1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tây Tiến

19 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 6,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lời thơ như cất lên tiếng hát về kỷ niệm với Tây Tiến và Tây Bắc của ông, đó là tiếng hát của một nỗi nhớ“chơi vơi” với sông núi, với đồng đội bộc lộ sự cồn cào, da diết, cháy bỏng đã g

Trang 1

Tác gi ả Quang Dũng

Tổ: “ 3+4 ”

12A3

Trang 2

1)Tác Giả Giả:Họ tên: Quang Dũng, Bùi Đình

Diệm(ks).

Năm sinh-mất: 1921-1986.

Quê quán: Hà Tây(Hà Nội).

Cuộc đời: Ông tham gia quân đội sau

CMT8, 1954 về sau ông là biên tập viên NXB Văn học, 2001 được trao tặng giải thưởng nhà nước về văn học nghệ

thuật.

Văn nghệ: Là nghệ sĩ đa tài, thơ ông

mang tâm hồn phóng khoáng lãng mạng và tài hoa, có sự đan xen hài hòa giữa thơ ca trong và ngoài nước.

Tác phẩm chính:Mây đầu ô(1968), Thơ văn Q.Dũng(1983)

Trang 3

2)Và về đoàn quân Tây Tiến

2)Và về đoàn quân Tây Tiến:

• Trung đoàn 52 Tây Tiến, thường gọi là

Trung đoàn Tây Tiến, là một trung đoàn của QĐNDVN trong Kháng Chiến “9 năm”

• Trung đoàn được thành lập ngày 27 tháng

2 năm 1947 Binh sĩ bao gồm các chiến sĩ giải phóng quân từ Việt Bắc về Hà Nội

chuyển thành Vệ quốc quân, tự vệ chiến đấu, công nhân, nông dân, trí thức, dân

nghèo thành thị, các nhà sư, cựu binh

trong quân đội thuộc địa Pháp, người dân tộc tự nguyện tham gia Mặt trậnViệt Minh

• Với nhiệm vụ đánh tiêu hao và giam chân

Pháp tại thượng Lào và Tây Bắc, họ đã trải qua vô vàng khó khăn nhưng vẫn anh dũng chiến đấu ghi nên những dấu son cho buổi đầu “9 năm”.

• Sau 1948 Q.Dũng rời đơn vị này chẳng bao

lâu sau ông viết bài thơ tại làng Phù Lưu Chanh(Hà Đông) Ban đầu bài thơ có tên là

“Nhớ Tây Tiến”, khi in ông đổi lại

thành“Tây Tiến”

Trang 4

3)Bài thơ

3)Bài thơ :

• Bài thơ Tây Tiến –

viết năm 1948

• Tất cả có 34 câu các bạn có thể tham khảo sách giáo khoa và các

tư liệu.

• Bài thơ cũng đã được phổ nhạc bởi nhạc sĩ Phạm Duy và sau đây mời các bạn lắng

nghe bài hát:

Trang 5

3)Bài thơ

3)Bài thơ :

• Bố cục ta chia làm 4 phần:

1 Câu 1-14: Nỗi nhớ của Quang Dũng về những ngày hành quân gian khổ.

2 Câu 15-22: Nhớ kỷ niệm tình dân quân Tây Bắc.

3 Câu 23-30:Hình ảnh người chiến sĩ Tây Tiến.

4 Câu 31-34: Tinh thần của đòan quân.

Trang 6

4)Phân tích bài thơ :

•Đoạn 1(câu 1-14):

•Quang Dũng(QD) đang kể cho chúng ta nghe về chuyện dọc đường, dọc

đường quân hành Lời thơ như cất lên tiếng hát về kỷ niệm với Tây Tiến

và Tây Bắc của ông, đó là tiếng hát của một nỗi nhớ“chơi vơi” với sông núi, với đồng đội bộc lộ sự cồn cào, da diết, cháy bỏng đã giáng vào từng câu chữ đầu tiên(4 câu đầu).Gợi cho người đọc một cảm xúc xao xuyến cho dù ta từng “trường chinh vạn dặm” cùng các chiến sĩ năm xưa hay

không

•Sử dụng ngôn từ đặc biệt, kết hợp điệp từ “ơi” và từ láy làm gợi cảm xúc tha thiết

Trang 7

4)Phân tích bài thơ :

Từ nỗi nhớ bao la, tràn ngập (Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi), dẫn đến

nỗi nhớ cụ thể với từng cảnh vật, con người Tây Bắc”Sài Khao sương

lấp đoàn quân mỏi / Mường Lát hoa về trong đêm hơi; Anh bạn dãi

dầu không bước nữa / Gục lên súng mũ bỏ quên đời!”.

• Đúng là trẻ Vui

đùa với hình ảnh:”súng ngửi trời” như nói lên cái lạc quan yêu đời và tinh

nghịch của các anh vẫn luôn có mặc dù có mệt mỏi gian khổ đến đâu.

Với 4 câu kế là hình

ảnh về cuộc hành

quân gian khổ muôn

trùng Điệp từ “dốc,

ngàn thước” kết hợp

với các từ láy(chơi

vơi,ơi,…) và phương

pháp liệt kê tên một

loạt cái địa danh(Sài

Khao, Mường Lát )

theo từng cung bậc

khác nhau làm hiện ra

một con đường trùng

điệp hiểm trở như vây

lấy chân người lính trẻ

/đoàn quân mỏi/.

Trang 8

4)Phân tích bài thơ :

• Những người trai đi trong gió sương đã dọc theo sông Mã từ Việt qua

Lào, rồi từ Lào sang Việt, rồi tay súng phải cầm chắc ngăn thù Thiên

nhiên khắc nghiệt, quân thù bủa vây, dã thú chực chờ đêm đêm làm cho các anh “gục lên súng mũ” mà bỏ lại cuộc đời trai trẻ Sự ra đi của người lính trẻ được QD thay bằng hình ảnh “bỏ quên đời” làm giảm đi phần

nàosự đau thương mất mát

Đây Lý, Lê, Trần 4000 năm

chưa một lần khuất phục ngoại

xâm…thì nay có gì có thể khuất

phục được các anh.”

• Không chỉ có gian nan khó nhọc, QD còn

nhớcả những buổi quây quần cơm lính, hay

nắm xôi của em gái Tây Bắc trao cho là

những tia nắng vui mai reo trên vạn nẻo

đường hay là cơn gió mang thêm hương

thơm tận ngàn hương trên đường quân

hành cũng làm các anh vơi đi sự nhọc nhằn

của “Nghiệp lính”

Trang 9

“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

“Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”

“Cọp trêu người”

Trang 10

4)Phân tích bài thơ :

• Đoạn 2(câu 15-22): QD đã phác họa

cho chúng ta về một tình dân quân đậm đà của xứ Tây Bắc.

• Đó là xứ sở hùng vĩ và mỹ lệ Nhớ

lại những lúc “Lửa rừng đêm” bập bùng tỏa sáng khi doanh trại liên hoan vui vầy giữa núi rùng thơ

mộng cùng các cô em miền sơn

cước xinh tươi e thẹn chỉ đưa mắt gửi tình cùng các anh Cô thôn nữ Tây Bắc duyên dáng trên chiếc

thuyền độc mộc trôi trên dòng nước

lũ cùng với những cánh hoa đong đưa Hình ảnh, cảnh vật, con người thơ mộng mềm mại huyền ảo làm ai khi rời xa cũng quyến luyến, nhớ nhung.

/Nhịp thơ bắt đầu nhanh dần tạo cho

ta một cảm giác vui tươi khoang

Trang 11

“Có nhớ dáng người trên độc mộc”

“Có thấy hồn lau nẻo bến bờ” Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

“Kìa em xiêm áo tự bao giờ”

Trang 12

4)Phân tích bài thơ :

• Đoạn 3(câu 23-30) là đoạn làm nên sự nổi tiếng của cả bài thơ:

Nếu trong miền Nam có “307” làm Cửu Long sóng trào nước xoáy hay “Bình Xuyên” nức tiếng giang hồ Nam Bộ, thì ngoài đất Bắc có Tây Tiến, có những người anh “không mọc tóc” Cái nét chỉ duy Tây Tiến mới có(“anh vệ trọc đầu”), đó không chỉ là biểu tượng cho sự khó khăn gian khổ mà còn là cho sự đồng lòng “năm tháng

kề nhau chia bao khổ đau” buổi binh biến

/Nhịp thơ dứt khoát, “hình ảnh lạ”xuất hiện đầy cảm xúc khi kể về người lính./

• Bệnh tật, thiếu thốn khiến

da dẻ xanh xao ốm yếu

nhưng dáng hiên ngang của

người trai Hà Nội đã được

hòa quyện với màu xanh

nơi rừng thiêng, biến các

anh thành những con Mãnh

hổ chiến dũng của Vệ quốc

đoàn Tây Tiến khiến quân

thù phải khiếp sợ và kính

phục các anh.

Trang 13

• Người trai mang “nghiệp lính” của Tây Tiến ít nhiều cũng đã có một

tình yêu Là lúc quê hương trong khói lửa mùa chinh chiến, đành quên tình yêu riêng mà xông pha chiến tuyến Trái tim của các anh vẫn hào hoa phong nhã và lãng mạng, vẫn lưu luyến gì hơn khi xa cố hương, vẫn nhớ về em gái Hà Nội hôm nào biệt ly.

4)Phân tích bài thơ :

• Hình ảnh anh lính bên kia biên cương

gửi mộng cho người con gái Hà Nội

dáng yêu kiều làm câu thơ trở nên nhẹ

nhàng tươi tắn hơn, đồng thời cho ta

thấy chất lãng mạn của “tình lính” xa

quê:

“…Ngày về phép, em hẹn anh dạo phố

Tay chinh nhân,đan năm ngón tay mềm

Em xót xa đời anh nhiều đau khổ

Anh chỉ cười và nói,”Lính mà em”….”

(Sưu tầm)

Trang 14

4)Phân tích bài thơ :

gác lại, vì ngày mai đây các anh có thể trở thành sẽ trở thành nấm mồ nơi biên thùy

của người lính và sự thật mất mát trong chiến tranh, đó là cái chết và sự

hy sinh anh dũng Đây là một trong những điểm đặc biệt làm nên sự khác biệt của Tây Tiến so với những bài thơ đương thời viết về người chiến sĩ

tăng thêm tính chất của sự đau

thương

Trang 15

4)Phân tích bài thơ :

• Ngại gì gian khó những “đôi môi thắm

duyên” Tây Tiến đã đáp lời sông núi, khi đất nước lâm nguy thì xương máu này các anh nguyện hiến dâng, chẳng

nề chi tuổi trẻ tươi đẹp, vì các anh biết

đó là Tổ Quốc, là trách nhiệm và là

danh dự của người chinh chiến nước Nam

• Người trai Vệ quốc quân nói chung và

Tây Tiến nói riêng một lòng quyết bảo

vệ giang san thề chết cho quê hương, lớp lớp các anh ra đi bảo vệ từng tấc đất, từng cây cỏ, từng con đường, từng

bờ biển quê hương Việt Nam.

• Đó chính là những người chiến dũng

Tây Tiến, những nguồn thơ “vô song”, những người anh mang tình yêu

thương mênh mông hào hoa lãng mạn

và cũng rất dỗi hào hùng hiên ngang bất khuất của Tổ quốc.

/Giọng thơ mạnh không kéo dài, thể hiện sức mạnh và ý chí của đoàn quân./

Trang 16

Các anh chiến đấu anh dũng thì sẽ có những người anh nằm xuống khi chiến địa đã tàn, đồng đội đôi khi chỉ có thể tiễn đưa anh bằng mảnh

chiếu hay có lúc chính bằng tấm chiến phục của các anh mà gói lại đưa anh về với đất QD đã nâng lên cái trang trọng hơn với hình ảnh chiếc

“áo bào” cũng phần nào bớt đi cái mỏi mệt của người ra đi và kẻ ở lại

4)Phân tích bài thơ :

• Khúc “độc hành” của

dòng sông đã trở thành một khúc hát chiêu hồn tử sĩ cho người anh hùng nằm xuống và cùng với đất mẹ ôm anh đưa

về cội nguồn Có lẽ khi anh đã thành nấm mồ vô danh nơi viễn xứ thì cũng

phần nào yên lòng về với đất thiêng.

• Đồng đội anh

phải bước đi tiếp

tục xông pha nơi

chiến tuyến,

đành để anh lại

với đất, với con

sông Mã oai

hùng QD đã đưa

con sông sống

dậy và trở thành

chứng nhân lịch

sử cho sự mất

Trang 17

Đoạn 4(câu 31-34)

Nhịp điệu chậm kéo dài và mang dư âm(Tây tiến/người đi/không hẹn

ước…), cho ta thấy một sự tiếc nối thời đã qua trong thâm tâm của QD

4)Phân tích bài thơ :

đoàn quân vệ quốc này đều có chung Đó là một lời thề ra đi không hẹn ngày về, là quyết vì quê nhà, vì sông núi, là :

Trang 18

• Kết ý chung bài thơ:

ảnh đặc biệt khác với thơ ca cùng thời

nghệ thuật trong thơ và ngôn ngữ giàu chất tạo hình( từ láy,âm tiết…) làm bài thơ vừa có chất nhạc lẫn chất họa cho ta thấy cái tài tình của QD trong nghệ thuật thơ ca đương thời

bi tráng,bằng ngòi tài năng QD đã khắc họa thành công hình tượng

người lính Tây Tiến trên nền cảnh thiên nhiên núi rừng miền Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội và mỹ lệ Hình ảnh người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp

phong nhã, hào hoa mà hào hùng, anh dũng của một thời máu lửa sẽ còn có sức hấp dẫn lâu dài với người đọc(trích NDBH)

4)Phân tích bài thơ :

Trang 19

Chân thành cảm ơn cô và các bạn đã

5) Thành viên thực hiện:

Thiết kế:

Đặng

Nguyễn

Anh Huy

Thuyết trình:

Nguyễn Quốc

Hùng

Ngày đăng: 21/12/2015, 04:34

Xem thêm

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w