (một sự cố thường xảy ra đối với những côngtrỡnh tháp cao)

- Nội thất: Nội thất lăng Taj Mahal đã vượt ra khỏi những yếu tố trang trí

truyền thống Có thể nhận xét không hề cường điệu, lăng mộ đúng là một món

trang sức Những chi tiết trang trí ở đây được chạm khắc chạm khắc Vật liệutrang trí trên bề mặt không phải là cẩm thạch hay ngọc bích mà là đá quý hay

đỏ bỏn quý

Nó được được liệt vào danh sách các Di sản văn hoá Thế giới của

UNESCO năm 1983 và được miêu tả là một "kiệt tác được cả thế giới chiêmngưỡng trong số các di sản thế giới”

Pháo đài đỏ của Agra nằm cách Taj Mahal 2,5 km về phía tây bắc Pháođài này có thể xem như hoàng thành và cũng là một trong những công trìnhkiến trúc vĩ đại của Ấn Độ thời trị vì của vương triều Mogol

Akbar Đại đế của vương triều Moụl dời đô của đế quốc mình từ Delhi đến

Agra Nhờ sự dời đô này mà Agra đã trở nên thịnh vượng Akbar cho xây pháođài bằng đá cát đỏ và cẩm thạch trắng làm trang trí

Nhưng phải đến thời kỳ trị vì của cháu Akbar là Shah Jahan thì khu vựcnày mới có hình dạng như ngày nay Shah Jahan xây đền Taj Mahal cho vợ.Không giống như ông của mình, Shah Jahan thớch xõy bằng đá cẩm thạch, dát

Trang 26

bằng vàng hoặc đỏ bỏn quý Ông đã cho phá hủy một số công trình bên trong

để xây lại theo ý mình

Vào lúc cuối đời, Shah Jahan bị con trai là Aurangzeb tống giam vào tùbên trong pháo đài, ở một ngụi thỏp với cỏc bancụng bằng cẩm thạch nhìn ra

Taj Mahal

Pháo đài này cũng là chiến trường trong Cuộc binh biến Ấn Độ năm 1857,chấm dứt sự cai trị của Công ty Đông Ấn Anh ở Ấn Độ và dẫn đến sự cai trịtrực tiếp Ấn Độ trong một thế kỷ bởi Vương quốc Anh

3 Triết học – Tôn giáo:

3.1 Triết học:

3.1.1 Các trường phái triết học

Từ thế kỷ thứ 6 tr CN, bắt đầu hình thành các trường phái triết học, chiathành 2 hệ thống:

*Hệ thống chính thống (thừa nhận uy thế tuyệt đối của kinh Veda và đạo

Bàlamụn) gồm 6 trường phái:

Trường phái Samkhya

Trường phái Samkhya bắt nguồn từ tư tưởng triết học ở nhiều tác phẩmrất cổ xưa Lý luận về bản nguyên vũ trụ là tư tưởng triết học trung tâm củatrường phái này

Những nhà tư tưởng của phái Samkhya sơ kỳ đã bộc lộ những tư tưởng cótính duy vật và ít nhiều biện chứng về bản nguyên hiện hữu Họ đưa ra họcthuyết về sự tồn tại của kết quả trong nguyên nhân trước khi nó xuất hiện vàhọc thuyết về sự chuyển hóa thực tế của nguyên nhân trong kết quả Họ chorằng loại nào có nguyên nhân của loại ấy với luận điểm nổi tiếng " Trồng Saliđược Sali, trồng Vrihi được Vrihi" Từ đó, trong quan niệm về sự hình thành

sự vật, họ cho rằng nếu vạn vật của thế giới này là vật chất thì yếu tố tạo nênvạn vật với tính cách là nguyên nhân cũng phải là vật chất; đó là "vật chất đầutiờn"(Prakriti) - một dạng vật chất không thể dùng cảm giác mà có thể biếtđược Thế giới vật chất là thể thống nhất của ba yếu tố: Sattva (nhẹ, sáng, vui

Trang 27

tươi); Rajas (kích thích, động); Tamas (nặng, ỳ) Khi ba yếu tố trên ở trạng tháicân bằng thì Prakriti ở trạng thái chưa biểu hiện - tức là trạng thái không thểtrực quan được Nhưng khi sự cân bằng bị phá vỡ thì đó là điểm khởi đầu của

sự sinh thành vạn vật của vũ trụ

Trái lại, các nhà tư tưởng của phái Samkhya hậu kỳ lại có khuynh hướngnhị nguyên luận khi thừa nhận sự tồn tại song song của hai yếu tố đầu tiên làvật chất (Prakriti) và tinh thần (Purusa) Yếu tố tinh thần (Purusa) mang tínhphổ quát vĩnh hằng và bất biến, nó truyền sinh khí, năng lượng và biến hóa vàoyếu tố vật chất ở con người, khi tinh thần chiếu rọi vào Sattva thì sinh ra trítuệ; khi tinh thần chiếu rọi vào Rajas thì sinh ra vận động; khi tinh thần chiếurọi vào Tamas thì sinh ra hình thể

Về bản chất con người, phái Samkhya cho rằng con người có sự ý thức vềmỡnh Chớnh vì vậy mà họ nảy sinh ra những lo lắng, ham muốn và hành động

để đạt đến cỏi "tụi" Do đó tinh thần con người không thoát ra được, luôn bịchìm đắm trong vòng luân hồi, khổ não Muốn giải thoát, con người phải dùngphương pháp Yoga

Trường phái Mimansa

Kinh điển của triết học Mimansa là "Mimansa - Sutra" Một đại biểu lớncủa trường phái này là Sabara, người viết chú giải cho "Mimansa - Sutra"

Về nguồn gốc thế giới, phái Mimansa có quan điểm duy vật cho rằng thếgiới được sinh ra từ các nguyên tử (Anu)

Phái Mimansa coi đời người là khổ và vấn đề đặt ra là phải thoát khỏi nỗikhổ ấy Họ chủ trương thoát khổ bằng cách duy trì các nghi lễ, đặc biệt là lễ

"Hiến sinh" Họ cho rằng cần phải biết kết hợp lòng tin và kiến thức để đạt đếngiải thoát Có hai con đường để tạo kiến thức là bằng giác quan và bằng suy luận.Khi giải quyết mối quan hệ giữa tinh thần với thể xác, họ lại đứng trên lậptrường duy tâm coi tinh thần tồn tại mãi mãi, còn thể xác thì mất đi

Trường phái Vedanta

Trang 28

Các nhà tư tưởng Veđanta hệ thống các tư tưởng của Upanishad - tácphẩm được coi là kết thúc của Veđa (Veđanta nghĩa là "kết thúc Vộđa") Tácphẩm Brahman - Sutra được coi là kinh điển của Veđanta, nhưng nội dungkhông rõ ràng, khá mơ hồ nên có nhiều cách giải thích khác nhau.

Cách luận giải có ảnh hưởng lớn nhất là "thuyết Veđanta nhất nguyên"

Đó là triết học nhất nguyên luận duy tâm chủ quan cho rằng chỉ có Brahman,tức ý thức thuần túy là tồn tại duy nhất, mà Brahman lại được đồng nhất với

"Cái tôi" (Atman) Thế giới vật chất không tồn tại hiện thực, hình ảnh của nóchỉ là ảo ảnh do "Vô minh" sinh ra Đại biểu cho thuyết này là Sankara, ngườiviết chú giải cho Brahman - Sutra

Cỏc phỏi Vờđanta sau này lại giải thích Brahman - Sutra theo quan điểmhữu thần, hay duy tâm khách quan Họ coi Brahman là linh hồn vũ trụ, vĩnhhằng; còn Atman là linh hồn cá thể, một bộ phận của linh hồn tối cao, tưcThượng đế Brahman

Trường phái Yoga

Yoga xuất hiện rất sớm, từ nền văn minh Indus Cuốn Yoga - Sutra đượccoi là của Patanjali (Thế kỷ II tr CN)

Tư tưởng cốt lõi của trường phái này là sự thừa nhận nguyên lý hợp nhất

vũ trụ nơi mỗi cá thể Trường phái Yoga kết hợp tư tưởng triết học của pháiSamkhya với sự thừa nhận sự tồn tại của thần (Yoga = Sakhya + Thượng đế).Nhưng sự thừa nhận Thượng đế của phái Yoga không có ý nghĩa nhiều lắm vềphương diện triết học Tư tưởng về Thượng đế không ăn nhập với hệ thốngYoga Thượng đế hay thần chỉ là một loại linh hồn không khác gì mấy với linhhồn cá thể Vì vậy, bằng phương pháp luyện tập và tu luyện nhất định, conngười có thể điều khiển và tự làm chủ được bản thân mình, tiến đến làm chủđược vạn vật và cao hơn nữa là đạt tới sự "giải thoát", "tự do tuyệt đối"

Yoga còn là phương pháp dưỡng sinh được xây dựng trên cơ sở nhận thức

về thế giới và con người Nó cho rằng cuộc đời con người chỉ là ảo ảnh, không

có thực và luôn thay đổi Hình thể con người được coi là cái vỏ và không tồn

Trang 29

tại vĩnh hằng Nó sẽ bị mất đi và chỉ còn lại linh hồn (Atman) là tồn tại Linhhồn con người là một bộ phận của Brahman nờn nó phải thoát ra khỏi cái vỏcủa mình (tức hình thể) để nhập với Brahman, làm cho con người siêu thoát.Yoga đưa ra 8 phương pháp để thoát ra khỏi thể xác là:

- Cấm chế (Yama): Giữ các điều răn (giới), bao gồm ngũ giới: Sát sinh,đạo, vọng

ngữ tà dâm, của riêng

- Khuyến chế (Niyama): Thanh tịnh trong học tập kinh điển

- Tọa pháp (Anasa): Giữ vị trí thân thể đúng đắn

- Điều tức (Pranayama): Giữ hơi thở đều, sâu, nhịp nhàng

- Chế cảm (Pratyahara): Điều khiển cảm giác sao cho lúc ngồi thiền, giácquan được thoải mái

- Chấp trì (Dharana): Tập trung tư tưởng

- Thiền định (Dhyana): Giữ tâm thống nhất

- Đẳng trì hay Tam muội (Samadhi): Đưa tâm đến hư không, chứng đượccảnh giới sán lạn

Phương pháp tu luyện này sẽ sản sinh ra những năng lượng lớn mà nhữngngười bình thường không đạt được Nhiều phái cho rằng, nếu thực hiện cácphương pháp Yoga thì sẽ có sức mạnh siêu nhiên

Trường phái Nyaya – Vaisesika

Đây là hai trường phái khác nhau nhưng có những quan điểm triết họctương đồng, nhất là vào giai đoạn hậu kỳ Đại biểu cho phái Nyaya là Gantana,tác giả của "Nyaya - Sutra" Đại biểu cho phái Vaisesika là Kananda, tác giảcủa "Vaisesika - Sutra" Tư tưởng triết học cơ bản của hai phái này là họcthuyết nguyên tử, lý luận nhận thức và logic học

a- Thuyết nguyên tử

Bên cạnh việc thừa nhận sự tồn tại của nguyên tử, phái này còn cho rằng

có sự tồn tại của những linh hồn ở những trạng thái phụ thuộc hoặc ở ngoài

Trang 30

những nguyên tử vật chất, gọi là Ya mà đặc tính của nó được thể hiện ra như

ước vọng, ý chí, vui, buồn, giận hờn

Để thấu triệt nguyên lý thống nhất của những cái hiện hữu, hai phái này

đó tỡm đến lực lượng thứ ba mang tính chất siêu nhiên, giữ vai trò phối hợp,điều phối sự tác động của các linh hồn giải thoát ra khỏi các nguyên tử

b- Nhận thức luận và lụgic học

Hai phái này đó cú những tư tưởng duy vật và đó cú những đóng góp vào

lý luận nhận thức như : thừa nhận sự tồn tại khách quan của đối tượng nhậnthức; đề cao vai trò của kinh nghiệm trong nhận thức v.v Theo họ nhận thức

có thể tin cậy, và cũng có thể không đáng tin cậy Nhận thức tin cậy là sự phảnánh không nghi ngờ và trung thành với hình ảnh của đối tượng Có bốn hìnhthức nhận thức không đáp ứng được yêu cầu đó và được coi là không đáng tincậy, là ký ức, nghi ngờ, sai lầm và mới là giả thiết, chưa có chứng cứ chắcchắn Vì vậy, cần phải kiểm tra tính đúng sai của nhận thức một cách thực tế.Nhận thức là đúng đắn khi nó phù hợp với bản chất của đối tượng và ngượclại Họ cho rằng thực tiễn là thước đo duy nhất để kiểm tra nhận thức Thí dụ :Nước do ảo ảnh là giả vỡ khụng giải khát được, còn nước trong hồ là thật vì cóthể giải khát được

Thuyết biện luận của phái Nyaya có đóng góp quan trọng về lụgic hìnhthức Họ đưa ra hình thức biện luận gọi là "Ngũ đoạn luận" gồm năm mệnh đề:

1 Luận đề: Đồi có lửa cháy

2 Nguyên nhân: Vì đồi bốc khói

3 Thí dụ: Có khói thì có lửa, giống như ở trong bếp lò

4 Suy đoán: Đồi bốc khói thì không thể không có lửa cháy

5 Kết luận: Do đó đồi có lửa cháy

Cỏc phái này ban đầu có tư tưởng vô thần và đấu tranh chống chủ nghĩaduy tâm triết học Song ở giai đoạn cuối, họ lại thừa nhận có thần và cho rằngthần đó dựng nguyên tử để tạo nên thế giới hai phái này là quy toàn bộ tính đadạng của tồn tại vào bốn yếu tố vật chất: đất, nước, lửa, gió (hay không khí)

Trang 31

Những yếu tố này lại được quy vào bản nguyên duy nhất, đầu tiên là những hạtnhỏ vật chất không đồng nhất, bất biến và vĩnh hằng, được phân biệt ở chấtlượng, khối lượng và hình dạng, tồn tại trong một môi trường đặc biệt, trong

không gian và thời gian, được gọi là nguyên tử (Anu)

*Hệ thống không chính thống (không thừa nhận kinh Veda và đạo

Bàlamụn) gồm 3 trường phái:

Trường phái triết học Jaina

Jaina là một tôn giáo xuất hiện gần đồng thời với Phật giáo Người sánglập ra trường phái này là là Maharvira, có hiệu là Jaina ( nghĩa là Chiến thắng).Triết học cơ bản của Jaina là học thuyết và "cái tương đối" Theo thuyếtnay, tồn tại đầu tiên là bất biến, vô thủy, vô chung, sự biến đổi của vạn vật làkhông cùng; thế giới vạn vật là sự thống nhất của cái biến đổi và cái bất biến.Cái vĩnh hằng là vật chất; cỏi khụng vĩnh hằng là các dạng của vật chất ( Thídụ: Đất sét thì không thay đổi, nhưng cỏi bỡnh bằng đất sét thì có thể thay đổi).Điều đó được thể hiện qua các khái niệm: 1 Tồn tại; 2 Không tồn tại; 3 Vừatồn tại vừa không tồn tại; 4 Không thể miêu tả; 5 Tồn tại và không thể miêutả; 6 Không tồn tại và không thể miêu tả; 7 Tồn tại và không tồn tại và khôngmiêu tả được

Trường phái triết học Lokayata và phong trào tư do tư tưởng ở Đông Ấn

Trong học thuyết về tồn tại, phái Lokayata cho rằng tất cả mọi sự vật vàhiện tượng trong vũ trụ đều do bốn nguyên tố đất, nước, lửa và không khí cấuthành Chúng có khả năng tự tồn tại, tự vận động trong không gian để tạothành vạn vật, kể cả con người Tương ứng với bốn nguyên tố là bốn nguyên tửđất, nước, lửa và không khí tồn tại ngay từ đầu, không thay đổi và không thểtiêu diệt được Mọi đặc tính của các vật thể đều phụ thuộc vào chỗ chúng là kếthợp của các nguyên tử nào, vào số lượng và tỷ lệ kết hợp của các nguyên tử ýthức, lý tính và các giác quan cũng xuất hiện do sự kết hợp của các nguyên tử

và sẽ mất đi khi sự kết hợp đó bị tan rã

Ngày đăng: 11/01/2016, 12:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w