TÍN HIỆU ĐIỆN TIM VÀ HỆ THỐNG CÁC CHUYỂN ĐẠO
Trang 1TÍN HIỆU ĐIỆN TIM VÀ HỆ THỐNG CÁC
CHUYỂN ĐẠO
1 Tế bào và dòng sinh học:
- Dòng sinh học là dòng sinh ra do sự hoạt động của các tế bào sống
- Dòng sinh hoá là dòng gây nên bởi sự thay đổi nồng độ iôn trong và ngoài tế bào
Tế bào là đơn vị sống nhỏ nhất của sinh vật Tế bào gồm nhân tế bào, màng tế bào, chất nguyên sinh Nhân tế bào giữ chức năng sinh sản, màng tế bào giữ chức năng trao đổi với môi trường Nguyên sinh chất giữ chức năng mang tải các chất dinh dưỡng và các chất đào thải Màng tế bào có tính bán thẩm thấu do đó duy trì những nồng độ khác nhau của các vật trong và ngoài
Nếu hai môi trường là chất khác nhau Hình1.2
Time, ms
+60 +30 0 -30 -60 -90
Trang 2E =
2 2
1 1
ln
f C
f C nF RT
F1:hệ số hoạt động của các chất C1; f2 hệ số hoạt động của các chất C2
v u x nF
RT
+
−
u – hệ số hoạt động về điện áp dòng gây nên hai bên màng bán thấm của cation
v – hệ số hoạt động về điện áp dòng gây nên hai bên màng bán thấm của anion
e
i
K
K F
e
i
Na
Na Ln F
+
e
i e
i
Cl
Cl K
e
i
Na Na
Khi tế bào bắt đầu hoạt động (bị kích thích), điện thế mặt ngoài tế bào sẽ trở thành âm tính tương đối (bị khử mất cực dương) so với mặt trong: người
ta gọi là hiện tượng khử cực (depolarisation) Sau đó, tế bào lập lại thế thăng bằng ion nghỉ, điện thế mặt ngoài trở lại dương tính tương đối (tái lập cực dương) người ta gọi đó là hiện tượng tái cực (repolarisation)
Hình vẽ 1.2
2 Các quá trình điện học của tim :
Ngày nay khoa điện sinh lí học hiện đại đã cho ta biết rõ, dòng điện do tim phát ra vì đâu mà có ?
Đó là do sự biến đổi hiệu điện thế giữa mặt trong và mặt ngoài màng tế bào cơ tim Sự biến đổi hiệu điện thế này bắt nguồn từ sự di chuyển của các ion (K+, Na+ ) từ ngoài vào trong tế bào và từ trong ra ngoài khi tế bào cơ
Trang 3tim hoạt động, lúc này tính thẩm thấu của màng tế bào đối với các loại ion
luôn luôn biến đổi
Hình 1.3 :Sự di chuyển của các ion Na+,K+,Ca++
qua màng tế bào, hình thành đường cong điện thế hoạt động, nguồn gốc của dòng điện tim
Khi tế bào bắt đầu hoạt động (bị kích thích), điện thế mặt ngoài màng
tế bào sẽ trở thành âm tính tương đối (bị khử mất cực dương) so với mặt trong: người ta gọi đó là hiện tượng khử cực (despolarisation) (Hình1và2)
Hình 1.4: Khử cực (b) và tái cực (c) trên một tế bào đơn giản
Sau đó, tế bào dần dần lập lại thế thăng bằng ion lúc nghỉ, điện thế mặt ngoài trở lại dương tính tương đối (tái lập cực dương): người ta gọi đó là hiện tượng tái cực (repolaisation)
3 Khái niệm về điện tim đồ:
Điện tâm đồ là một đường cong ghi lại các biến thiên của các điện lực do tim phát ra trong hoạt động co bóp Điện lực đó rất nhỏ, chỉ tính bằng milivôn
Trang 4nên rất khó ghi Cho đến năm 1903, Einthoven mới lần đầu ghi được nó bằng một điện kế có đầy đủ mức nhạy cảm
Phương pháp ghi điện tim đồ cũng giống như cách ghi các đường cong biến thiên tuần hoàn khác: người ta cho dòng điện tim tác động lên một bút ghi làm bút này dao động qua lại và vẽ lên một mặt giấy, nó được động cơ chuyển động đều với một tốc độ nào đó Ngày nay, người ta đã sáng chế ra rất nhiều loại máy ghi điện tim nhạy cảm, tiện lợi Các máy đó có bộ phận khuếch đại bằng đèn điện tử hay bán dẫn và ghi điện tim đồ trực tiếp lên giấy hay vẽ lên màn huỳnh quang Ngoài ra, chúng còn có thể có một hay nhiều dòng, ghi đồng thời được nhiều chuyển đạo cùng một lúc, ghi điện tim đồ liên tục 24 giờ trên băng của một máy gắn nhỏ gắn vào người (Cardiocassette Type Holter)
4 Cơ chế hình thành tín hiệu điện tim :
Tim là một khối cơ rỗng gồm 4 buồng dày mỏng không đều nhau, co bóp khác nhau Cấu trúc phức tạp đó làm cho dòng điện hoạt động của tim (khử cực và tái cực) cũng biến thiên phức tạp hơn ở tế bào đơn giản như đã nói ở trên
Hình1.5: Tim với hệ thần kinh tự động của nó
Trang 5Quy ước mắc điện cực và định nghĩa sóng âm sóng dương
Tim hoạt động được là nhờ một xung động truyền qua hệ thống thần kinh
tự động của tim Đầu tiên, xung động đi từ nút xoang toả ra cơ nhĩ làm cho nhĩ khử cực trước; nhĩ bóp trước đẩy máu xuống thất Sau đó nút nhĩ-thất Tawara tiếp nhận xung động truyền qua bó His xuống thất làm thất khử cực: lúc này thất đã đầy máu sẽ bóp mạnh đẩy máu ra ngoài biên Hiện tượng nhĩ
và thất khử cực lần lượt trước sau như thế chính là để duy trì quá trình huyết động bình thường của hệ thống tuần hoàn Đồng thời điều đó cũng làm cho điện tim đồ bao gồm hai phần: một nhĩ đồ, ghi lại dòng điện của nhĩ, đi trước,
và một thất đồ, ghi lại dòng điện của thất đi sau
Để thu được dòng điện tim, người ta đặt những điện cực của máy ghi điện tim lên cơ thể Tuỳ theo chỗ đặt các điện cực, hình dáng điện tim đồ sẽ khác nhau Nhưng trong mấy ví dụ dưới đây, để cho thống nhất và đơn giản, quy ước (Hình1.5) đặt điện cực dương (B) ở bên trái quả tim và điện cực âm (A)
ở bên phải quả tim
Như vậy (Hình1.5):
- Khi tim ở trạng thái nghỉ (tâm trương) không có dòng điện nào qua máy và bút sẽ chỉ ghi lên giấy một đường thẳng ngang, ta gọi đó là đường đồng điện (isoelectric line)
- Khi tim hoạt động (tâm thu) điện cực B thu được một điện thế dương tính tương đối so với điện cực thì bút sẽ vẽ lên giấy một làn sóng dương, nghĩa là
ở mé trên đường đồng điện
Trái lại, điện cực A dương tính tương đối thì bút sẽ vẽ lên một làn sóng
âm, nghĩa là ở mé dưới đường đồng diện
4.1 Nhĩ đồ (ghi dòng điện hoạt động của nhĩ):
Như trên đã nói, xung động đi từ nút xoang (ở nhĩ phải) sẽ toả ra làm khử cực cơ nhĩ như hình các đợt sóng với hướng chung là từ trên xuống dưới và từ phải sang trái (Hình1.6) Như vậy, véctơ khử cực nhĩ có hướng từ trên xuống dưới và từ phải sang trái, làm với đường ngang một góc 49o (Hình1.6), đường thẳng nằm trùng với véctơ này gọi là trục điện nhĩ
Trang 6Lúc này, điện cực B sẽ là dương tương đối và ta có thể ghi được một sóng dương thấp, nhỏ, tầy đầu với thời gian khoảng 0.08s gọi là sóng P Do
đó, trục điện nhĩ gọi là sóng P kí hiệu là ÂP (P axis) Khi nhĩ tái cực nó phát
ra một sóng âm nhỏ gọi là sóng Ta (auricular T) Nhưng ngay lúc này cũng xuất hiện khử cực thất với điện thế mạnh hơn nhiều Nên trên điện tâm đồ gần như ta không thấy sóng T nữa Kết quả nhĩ đồ chỉ thể hiện trên điện tâm đồ một sóng đơn độc là sóng P
Trang 74.2 Thất đồ (Ghi lại dòng điện của thất):
a) Khử cực:
Ngay khi nhĩ còn đang khử cực thì xung động đã bắt vào nút nhĩ-thất rồi
truyền qua thân và hai nhánh bó His xuống khử cực thất
Việc khử cực bắt đầu từ phần giữa liên thất đi xuyên qua mặt phải vách này, tạo ra một véctơ khử cực đầu tiên hướng từ trái sang phải: điện cực A sẽ dương tính tương đối và máy ghi được một sóng âm nhỏ nhọn gọi là sóng Q (Hình1.7a)
Sau đó xung động truyền xuống và tiến hành khử cực đồng thời cả 2 tâm thất theo hướng xuyên qua bề dày cơ tim Lúc này, véctơ khử cực hướng nhiều về bên trái hơn vì thất trái dày hơn và tim nằm nghiêng về bên trái Do
đó, véctơ khử cực chung hướng từ phải qua trái và điện cực B lại dương cao hơn, nhọn gọi là sóng R (Hình1.7b)
Sau cùng khử cực nốt vùng cực đáy thất, lại hướng từ trái sang phải, máy ghi được sóng âm nhỏ gọi là sóng S (Hình1.7c)
Trang 8Hình 1.7: Quá trình khử cực thất và sự hình thành phức bộ QRS
Trang 9Tóm lại, khử cực thất bao gồm 3 làn sóng cao nhọn Q, R, S biến thiên phức tạp nên được gọi là phức bộ QRS (QRS complex).Vì nó có sức điện động tương đối lớn lại biến thiên nhanh trong một thời gian ngắn, chỉ khoảng 0,07s nên còn gọi là phức bộ nhanh Trong phức bộ này sóng chính lớn nhất là sóng
Tái cực có xu hướng đi xuyên qua cơ tim, từ lớp dưới thượng tâm mạc tới lớp dưới nội tâm mạc Sở dĩ tái cực đi ngược chiều với khử cực là vì nó tiến hành đúng vào lúc tim co bóp với cường độ mạnh nhất, làm cho lớp cơ tim dưới nội tâm mạc bị lớp ngoài nén vào mạnh nên tái cực muộn đi Do đó, tuy tiến hành ngược chiều với khử cực, nó vẫn có véctơ tái cực hướng từ trên xuống dướivà từ phải qua trái làm phát sinh làn sóng dương thấp, tầy đầu gọi
là sóng T (Hình1.8)
Hình1.8: Quá trình tái cực và sự hình thành sóng T
Trang 10Sóng T này không đối xứng và còn gọi là sóng chậm vì nó kéo dài 0.2s Sau khi sóng T kết thúc có thể thấy một sóng chậm, nhỏ gọi là sóng
U Đây là giai đoạn muộn của tái cực
Tóm lại, thất đồ chia làm hai đoạn:
- Giai đoạn khử cực gồm phức bộ QRS được gọi là pha đầu
- Giai đoạn tái cực gồm ST và T (cả U nữa) gọi là pha cuối
4.3 Truyền đạt nhĩ thất :
Như trên đã nói, khi sóng P kết thúc là hết nhĩ đồ, khi bắt đầu sóng Q là bắt đầu thất đồ Nhưng nhìn vào điện tim đồ, ta thấy P và Q có một khoảng ngắn đồng điện (gọi là khúc PQ) chứng tỏ ràng sau khi nhĩ khử cực xong rồi, xung đột vẫn chưa truyền đạt xuống tới thất Nhung khúc PQ không thể đại diện cho thời gian truyền đạt từ nhĩ tới thất Vì người ta biết rằng ngay khi nhĩ còn đang khử cực (nghĩa là còn đang ghi sóng P) thì xung động đã bắt vào nút nhĩ-thất và bắt đầu truyền đạt xuống phía thất rồi Do đó, để đạt một mức chính xác cao hơn (tuy rằng không hoàn toàn đúng), người ta thường đo khởi điểm sóng P đến khởi điểm sóng Q (hay khởi điểm sóng R (nếu không có Q) Tức khoảng PQ và gọi là thời gian truyền đạt nhị- thất, bình thường dài từ 0,12s đến 0,20s
Hình1.9: Sự tiếp diễn của các sóng, khoảng và thời kì tâm thu và tâm trương
trên điện tim đồ
Tóm lại,điện tim đồ bình thường của mỗi nhát bóp tim (chu chuyển tim) gồm sáu làn sóng nối tiếp nhau mà người ta dùng sáu chữ cái liên tiếp để đặt tên là: P,Q,R,S,T,U, trong đó người ta phân ra một nhĩ đồ: sóng P; một thất đồ: các sóng Q,R,S,T,U-với thời gian truyền đạt nhĩ-thất: khoảng PQ
Trang 11Với tần số tim bình thường (khoảng 75 nhịp/min), thì sau sóng T (hoặc sóng U);tim sẽ nghỉ đập khoảng 0,28s thể hiện bằng một khoảng thẳng đồng diện (hình1.9) rồi lại tiếp sang lần bóp sau với một loạt sóng P,Q,R,S,T,U
khác và cứ như thế tiếp diễn Thời gian nghỉ trên gọi là thời kỳ tâm trương
toàn thể của tim
5 Hệ thống các chuyển đạo:
Cơ thể con người là một môi trường dẫn điện, vì thế dòng điện do tim phát
ra được truyền đi khắp cơ thể, biến cơ thể thành điện trường của tim Nếu đặt
2 điện cực lên bất cứ điểm nào đó của điện trường này, ta thu được dòng điện thể hiện điện thế giữa hai điểm đó gọi là chuyển đạo hay đạo trình (Lead) Nó thể hiện trên máy ghi bằng một đường cong điện tâm đồ có hình dạng khác nhau tuỳ thuộc vị trí đặt điện cực Do đó cần thiết phải qui chuẩn
vị trí đặt điện cực để đạt được hiệu quả cao nhất
Hiện nay người ta đặt điện cực theo 12 cách thu được 12 chuyển đạo thông dụng gồm 3 chuyển đạo mẫu, 3 chuyển đạo đơn cực các chi và 6 chuyển đạo trước tim Tại mỗi chuyển đạo ta được một dạng sóng điện tim đồ khác nhau
5.1 Chuyển đạo mẫu :
Còn gọi là các chuyển đạo lưỡng cực các chi hay lưỡng cực ngoại biên.Vì
cả hai điện cực của chúng đều là những điện cực thăm dò, được đặt như sau:
- Chuyển đạo I: Điện cực âm ở cổ tay phải, điện cực dương ở cổ tay trái, gọi
đó là chuyển đạo I, viết tắt là D1 (Hình 1.10)
Hình1.10: Sơ đồ mắc các chuyển đạo mẫu Điện cực đặt ở chân phải là
Trang 12- Chuyển đạo II: Điện cực âm ở cổ tay phải, dương ở cổ tay trái, gọi đó là chuyển đạo 2 viết tắt là D2
- Chuyển đạo III: Điện cực âm ở tay trái, điện cực dương ở chân trái., gọi đó
là chuyển đạo 3, viết tắt là D3
5 2 Chuyển đạo đơn cực các chi :
Như trên đã thấy các chuyển đạo mẫu đều có hai điện cực thăm dò để ghi hiệu điện thế giữa hai điểm của điện trường tim Nhưng khi muốn nghiên cứu hiệu điện thế riêng biệt của một điểm thì ta phải biến một cực thành trung tính Muốn vậy người ta nối điện cực đó (điện cực âm) với một điện cực trung tâm gọi là CT (điện cực dương) thì đem đặt các vùng thăm dò
Khi điện cực thăm dò đặt ở chi thì gọi là chuyển đạo đơn cực chi, thường hay đặt điện cực thăm dò ở 3 vi trí sau:
- Cổ tay phải: Ta được chuyển đạo VR (Voltage right) thu được điện áp ở
mé bên phải và đáy tim Trục chuyển đạo là đường thẳng nối tâm điểm (O) ra vai phải (R)
Hình1.11: Cách dấu cực trung tâm CT và mắc một chuyển
đạo đơn cực chi (ở đây là VR)
Trang 13- Cổ tay trái: ta được chuyển đạo VL (voltage left) nó nghgiên cứu điện thế
về phía thất trái Trục chuyển đạo ở đây là đường thẳng OL
- Cổ chân trái: ta được chuyển đạo VF (voltage food) đây là chuyển đạo độc nhất có thể nhìn thấy được thành sau dưới đáy tim Trục chuyển đạo là đường thẳng OF
Sau này, cải tiến thành chuyển đạo cực chi tăng thêm (kí hiệu AVL, AVR, AVF)
Tất cả 6 chuyển đạo I, II, III, AVR, AVL, AVF được gọi là chuyển đạo ngoại biên vì đều có chuyển đạo thăm dò đặt tại các chi Để xem xét một cách đầy đủ về các tín hiệu của tim ta phải ghi thêm các chuyển đạo trước tim
5.3 Chuyển đạo trước tim:
Thường ghi đồng loạt cho bệnh nhân 6 chuyển đạo trước tim thông dụng nhất kí hiệu là V1-V6: đó là các chuyển đạo đơn cực có một điện cực trung tính nối vào cực trung tâm (CT) và một điện cực thăm dò đặt lần lượt trên 6 điểm ở vùng trước tim
V1: Khoảng liên sườn 4 bên phải, sát bờ xương ứu
V2: Khoảng liên sườn 4 bên trái, sát bờ xương ứu
V3: Điểm giữa đường thẳng nối V2 và V4
V4: Giao điểm của đường dọc đi qua điểm giữa xương đòn trái với đường đi qua mỏm tim (hay nếu không xác định được vị trí mỏm tim thì lấy khoảng liên sườn 5 trái)
V5: Giao điểm của đường giao điểm của đường nách trước với đường ngang đi qua V4
V6: Giao điểm của đường nách giữa với đường V4, V5
Như vậy, trục chuyển đạo của chúng sẽ là những đường thẳng hướng từ tâm của tim đến tới điểm cực tương ứng, các trục đó nằm trên các đường thẳng nằm ngang (horixontal plane) hay phần nằm ngang
Trang 14Hình1.12: Vị trí đặt điện cực của các chuyển đạo trước tim
6 Đặc điểm của tín hiệu điện tim:
Về nguồn gốc tín hiệu điện tim đã trình bày ở trên, phần này sẽ trình bày các dặc trưng cơ bản của tín hiệu điện tim:
- Tín hiệu điện tim là tín hiệu có dạng phức tạp với tần số lặp lại khoảng từ 0.05-300Hz Về hình dạng các sóng P, Q, R, S, T, U, V được trình bày ở mục trên Qúa trình tính toán, phân tích, kể cả trường hợp bệnh lí, trường hợp méo tín hiệu, người ta xác định được dải tần tiêu chuẩn bảo đảm thể hiện trung thực tín hiệu điện tim là từ 0.05-100Hz Giới hạn trên để đảm bảo phức bộ QRS không bị méo Giới hạn dưới để đảm bảo trung thực sóng P và T
- ở các máy điện tim hiện đại nghiên cứu trong phòng thí nghiệm tiêu chuẩn này cao hơn từ 0.01-2000Hz
Xét về dải rộng của tín hiệu thì biên độ các sóng P, Q, R, S, T, U rất khác nhau Biên độ các sóng ghi được trong các chuyển đạo mẫu là nhỏ nhất (do điện trường tim ở các chi là yếu nhất) Biên độ các chuyển đạo ở lồng ngực là lớn nhất
Trang 15Toàn bộ các sóng điện tim gồm :
- Chuyển đạo trước tim V1,V2,V2,V4,V5,V6
- Chuyển đạo mẫu I ,II, III
- Chuyển đạo ngoại biên tăng cường aVR, aVL, aVF
Hình1.12: Điện tâm đồ bình thường và các con số chủ yếu
7 Các tín hiệu bệnh tim và một số ví dụ về dạng tín hiệu không bình thường :
a) Thấp tim:
Dấu hiệu chủ yếu: PQ dài ra; ngoài ra còn có thể có QT dài ra, T dẹt, ST chênh, P cao hay dẹt, QRS có móc và có các rối loại nhịp Các dấu hiệu đó
Trang 16có thể chuẩn đoán sớm các ca thấp tim mới phát, tiềm tàng hay không điển hình, nhất là ở trẻ em
Hình13: PQ dài ra trong bệnh thấp tim
b) Tăng gánh thất trái :
Thường gặp trong các bệnh: tăng huyết áp, hở hay hẹp động mạch chủ, hẹp eo động mạch chủ, hở hai lá, ống động mạch, phồng động-tĩnh mạch, thiếu năng vành Với các triệu chứng như:
- Biên độ R cao lên nhiều khi vượt quá 25mm
- Sóng Q hơi sâu nhưng không rộng
- Sóng S vắng mặt hoặc rất nhỏ
- Nhánh nội điện muộn tới trên 0.045s
Trang 17Hình1.14: Các triệu chứng của bệnh tăng gánh thất trái
d) Blốc nhánh trái :
Do một bệnh tim thực thể có dày thất trái: bệnh mạch vành, tăng huyết áp, hẹp hay hở động mạch chủ, bệnh cơ tim…Vì tiên lượng của nó không tốt Với các triệu chứng như:
- Triệu chứng quan trọng nhất không thể thiếu được là QRS tiêu biểu, giãn rộng (>= 0.12s)
- Sóng R giãn rộng có móc ở đỉnh Sóng Q và sóng S biến mất
- Nhánh nội điện muộn quá 0.055s
Trang 18Chương II: GIỚI THIỆU MÁY ĐIỆN TIM ĐÃ ĐƯỢC NGHIÊN CỨU
I Những vấn đề chung của máy điện tim
1.1 Đặc điểm của máy điện tim :
Dòng điện hoạt động của tim là tín hiệu một chiều rất nhỏ biến thiên chậm nên rất dễ bị ảnh hưởng của các nguyên nhân tác động của bên ngoài như điện lưới công cộng, các thiết bị điện khác đặt bên cạnh hoặc các nguồn cảm ứng bên ngoài Mặt khác nó cũng dễ bị tác động của các dòng điện phát sinh từ các cơ quan khác như cơ và da bệnh nhân Nếu việc gắn điện cực lên bệnh nhân không tiếp xúc tốt thì tín hiệu cũng dễ bị sai lệch
Khi có các nguồn nhiễu ở bên ngoài tác động lên các điện cực và sẽ được qua mạch khuyếch đại lên cùng với tín hiệu điện tim Các tín hiệu nhiễu này như là các tín hiệu đồng pha, vì vậy máy điện tim cần có khả năng chống nhiễu tốt, đặc biệt là nhiễu đồng pha
Vì tín hiệu điện tim là tín hiệu một chiều biến thiên chậm, nên việc ghép giữa nguồn tín hiệu đầu vào và mạch khuyếch đại, giữa các tầng khuyếch đại
sẽ không thể ghép điện dung và ghép điện cảm mà phải dùng ghép trực tiếp Nhưng khi ghép trực tiếp, do không có thành phần cách ly một chiều nên khi
có sự thay đổi nào đó như thay đổi về chế độ một chiều, sự thay đổi của nhiệt
độ sẽ làm cho tham số của linh kiện thay đổi sự thay đổi này cũng sẽ được đưa đến đầu ra của máy
Sự thay đổi một cách ngẫu nhiên của tín hiệu khi tín hiệu vào không thay đổi gọi là hiện tượng trôi, hiện tượng trôi do nhiều nguyên nhân gây ra như nhiệt độ nguồn bức xạ bên ngoài tác động vào các linh kiện
Từ các đặc điểm trên máy điện tim phải có các khả năng sau:
- Vì tín hiệu nhỏ nên máy phải có hệ số khuyếch đại lớn
- Trở kháng vào lớn để việc phối hợp trở kháng giữa đầu vào mạch khuyếch đại với nguồn tín hiệu để lấy ra điện áp đủ lớn cấp cho bộ khuyếch đại làm việcvà thu tín hiệu mà không bị ảnh hưởng của sự thay đổi bên ngoài như do các bệnh nhân khác nhau, do tiếp xúc của các điện cực
- Độ méo của các thiết bị phải nhỏ, để tín hiệu thu được chính xác phục vụ cho việc chuẩn đoán bệnh
Trang 19- Khả năng chống nhiễu tốt ,đặc biệt là nhiễu đồng pha
- Có độ ổn định cao và lọc nhiễu tốt để phản ánh trung thực tín hiệu điện tim
- Có độ cách điện tốt để đẩm bảo an toàn điện cho cả người và máy
1.2 Các thông số kỹ thuật cơ bản của máy :
1) Dải thông tần của máy ghi được giới hạn trên và giới hạn dưới, giới hạn dưới đảm bảo cho đường ghi cơ bản (vì loại được các tần số quá thấp) Chỉ tiêu kỹ thuật này cũng có thể biểu diễn bằng hằng số thời gian của mạch ghép tầng Hằng số thời gian càng lớn thì độ méo tín hiệu càng giảm trong khu vực tần số thấp Hạn chế trên là giảm độ méo tín hiệu ở khu vực tần số cao Đôi khi để tránh can nhiễu do nguồn điện gây ra người ta bố trí các bộ lọc phụ cắt các tần số 40/50/60Hz
Để đảm bảo trung thực, các bộ khuyếch đại tín hiệu điện tim cho qua tín hiệu có tần số 0.05- 100Hz Giới hạn dưới của dải tần tương ứng với hằng số thời gian của mạch ghép RC Nếu hằng số thời gian càng lớn càng tốt (xét về
độ trung thực của tín hiệu) song nếu quá lớn thì thời gian phục hồi của bộ khuyếch đại sẽ quá lâu và nó sẽ rơi vào trạng thái bão hoà
2) Hệ số méo phi tuyến :
Độ méo cho phép là 5% Tham số này thể hiện độ chính xác của thiết bị trong quá trình khuyếch đại tín hiệu đối với tần số khác nhau
3) Độ nhậy :
Được xác định trên giấy ghi tín hiệu điện tim bằng chỉ số mm/mV Là khả năng làm lệch đường ghi tính ra mm theo điện áp vào là 1 mV Thường các máy điện tim có một số độ nhậy nhất định và có thể chuyển từ độ nhậy này sang độ nhậy khác(5mm/mV, 10mm/mV )
Trang 20II Thiết bị ghi điện tim hiện đại :
Cùng với sự phát triển của kỹ thuật điện tử, các thiết bị điện tử y tế nói chung và thiết bị ghi điện tim nói riêng ngày càng có thêm nhiều tính năng Việc xử dụng kỹ thuật vi xử lý và ghép nối thiết bị ghi điện tim với mạch điện toán đã nâng cao tính năng và chất lượng của thiết bị ở mức độ bình thường chúng có thể lưu trữ số liệu, so sánh cập nhật và in các số liệu về điện tim cùng tên tuổi bệnh nhân một cách tự động ở mức độ cao hơn nữa là chuẩn đoán bệnh (kết hợp với các khám nghiệm khác) Đồng thời tính an toàn của thiết bị cũng được nâng lên như báo động mất nguồn, dòng dò tăng, điện cực tiếp xúc xấu.Với kích thước gọn nhẹ, giá thành ngày càng hạ, chắc chắn chúng sẽ thâm nhập ngày càng sâu hơn vào các bệnh viện và phòng khám bệnh, không chỉ ở các bệnh viện, trung tâm y tế lớn mà còn ở các tuyến dưới, tương lai có thể đến tận các tuyến cơ sở
Hình 2.1 trình bày sơ đồ khối của một thiết bị ghi điện tim sở dụng vi xử
lý Thiết bị ghi điện tim ghép nối với máy điện toán cũng có sơ đồ như vậy Trong máy điện toán cũng dùng vi xử lý
μP là bộ vi xử lý thực hiện các lệnh toán học, logic và chuyển dữ liệu.RAM là bộ nhớ tạm thời, ROM là bộ nhớ chỉ đọc
CPU
(μP)
Đồng hồ
Lấy mẫu A/D và
ECG
I/O
Hiển thị bàn
phím, máy in I/O
I/O Băng đĩa từ
RAM ROM
điều
ể
Hình 2.1: Sơ đồ khối của thiết bị
ghi điện tim dùng vi xử lý (μP)
Trang 21Vi xử lý và máy điện toán chỉ làm việc với các đại lượng số (đếm được) khác với khái niệm điện tim mà chúng ta đang xét ở trên là đại lượng liên tục (tương tự) Vì thế tín hiệu điện tim trước khi đưa vào vi xử lý hay máy điện toán phải chuyển đổi sang dạng số Thông tin này là dữ liệu về điện tim Cũng không thể lấy quá nhiều dữ liệu Cứ cách một khoảng thời gian nào đó người
ta mới lấy tín hiệu điện tim đưa vào bộ chuyển đổi ra dạng số Bộ chuyển đổi này gọi là bộ chuyển đổi tương tự số (A/D) Khoảng thời gian lặp lại đó gọi là chu kỳ lấy mẫu Tần số lấy mẫu bằng nghịch đảo của chu kỳ lấy mẫu
Ta đã biết rằng phức bộ của sóng điện tim bao gồm sóng P, Q, R, S, T Khoảng cách QRS là hẹp nhất khoảng 0.06 – 0.12 giây, nếu chu kỳ lấy mẫu là 0.005 giây thì trong khoảng QRS lấy được từ 12 đến 24 mẫu đủ để phản ánh nhóm sóng này
Phần trên ta đã trình bày phổ của điện tim là từ 0.05 đến 100 hz, do đó tần
số lấy mẫu tối thiểu là 200 hz Độ chính xác của dữ liệu điện tim còn phụ thuộc vào mức số hoá (mức lượng tử) Với yêu cầu cao người ta có thể chia thành 1000 mức từ 0 đến 999 và để biểu diễn có thể dùng 3 chữ số thập phân
Vi xử lý hay máy điện toán chỉ dùng hai trạng thái có điện (1) hay không có điện (0) trong các phần tử Cách biểu diễn này là biểu diễn nhị phân Mười chữ số có thể biểu diễn từ 0 đến 1023 Tuy nhiên trong một số thiết bị người
ta chỉ cần đến 8 bit để biểu diễn tín hiệu điện tim (0 –255)
Khoảng thời gian giữa hai lần lấy mẫu là 5ms, trong khi vi xử lý thực hiện một lệnh cở μs Điều đó cho thấy giữa hai lần lấy mẫu vi xử lý có thể thực hiện được vài nghìn lệnh, số lệnh này đủ để vi xử lý thực hiện một số lệnh như lưu trữ, hiển thị, quản lý, phím bấm, báo động, nhận dạng, lọc số Nhưng chưa đủ để phân tích phổ kể cả phân tích phổ nhanh FFT
Thiết bị hiển thị ở đây có thể là màn hình chấm điểm (Bit map) hay màn hình x,y (Vector), là các LED Thiết bị lưu trữ như băng đĩa từ.Thiết bị ghi như máy in kim, lazer, máy in nhiệt hay bút ghi nhiệt Trong trường hợp dùng màn hình x, y để hiển thị và bút ghi nhiệt để ghi thì phải có bộ chuyển đổi tương tự số (A/D)
Việc thiết kế hệ điện tim dùng vi xử lý hay máy điện toán ngoài thiết kế phần cứng như mạch điện,còn phải thiết kế phần mềm để vi xử lý thực hiện các chức năng đề ra
Trang 22Ghép nối thiết bị điện tim với máy điện toán đơn giản hơn xây dựng từ vi
xử lý Công việc phần cứng là thiết kế chế tạo phần điện tim và ghép nối Phần ghép nối bao gồm mạch vào/ra, mạch chuyển đổi A/D, D/A (nếu cần) Phần mềm có thể được viết phần lớn bằng ngôn ngữ bậc cao, phần còn lại được viết bằng ngôn ngữ máy
Trang 23ChươngIII: PHƯƠNG PHÁP NHẬN DẠNG HÌNH DÁNG TÍN
HIỆU ĐIỆN TIM
Sau khi phân tích đường cong điện tim đồ, tim ra các dấu hiệu bệnh lý, các bác sĩ chuyên khoa về tim mạch đã tập hợp chúng lại thành những hội chứng điện tim đồ, rồi dựa vào đó mà chuẩn đoán bệnh
Có hai loại hội chứng được xét đến là:
- Các hội chứng về hình dạng sóng: Các bệnh lý làm thay đổi hình dạng điện tim đồ chuẩn
- Các hội chứng về rối loạn nhịp: Các bệnh lý làm thay đổi tần số điện tim đồ chuẩn
Đề tài của luận văn mới chỉ xét tới các bệnh lý làm thay đổi hình dáng của điện tim đồ chuẩn và để giải quyết vấn đề này là bài toán về nhận dạng
I Giới thiệu phương pháp nhận dạng:
Phương pháp nhận dạng tín hiệu được sử dụng để xử lý các thông tin đa chiều khi các thông tin này không thể biểu diễn được dưới dạng biểu thức logic đơn giản hoặc không thể định nghĩa trước
Có hai phương pháp nhận dạng tín hiệu :
1 Phương pháp nhận dạng thống kê: sử dụng lý thuyết quyết định
2 Phương pháp nhận dạng cú pháp hay “ cấu trúc”: nghĩa là chia tín hiệu thành nhiều phần dễ nhận dạng, các phần này liên quan với nhau theo một nguyên tắc cấu trúc định trước
Hai phương pháp trên không tách rời mà bổ trợ cho nhau Trong đồ án này, ứng dụng đồng thời hai phương pháp để phân tích nhận dạng tín hiệu điện
tim
1 Nguyên tắc nhận dạng cú pháp tín hiệu :
Nhận dạng cú pháp tín hiệu dựa trên cơ sở các hệ thống toán học trong đó
có hính dạng của một tập được biểu diễn bằng các phần tử của ngôn ngữ hình
Trang 24thức Quy tắc điều khiển sắp xếp các nguyên hàm tạo thành dạng tín hiệu tuân
theo ngữ pháp sau :
G = (VT, VN, P, S)
Trong đó :
VT – là từ vựng hoặc … biểu diễn câu của ngôn ngữ, thường được biểu
diễn bằng các chữ cái thường (từ: a… z)
VN – là từ vựng hay chữ cái không tận cùng, thường được biểu diễn bằng chữ cái in hoa
P - là tập hợp các quy tắc cấu tạo cho phép xây dựng đầy đủ một
câu từ các chữ cái
S - là định lý của ngữ pháp hay kí hiệu cấu tạo liên quan tới VN
Khi các nguyên hàm của một dạng cho trước được xác định, quá trình
nhận dạng tín hiệu được tiến hành phân tích cú pháp của “ câu “ xem cú pháp
này có được viết đúng theo quy tắc đã được định nghĩa bằng ngữ pháp của
quá trình hay không
2 Áp dụng phương pháp nhận dạng cú pháp vào tín hiệu điện tim :
Khi phân tích tín hiệu ECG, ta nhận thấy rằng đoạn thẳng T – P biểu
diễn đường cách điện giữa hai chu kỳ nhịp và cho chúng ta những thông tin
quan trọng như đoạn PQRST Vì vậy, ta chọn của sổ phân tích tín hiệu bao
trùm tất cả chu kỳ nhịp của tín hiệu ECG, nghĩa là giữa hai đỉnh R-R
Cửa sổ quan sát của một chu kỳ điện tim được chia thành 40 đoạn, cũng
có thể ít hoặc nhiều hơn Nếu ít hơn thì khoảng cách của đoạn cong tín hiệu
được lấy để lấy để tuyến tính hoá lớn lên do đó độ chính xác xẽ nhỏ đi Còn
nếu nhiều hơn thì ngược lại nhưng thời gian thực để xử lý tín hiệu dài ra có
thể sẽ ảnh hưởng đến việc lấy được đầy đủ một chu kỳ của tín hiệu Trong
thực tế của sổ quan sát trên được chia thành 40 đoạn là hợp lý Quá trình nhận
dạng tín hiệu điện tim sẽ được thực hiện trên các từ chia thành 40 ký tự Ở
đây, ta chọn trường hợp đơn giản nhất để làm ví dụ mô tả ý nghĩa của các chữ
cái như sau :
VT = (a, b, c)
Trong đó :
a – biểu diễn đoạn thẳng nằm ngang:
b – biểu diễn đoạn thẳng có góc dương:
c – biểu diễn đoạn thẳng có góc âm:
Trang 25Từ các giá trị thu thập được ta tạo được ngôn ngữ cấu thành bao gồm các
từ có dạng ví dụ như: b c a c b c b a b c a … vv…
Như vâỵ, bước đầu tiên của quá trình nhận dạng, trước khi áp dụng phương pháp nhận dạng cú pháp, ta phải nhận dạng từng đoạn tín hiệu trong cửa sổ quan sát và gán cho nó các chữ cái tương ứng như định nghĩa ở phần trên
Hình3.1: Minh hoạ ngôn ngữ hình thức của tín hiệu điện tim chuẩn
Theo phương pháp bình phương nhỏ nhất, ta có :
Yi – A0 – A1Xi = εi, với i = 1, 2 …n là các sai số tại Xi và :
S = ∑(yi – A0 – A1xi)2 là tổng các bình phương của các sai số
Trong đó, xi, yi đã biết còn S phụ thuộc vào A0 và A1
Mục đích của phương pháp bình phương nhỏ nhất là xác định A0 và A1
sao cho S là bé nhất Dùng phương pháp bình phương nhỏ nhất để xác định góc nghiêng A1 của đoạn thẳng, đem so sánh nhận được với giá trị
Trang 26ngưỡng λ cho trước Từ đó ta có thể phân loại các giá trị góc của đoạn thẳng phân tích theo sơ đồ sau :
- λ < A1 < λ → a
A1 > λ → b
A1 < - λ → c
Ta cần chú ý rằng giá trị ngưỡng chọn sao cho không quá nhạy khi
có nhiễu tác động, nhưng phải đủ lớn để phát hiện những thay đổi của tín hiệu cần phân tích Quá trình xử lý cú pháp được tiến hành sau khi chuyển các tín hiệu thành ký tự của bộ chữ cái VT
Quá trình nhận dạng tín hiệu điện tim có thể tóm tắt như sau:
Từ hình dáng điện tim chuyển thành các đoạn thẳng Để thực hiện, tuyến tính hoá từng đoạn thẳng bằng phương pháp bình phương tối thiểu (chia nhỏ đoạn thẳng, càng nhỏ càng giống) Được các đoạn thẳng với góc nghiêng khác nhau so với nằm ngang, dựa vào nhận dạng cú pháp ta có được dãy chữ phù hợp với sự thay đổi đó
Trang 27PHẦN II THIẾT KẾ CHẾ TẠO THIẾT BỊ
Chương I GIỚI THIỆU BỘ VI XỬ LÝ DSP 56002
VÀ CARD EVM 56002
I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ DSP 56002
Vi xử lý DSP 56002 là một trong những bộ vi xử lý thuộc họ DSP 56K của hãng Motorola được chế tạo theo công nghệ HCMOS Đặc trưng của bộ
vi xử lý này là làm việc với các số liệu 24 bit và có một cấu trúc đặc biệt thuận tiện cho việc thu thập và xử lý tín hiệu Sơ đồ khối thể hiện chức năng chính của DSP 56002 được trình bày ở hình 2-1 gồm có:
- Khối thực hiện kệnh độc lập
- Bộ nhớ chương trình lọc số
- Khối ghép nối với các thiết bị ngoại vi (I/O)
- Các bus truyền thông tin
Ba khối chức năng đầu tiên liên hệ với nhau thông qua các đường dây để truyền tín hiệu gọi chung là bus hệ thống Bus hệ thống bao gồm 3 bus thành phần ứng với các tín hiệu địa chỉ, dữ liệu và điều khiển Ta có Bus địa chỉ, Bus dữ liệu và Bus điều khiển
Khối điều khiển chương trình PCU đóng vai trò chủ đạo trong bộ vi xử lý Đây là một mạch vi điện tử có độ tích hợp cao Khi hoạt động nó đọc mã lệnh dưới dạng các bit 0 và 1 từ bộ nhớ, sau đó giải mã lệnh thành các xung điều khiển ứng với các thao tác trong lệnh điều khiển Các khối khác thực hiện từng bước các thao tác đó
Khối số học và logic ALU thực hiện mọi phép toán học và logic trên các dữ kiện
Khối địa chỉ AGU thực hiện mọi phép toán hạng và lưu trữ trên các địa chỉ toán hạng
Bộ nhớ bán dẫn là một bộ phận khác rất quan trọng của bộ vi xử lý Nó bao gồm bộ nhớ ROM (Read only memory) có thể chứa chương trình điều khiển hoạt động của toàn hệ Bộ nhớ RAM (Random access memory) để
Trang 28chứa dữ liệu cùng các kết quả của chương trình DSP 56002 có 2 bộ nhớ ROM và 3 bộ nhớ RAM
Khối phối ghép vào ra (I/O) tạo ra khả năng giao tiếp giữa bộ vi xử lý với các thiết bị ngoại vi Bộ phận phối ghép cụ thể giữa BUS hệ thống với các thiết bị ngoại vi thường gọi là cổng Vi xử lý DSP có cổng A để mở rộng bộ nhớ, cổng B để giao diện truyền tin song song và cổng C để giao diện truyền tin nối tiếp
BUS địa chỉ có 3 đường 16 bit: XAB, YAB, PAB có khả năng truyền thông tin của các bit địa chỉ theo một chiều Chỉ có PCU mới có khă năng đưa
ra địa chỉ trên BUS địa chỉ
BUS dữ liệu có 4 đường 24 bit: XDB, YDB, PDB và GDB là loại bus hai chiều; nghĩa là dữ liệu có thể được truyền đi từ PCU hoặc truyền đến PCU
Bộ nhớ số liệu Y
Bộ nhớ chương trình
512*24 RAM 64*24 ROM
Bộ nhớ số liệu X
256*24 RAM 256*24 ROM
Bộ phát sinh địa chỉ
Đổi nối bus địa chỉ
Đổi nối bus số liệu
Điều khiển bus
ALU số liệu
24*24+56 56 bit MAC
16 bit
số liệu
24 bit
điều khiể
Trang 29BUS điều khiển có tính một chiều Khi hoạt động PCU đưa tín hiệu điều khiển tới các khối khác trong hệ đồng thời cũng nhận các tín hiệu điều khiển
từ các khối đó để phối hợp hoạt động của toàn hệ
Các đặc trưng chính của DSP 56002 là :
- Có khả năng thực hiện 20 triệu lệnh trong một giây
- Thực hiện lệnh song song theo kiểu pipe line
- Thực hiện song song nhân và cộng 24*24 bit trong một chu kỳ lệnh
- Cho phép tạo ra các vòng lặp DO lồng nhau
1 CỔNG C :
Sau đây giới thiệu về chức năng và hoạt động của cổng C-cổng có vai trò rất quan trọng,vì trong card DSP5600EVM sử dụng cổng C(SSI, SCI) để kết nối với máy tinh (PC) và các thiết bị bên ngoài khác
Cổng C là một cổng vào ra có 9 chân, trong đó 3 chân dùng để vào ra cho mục đích chung hoặc giao dịch thông tin nội tiếp (SCI), còn 6 chân khác dùng cho việc vào ra mục đích chung hoặc giao dịch nội tiếp đồng bộ (SSI) Cổng
C có thể được sử dụng để điều khiển các thiết bị bên ngoài và có thể nối tới các DSP, các bộ xử lý, các bộ CODEC, các bộ biến đổi ADC và DAC
1.1 Chức năng vào/ra mục đích chung của cổng C:
Với chức năng vào/ra mục đích chung, 9 chân vào/ra được điều khiển bởi
3 thanh ghi: thanh ghi điều khiển (PCC), thanh ghi hướng dữ liệu (PCDDR), thanh ghi dữ liệu (PCD) Cả 9 chân đều là các đầu vào, mỗi chân có thể được lập trình riêng biệt như điều khiển của phần mềm Để lựa chọn giữa vào/ra mục đích chung và SCI hay SSI người ta tạo ra các bit của thanh ghi điều khiển một cách thích hợp: giá trị 0 cho vào/ra mục đích chung hoặc giá trị 1 cho giao diện nối tiếp Thanh ghi PCDDR sẽ quy định mỗi chân tương ứng với 1 bit trong thanh ghi PCD sẽ là một đầu vào
(Hình2-2) mô tả 3 thanh ghi của cổng C: thanh ghi (PCC) đặt tại X:$FFE1, thanh ghi (PCDDR) đặt tại X: $FFE3 và thanh ghi (PCD) đặt tại X: $FFE5
Trang 31SCI là một cổng song song để truyền thông tin nối tiếp đến các DSP khác, các bộ vi xử lý hoặc các ngoại vi như bộ modem Thông tin có thể là các tín hiệu mức TTL hoặc với RS 232C, RS422…
Giao diện này sử dụng 3 chân: chân truyền số liệu(TXD), nhận số liệu(RXD) và chân xung nhịp nối tiếp (SCLK)
SCI bao gồm các phần truyền và nhận số liệu riêng biệt không đồng bộ với nhau
a) Các chân vào ra của SCI
SCI Có 3 chân có thể thực hiện vào /ra mục đích chung hoặc như một chân SCI riêng biệt Mỗi chân độc lập với 2 chân kia:
- Chân nhận số liệu (RXD)
- Chân truyền số liệu (TXD)
- Chân xung nhịp nối tiếp (SCLK)
b) Các thanh ghi của SCI
+) Thanh ghi điều khiển của SCI (SCR)Thanh ghi SCR gồm 16 bit có thể điều khiển giao diện số liệu Các bit 0,1 và 2 của SCR gọi là các bit lựa chọn kiểu của số liệu WDS0,WDS1 ,WDS2 Còn các bít khác có các chức năng như qui định chiều truyền số liệu,đánh thức,lựa chọn kiểu truyền;cho phép nhận,truyền,các ngắt đường dây,ngắt nhận,ngắt truyền và qui định các mức ngắt của timer
+) Thanh ghi trạng thái củaSCI (SSR) SSR là một thanh ghi 8 bit chỉ đọc, được sử dụng bởi CPU của DSP để xem xét trạng thái của SCI Khi SSRđược đọc vào bus số liệu bên trong, nội dung của nó chiếm giữ byte thấp của bus số liệu còn tất cả các phần cao hơn của bus đều bằng 0
+) Thanh ghi điều khiển xung nhịp của SCI (SCCR)
SCCR là một thanh ghi 16 bit mà điều khiển việc lựa chọn các chế độ xung nhịp và tốc độ truyền hay nhận của giao diện SCI SCCR bị xoá bởi việc reset phần cứng
+) Các thanh ghi số liệu của SCI: Các thanh ghi số liệu của SCI được chia thành 2 nhóm: truyền và nhận Có 2 thanh ghi nhận: một thanh ghi số liệu nhận được (SRX) và một thanh ghi dịch nhận; cũng có 2 thanh ghi truyền: một thanh ghi số liệu truyền (gọi là STX) và một thanh ghi dịch song song nối tiếp Các từ số liệu được nhận trên chân RXD được dịch vào thanh ghi dịch nhận số liệu Khi một từ trọn vẹn được nhận, phần số liệu của từ đó được chuển vào thanh ghi SRX Việc xử lí này biến đổi số liệu nối tiếp thành số liệu song song
Trang 32Để truyền đi một từ số liệu người lập trình gửi từ số liệu đó vào trong thanh ghi số liệu truyền STX Số liệu sẽ được truyền tự động từ thanh ghi STX vào thanh ghi dịch truyền, sau đó từng bit được chuyển đi qua chân truyền số liệu TXD
1.3.Giao diện nối tiếp đồng bộ SSI
Giao diện nối tiếp đồng bộ (SSI) là một cổng nối tiếp song công (fulldupdex) dùng để trao đổi nối tiếp với nhiều thiết bị, bao gồm 1 hay nhiều
bộ CODEC tiêu chuẩn công nghiệp, các DSP khác, các bộ vi xử lí, và các ngoại vi
Người sử dụng có thể định nghĩa một cách độc lập đặc tính sau của SSI: số bit trong một từ, giao thức (protocol), xung nhịp, và việc đồng bộ hoá truyền/nhận
a) Các chân số liệu và chân điều khiển SSI :
SSI có 3 chân được sử dụng cho việc truyền số liệu (STD), nhận số liệu
(SRD) và xung nhịp nối tiếp (SCK), ở đây SCK có thể được sử dụng bởi cả 2
bộ truyền và bộ nhận khi truyền số liệu đồng bộ hoặc chỉ bởi bộ truyền khi truyền số liệu không đồng bộ Ba chân khác có thể cũng được sử dụng, phụ thuộc vào mode được lựa chọn, chúng là các chân điều khiển nối tiếp SC0, SC1,SC2 Chúng có thể được lập trình như các chân điều khiển SSI trong thanh ghi điều khiển cổng C
+) Chân truyền số liệu nối tiếp(STD)
STD được sử dụng cho việc truyền số liệu từ thanh ghi dịch truyền nối tiếp STD là một đầu ra khi số liệu đang được truyền Số liệu thay đổi trên sườn dương của xung nhịp STD sẽ rơi vào trạng thái tổng trở cao trên sườn
âm của xung nhịp tương ứng với bit số liệu cuối cùng của từ nếu xung nhịp lấy từ bên ngoài Với một xung nhịp được sinh ra ở bên trong, chân STD sẽ ở trạng thái tổng trở cao sau khi bit số liệu cuối cùng vừa được truyền trong trường hợp không còn từ số liệu nào tiếp theo ngay sau đó Nếu có một từ số liệu tiếp theo ngay sau từ số liệu vừa truyền thì sẽ không có trạng thái tổng trở cao của STD
+) Chân nhận số liệu nối tiếp(SRD)
Trang 33SRD nhận số liệu nối tiếp và truyền số liệu đó tới thanh ghi dịch nhận số liệu, SRD có thể lập trình như một chân vào ra cho mục đích chung được gọi
là PC7 Số liệu được lấy mẫu trên sườn âm của xung nhịp
+) Xung nhịp nối tiếp(SCK)
SCK là một chân hai chiều mà cung cấp xung nhịp cho giao diện SSI SCK là một đầu vào hay đầu ra xung nhịp được sử dụng bởi cả hai bộ truyền
và bộ nhận trong các mode đồng bộ hoặc chỉ bởi bộ truyền trong các mode không đồng bộ
+) Chân điều khiển cổng nối tiếp (SC0)
Chức năng của chân này phụ thuộc vào mode đồng bộ hay không bộ Với mode đồng bộ chân này sử dụng cho vào ra cờ nối tiếp.Với mode không đồng
bộ chân này được sử dụng cho việc vào ra xung nhịp nối tiếp Hướng của chân này được quyết định bởi bit SCOD trong thanh ghi điều khiển CRB +)Chân điều khiển nối tiếp SCI
Chức năng của chân này phụ thuộc vào mode là đồng bộ hay không đồng
bộ Với mode đồng bộ chân này là cờ nối tiếp SCI và hoạt động giống như SC0 đã được mô tả ở trên.Với mode không đồng bộ ,chân này là chân vào ra đồng bộ hoá bộ nhận Hướng của chân này được quyết định bởi bit SCD1 trong thanh ghi CRB
+)Chân điều khiển nối tiếp SC2
Chân này được sử dụng cho việc đồng bộ hoá vào /ra.SC2 là chân đồng
bộ hoá cho cả hai bộ truyền và bộ nhận trong mode đồng bộ và chỉ đồng bộ hoá cho bộ phận truyền trong mode không đồng bộ Hướng của chân này được quyết định bởi bit SCD2 trong thanh ghi CRB
b) Các thanh ghi của SSI
+) Thanh ghi điều khiển A (CRA)
CRA là một trong 2 thanh ghi 16 bit của SSI được dùng để điều khiển hoạt động của SSI CRA điều khiển bộ phát xung nhịp, độ dài của từ số liệu, số từ trong một khung số liệu nối tiếp của SSI
+) Thanh ghi điều khiển B (CRB)
CRB điều khiển các chân chức năng SC2, SC1, SC0 của SSI, làm cho các chân này có thể được sử dụng như các đầu vào hay đầu ra xung nhịp, như các chân đồng bộ khoá khung số liệu hoặc như các chân cờ vào ra nối tiếp
+) Thanh ghi trạng thái của SSI (SSISR)
Trang 34SSISR là một thanh ghi trạng thái 8 bit này chỉ được đọc, được sử dụng bởi DSP để thăm dò trạng thái và các cờ vào nối tiếp của SSI
+) Thanh ghi dịch nhận của SSI
Thanh ghi dịch nhận 24 bit này nhận số liệu từ chân nhận số liệu nối tiếp
Số liệu được dịch vào theo hướng các bit có trọng số lớn nhất trước nếu như SHFD bằng 0 hay theo hướng các bit có trọng số nhỏ nếu SHFD bằng 1 số liệu chứa trong thanh ghi này được truyền tới thanh ghi số liệu nhận sau khi 8,
12, 16, 24 bit vừa được dịch vào, phụ thuộc vào các bit điều khiển độ dài trong thanh ghi CRA
+) Thanh ghi số liệu nhận của SSI (RX)
RX là một thanh ghi 24 bit chỉ được đọc Nó nhận số liệu từ thanh ghi dịch nhận DSP sẽ bị ngắt bất cứ khi nào RD đầy nếu như các ngắt tương ứng được cho phép
+) Thanh ghi dịch truyền của SSI
Thanh ghi dịch truyền 24 bit này chứa số liệu đang được truyền đi Số liệu được dịch ra ngoài tới chân truyền số liệu nối tiếp Số liệu các bit được dịch ra ngoài có thể là 8, 12, 16, 24 bit Số liệu được dịch ra theo hướng các bit có trọng số lớn trước nếu như SHFD bằng 0 haycác bit có trọng số nhỏ trước nếu SHFD bằng 1
+) Thanh ghi số liệu truyền của SSI (TX)
Tx là một thanh ghi 24 bit chỉ viết Khi cần truyền số liệu thì người lập trình viết số liệu vào trong thanh ghi này sau đó số liệu tự động truyền tới thanh ghi dịch truyền DSP bị ngắt bất cứ khi nào thanh ghi TX trống rỗng nếu như ngắt tương ứng được cho phép
2 Bộ timer và đếm sự kiện của DSP56002
Kể từ Version thứ hai các bộ phận DSP56002 có thêm bộ timer và bộ đếm
sự kiện Bộ timer có thể sử dụng xung nhịp bên trong hay bên ngoài và có thể làm ngắt bộ xử lý sau khi có một số lượng nhất định các sự kiện bên ngoài hay có thể gửi tín hiệu tới một thiết bị bên ngoài sau khi đếm các sự kiện bên trong
Bộ timer nối tới các thiết bị bên ngoài qua hai chân hai chiều do TIO Khi TIO là một đầu vào thì chức năng đếm các sự kiện bên ngoài được sử dụng Khi TIO là một đầu ra thì nó có tác dụng đưa tín hiệu ra bên ngoài sau những
Trang 35khoảng thời gian nhất định Khi không được sử dụng cho bộ timer thì TIO có thể được sử dụng như một chân vào/ra mục đích chung
+) Cấu trúc bộ timer và đếm sự kiện
Hình (2-3) là sơ đồ khối của timer và đếm sự kiện Nó bao gồm một thanh ghi điều khiển/ trạng thái 24 bit có thể đọc/viết (TDSR), một thanh ghi đếm (TCR) 24 bit đọc/viết, một bộ đếm 24 bit và một mạch lôgic cho việc phát sinh ngắt và lựa chọn xung nhịp
+) Thanh ghi đếm (TCR) của timer
Thanh ghi TSR chứa giá trị (được xác định bởi chương trình của người sử dụng) được nạp vào bộ đếm khi bộ timer được phép hoạt động (TE=1) hoặc khi bộ đếm vừa giảm đến 0 và một sự kiện mới xuất hiện Nếu TCR được nạp với giá trị n bộ đếm sẽ được nạp lại sau (n+1) sự kiện Nếu bộ timer bị cấm hoạt động (TE=0) và chương trình viết lên TCR thì giá trị viết lên TCR vẫn được giữ ở đó nhưng không xuất hiện được nạp vào bộ đệm cho đến khi bộ timer được phép hoạt động
+) Thanh thái (TCSR) của timer
Thanh ghi TCSR dùng để điều khiển bộ timer đồng thời ghi lại trạng thái của nó Sau đây mô tả từng bit cụ thể của thanh ghi này
Trang 36Bit 0 (TE) của TCSR gọi là bit cho phép timer hoạt động Khi ta đặt TE=1 thì bộ timer được phép hoạt động và được nạp với giá trị chứa trong thanh ghi Khi xoá bit TE thì bộ timer không hoạt động Việc reset phần cứng hay phần mềm sẽ xoá bit TE
Bit 1 (TIE) của TCSR gọi là cho phép ngắt timer Khi TIE=1 thì các ngắt timer sẽ xuất hiện sau khi bộ đếm giảm xuống tới 0 và một sự kiện mới xuất hiện Khi TIE =0 thì ngắt timer bị cấm Việc reset phần cứng hay phần mềm
sẽ xoá TIE
3 Giới thiệu về tập lệnh và các trạng thái của bộ vi xử lý DSP 56002
3.1 Quá trình thực hiện:
Quá trình thực hiện thông tin của DSP 56002qua 3 giai đoạn pipeline
cho phép thực hiện trong một chu kỳ lệnh Được thực hiện bằng ngôn ngữ assembler hoặc các ngôn ngữ bậc cao khác nhưng yêu cầu phải có chương trình dịch
Chế độ chương trình chỉ ra ở hình 2 - 4 của bộ VXL DSP 56002 bao gồm
3 khối chức năng hoạt động song song đó là khối số học và logic (ALU), khối phát địa chỉ chương trình (AGU) và khối điều khiển chương trình (CPU)
Trang 373.2 Cấu trúc hệ lệnh của DSP 560002
Đặc tính của hệ lệnh theo kiểu Mnemonic (Gợi nhớ) như Wait ,Stop vv
Đơn vị logic và số học (Data ALU) các thanh ghi dữ liệu vào
Khối điều khiển chương trình(PCU)
Thanh ghi lặp địa chỉ(LA) Thanh ghi đếm lặp(LC)
Hệ thống stack
Trang 38- Cú pháp lệnh của DSP được chia thành 4 phần
Lệnh phải được thực hiện từ trái sang phải trong cùng một chu kỳ lệnh Một số đặc điểm của DSP là cho phép thực hiện các dịch chuyển song song nhưng phải theo nguyên tắc dịch chuyển song song là có thể chung nguồn nhưng không chung điểm tới
+ Nhóm lệnh điều khiển chương trình: DEBUG,JMP
II Giới thiệu cấu trúc phần cứng của Card DSP 56002EVM :
Cấu trúc phần cứng bao gồm: Card DSP 56002EVM được ghép nối với máy tính thông qua cổng RS232
Tín hiệu tương tự được đưa vào qua hai bộ biến đổi A/D để biến tín hiệu ở dạng số, sau đó đưa vào DSP nhờ cổng truyền tin nối tiếp SSI để xử lý Sau khi xử lý tín hiệu, bộ vi xử lý DSP56002 sẽ đưa tín hiệu ra cổng SSI đến bộ biến đổi D/A để biến thành tín hiệu tương tự ở đầu ra hệ thống
- Trên card có một vị trí dành cho bộ nhớ EFPROM của người sử dụng
- Việc ghép nối giữa máy tính và card DSP56002EVM được thực hiện thông qua cổng RS232
Trang 39- Trong đó ta thấy các bus địa chỉ và dữ liệu cổng A của DSP56002 được nối thông qua J2 và J4 để mở rộng bộ nhớ với bộ nhớ RAM bên ngoài (FSRAM 32*8)
Tín hiệu để chọn một bộ nhớ hay cả ba là được quyết định bởi tổ hợp tín hiệu
WR, RD và DAB15 Ngoài ra trên card cũng có vị trí cho EFPROM của người sử dụng để nạp chương trình từ bộ nhớ EFPROM nếu muốn
- Các chân NMI, IRQA, IRQB của DSP được nối thông qua bộ chuyển mạch 74HC157AD để điều khiển các ngắt từ bên ngoài tác động vào hay thiết lập các quá trình đợi của DSP
- Các bus điều khiển của cổng A được nối thông qua J11 (Bus-control) để đối thoại với các thiết bị bên ngoài
- 15 chân của cổng B được nối thông qua J7 để cho phép thiết bị ngoại vi đối thoại với DSP
- 9 chân của cổng C được nối thông qua J10 (Port C) cho phép sử dụng cho vào ra mục đích chung hoặc giao dịch nối tiếp đồng bộ hay không đồng bộ
Các chân này được sử dụng để đIều khiển thiết bị bên ngoài như Codec, các bộ biến đổi ADC và DAC Các chân TX, RX của SCI được nối với bộ biến đổi đIện áp MAX232CSE để biến đổi tín hiệu tương tự từ 5V đến 12V cung cấp cho RS232 thông qua J8 (DCE/DTE) tới OnCE và Terminal
- Nguồn cung cấp cho card EVM56002 được lấy từ nguồn điện 220V AC qua J1 (Power connector) tới cuộn biến áp thành 7-9V AC hoặc DC và được đưa qua bộ chỉnh lưu cầu đưa tới bộ biến đổi điện áp MC7805 để biến đổi thành điện áp 5V cung cấp cho DSP56002 và CS4215
2.2.2 Vi mạch mã hoá và giải mã 4215
CS4215 là một chíp đơn, CMOS có hai kênh biến đổi A/D 16 bit và hai kênh biến đổi D/A 16 bit CS4215 có các đặc tính sau đây:
Trang 40IN HDPHNE OUT
HOST OnCE
Hình 2-5 Sơ đồ cấu trúc card DSP
Được nối với cổng nối tiếp của PC