Sau 150 năm trôi qua cho đến khi một giáo sư toán học ở Đại họcCambridge Charler babbale 1792-18721 đã thiết kế và xây dựng một máy sai phân để chạy một giải thuật đơn và phương pháp sai
Trang 1Lời Mở Đầu
Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của ngành Công nghệ thông tin
và bên cạnh đó, máy vi tính là một hệ thống thông tin nó cũng không ngừngphát triển và là một công cụ tuyệt vời nhất mà con người đã tạo ra Máy tính
là một công cụ rất phức tạp cũng là một hệ thống thông tin không thể thiếutrong xã hội công nghệ thông tin ngày nay Máy vi tính là một công cụ rất cầntrong các công ty, nhà máy, xí nghiệp, v.v công tác quản lý mọi việc mọi vấn
đề một cách nhanh nhất, xử lí thông tin nhạy bén nhất, máy vi tính là một hệthống hợp nhất gồm nhiều bộ phận tạo thành, máy tính hoạt động được cũngnhờ các phần mềm ứng dụng Hiện nay, trên thị trường các phần mềm rất
đa dạng, phong phú, nhưng chúng ta cũng phải hiểu độ phức tạp của cácthiết bị và các thiết bị ngày càng phát triển và được nâng cao, độ tin cậy caohơn và chúng ta phải nâng cao trình độ kiến thức của mình để xử lí hợp vớitrình độ sử dụng máy vi tính ngày hôm nay, không chỉ hiểu biết về thiết bị màchúng ta cần phải biết cách bảo trì sử dụng nó một cách tốt nhất Do vậy chỉ
sử dụng máy vi tính mà không biết cách bảo trì để có thể sử dụng nó đượcnhanh hơn, lâu dài hơn là một thiếu sót lớn Để bảo trì máy vi tính có thể sửdụng lâu dài và tránh những lỗi không cần thiết, em đã quyết định chọn đề tài
“nghiên cứu và bảo trì thiết bị máy vi tính” làm đề tài tốt nghiệp của mình Đểtìm hiểu kỹ hơn về thiết bị, các thành phần của phần cứng của một máy vitính, và đi sâu vào ổ đĩa cứng là một bộ phận gồm những chi tiết như thếnào? Nguyên tắc hoạt động, quá trình phát triển của ổ đĩa cứng có những giaiđoạn nào? là phần trọng yếu của đề tài mà em tham khảo
Để hoàn thành được đề tài hoàn chỉnh em xin chân thành cám ơn thầyNguyễn Quang Thông đã hướng dẫn tận tình, trung tâm đã tạo mọi điều kiệngiúp đỡ cho em hoàn thành đề tài tốt nhất !
Đà Nẵng, tháng 6 năm 2003
Trang 2
PHẦN IGiới thiệu về Công việc Bảo Trì Thiết bị
- Mục đích của việc bảo Trì và Nghiên Cứu thiết bị:
- Để đảm bảo cho hệ thống hoạt động ổn định và có độ tin cậy cao
- Để nâng cao tuổi thọ của hệ thống
- Nâng cấp các thiết bị, để đáp ứng yêu cầu mở rộng khả năng xử lý của
hệ thống
- Đảm bảo cho hệ thống phục hồi chức năng một cách nhanh nhất, đạthiệu hiệu quả cao nhất
- Các yêu cầu về bảo trì và nghiên cứu thiết bị :
- phải biết rỏ về từng thiết bị: về nguồn gốc ra đời của nó, các thiết bị
đó có những chức năng như thế nào? nó hoạt động ra sao?của từngthiết bị
- phải nắm những yêu cầu của thiết bị, những thiết bị đó được dùng đểlàm gì?
- Tránh làm ẩu, nóng vội, khi chưa biết về nguồn gổc ra đời, chức năng
và nguyên tắc hoạt động của nó
- Yêu cầu phải có tay nghề cao, một kiến thức vẫn về các thiết bị trongmột máy vi tính
- Lưu ý cho người sử dụng :
- Phải đảm bảo kiến thức về lĩnh vực mà mình đảm nhiệm
- Thường xuyên cập nhật những thông tin cần thiết
- Tìm hiểu qua sách báo, chuyên gia …
- Không được làm ẩu khi chưa hiểu rỏ về thiết bị
- Phải đi đôi với thực hành
Trang 3PHẦN II Lịch Sử phát triển của máy vi tính
I.Giới thiệu về lịch sử ra đời của máy vi tính:
Từ khi công nghệ thông tin còn ở giai đoạn sơ khai đến nay thì máy vitính trải qua hàng chục năm phát triển của nó, hầu hết những người sử dụngmáy vi tính đã quên lãng máy vi tính phát triển như thế nào? và sau đây lànhững mốc phát triển của máy vi tính:
1.Thế hệ khởi điểm, máy tính cơ khí (1642 – 1945)
Người đầu tiên xây dựng một máy tính thực hiện được phép tính cộng,trừ là nhà khoa học người pháp Blase Pascal (1623-1662), tên ông được
đặc cho một ngôn ngữ lập trình - ngôn ngữ lập trình Pascal, chiếc máy nàyđược xây dựng xong năm ông 19 tuổi Đây là thiết bị hoàn toàn sử dụng cácbánh răng và được cung cấp nhờ một cánh tay quay
Ba mươi năm sau nhà khoa học người Đức Baron Gottfried Wilherm
von leibniz(1646-1716) đã thực hiện một máy hực hiện được phép tính nhânchia
Sau 150 năm trôi qua cho đến khi một giáo sư toán học ở Đại họcCambridge Charler babbale (1792-18721) đã thiết kế và xây dựng một
máy sai phân để chạy một giải thuật đơn và phương pháp sai phân hữu hạn
sử dụng các đa thức, sau đó babbale đã cải tiến nó và cho ra đời một máyphân tích điểm nổi bật của nó là đa năng nó đọc lệnh từ bìa độc lỗ rồi đọclệnh, Babbale đã thuê Ada là một phụ nữ trẻ để chuẩn bị phần mềm Adachính là lập trình viên đầu tiên trên thế giới tên của bà được đặc tên cho mộtngôn ngữ lập trình hiện đại, có thể nói rằng ông Babbage là ông tổ của máytính hiện đại
2.Thế hệ thứ nhất- Máy tính dùng đến điện tử(1945-1955):
Chiến tranh thế giới thứ hai đã kích thích sự phát triển máy tính điện
tử, nhà toán học Anh Alan turing đã thiết kế chiếc máy CUISSUS mã hoá cácthông tin nhanh chóng nhờ vào thiết bị mã hoá INIGMA
Năm 1943 Jonh Maichley và học trò của ông Presper Eckert ở Mỹ đã
chế tạo ra máy tính điển tử ENIAC ( Electronics Numerical Integrator) chiếcmáy được lập trình bằng cách đặc vị trí (set) của 6000 chuyển mạch (Switch)
từ ý tưởng đó gây ra sự bùng nổ về nghiên cứu chề tạo máy tính số cở lớn,chiếc máy tính đầu tiên được đưa vào hoạt động là EDSAC (1949) tác giả làMaurice Willie tại trường đại học tổng hợp Cambridge nước Anh
Cùng thời kỳ này, Jonh Von Nevvemann đã xây dựng một máy IAS
cùng với máy EDSAC với sự công tác của Herman Coldstine đã có một ảnhhưởng to lớn máy tính của von Nevemann bao gồm năm thành phần cơ bản
Bộ Nhớ (Memory)
Đơn vị số học và logic(ALU- Arithmeric logicalunit)
thiết bi vào(Input)
thiết bị ra (out put)
Đơn vị điều khiển chương trình (CU-control unit)
Trang 43.Thế hệ thứ 2-máy tính dung Transitor(1955-1956)
Ba nhà khoa học Jonh barder, Walter Brittainvà William Shockey
đã sáng chế ra transitor ở phòng thí nghiệm Bell năm 1948
TY-0(transitorized Expimental computer )là máy 16 bit dùng transitorđầu tiên sau đó là máy TX-2mạnh hơn
một vài năm sau DEC giới thiệu máy PDP -8 là máy 12 bit chỉ dùng một bus
Trong thời kỳ này IBM xây dựng phiên bản transitor hoá của máy 709
là 7090 và 7094 các máy này đã đành dấu sự kết thúc của các kiểu máyENIAC
Năm 1964 một công ty mới ra đời CDC máy CDC 6600 là một cột mốcquan trọng trong lĩnh vực toán số
4 thế hệ thứ 3- máy tính dùng mạch tích hợp(1965-1980):
Mạch tích hợp IC(Integrated Circuit) hay còn gọi là vi mạch được phátminh cho phép vài chục transitor được đạt trong một chip đơn nhờ đó giúpcho việc xây dựng IC nhỏ hơn, nhanh hơn, rẻ hơn dùng máy transitor trước
II.Giới thiệu chung về Máy Vi tính:
Ngày nay với sự phát triển của ngành công nghệ thông tin trong đó
máy tính là nền tảng Máy vi tính là một công nghệ thông tin ngày phát triểncàng cao, bên cạnh đó nó là một hệ thống khác phức tạp bên trong một máy
vi tính chứa nhiều bộ phận, các thiết bị được được lắp ghép từ nhiều thiết bịkhác nhau tạo thành một máy vi tính
Một máy tính hoàn chỉnh, cơ bản có thể hoạt động phải có các thànhphần sau:
- Màn Hình (Monitor)
- Bản mạch chủ (Mainboard)
- ổ đĩa cứng (HardDisk Drive)
- Bộ xử lý trung tâm (CPU)
- Bộ nhớ trong (RAM)
- Bộ nhớ (ROM)
- Nguồn điện (Power)
Trang 5- Card màn hình /âm thanh (VGA Card/ Sound Card)
Ngoài ra sử dụng hết tính năng của máy tính ta có thể thêm những bộphận
III.Sơ đồ chung của một máy vi tính
Case (Vỏ Máy) Nguồn điện
Trang 6PHẦN III
I.Các thiết bị chính và chức năng của từng bộ phận
1.Vỏ máy (case): là nơi để gằn các thành phần của máy tính thành khối như
nguồn điện, mainboard…, và các loại card, nó có tác dụng bảo vệ các thiết bịđược gắn trong nó để tạo thành case, phía trước là các nút khởi động và chứccác thiết bị khác như CD-ROM, Ổ mềm… CASE được làm bằng kim loại, bênngoài có một lớp sơn cách điện để tránh cho người sử dụng bị giật điện trongkhi sử dụng hay chạm vào nó
2.Nguồn Điện :cung cấp hầu hết các điện năng, hệ thống điện cho các thiết
bị bên trong máy vi tính nguồn điện nó có chức năng chuyển đổi nguồn điện100V/220V
- Thành nguồn điện một chiều, cung cấp toàn bộ hệ thống máy vi tính,công suất trung bình của bộ nguồn hiện nay khoảng 220w, công suất tiêu thụcủa một số thành phần như sau:
+ Mainboard : 20w-35w+ CD Rom : 20w- 25w+Ổ đĩa mềm : 5w-15w+ Ổ đĩa cứng : 5w-15w+ Ram : 5 w/1MB+Card : 5w-15w+ CPU : tuỳ theo mứcư độ làm việc nhiều hay ítCho đến nay trên thị trường các hãng sản xuất đã đưa ra các thiết bị
có điện tích nhỏ bên cạnh đó nó cũng tuỳ thuộc vào số lượng thiết bị màmáy vi tính sử dụng nhiều hay ít điện năng, hiiện nay máy vi tính cá nhân
người ta sử dụng hai loại nguồn điện đó là AT và ATX, bộ nguồn điện đầu ra
có hai loại, một cho mainboard và một cho các thiết bị còn lại
Trang 7a Loại AT
+ Loại AT có jack dùng cho mainboard gồm có 12 dây
+ jack dùng cho các thiết bị khác gồn có 4 dây
b.Loại ATX
+ Loại ATX có nhiều chức năng như có thể ngắt nguồn điện khi thoát khỏi
windows song về cấu trúc nó có cách cắm của chúng cơ bản là giống loại AT
nhưng có 20 đường dây vào mainboard
Các lỗi thường gặp khi sử dụng nguồn điện
+ Cháy tụ điện
+ Đầu nối tiếp xúc kém hoặc đứt dây
+ Quạt không chạy do bụi bám quá nhiều gây cháy nguồn có thể gây cháymainboard
Muốn những lỗi trên không gặp khi sử dụng ta phải biết cách bảo trìnguồn điện một cách tốt nhất với cách bảo quản sau
+Sau thời gian sử dụng là 6 tháng, ta nên dùng chổi quét bụi và thườngxuyên kiểm tra xem quạt nguồn còn hoạt động bình thường hay không,điều nay rất quan trọng vì nếu quạt nguồn không hoạt động có thể gâycháy nổ
+ Ta nên sử dụng ổn áp nhằm chăm sót nguồn điện máy tính
+ Khi ta nghi ngờ về bộ nguồn máy vi tính như điện không ổn định ta nênkiểm tra bộ nguồn bằng cách dùng đồng hồ đo điện
3.Mainboard nó là thành phần được gọi là quan trọng có chức năng liên kết
tạo nên máy vi tính và là bảng mạch lớn nhất trên máy vi tính, mainboard có
chức năng liên kết và điều khiển các thành phần được cắm vào nó, đây là bộphận trung gian cho quá trình giao tiếp cuẩ các thiết bị được cắm vàomainboard và CPU, khi có một thiết bị yêu cầu được xử lý thì nó cũng phảithông qua mainboard ngược lại, khi cần đáp ứng lại cho thiết bị nó cũng phảithông qua mainboard hệ thống làm công việc vận chuyển trong mainboardgọi là Bus, Bus được thiết kế theo nhiều chuẩn khác nhau
Mainboard có nhiều loại do nhiều hãng sản xuất khác nhau như Intel,
compact… mỗi hãng sản xuất có những đặc điểm riêng cho loại mainboardcủa mình, nhưng nhìn chung thì các mainboard có các thành phần và đặcđiểm tương đối giống nhau do phải tuân theo các chuẩn do các hiệp hội tinhọc đặc ra
Trang 8Các thành phần cơ bản trên mainboard:
a Khe cắm CPU :
Khe cắm CPU có hai loại
* Slot : là khe cắm dài, có dạng một thanh dùng để cắm các loại CPU
được gắn trên card như: pentiumII, pentium III… loại này chỉ có trên cácmainboard gần nhất
* Socket: là khe cắm hình chử nhật có xăm lổ để cắm CPU vào, loại
này dùng cho tất cả CPU còn lại không cắm theo Slot, hiện nay đa số dùngsocket7, socket370, gần đây nhất có loại mới như là socket 423, socket 478
Trang 9b khe cắm Ram: thường có hai loại chính DIMM và SIMM
* SIMM (single inline memory module):loại khe cắm này 72 chân trênmột hàng, loại này thường có dung lượng 16MB trở xuống
* DIMM (dual inline memory module): loại khe RAM có 168 chân trênhai hàng, loại này thường có dung lượng 16MB trở lên
c BUS : là đường dẫn thông tin trong bảng mạch chính, nối xử lí bộ nhớ và
các thẻ mạch
d Khe cắm bộ điều hợp : dùng để cắm các bộ điều hợp như card màn
hình, card mạng … Chúng được thiết kế theo nhiều loại theo các chuẩn nhưISA, EISA…
e Khe cắm IDE: (integrated Drive Electronics): có hai khe cắm IDE trên
mỗi mainboard dùng để cắm cáp đĩa cứng và CD- ROM trên hai khe này
f khe cắm Floppy: dùng để cắm cáp ổ đĩa mềm trên mainboard
g cổng nối bàn phím : các mainboard cũ thường có loại cổng của
mainboard mới là cổng PS/2
h khe cắm nối tiếp: ( thường là COM1, Com2) sử dụng cho các thiết bị nốitiếp (serial) như, chuột … các bộ phận này được sử dụng hổ trợ của các chiptruyền nhận không đồng bộ vạn năng UART (universal asynchronousreceiver/transmitter) được cắm trực tiiếp trên mainboard để điều khiển traođổi thông tin nối tiếp giữa CPU với các thiết bị ngoài, các chip này thường là
có tên intel8250, 8251 hay motorola 6821, 6530…
i các khe cắm song song: ( thường là LPT1 Và LPT2 ) dùng để cắm thiết bịngao tiếp song song (Parallel)như máy in
k khe cắm điện cho mainboard : thường có hai khe cắm, một dùng cho
nguồn AT và một dùng cho nguồn ATX
l các ROM chứa các chương trình hổ trở khởi động và khiểm tra thiết bị
n các chip DMA (direct memory Eccess): đây là chip truy cập bộ nh trực
tiếp, giúp cho thiết bị truy cập bộ nhớ không qua sự điều khiển của CPU
m PIN và CMOS : dùng để lưu trử các thông số thiết lập cấu hình máy tính
gồm cả RTC
q các thành phần khác: như thỏi giao động thạch anh, chip điều khiển
ngắt, chip điều khiển thiết bị, bộ nhớ cache… cũng được gắn sắn trênmainboard
t các jumper: dùng để thiết lập các chế độ điện, chế độ truy cập, đèn báo.
trong một số mainboard mới, các jumper này được thiết lập tự động bằngphần mềm được thiết kế tích hợp nhiều phần và được sản xuất với công nghệcao, nên khi bị hỏng một bộ phận của mainboard thường khiến ta phải bỏnguyên cả mainboard đó
Như vậy, một mainboard có thể hổ trợ nhiều CPU khác nhau, có tốc độkhác nhau, ta có thể nâng cấp chúng bằng cách tra loại CPU tương thích vớiloại mainboard đó
Để bảo đảm mainboard chạy được ổn định, ta phải biết cách bảo trì vớinhững đặc điểm cơ bản sau:
+ Đặt máy tính ở nơi khô ráo, thoáng, nhiệt độ không quá cao
+ Tránh va đập mạnh
+ Khi lắp ráp máy hoặc tháo thiết bị ra phải nhẹ nhàng, tránh vỡ bảnmạch hoặc các thiết bị khác
Trang 10+ Nên lau chùi bụi thường xuyên, có thể rửa bằng xăng, sấy khô định
kỳ cho mainboard nhằm trành va chập điện giữa các vi mạch, linhkiện…
+ Tránh không được để ốc vít, vật kim loại trong máy gây chập thiết bịdẫn đến cháy mainboard
+Không nên cài driver cho BIOS mà chưa biết chính xác về nó
+Không nên cắm các Jumper nếu chưa hiểu rỏ chức năng của cáchcắm jumper, tốt nhất ta nên sử dụng tài liệu hướng dẫn của mainboard
đi kèm để thiết lập Jumper
4.CPU: (Central processing unit):
Bộ xử lí chính của máy, nó được ví như một bộ não chính, nó điều khiểnmọi hoạt động của máy vi tính, CPU liên hệ và điều khiển các thiết bị khácthông mainboard và hệ thống cáp của thiết bị khác được liên hệ thông quamột vùng nhớ (địa chỉ ra vào) và một ngắt được gọi là cổng
* Bộ trung tâm xử lý CPU là một thiết bị chính của máy vi tính, CPU cónhiệm vụ thực thi các chương trình trong bộ nhớ chính bằng cách nạp các chỉthị của chương trình và khảo sát chung sau đó thực thi một cách tuần tự chỉthị một , chỉ thị này tiếp nối chỉ thị khác
Ngày nay, với các thế hệ CPU mới có khả năng làm việc với tốc độ cao vàBus dữ liệu lớn giúp cho việc xây dựng chương trình đa năng này càng dễdàng hơn
Để đánh giá các CPU, người ta thường căn cứ vào các thông số của CPUnhư tốc độ, độ rộng của BUS, độ lớn của cache, và tập lệnh được CPU hổ trợ,tuy nhiên rất khó có thể đánh giá chính xác các thông số này, do đó, người tavẫn thường đánh dùng các chương trình thử trên cùng một hệ thống có cácCPU khác nhau để đánh giá các CPU
CPU có thể phân thành hai loại: phân theo thời gian và phân theo hãngsản xuất
a.phân theo thời gian
Các CPU cũ như 8080, 8086, 8088 là bộ vi xử lí làm cơ sở cho các vi xử lísau này, do giới hạn về khả năng quản lí bộ nhớ, số bit dữ liệu cũng như tốc
độ nên loại này hiện nay không được dùng chip PC nữa mà nhường cho cácthế hệ sau
Các CPU 80286, 80486, 80486: có nhiều đột phá so với thế hệ trước trongviệc quản lí bộ nhớ như sử dụng bộ nhớ mở rộng, đáp ứng các chương trình
Trang 11đa nhiệm, hổ trợ bộ xử lí giúp cho việc xử lí các phép toán có hiệu quả vàhiện nay các CPU pentium II, pentium III, Pentium IV Đã ra đời với côngnghệ cao, tốc độ xử lí cao, tuy vậy giá thành ngày càng rẻ hơn do nhiều hãngcạnh tranh với nhau
b phân loại theo hãng sản xuất:
Nhà sản xuất : intel Có hai đời
+ Đời đầu 8080, 8086, 8088…
+ PentiumI, pentium II, pentium III, pentium IV…
AMD có hai đời
K5 (PR75, PR166)
K6(PR166, PR233……
Để dùng CPU một cách hiệu quả ta cần chú Ý một vài vấn đề sau, khi CPUlàm việc, nó tảo ra một lượng nhiệt tương đối lớn, do đó bị nóng lên chính vìvậy có thường lắp kèm với một bộ gải nhiệt hoặc quạt để làm giảm nhiệttrong quá trinh hoạt động xử lí do vậy ta nên thường xuyên kiểm tra xemquạt có hoạt động bình thường hay không, khi thấy dấu hiệu quạt chạy chậmhoặc ngưng hoạt động thì phải thay để tránh cháy nổ CPU, điều này xảy ra do
sự nóng lên của CPU khi máy hoạt động sau một thời gian
Không nên thiết lập thông số và cắm lại Jumper khi chưa hiểu về nó mà taphải tìm hiểu và tham khảo tham số của CPU cho phép cắm lên mainboardđạt yêu cầu, ta tiến hành đi vào thiết lập các thông số làm việc cho nó đây làviệc quan trọng vì nếu thiết lập không đùng các thông số cho CPU sẽ làmgiảm khả năng làm việc, giảm tuổi thọ cũng như có thể làm cháy CPU
CPU làm việc với các thiết bị khác nhau và tại mỗi thời điểm CPU chỉ phục
vụ được một công việc nhất định nào đó, do đó để kiểm soát và phục vụ tốttất các thiết bị cố yêu cầu xử lí nó sẽ gọi CPU ngừng các công việc khác đểphục vụ cho mình, quá trình đó gọi là ngắt, khi có yêu cầu ngắt, CPU sẽ lưutrữ các thông số của chương trình đang thực hiện, sau đó goi chương trình xử
lý ngắt để đáp ứng yêu cầu đó, ngắt có hai loại:
+ Ngắt cứng : là ngắt được tạo ra bởi các phần cứng như ngắt từ bànphím, chuột …
+ Ngắt mềm: là do chương trình phần mềm tạo ra như các ngắt để yêucầu dữ liệu gắt lỗi chia cho 0…đối với loại CPU
Bộ nhớ trong: (Rom, Ram): là nơi lưu trũ dữ liệu và chương trình phục vụtrực tiếp cho việc xử lí của CPU, nó giao tiếp với CPU không qua một thiểt bịtrung gian nào
c.CPU bao gồm nhiều đơn vị riêng biệt:
*Đơn vị điều khiển địa chỉ (Addrress control Unit): Đơn vị điều khiển địachỉ nó có nhiêệm vụ phát ra địa chỉ nhớ 20 bits dể dò tìm vị trí vật lý của dữliệu hoặc lệnh trong bộ nhớ Đơn vị này phối hợp hoạt động với con trỏ lệnhcủa thanh ghi đoạnvà mạch phát địa chỉ
* Đơn vị xử lý số học và logic ALU(Arithmetic Logical Unit):AUL có chứcnăng thực hiện các phép tính logic +, -, *, /, tăng, giảm, so sánh và các phéptính logic gồm: AND, OR, XOR, NOT
ALU là nơi thực hiện các phép toán 2 ngôi,một toán hạng được đạt trongthanh ghi Accumulator, toán hạng thứ hai đặt trong thanh ghi tạm thời.AUL
là nhận lệnh là các tín hiệutừ bộ giải mã lệnh, kết quả của phép xử lý được
Trang 12lưu trở lại Accumulator, ngoài ra còn có các kết quảphụ được cập nhật vàothanh ghi cờ
*Các thanh ghi đoạn vàcon trỏ lệnh ( SEGMENT REGISTERS): một MB bộnhớ của vi xử lý được chia thành các mảnh logic có độ dài 64KB.các thanh ghiđoạn dùng để xác định đoạn bộ nhớ được dùng cho từng chức năng riêngbiệt Tại một thời điểm bộ vi xử lý có thể truy nhập đến bốn mảng , mà địachỉ của nó chứa trong các thanh ghi mảng mỗi đoạn nhớ là một đoạn liêntục các vị trí nhớ, các đoạn được lập địa chỉ riêng bằng cách dùng địa chỉchứa trong thanh ghi đoạn của nó, địa chỉ cơ sở là địa chỉ xuất phát đối vớimmõi đoạn nhớ
5.ROM (read only memory): đây là bộ nhớ mà CPU chỉ có thể đọc và thực
hiện chứ không có quyền thay đổi nội dung vùng nhớ, loại này chỉ đựơc ghimột lần với thiết bị ghi đặt biệt, nó dùng để ghi các chương trình khởi động,chương trình kiểm tra thiết bị … Mọi thông tin trên nó đã được tích hợp sẳnbởi nhà sản xuất nên còn được gọi là bộ nhớ cố định trong thời gian sử dụngchúng ta không thể thay đổi nội dung của nó Để ghi thông tin lên người tachỉ việc thêm hoặc bớt các transistor hay diode ở những vị trí phép nối thích
hợp như các công tắc
6 RAM (Ramdom Access Memory): đây là bộ nhớ chính của CPU giao tiếp
trong quá trình xử lí dữ liệu của mình bởi loại này chỉ cho phép ghi và xoá
dữ liệu nhiều lần giúp cho việc trao đổi dữ liệu trong quá trình xử lý của CPUthuận lợi hơn Khác với ROM, RAM là bộ nhớ mà dữ liệu có thể được ghi vàhoặc đọc ra bất cứ lúc nào.Nội dung có thể thay đổi tùy theo từng tác vụ đọc/ghi của bộ xữ lý, các thông tin được lưu trữ và duy trì trong RAM là nhờ điện
áp cung cấp của nguồn nuôi, Nếu máy vi tính hoậưc bị tắc điện nguồn , toàn
bộ nội dung trong RAM sẽ bị mất Bộ nhớ Ram là trung tân điển của mọi hoạtđộng nơi là mọi thứ được lưu trữ trong khi chúng đang được dùng đến, khônggiống như kí ức của chúng ta RAM chỉ là nơi chứa dữ liệu tạm thời để thựchiện các thao tác sau đó nó được xóa đi để chứa các dữ liệu cho quá trình xử
lý tiếp theo
Ram có nhiều loại với tốc độ xử lý ngày càng cao, có dung lượng lớn, các
hãng sản xuất do cạnh tranh nhau nên các sản phẩm được ra đời vời độ xử língày càng cao
Bộ nhớ ngoài:(đĩa mềm và ổ mềm) là nơi lưu trữ dữ liệu và chương trìnhgián tiếp phục vụ cho CPU, bao gồm các loại : đĩa mềm, đĩa cứng, CD-ROM…khi giao tiếp vưói CPU nó phải qua một thiết bị trung gian thường gọi là ngắt(IQR interrupt Repuest)
Trang 137.Đĩa mềm : Loại đĩa này được dùng phổ biến nhất hiện nay
Cấu Tạo:Được làm bằng nhựa, bên trong có lớp mylar mềm dẻo, mộtkhoang Hup bằng kim loại ở giữa, bên ngoàii của mở đọc /ghi, trên vỏ bọcđược đậy kín bằng một lớp nấp bảo vể trược, dùng để lưu trữ dữ liệu đĩamềm có nhiều loại, có dung lượng khác nhau Khi đĩa mềm làm việc nó đượcđặt trong ổ mềm, ổ này có tác dụng làm quay đĩa, đầu từ sẽ làm nhiễu từtrên bề mặt đĩa ứng với cac bit được ghi vào
8.Màn hình(monitor):Là thiết bị đưa thông tin ra giao diện trực tiếp với
người dùng Đây là thiết bị xuất chuẩn của máy vi tính hay còn gọi là bộ trực
9.Bàn phím(Keyboard): thiết bị nhập tin vào giao diện trực tiếp với người
dùng, đây là hiết bị nhập chuẩn của máy vi tính
10.Chuột(mouse): thiết bị điều khiển trong môi trường đồ hoạ giao diện
trực tiếp với người sử dụng
11.Máy In(Priter) : thiết bị xuất thông tin ra giấy thông dụng nhất
12.Các thiết bị khác như : card mạng, Modem… Phục vụ cho việc lắp đặt
mạng máy tính và các chức năng khác
Trang 14PHẦN IV
Tìm hiểu về công nghệ của ổ Cứng
1.Ổ Cứng :
Các ổ dĩa cứng được sử dụng trong các máy PC ngày nay có nguồn gốc
từ các ổ đĩa cứng của máy tính mainframe trong thập niên 70 bên trong các
ổ đĩa này chứa các đĩa từ (platter) vốn có kích thước lớn hơn và dày hơnnhiều so với kích thước của các đĩa hát (photograph record) các đĩa từ đượcsắp xếp chồng lên nhau nhưng không nằm khác nhau, mà giữa chúng luôn cócác khoảng hở để các đầu đọc ghi ( read –write head) có thể dịch chuyển tơilui trên bề mặt các đĩa từ khi ổ đĩa hoạt động tất cả các đầu đọc ghi sẽ dịchchuyển đồng nhất trong khi các đĩa quay ở tốc độ cao, các lập trình viên ừngdụng của những năm 70 chịu trách nhiệm về cách thức và vị trí mà các dữliệu được viết lên các đĩa từ này họ đã viết các chương trình sao cho các dữliệu được phân bổ đều đặn trên bề mặt đĩa, với mục đích để các đầu đọc ghikhông cần phải dịch chuyển nhiều khi đọc hoặc ghi một tập tin, sau đó họ cóthể đánh giá kết quả công việc của họ bằng cách quan sát các dầu đọc ghiqua nắp đậy trong suốt của vỏ ổ đĩa, nếu họ lập trình đúng, các đầu đọc ghi
sẽ di chuyển êm ả trên bề mặt các đĩa từ, nếu họ lập trình không đúng, cácđầu đọc ghi này phải dịch chuyển rất nhiều khi các dữ liệu xử lí trong các hệthống phần mềm ngày nay, mọi thứ trở nên phức tạp hơn nhiều có nhiều lớpphần mềm nằm giữa các dữ liệu được lưu trữ trên đĩa và các ứng dụng sẽ đọchoặc viết các dữ liệu vào đĩa, việc tìm hiểu về các lớp phần mềm này ta biếtđược chúng liên quan tới lớp khác ra sao và cách thức chúng quản lý ổ cứng
là làm chủ đề trọng tâm
Tuy nhiên, xét về mặt cấu trúc và chức năng thì ổ cứng không hề thayđổi, các ổ cứng ngày nay cũng gồm có hai hay nhiều đĩa từ vốn được sắp xếpchồng lên nhau và quay đồng nhất với nhau, các đầu đọc/ghi, được kiểm soátbởi một cơ cấu phát động (actuator), sẽ dịch chuyển tới lui đồng thời trên các
bề mặt đĩa từ khi các đĩa này cùng quay tròn trên một trục quay có nhiều kiểuđĩa cứng dành cho các máy PC, tất cả điều sử dụng một phương tiện mang từtính : các dữ liệu trên tất cả các ổ này đều được lưu trữ trong các từ đạo, cáccung và các tập tin dữ liệu được dữ trong các liên cung (cluser) vốn được tạothành từ một hoặc nhiều cung
Trang 15a.cấu trúc bên trong của ổ cứng:
Trong một đĩa cứng, toàn bộ tám mặt của bốn đĩa từ này được dùng
để lưu trữ dữ liệu, mặt dù trên một số đĩa cứng, mặt trên của đĩa từ đầu tiênchịu lưu trữ các thông itn được dùng dể giám sát các dữ liệu của ổ đĩa vàquản lý ổ đĩa này giống như các ổ mềm, mỗi mặt của một đĩa từ trong ổcứng được gọi là một mặt đĩa (head ) ổ đĩa có tám mặt đĩa cũng như với cácđĩa mềm, mỗi mặt đĩa này được phân thành các từ đạo và các cung các từđạo đều cách tâm đĩa một cách bằng nhau và cùng nhau tạo nên một từ trụ(cylinder)nếu một đĩa có 300 đạo từ trên mỗi đĩa, số lượng từ trụ của nó luônbằng 300
2.Nguyên tắc hoạt động:
Giống như các đĩa mềm, các giữ liệu cũng được viết vào một ổ cứngbắt đầu từ đạo nằm ngoài cùng toàn bộ từ trụ đầu tiên được viết đầy trướckhi các đầu đọc /ghi dịch chuyển vào bên trong và bắt đầu viết từ trụ thứhai, ta đã biết rằng các từ đạo nằm gần hơn luôn nhỏ hơn, nhưng cũng phảilưu trữ cung một khối lượng dữ liệu như các từ đạo lớn hơn nắm bên ngoài,tại một số điểm, khi bắt đầu đọc/ghi dịch vào tâm đĩa và các từ đạo mỗi lúcmột nhỏ hơn, các đầu đọc/ghi phải điều chỉnh cách viết dữ liệu để các cunglưu trữ một số lượng byte không đổi, dù chúng có kích thước vật lý khácnhau hai phương thức được dùng để điều chỉnh thích hợp với các từ đạo nhỏhơn gồm : ghi bù trước và giảm dòng ghi
Phương thức ghi bù trước (write precompensation) sẽ tăng tốc độ ghi
dữ lệu trên đĩa khi các từ đạo trở nên nhỏ hơn gần tâm đĩa, nếu một ổ đĩacứng sử dụng kĩ thuật ghi bù trước, thông số đặc tả kiểu của nó sẽ chỉ rỏ việcghi bù trước bắt đầu tại từ đạo hay từ trụ của nào (WRITE PRECOM=xxx)ngoài ra một số ổ đĩa được liệt kê vị trí ghi bù trước như tổng số từ trụ củakiểu đĩa, nhưng việc ghi bù trước không được sử dụng
Phưong thức Giảm dòng ghi (ređuce write current) mang ý nghĩa đúngnhư tên gọi của nó, tại một só từ trụ nằm gần tâm đĩa từ, các đầu đọc/ghi sẽgiảm bớt dòng điện vốn được dùng để đặt các đốm từ lên đĩa, vì các đốm nàycàng lúc càng sát nhau hơn kỹ thuật giảm dòng ghi không được sử dụng phổbiến bằng kỹ thuật ghi bù trước
3.Công nghệ của IDE
Các công nghệ đĩa cứng cũ, mà một vài trong số này hiện vẫn còn sửdụng, bao gồm MFM, RLL và ESDI ngày nay, hầu hết các ổ cứng trên thịtrường đều sử dụng các chuẩn IDE (Integrated Device Electronics, trước kia làIntegarted Drive Electronics ) Trong vài năm gần đây, trên thị trường xuấthiện thêm các công nghệ tiên tiến hơn, bao gồm EIDE (Enbanced IDE cảitiến )và đặc biệt là SCSI một công nghệ giao tiếp ổ đĩa IDE qua một bus I/Otốc độ cao vốn có riêng bọ kiểm soát bus
Ngoài ổ đĩa cứng, các ổ đĩa tháo lắp (removable drive) hiện đang càngđược sử dụng rộng rãi hơn máy PC trong các phần kế tiếp, chúng ta IDE,SCSI các ổ đĩa tháo lắp :các ổ đĩa MFM, RLL được đề cập tới chỉ vì lý do lịch
sử, nhằm giúp cho chúng ta hiểu rỏ hơn về các khái niệm cơ bản nằm sau cáccông nghệ ổ đĩa ngày nay
Như đã mô tả trên, một ổ đĩa cứng chứa hai hay nhiều đĩa từ quay bêntrong một vỏ bọc kín không khí, cùng với các đầu đọc /ghi có thể dịch chuyển
Trang 16tới lui trên bề mặt các đĩa từ này, ổ cúng được lắp khít với một hộc (bay trongkhung máy tính và được cố định chắc chắn vào khung máy bằng các thanhchằng hoặc các ốc vít, điều này ngăn ngừa cho ổ đĩa không bị rung lắc trongkhi đĩa từ quay và các đầu đọc /ghi đang rất gần với bề mặt của các đĩa từ
Một ổ đĩa cứng cần một bo mạch kiển soát chứa các chuơng trình ROM
để chỉ thị cho các đầu đọc/ghi biết phải di chuyển trên bề mặt các đĩa từ rasao, tới đâu, và khi nào, đồng thời quản lí cáh thức viết và đọc các dữ liệutrên đó, trong các ổ đĩa IDE và SCSI, bộ kiểm soát được gắn trên một bomạch nằm bên trong ổ đĩa và là một thành phànn tách hợp của ổ đĩa này, dovậy các ổ đĩa cũ với công nghệ RLL và FMF có bo mạch kiểm soát dưới dạngmột card mở rộng nằm rời vốn được nối tới ổ đĩa bằng hai dây cáp, ngày nay
bộ kiểm soát của một ổ cứng IDE nối tới bộ mạch hệ thống thông qua một sợicáp dữ liệu đi từ ổ đĩa tới một đầu nối IDE đặt trực tiếp trên bo mạch hệthống một hệ thống đĩa cứng bao gồm một ổ cứng IDE và đầu nối của nó tớimột bo mạch hệ thống, ngoài đầu nối dành cho sợi cáp 40 chân, ổ cứng còn
có một đầu nối dành cho dây nguồn từ bộ nguồn cung cấp hầu hết các đĩacứng trên thị trường hiện nay đều theo công nghệ IDE, mặc Dù IDE mộtbước cải tiến từ các kiểu ổ đĩa cứng MFM và RLL, nhưng công nghệ này cũngbộc lộ một số giới hạn mới muuốn hiểu được công nghệ IDE khác biệt ra sao
so với các công nghệ khác, ta cần tìm hiểu chi tiết về các ổ đĩa cứng đượcđịnh dạng mức thấp (level format ) ra sao các từ đạo (track) và các cung(sector) trên ổ cứng IDE
Các công nghệ MFM và RLL sử dụng 17 hoặc 26 cung trên mỗi liêncung, trên toàn bộ bề mặt đĩa từ, các đạo từ lớn nhất (nằm sát mép ngoài củađĩa ) chứa một số lượng byte giống hệt như các đạo từ đạo nhỏ nằm gần tâmđĩa từ cách bố trí này làm cho việc định dạng một ổ cứng và việc truy xuất vềsau trở nên đơn giản hơn, nhưng đồng thời cũng làm lãng phí không gian đĩa,
số lượng các byte mà một đạo từ có thể chứa được xác định bởi đạo từ nằmgần tâm nhất và tất cả các đạo từ còn lại buộc phải tuân theo giới hạn này
Các ổ cứng theo công nghệ IDE, với phương thức định dạng hoàn toànmới, đã phá vỡ giới hạn này số lượng cung trên mỗi từ đạo của một ổ đĩaIDE không giống nhau trên toàn bộ đĩa từ, trong quan hệ thống định dạngmới này, được gọi là ghi bit theo vùng (zone bit recording )các từ đạo nằmgần tâm chứa số lượng, các từ đạo nằm gần tâm chứa số cung ít hơn và sốlượng các cung tăng dần lên khi các từ đạo trở nên lớn hơn nói một cáchkhác, trong một ổ đĩa IDE, mỗi từ đạo được thiết kế để chứa số lượng cungtối ưu thích hợp với kích thước của nó tuy vậy, điều làm cho cách bố trí nàytrở nên khả dĩ là một thực tế không thay đổi : vẫn chỉ còn 512 byte trên mọicung của toàn bộ đĩa từ, nếu không có sự nhất quán này, chắc chắn hệ điềuhành sẽ gặp rất nhiều khó khăn để trao đổi thông tin với ổ đĩa
Vì các từ đạo khác nhau chứa số lượng cung khác nhau, nên khi hệđiều hành trao đổi thông tin với ổ đĩa IDE, nó sẽ không thể giao tiếp với BIOScủa bộ kiểm soát ổ cứng bằng cách sử dụng các toạ độ cung và các từ đạotrên ổ đĩa, giống như cách nó đã làm với ổ đĩa mềm và các ổ đĩa cứng thế hệ
cũ hệ điều hành buộc phải sử dụng các phương thức mới hơn, phức tạp hơn
mà điều đó chung ta phải tìm hiểu nhiều hơn
4.Định dạng một ổ đĩa cứng
Trang 17Như chung ta đã biết rằng, khi DOS định dạng một đĩa mềm, nó sẽ viếtcác dấu cung và dấu từ đạo lên bề mặt đĩa, với các đĩa cứng IDE, do các dấu
từ và đạo từ tuân không còn tuân theo một khuôn thức đơn giản, nên chúngđược viết lên ổ đĩa cứng ngay tại nhà máy bằng một tiến trình được gọi làđịnh dạng mức thấp (low level format) hệ điều hành vẫn thực hiện phần cònlại của tiến trình định dạng (tạo boot sector, bảng FAT và thư mục gốc ) đượcgọi là định dạng mức cao( high – level format) hay còn gọi là định dạng của
hệ điều hành (os format) với công nghệ RLL và FMF cũ, BIOS hệ thống, hệđiều hành hoặc các phần mềm tiện ích chẳng hạn như norton và spinrite cóthể thực hiện công việc định dạng mức thấp : thậm chí hiên nay vẫn có mộtthủ tục định dạng mức thấp vốn là một phần của BIOS hệ thống chuẩn, tuynhiên với một ổ đĩa IDE, việc sử dụng BIOS hệ thống của một phần mềm tiêních chuẩn để định dạng mức thấp cho ổ đĩa có thể gây thảm hoạ nghiêmtrọng việc định dạng một ổ đĩa IDE theo cách này có thể phá huỷ ổ đĩa vĩnhviễn, trừ phi BIOS của bộ kiểm soát ổ đĩa đủ “thông minh” để bỏ qua lệnhnày
Do cách thức định dạng và truy xuất dữ liệu trên một ổ đĩa IDE đặcbiệt như vậy nên bạn phải sử dụng một bộ kiểm soát đặc trưng cho ổ đĩa IDE,các ổ đĩa IDE, các ổ IDE được tích hợp trực tiếp bộ kiểm soát nằm ngay ở mặttrên ổ đĩa của vỏ bọc ổ đĩa -bộ kiểm soát và ổ đĩa được gắn vào nhau vĩnhviễn, vì các ổ đĩa IDE được định dạng mức thấp ở nơi sản xuất nên chúngkhông thể được định dạng như là một phần của việc bảo dưỡng phòng ngừa,như với các ổ đĩa kiểu cũ, các dấu đạo từ và dấu đạo cung trên đĩa từ đượctạo ra tại các nhà máy thường được trông đợi là sẽ tồn tại trong suốt “thờigian sống” của ổ cứng, vì lí do này nên các ổ đĩa IDE đôi khi còn được gọi làcác ổ đĩa”chỉ dùng một lần” khi các dấu từ đạo và dấu cung bị mờ đi, vì cuốicùng cũng phải đến lúc đó, bạn chỉ việc vứt bỏ và đi mua một ổ đĩa mới
Tuy nhiên, công việc định dạng cho các ổ đĩa IDE ngày nay càng đượccải tiến nhiều hơn một số hãng sản xuất ổ đĩa IDE nổi tiếng đang cung cấpcác chương trình định dạng mức thấp đặc thù cho ổ đĩa của họ, nếu một ổ đĩaIDE liên tục đưa ra các thông báo lỗi đại loại như “bad sector or sector notfound” hay trở nên không sử dụng được, bạn có thể hỏi hãng sản xuất đểđược cung cấp một hệ chương trình thực hiện định dạng mức thấp cho ổ đĩa.đôi khi chương trình này chỉ được hãng sản xuất phân phối cho các dealer,các resellerr hoặc các trung tâm dich vụ được chứng nhận, việc sử dụng mộtchương trình định dạng mức thấp không phải do chính hãng sản xuất cungcấp cho một ổ đĩa IDE là đầy rủ ro, mặc dù một số chương trình đã đựơcdùng thủ và thành công, tuy vậy, thường thì số lượng các ổ đãi huỷ hoại vĩnhviễn luôn nhiều hơn so với số lương các ổ đĩa có thể cứu được bằng cách chấpnhận sự rủi ro này các ổ đĩa IDE có thể tồn tại nhiều năm mà không cần phảiđược định dạng mức thấp lại cho tới thời điểm đó, chắc chắn bạn sẽ sẵn sàn
để nâng cấp lên một ổ đĩa lớn hơn
5.Sự hỗ sợ của bản mạch hệ thống đối với các ổ đĩa IDE
Khi ổ đĩa IDE đầu tiên xuất hiện trên thị trường, ta cần phải sử dụngmột card kết hợp lắp trong một khe mở rộng để kết nối ổ đĩa này với bo mạch
hệ thống, ngày nay, hầu hết các bo mạch hệ thống hổ trợ các ổ đĩa IDE nằmtrực tiếp trên bo mạch hệ thống để báo cho người sử dụng biết khi nào một
Trang 18ổ cứng đang đuợc truy xuất, bo mạch hệ thống thường cung cấp một đầu nốihai chân vốn nối tới cột đèn LED nằm mẳt trước vỏ máy đèn báo này sẽ bậtsáng khi một ổ đĩa cứng đang được truy xuất
Nói tóm lại, một ổ đĩa IDE được tích hợp cùng với bộ kiểm soát hệđiều hành không trao đổi thông tin trực tiếp với ổ đĩa IDE như trong trườnghợp với các ổ đĩa sử dụng công nghệ cũ hơn, thay vào đó, hệ điều hành sẽtruyền các yêu cầu của nó tới bộ kiểm soát ổ đĩa, vốn là bộ phận có tráchnhiệm quản li việc các dữ liệu được lưu trữ trên đĩa tại vị trí nào mà theo cáchthức nào đó, đối với hệ điều hành một ổ đĩa đơn thuần chỉ là một danh sáchdài gồm các cung luận lí, mỗi cung chứa 512 byte hệ điều hành không cầnbiết các cung này nằm tại vị trí nào trên đĩa, các thông tin này được bộ kiểmsoát duy trì, việc lắp đặt các ổ đĩa IDE rất đơn giản : điều quan trọng nhất màchương trinh setup và hệ điều hành cần biết là trên ổ đĩa của bạn có baonhiêu cung, nếu bạn không nắm rỏ thì đừng nên phỏng đoán số lượng cáccung quá cao, nếu bạn không muốn hệ điều hành yêu cầu bạn sử dụng mộtcung không tồn tại, tuy nhiên, nếu bạn báo cho trình setup biết một số lươngcung ít hơn so với số lượng thực tế một số cung sẽ không được sử dụng tới
6.Các ổ đĩa IDE cải tiến (EIDE)
Các ổ đĩa IDE thời kỳ đầu được thiết kế dựa theo tiêu chuẩn IDE/ATA*(integrated electronics/AT attcment) do tổ chức ANSI đưa ra (đôi khi được gọi
là tiêu chuẩn IDE hoặc tiêu chuẩn ATA ) tiêu chuẩn này liên quan tới cáchthức mà ổ đĩa giao tiếp với BIOS và các phần mềm hơn là bản thân công nghệ
ổ đĩa, với việc sử dụng giao tiếp chuẩn ATA, các ổ đĩa cứng đã bị giới hạn ở
528 MB, không thể có hơn hai ổ đĩa trên cùng một giao diện, tiêu chuẩn nàyđược áp dụng chỉ cho các ổ đĩa cứng và không áp dụng cho các ổ đĩa CD-Rom, các băng từ và các thiết bị lưu b trữ khác chuẩn ATA đã được cải tiếnnhiều lần khi các công nghệ và phương thức giao tiếp ổ đĩa được cải thiện,các ổ đĩa IDE cải tiến (enhanced IDE hay EIDE ) hổ trợ các tiêu chuẩn mớihơn và nhanh hơn, tiêu chuẩn đầu tiên được hỗ trợ bởi EIDE là ATA-2 tiêuchuẩn mới này có khả năng hổ trợ tới bốn thiết bị IDE hoặc động trên cùngmột máy vi tính, các thiết bị IDE này có thể là các ổ đĩa cứng, các ổ đĩaCD_ROM, các ổ băng từ hoặc các thiết bị IDE khác, các ổ đĩa CD-Rom sửdụng chuẩn ATAPI khi cá tiêu chuẩn được phát triển, các hãng sản xuất đĩacứng khác nhau đặt nhiều tên gọi khác nhau cho chúng và do đó có thể gâynhầm lẫn, các tiêu chuẩn ngày nay tập trung vào tốc độ vận chuyển dữ liệubất kỳ vấn đề nào khác, khi chọn các tiêu chuẩn cho đĩa cứng, bạn nên chọnchuẩn nào nhanh nhất nếu có thể, nhưng cần nhớ rằng hệ điều hành BIOStrên bo mạch hệ thống và trên ổ đĩa cứng điều phải hổ trợ chuẩn này để nó
có thể sử dụng được, nếu một trong ba bộ phận trên không hổ trợ tiêu chuẩnbạn chọn, thường thì hai bộ phận còn lại sẽ sử dụng còn lại một chuẩn chậmhơn mà cả ba điều có thể sử dụng :
Trang 19Bảng tóm tắc chuẩn giao tiếp ANSI dành cho các ổ đĩa cứng
Tiêu chuẩn (có thể có
IDE /ATA tốc độ thya đổi từ 2
1MB/sec tới 8 3MB/sec chuẩn đĩa cứng chứaANSI dành cho các ổ đĩa
IDE bị giới hạn ở 528
MB hổ trợ các chế độvận chuyển PIO và DMA
ATA-2 fast ATA tốc độ lên tới 16
6MB/set Phá vỡ rào cản 528MB,cho phép lên tới 4 ổ đĩa
IDE hổ trợ các chế độvân chuyển PIO và DMAATA-3 tốc độ được cải thiện
thêm một ít Phiên bản cải tiến củaATA-2Ultra ATA fast ATA-2
ultra DMA DMA/33 tốc độ lên tới 33.3MB/set định nghĩa một chế độDMA mới, nhưng chỉ hổ
trợ các chế độ PIO chậmhơn
Ultra ATA/66ultra
DMA/66 tốc độ lên tới 66.6MB/set sử dụng một cáp dữ liệu40 chân đặc biệt vốn
cung cấp các dây nốiđất bổ sung để cải thiệntính toàn vẹn của tínhiệu
7.Công nghệ SCSI
SCSI (đọc là scuzzy)là chử viết tắc của small computer systemsinterface và là một bộ chuẩn giao tiếp giữa một hệ thống còn gồm các thiết bịngoại vi và bus hệ thống, SCSIcó phần nào giống với một mạng lan nhỏ bêntrong một máy vi tính (do đó đôi khi ta có nghe nói tới mạng SCSI (SCSInetwork ), ám chỉ tới tập hợp các thiết bị trên một bus SCSI, vốn hoạt độnggiống như một mạng cục bộ ) chính xác hơn, SCSI là một dạng Bus SCSI làmột hệ thống khép kín vốn có thể chứa tới và sử dụng bởi, 7 hoặc 15 thiết bị,tuỳ thuộc vào chuẩn SCSI được dùng, cửa ngõ nối từ Bus SCSI tới Bus hệthống là một card điều hợp được gắn vào một khe cắm mở rộng trên bo mạch
hệ thồng, được gọi là ( card điều hợp chủ (host adapter) card điều hợp này cótráh nhiêm quản lí tất cả các thiết bị trên bus SCSI, khi một trong những thiết
bị này cần liên lạc với bus hệ thống các dữ liệu sẽ được truyền qua card điềuhợp chủ
8.Mô hình các ổ đĩa cứng SCSI liên lạc với CPU thông qua card điều chỉnh hợp chủ, nhưng các ổ đĩa IDE liên lạc trực tiếp trên bus hệ thống