1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

ÔN NGỮ VĂN 9

95 650 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 878 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Ghi rõ các từ ngữ biểu hiện các phép tu từ đó - Tác dụng của các phép tu từ, từ loại, cách hiệp vần trong các câu thơ đó là gì đối với cảnh, nhân vật trữ tình và với toàn bộ bài thơ v

Trang 1

CÁCH LÀM BÀI THI VÀO LỚP 10 THPT MÔN NGỮ VĂN

* Cấu tạo đề thi và cách làm bài:

Phần tự luận thường có từ 3 đến 4 câu liên quan tới các kiến thức về Tiếng Việt, Tập làm văn và Tác phẩm văn học

Câu 1: Thường là chép thuộc lòng một đoạn thơ, một bài thơ đã học trong chương trình

hoặc yêu cầu tóm tắt tiểu sử tác giả hoặc tóm tắt nội dung tác phẩm văn xuôi

Khi làm dạng bài tập này, các em phải cần chú ý những điểm sau:

1.1 Với câu hỏi yêu cầu chép thuộc lòng:

- Bình tĩnh hình dung nhớ lại tên bài thơ

- Xác định xem bài thơ đó của tác giả nào; đoạn thơ đó thuộc bài thơ nào? Câu thơ đầu của đoạn đó là câu gì? Bài thơ hoặc đoạn thơ đó viết theo thể thơ gì? để khi chép lại trình bày theo đúng cách trình bày của khổ thơ

- Chép nháp

- Đọc lại

- Kiểm tra chính tả, dấu câu, ở bản nháp

- Viết vào bài làm

Ví dụ 1: Hãy chép thuộc lòng 4 câu thơ đầu của bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận.Với câu hỏi này các em phải làm đảm bảo yêu cầu sau:

- Đây là đoạn đầu tiên của bài thơ “ Đoàn thuyền đánh cá” của tác giả Huy Cận vì vậy

ta phải chép như sau mới đảm bảo:

“Mặt trời xuống biển như hòn lửaSóng đã cài then đêm sập cửaĐoàn thuyền đánh cá lại ra khơiCâu hát căng buồm cùng gió khơi”…

( Đoàn thuyền đánh cá-Huy Cận)

Ví dụ 2: Hãy chép thuộc lòng 4 câu thơ miêu tả Thuý Vân trong đoạn “ Chị em Thuý Kiều” của Nguyễn Du

- Ta khẳng định đây là đoạn thơ nằm ở giữa đoạn thơ “Chị em Thuý Kiều” của Nguyễn Du

Vì vậy ta phải chép lại đoạn thơ đó như sau:

… “ Vân xem trang trọng khác vời Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang

Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”…

(Chị em Thuý Kiều-Truyện Kiều-Nguyễn Du)

Ví dụ 3: Hãy chép thuộc lòng 6 câu thơ cuối trong bài thơ tiếng gà trưa của nhà thơ Xuân Quỳnh

Trang 2

- Ta khẳng định đây là đoạn cuối cùng của bài thơ tiếng gà trưa vì vậy ta phải chép như sau:

“Cháu chiến đấu hôm nay

(Tiếng gà trưa - Xuân Quỳnh)

1.2 Với câu hỏi thuộc dạng tóm tắt tiểu sử tác giả hoặc tóm tắt nội dung tác phẩm văn xuôi

Khi làm các câu hỏi thuộc dạng này các em cần viết thành một đoạn văn hoàn chỉnh, có câu chủ đề và các ý triển khai

Về tiểu sử tác giả nên theo các bước sau:

-Tên thật, tên hiệu, tên chữ, các bút danh khác (nếu có)

-Năm sinh, năm mất (nếu có)

-Khái quát sự nghiệp văn chương theo từng chặng

-Khái quát phong cách nghệ thuật độc đáo hoặc nét riêng đặc sắc

-Các tác phẩm chính (kể tên ít nhất 2 tác phẩm)

Ví dụ: Tóm tắt tiểu sử nhà thơ Chế Lan Viên

Chế Lan Viên (1920-1989) tên thật là Phan Ngọc Hoan, quê ở huyện Cam Lộ, tỉnh

Quảng Trị nhưng lớn lên ở Bình Định

Trước Cách mạng tháng Tám 1945, Chế Lan Viên đã nổi tiếng trong phong trào Thơ mới với một hồn thơ “kỳ dị” (Hoài Thanh)

Sau Cách mạng ông tiếp tục có nhiều tìm tòi sáng tạo, trở thành một trong những tên tuổi hàng đầu của nền thơ Việt Nam thế kỷ XX

Thơ Chế Lan Viên mang tính trí tuệ và triết lý sâu sắc

Năm 1996, ông được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật

Các tập thơ chính: Điêu tàn (1937), Hoa ngày thường – Chim báo bão (1967)…

Lưu ý, khi làm bài, nếu không nhớ tác giả quê ở huyện, xã nào thì chỉ viết tên tỉnh cũng được Đối với bài tập yêu cầu tóm tắt tác phẩm văn xuôi, các em nên tóm tắt theo nhân vật chính với các chi tiết quan trọng (tránh sa vào những chi tiết vụn vặt, tản mạn)

Ví dụ, nhân vật kể chuyện trong Chiếc lược ngà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng là ông Ba nhưng khi tóm tắt nên theo nhân vật chính là anh Sáu, cha bé Thu

Câu 2 Có 2 dạng:

2.1 Thường yêu cầu viết một đoạn văn từ 8-10 câu theo một trong các phương pháp viết đoạn văn (diễn dịch, quy nạp…), bình luận về một câu nói, trong đó có thành phần biệt lập, khởi ngữ hoặc sử dụng phép liên kết đã học.

Khi làm những dạng bài tập này các em nên tập trung viết đoạn văn hoàn chỉnh trước rồi sau đó thêm thành phần biệt lập, khởi ngữ hoặc phép liên kết sau

Trang 3

Khi đã hoàn thành, một yêu cầu bắt buộc là các em phải chỉ ra cụ thể, đâu là câu chủ đề, đâu là các thành phần mà đề tài yêu cầu.

Đề bài thường ra những câu tục ngữ hoặc danh ngôn mang tính triết lý như “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”, “ Không thầy đố mày làm nên”, “Không có việc gì khó – Chỉ sợ lòng không bền – Đào núi và lấp biển – Quyết chí ắt làm nên”…

Khi bình luận những câu như vậy, các em nên theo các bước sau:

-Giới thiệu câu tục ngữ, danh ngôn (trích nguyên văn)

-Giải thích

-Đánh giá đúng sai

-Bình luận mở rộng: liên hệ thực tế, liên hệ bản thân…

-Rút ra ý nghĩa của câu danh ngôn, tục ngữ

Ví dụ: Viết một đoạn văn ngắn (8-10 câu) nêu suy nghĩ của em về lời dạy của Bác Hồ: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời” Trong đó có 2 thành phần biệt lập, 1 phép liên kết đã học

Bài làm:

Hồ Chủ Tịch, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, đã để lại nhiều câu nói nổi tiếng có giá trị như những lời răn dạy Có lẽ không ai là không biết câu: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời” Học hỏi có nghĩa là tiếp thu tri thức mà nhân loại từ sách vở, từ cuộc sống, từ những người xung quanh ta Học hỏi là một quá trình lâu dài chứ không thể trong một thời gian ngắn bởi vậy Bác Hồ nói đó là việc phải tiếp tục suốt đời, không ngừng nghỉ, không mệt mỏi Tri thức nhân loại thì vô tận và mỗi giây mỗi phút trôi qua là bao tri thức mới được ra đời Nếu không liên tục học hỏi thì chúng ta sẽ nhanh chóng bị lạc hậu Học phải đi đôi với hỏi để hiểu sâu sắc kiến thức, biến tri thức thành của mình chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động Câu nói của Bác ra đời đã lâu nhưng đến nay vẫn còn nguyên giá trị Mỗi người Việt Nam phải học theo lời dạy của Người để không ngừng tiến bộ Và bản thân Hồ Chủ Tịch cũng là tấm gương sáng ngời của một con người suốt đời học hỏi

Sau đó phải ghi rõ:

vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam: là thành phần biệt lập, thành phần phụ chú

- Ghi ra nháp các tín hiệu nghệ thuật sử dụng trong các câu thơ đó, xác định xem phép tu

từ hoặc từ loại nào là chủ công làm toát lên nội dung của đoạn thơ đó

- Ghi rõ các từ ngữ biểu hiện các phép tu từ đó

- Tác dụng của các phép tu từ, từ loại, cách hiệp vần trong các câu thơ đó là gì đối với cảnh, nhân vật trữ tình và với toàn bộ bài thơ và trong việc thể hiện cảm xúc của tác giả

Trang 4

- Đọc lại nháp nếu thấy yên tâm và tin tưởng thì chép vào bài làm Còn nếu chưa yên tâm thì tạm dừng ở mức làm nháp chuyển sang làm các phần tiếp theo và sẽ làm tiếp sau khi đã hoàn thành các phần khác của bài làm.

VÍ DỤ: Nêu tác dụng của việc sử dụng từ láy trong những câu thơ sau:

Nao nao dòng nước uốn quanh,Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang

Sè sè nấm đất bên đường,Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh

Chúng ta phải làm như sau:

-Đây là 4 câu thơ trong đoạn “Cảnh ngày xuân” trích truyện Kiều của Nguyễn Du 4 câu thơ đã sử dụng các từ láy như: nao nao, nho nhỏ, sè sè, rầu rầu trong đó các từ láy “nao nao, rầu rầu” là các từ láy góp phần quan trọng tạo nên sắc thái cảnh vật và tâm trạng con người

- Việc sử dụng từ láy đó có tác dụng trong đoạn thơ, cụ thể là:

+ Các từ láy nao nao, rầu rầu là những từ láy vốn thường được dùng để diễn tả tâm trạng con người

+ Trong đoạn thơ, các từ láy nao nao, rầu rầu chẳng những biểu đạt được sắc thái cảnh vật (từ nao nao: góp phần diễn tả bức tranh mùa xuân thanh nhẹ với dòng nước lững lờ trôi xuôi trong bóng chiều tà; từ rầu rầu: gợi sự ảm đạm, màu sắc úa tàn của cỏ trên nấm mộ Đạm Tiên) mà còn biểu lộ rõ nét tâm trạng con người (từ nao nao: thể hiện tâm trạng bâng khuâng, luyến tiếc, xao xuyến về một buổi du xuân, sự linh cảm về những điều sắp xảy ra - Kiều sẽ gặp nấm mộ Đạm Tiên, gặp Kim Trọng; từ rầu rầu: thể hiện nét buồn, sự thương cảm của Kiều khi đứng trước nấm mồ vô chủ)

+ Được đảo lên đầu câu thơ, các từ láy trên có tác dụng nhấn mạnh tâm trạng con người - dụng ý của nhà thơ Các từ láy nao nao, rầu rầu đã làm bật lên nghệ thuật tả cảnh đặc sắc trong đoạn thơ: cảnh vật được miêu tả qua tâm trạng con người, nhuốm màu sắc tâm trạng con người

Câu 3 (5 điểm): Thường yêu cầu phân tích thơ hoặc phân tích nhân vật trong tác phẩm văn

xuôi

Yêu cầu bắt buộc là trước khi thi, các em phải đọc kỹ SGK

Đọc Kết quả cần đạt để biết những đơn vị kiến thức cần nắm

Đọc kỹ văn bản tác phẩm: đối với thơ, yêu cầu thuộc lòng, với văn xuôi thì phải nhớ

các chi tiết và tóm tắt lại được

Đọc chú thích để hiểu về tác giả và hoàn cảnh sáng tác tác phẩm

Đọc chú thích để hiểu từ khó (đặc biệt là điển tích, điển cố, từ khó trong văn học cổ, những từ địa phương…)

Xem lại Đọc – hiểu văn bản và trả lời lại các câu hỏi

Nhớ kỹ phần ghi nhớ

Đối với dạng bài phân tích một đoạn thơ hoặc một đoạn trích thì phải nhắc lại vị trí của đoạn, khi phân tích phải đặt trong chỉnh thể tác phẩm để hiểu hơn đoạn trích

Trang 5

Khi đề bài yêu cầu phân tích nhân vật hoặc những vấn đề liên quan đến nội dung, các em cũng phải nhắc đến những yếu tố nghệ thuật mà tác giả sử dụng để chuyển tải nội dung (nghệ thuật xây dựng tình huống truyện, nghệ thuật miêu tả nhân vật…)

Về thời gian làm bài, các em cần phân bố thời gian hợp lý cho các câu Không nên mất quá nhiểu thời gian cho câu ít điểm, đến khi làm câu nhiều điểm hơn lại không còn thời gian Tránh tình trạng làm bài “đầu voi, đuôi chuột” sự phân bố thời gian không hợp lý

Sự cẩu thả trong một bài văn rất dễ đem lại sự phản cảm cho người chấm, dù bài làm tốt

Vì vậy, chữ các em có thể không đẹp nhưng phải dễ nhìn và trình bày sạch sẽ

Nên làm dàn ý trước khi viết bài để bài làm không bị lộn xộn, thiếu ý

Hãy viết văn giản dị, trong sáng Tránh diễn đạt quá cầu kỳ, hoa mỹ bởi rất dễ sa vào sáo rỗng

Trang 6

Phần thứ nhất:

PHẦN TIẾNG VIỆT

A MỘT SỐ NỘI DUNG ÔN TẬP TIẾNG VIỆT LỚP 9:

- Đừng nói những điều mà mình không tin là đúng hay không có bằng chứng xác thực

- Nói đúng vào đề tài, tránh lạc đề

- Nói ngắn gọn, rành mạch, tránh nói mơ hồ

- Cần tế nhị, tôn trọng người khác

Ví dụ 1: Bác có thấy con lợn cưới của tôi chạy qua đây không?

Ví dụ 2: Thi nói khoác

Ví dụ 3: Xem gặp nhau cuối tuần

Ví dụ 4 : Tôi đồng ý với những nhận định về truyện ngắn của ông ấy

- Trâu cày không được giết

Ví dụ 5:

Nước VN đã có 4000 năm lịch sửCòn nước Mĩ mới ra đời cách đây 200 năm

II Xưng hô

trong hội

thoại:

- Tiếng Việt có một hệ thống xưng hộ rất phong phú, tinh tế

và giàu sắc thái biểu cảm

- Căn cứ vào tình huống giao tiếp mà xưng hô cho phù hợp

Ví dụ : Chị Dậu xưng hô với cai lệ

- Lần 1 : Cháu van ông, nhà cháu vừa tỉnh được một lúc, xin ông tha cho

- Lần 2 : Chồng tôi đau ốm ông không được phép hành hạ

- Lần 3 : Mày trói ngay chồng bà đi bà cho mày xem

Trang 7

2 Tạo từ ngữ mới;

3 Mượn từ ngữ của nước ngoài: ( Mượn tiếng Hán nhiều nhất)

Ví dụ 1 : Từ “ Ăn” ( có 13 nghĩa) Từ

“Chân”, “ Đầu” (có nhiều nghĩa)

Ví dụ 2 : O Sin, in ter net, điện thoại di động …

Ví dụ 3 : Ti vi, Gacđbu, quốc kỳ, quốc

ca, giáo viên , học sinh

V Thuật ngữ: - Thuật ngữ là những từ biểu thị khái niệm khoa học công

nghệ, được dùng trong các văn bản khoa học công nghệ

Ví dụ 5 : Đường ăn, đường đi.

Ví dụ 6 : Quả- trái; máy bay- phi cơ

Trang 8

c “Sóng đã cài then đêm sập cửa”

d “Mắt cá huy hoàng muôn dặm khơi

e “Thuyền ta lái gió … biển bằng”

g.“Con ở Miền Nam ra thăm lăngBác”

h “Buồn trông … ghế ngồi”

i “Chữ tài liền với chữ tai một vần”

VÝ dô 12 : Ng·- Bæ- TÐ

VII Khởi ngữ: - Là thành phần câu đứng trước chủ ngữ để nêu đề tài

được nói đến trong câu

- Có thể thêm quan hệ từ từ

đằng trước: Về, đối với

Ví dụ : Giàu, thì tôi cũng giàu rồi

Sang, thì tôi cũng sang rồi.

- Gắn với ý kiến của người nói:

- Thái độ người nói đối với người nghe

2 Cảm thán: Biểu lộ tâm lí

người nói

3 Gọi đáp: Tạo lập hoặc duy

trì quan hệ giao tiếp

4 Phụ chú :là thành phần

được dùng để bổ sung một số chi tiết cho nội dung chính của câu

- Nằm giữa 2 dấu phẩy

- Nằm giữa 2 dấu gạch ngang

- Nằm giữa 2 dấu ngoặc đơn

- Nằm sau 2 chấm ( ít gặp)

Ví dụ : Tin cậy cao : Chắc chắn, chắc hẳn

+ Tin cậy thấp : Hình như, dường như,

Ví dụ: Theo ý tôi, ý anh , ý ông ấy,

Ví dụ 2 : Than ôi! thời oanh liệt nay còn

Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích

Mắt đen tròn ( thương thương quá đi thôi)

Trang 9

hàm ý: tiếp bằng những từ ngữ trong

câu

2 Hàm ý : Là phần thông báo tuy không được diễn đạt trực tiếp bằng từ ngữ trong câu nhưng có thể suy ra từ những

So sánh mặt trời = hòn lửa có sự tương đồng về hình dáng, màu sắc  để làm nổi bật

vẻ đẹp của thiên nhiên vừa hùng vĩ vừa gần gũi

2 Ẩn dụ :

- Ẩn dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt

Ví dụ : Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

Mặt trời thứ hai là hình ảnh ẩn dụ vì : lấy tên mặt trời gọi Bác Mặt trời Bác có sự tương đồng về công lao giá trị

3 Nhân hóa :

- Nhân hóa là gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật…bằng những từ ngữ vốn dùng để gọi hoặc tả con người, làm cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật…trở nên gần gũi với con người, biểu thị được những suy nghĩ, tình cảm của con người

Ví dụ : Hoa cười ngọc thốt đoan trang

Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.

Nhân hóa hoa, mây, ngọc, tuyết để miêu tả vẻ đẹp của Thúy Vân sánh ngang với vẻ đẹp của thiên nhiên, khiến cho thiên nhiên cũng phải mỉm cười, nhường nhịn  dự báo số phận êm

ấm của nàng Vân

4 Hoán dụ :

- Hoán dụ là gọi tên các sự vật, hiện tượng, khái niệm bằng tên của một sự vật, hiện tượng, khái niệm khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt

Ví dụ : Xe vẫn chạy vì Miền Nam phía trước

Chỉ cần trong xe có một trái tim

Trang 10

Trái tim chỉ người chiến sĩ yêu nước, kiên cường, gan dạ, dũng cảm  Giữa trái tim và người chiến sĩ có quan hệ gần gũi với nhau, lấy bộ phận để chỉ toàn thể.

5 Nói quá :

- Nói quá là biện pháp tu từ phóng đại mức độ, quy mô, tính chất cớngự vật, hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu đạt

Ví dụ : Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.

Nói quá mức độ mồ hôi để nhấn mạnh nỗi vất vả của người nông dân

6 Nói giảm, nói tránh :

- Nói giảm, nói tránh là biện pháp tu từ dùng cách diễn đạt tế nhị, uyển chuyển tránh gây cảm giác đau buồn, ghê sợ, nặng nề, tránh thô tục, thiếu lịch sự

Ví dụ : Bác nằm trong giấc ngủ bình yên.

Nói Bác đang nằm ngủ là làm giảm đi nỗi đau mất Bác

7 Điệp ngữ :

- Khi nói hoặc viết, người ta có thể dùng biện pháp lặp đi, lặp lại từngữ (hoặc cả câu)

để làm nổi bật ý, gây cảm xúc mạnh Cách lặp đi, lặp lại như vậy gọi là phép điệp ngữ; từ ngữ được lặp lại gọi la điệp ngữ

Ví dụ: Ta làm con chim hót …… xao xuyến

Điệp ngữ “Ta làm” để nói lên khát vọng hoà nhập, dâng hiến cháy bỏng của nhà thơ

8 Chơi chữ :

- Chơi chữ là lợi dụng đặc sắc về âm, về nghĩa của từ ngữ để tạo sắc thái dí dỏm, hài hước… làm cho câu văn hấp dẫn và thú vị

Ví dụ : Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

Quốc quốc, gia gia là chơi chữ chỉ nước, nhà - nỗi nhớ nước thương nhà của nhà thơ

Trang 11

nghĩa chính, một tiếng có nghĩa phụ.

VD: Xe đạp, Đường bộ

+ Từ ghép đẳng lập: Các tiếng có nghĩa ngang bằng nhau

VD: Sách vở, áo quần

Từ láy Là những từ phức có quan hệ láy âm

giữa các tiếng( một tiếng có nghĩa)

- Láy hoàn toàn: Đo đỏ, xinh xinh

- Láy bộ phận:

+ Láy âm: Rì rào, rung rinh

+ Láy vần: Lao xao, lom khom

Tạo nên những từ tượng thanh, tượng hình trong văn miêu tả, trong thơ ca…

sử dụng đúng từ láy trong giao tiếp, trong làm bài

Thành ngữ Là loại cụm từ có cấu tạo cố định,

biểu thị một ý nghĩa hoàn chỉnh (tương đương như một 1 từ)VD: Ếch ngồi đáy giếng, Được voi đòi tiên

Làm cho câu văn thêm hình ảnh, sinh động, tăng tính hình tượng và tính biểu cảm

+ Nêu khái niệm

+ Dùng từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa

VD: Chết.

+ Cách 1: Là trạng thái tim ngừng đập, phổi ngừng thở

VD: Chân bàn, bàn chân, chân

VD: bàn chân: NG, chân núi: NC

Hiểu hiện tượng chuyển nghĩa trong những văn cảnh nhất định

Từ đồng Là những từ giống nhau về âm thanh Khi dùng từ đồng âm phải chú ý đến

Trang 12

âm nhưng nghĩa khác xa nhau, không

liên quan gì với nhau

VD: Đường ăn, đường đi

ngữ cảnh để tránh gây hiểu nhầm.Thường dùng trong thơ trào phúng

- Đồng nghĩa không hoàn toàn:

Khác nhau về sắc thái biểu cảm

VD: Hi sinh, bỏ mạng

Dùng từ đồng nghĩa và các loại từ đồng nghĩa để thay thế phải phù hợp với ngữ cảnh và sắc thái biểu cảm

VD: Giàu – nghèo, Nông – sâu

Dùng trong thể đối, tạo hình tượng tương phản, gây ấn tượng mạnh, làm cho lời nói sinh động

Sử dụng nghĩa từ ngữ theo từng cấp độ khái quát, tránh vi phạm cấp độ khái quát của từ ngữ

Trường từ

vựng

Là tập hợp của những từ có ít nhất một nét chung về nghĩa

VD: Sách, vở, bút, thước Có chung nét nghĩa là đồ dùng học tập

Chú ý cách chuyển trường từ vựng để tăng thêm tính nghệ thuật của ngôn ngữ từ và khả năng diễn đạt (phép nhân hoá, ẩn dụ, so sánh…)

Từ mượn Là những từ vay mượn từ tiếng của

nước ngoài để biểu thị sự vật, hiện tượng, đặc điểm…mà tiếng Việt chưa có từ thật thích hợp để diễn đạt

VD: Săm, lốp, ra-đi-ô

Mượn từ đúng lúc, đúng chỗ để tăng hiệu quả giao tiếp, biểu đạt

Từ Hán

Việt

Là những từ gốc Hán được phát âm theo cách của người Việt

VD: Thi sĩ, giáo viên

Biết sử dụng từ Hán Việt trong những ngữ cảnh cụ thể (trang trọng, tôn nghiêm…)

Trang 13

Thuật ngữ Là từ ngữ biểu thị khái niệm khoa

học, công nghệ thường được dùng trong các văn bản khoa học công nghệ

1 địa phương)

VD: Hs : phao, ngỗng

Không nên lạm dụng từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội trong giao tiếp, trong làm văn

Từ tượng

hình

Là từ gợi tả hình ảnh, dáng vẻ trạng thái của sự vật

Danh từ Là những từ chỉ người, sự vật, hiện tượng,

Đại từ Là những từ chỉ sự vật hoặc để thay thế cho

Phó từ Là những từ chuyên đi kèm với động từ và

tính từ để bổ sung ý nghĩa về mặt thời gian

Trang 14

nhấn mạnh.

Quan hệ từ Là những từ chỉ quan hệ sở hữu, so sánh, nối

tiếp, đối lập

Của, và như, nhưng

Tình thái từ Là những từ chuyên dùng để tạo câu nghi

- Chủ ngữ: Trả lời cho câu hỏi: Ai, Con gì, Cái gì

- Vị ngữ: Trả lời cho câu hỏi: Như thế nào, làm sao

VD: Con mèo / nhà em rất ngoan

CN VN

2 Thành phần phụ:

- Trạng ngữ: Chỉ thời gian, địa điểm, nơi chốn, cách thức

VD: Dưới mái nhà kia,/ hai bố con họ / sống rất hạnh phúc

III CÁC KIỂU CÂU:

1 Chia theo cấu tạo : Có 2 loại:

Trang 15

2 Chia theo mục đích phát ngôn: Có 4 kiểu câu:

- Câu trần thuật: Bạn C là một lớp trưởng rất năng động

- Câu nghi vấn: Chiều nay bạn có đi thư viện không ?

- Câu cầu khiến: Bạn giải gúp mình bài toán này với!

- Câu cảm thán: Chao ôi, trông bạn thật tuyệt!

* Lưu ý: Có câu hình thức là câu này nhưng mục đích là của câu khác.

Vd: Sao mày cứng đầu quá vậy hả con?

Hình thức là câu nghi vấn nhưng không dùng để hỏi mà để bộc lộ cảm xúc ( câu cảm thán)

3 Biến đổi câu:

- Câu đặc biệt: + Là câu có cấu tạo không đầy đủ các thành phần chính.

+ Không thể khôi phục được

VD: Hoa trong công viên

- Câu rút gọn: + Là câu có cấu tạo không đầy đủ các thành phần chính.

+ Có thể khôi phục được

VD: A: Em học bài chưa?

B: Chưa (Là câu rút gọn Khôi phục đầy đủ: Em chưa học bài)

C MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP:

1 Viết đoạn văn giới thiệu nhân vật anh thanh niên trong tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa” của

Nguyễn Thành Long có lời dẫn trực tiếp

2 Viết đoạn văn giới thiệu một tác phẩm văn học có khởi ngữ và thành phần tình thái

3 Viết doạn văn trình bày suy nghĩ của em về việc thanh niên chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới có thành phần phụ chú

4 Giải thích nghĩa của từ “thu” trong mỗi câu, xác định đó là hiện tượng đồng âm hay nhiều nghĩa, vì sao?

a Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về.

b Hết giờ kiểm tra, cô giáo thu bài

5 Em hãy cho biết tên và hiệu quả nghệ thuật của các biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ sau: Mặt trời xuống biển như hòn lửa

Sóng đã cài then đêm sập cửa

- Hs tự làm bài tập sau khi đã ôn tập lí thuyết, Gv kiểm tra, chữa lỗi cho học sinh

PHẦN THỨ HAI:

PHẦN GIẢNG VĂN

A CÁC TÁC PHẨM THƠ HIỆN ĐẠI VIỆT NAM:

Trang 16

TT Tên VB Tác giả Năm

st

Thể thơ

chí

Chính Hữu

1948 Tự do - Vẻ đẹp chân thực giản

dị của anh bộ đội thời chống Pháp

- Tình đồng chí gắn bó keo sơn

- Hình ảnh tự nhiên bình dị cô động, gợi cảm

1969 Tự do Vẻ đẹp hiên ngang,

dũng cảm, lạc quan của những ngừời lính lái xe TSơn

Hình ảnh tự nhiên, độc đáo, giọng điệu khoẻ khoắn, sôi nổi

thuyền

đánh cá

Huy Cận

1958 7 chữ Bức tranh thiên nhiên

rộng đẹp, tráng lệ nhiều màu sắc và cuộc sống tươi vui của những con người làm chủ đất nước

Hình ảnh nên thơ, âm hưởng rộn ràng

- Sử dụng phép ẩn dụ, nhân hoá

bà giàu tình thương, đức hi sinh

- Kết hợp miêu tả, biểu cảm, bình luận

- Sáng tạo hình ảnh bếp lửa gắn với hình ảnh người bà

- Giọng thơ bồi hồi xúc động

hát ru

Nguyễn Khoa Điềm

1971 tự do Tình yêu con gắn với

lòng yêu nước, khát vọng về độc lập của người mẹ Tà Ôi

Giọng thơ tha thiết, hình ảnh gần gũi, bình dị

trăng

Nguyễn Duy

1978 5 chữ Gợi nhớ những năm

tháng gian khổ của người lính, nhắc đạo lí sống tình nghĩa thuỷ chung

-Hình ảnh bình dị, giàu biểu tượng

- Giọng điệu chân tình nhỏ nhẹ, thấm sâu

xuân

nho nhỏ

Thanh Hải

1980 5 chữ Cảm xúc trước mùa

xuân của thiên nhiên đất nước và khát vọng dâng hiến của tác giả

- Nhạc điệu trong sáng thiết tha, tứ thơ sáng tạo tự nhiên, h/a thơ gợi cảm

- NT so sánh sáng tạo

8 Con cò Chế Lan 1962 Tự do Ca ngợi tình mẹ và ý Vận dụng sáng tạo

Trang 17

Viên nghĩa lời ru đối với

cuộc sống của con người

hình ảnh giọng điệu ca dao, giọng thơ thiết tha, trìu mến

9 Viếng

Lăng

Bác

Viễn Phương

1976 7& 8

chữ

Lòng thành kính xúc động của nhà thơ khi được ra viếng lăng Bác

- Giọng điệu trang trọng thiết tha

- Nhiều h/a ẩn dụ đẹp gợi liên tưởng

- Sử dụng điệp từ, điệp ngữ

10 Sang

Thu

Hữu Thỉnh

1977 5 chữ Cảm nhận tinh tế của

tác giả về sự biến chuyển nhẹ nhàng của thiên nhiên khi vào thu

-Hình ảnh gợi tả bằng nhiều cảm giác

Sau 1975

Tự do Bằng lời trò chuyện với

con, tác giả thể hiện sự gắn bó, niềm tự hào với quê hương và đạo lí sống của dân tộc

- Cách nói giàu h/a: vừa gần gũi mộc mạc, vừa có sức khái quát cao

- Giọng điệu tha thiết

B CÁC TÁC PHẨM TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM:

Stt Tên TP Tác giả năm ST Tóm tắt nội dung Nghệ thuật

1 Làng Kim Lân 1948

Qua tâm trạng đau xót, tủi hổ của ông Hai ở nơi tản cư khi nghe tin đồn làng mình theo giặc, truyện thể hiện tình yêu làng, yêu quê sâu sắc, thống nhất với lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến của người nông dân

- Xây dựng tình huống đặc sắc, ngôn ngữ gàu tính khẩu ngữ, miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế,

sử dụng đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm sâu sắc

1970

Cuộc gặp giữa tình cờ của ông hoạ sĩ, cô kỹ sư trẻ với người thanh niên làm việc một mình tại trạm khí tượng trên núi cao Sapa Qua đó ca ngợi những người lao động thầm lặng, có cách sống đẹp, cống hiến sức mình cho đất nước

- Xây dựng tình huống, miêu tả tâm lí nhân vật, kết hợp tự sự với trữ tình

và bình luận

3 Bến

quê

Nguyễn Minh

1985 Qua những cảm xúc và suy

ngẫm của nhân vật Nhĩ vào lúc

- Xây dựng tình huổng truyện độc đáo, miêu tả

Trang 18

tâm lí nhân vật tinh tế, nhiều hình ảnh mang tính biểu tượng cao

1966

Qua câu chuyện éo le, cảm động của 2 cha con, truyện ca ngợi tình cha con thắm thiết trong chiến tranh

- Xây dựng tình huống truyện đặc sắc, chọn ngôi kể phù hợp, miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế

- Chọn ngôi kể phù hợp, miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, giọng văn trẻ trung, nữ tính, câu văn ngắn, nhịp nhanh

Thuyết minh, biểu cảm

Kết hợp tự sự, miêu

tả, biểu cảm

2 Mẹ tôi Tình yêu thương kính trọng cha

mẹ là tình cảm thiêng liêng của con cái

Tự sự, nghị luận, biểu cảm, miêu tả

3 Cuộc chia tay của

những con búp bê

Tình cảm thân thiết của 2 anh em

và nỗi đau xót của trẻ thơ khi bố

mẹ li hôn

Tự sự, nghị luận, biểu cảmn

4 Ca Huế trên sông

Hương

Vẻ đẹp của sinh hoạt văn hoá, và những con người tài hoa xứ Huế

Thuyết minh, tự sự, biểu cảm

Trang 19

8

1 Thông tin về ngày

trái đất năm 200

Tác hại của việc sử dụng bao bì

ni lông đối với môi trưòng

Nghị luận, hành chính

2 Ôn dịch thuốc lá Tác hại của thuốc lá đến sức khoẻ

con người và sự phát triển của xã hội

Thuyết minh, nghị luận, biểu cảm

3 Bài toán dân số Mối quan hệ giữa dân số và sự

phát triển kinh tế XH

Thuyết minh, nghị luận

9

1 Phong cách HCM Vẻ đẹp phong cách HCM trong

văn hoá, tâm hồn, lòng tự hào về Bác của tác giả

Nghị luận, miêu tả, biểu cảm

2 Tuyên bố thế giới

về sự sống còn

Trách nhiệm chăm sóc, bảo vệ tạo điều kiện phát triển cho trẻ em của cộng đồng quốc tế

Nghị luận,hành chính, thuyết minh

3 Đấu tranh cho một

thế giới hoà bình

Nguy cơ chiến tranh hạt nhân và trách nhiệm ngăn chặn chiến tranh vì thế giới hoà bình

Nghị luận, biểu cảm

D CÁC VĂN BẢN NƯỚC NGOÀI:

VB

TÁC GIẢ

1 Cố

hương

Lỗ Tấn TQ Thông qua việc thuật lại chuyến

về quê lần cuối cùng của nhân vật “tôi”, những rung cảm của

“tôi” trước sự thay đổi của cảnh vật và con người nôi đây, tác giả

đã phê phán xã hội phong kiến Trung Quốc, lễ giáo phong kiến, đặt ra vấn đề con đường đi của nông dân và xã hôi Trung Quốc

để mọi người suy ngẫm

- Kết hợp sinh động các phương thức biểu đạt

- Hình ảnh so sánh đối chiếu đặc sắc

- Nhiều hình ảnh mang tính nghệ thuật cao

2 Những

đứa trẻ

(tr)

M Gor- ki

NgaĐđoạ Đoạn trích tái hiện tình bạn thân

thiết nảy sinh giữa tác giả hồi còn nhỏ với mấy đứa trẻ sống thiếu tình thương bên hàng xóm, bất chấp những cản trở trong quan hệ xã hội lúc bấy giờ

- So sánh đặc sắc

- Kể chuyện giàu hình ảnh

- Đan xen chuyện đời thường với cổ tích

Trang 20

3 Mây và

sóng

R Ta- go

Ấn Độ Bài thơ ca ngợi tình mẫu tử

thiêng liêng, bất tử

- Hình ảnh giàu ý nghĩa tượng trưng,

tổ chức đối thoại hợp lí

4 Rô bin

xơn

(tr)

Đ Đi- phô

Anh Đoạn trích thể hiện cuộc sống vô

cùng gian khổ và tinh thần lạc quan của nhân vật khi chỉ có một mình nơi đảo hoang vùng xích đạo suốt mười mấy năm ròng rã

- Tự sự, miêu tả, giọng văn hài hước,

G.Mô-Pháp Truyện nhắc nhở chúng ta về

lòng yêu thương bè bạn, mở rộng

ra là lòng yêu thương con người,

sự cảm thông với những nỗi đau hoặc lầm lỡ của người khác

Miêu tả tâm lí đặc sắc, kết hợp tự sự và miêu tả

6 Con chó

Bấc (Tr)

G Lân- đơn

Mỹ Đoạn trích thể hiện trí tưởng

tượng tuyệt vời và bộc lộ tình cảm yêu thương của tác giả đối với loài vật

Miêu tả, quan sát, tưởng tượng

E CÁC TÁC PHẨM KỊCH HIỆN ĐẠI VIỆT NAM:

Huy Tưởng

Ở đoạn trích hồi 4 của vở kịch, tác giả đã xây dựng một tình huống làm bộc lộ xung đột cơ bản của vở kịch giữa lực lượng cách mạng và kẻ thù, đồng thời thể hiện diễn biến nội tâm của nhân vật Thơm – 1 cô gái có chồng theo giặc, từ chỗ thờ ơ với cách mạng, sợ liên luỵ đến chỗ đúng hẳn về phía cách mạng, qua đó tác giả khẳng định sức thuyết phục của chính nghĩa cách mạng

Nghệ thuật tạo dựng tình huống

để bộc lộ xung đột kịch, tổ chức đối thoại thể hiện tâm lí và tính cách nhân vật

2. Tôi và chúng

ta

Lưu Quang Vũ

Đoạn trích thể hiện quá trình đấu tranh gay gắt giữa một bên là những người có trí tuệ, bản lĩnh, dám nghĩ dám làm với một bên là những người bảo thủ, vụ lợi để đổi mới sản xuất, đem lại quyền lợi, hạnh phúc cho mọi người

Xây dựng tình huống kịch gay cấn, miêu tả tâm

lí nhân vật đặc sắc

Trang 21

F CÁC TÁC PHẨM TRUNG ĐẠI VIỆT NAM:

1 Chuyện người

con gái Nam

Xương

Nguyễn Dữ Truyện thể hiện niềm

thương cảm đối với số phận người phụ nữ VN dưới xã hội phong kiến, đồng thời khẳng định vẻ đẹp truyền thống của họ

Truyện như một màn kịch sinh động, có yếu

tố kì ảo, cách dẫn dắt chuyện khéo léo

2 Chuyện cũ trong

phủ chúa Trịnh

Phạm Đình Hổ

Đoạn trích thể hiện đời sống

xa hoa của bọn vua chúa và

sự nhũng nhiễu của bọn quan lại thời Lê – Trịnh

Cách kể và tả kĩ lưỡng, cụ thể, sinh động, chân thực, khách quan

Trần thuật cụ thể, miêu tả tỉ mỉ, đưa yếu

tố lịch sử vào làm cho câu chuyện khách quan và thuyết phục

4 Truyện Lục Vân

Tiên

Nguyễn Đình Chiểu

LVT cứu KNN: Đoạn trích

thể hiện khát vọng hành đạo giúp đời của tác giả và khắc hoạ những phẩm chất cao đẹp của 2 nhân vật: LVT tài

ba dũng cảm trọng nghĩa khinh tài, KNN hiền hậu, nết

na, ân tình

Ngôn ngữ kể chuyện mộc mạc, giản dị, linh hoạt, khắc hoạ nhân vật qua ngôn ngữ và hành động

LVT gặp nạn: Đoạn trích

nói lên sự đối lập giữa thiện

và ác đồng thời thể hiện thái

độ quý trọng và niền tin của tác giả đối với nhân dân lao động

Sắp xếp trình tự hợp

lí, lời thơ mộc mạc giản dị

5 Truyện Kiều – Nguyễn Du:

a Tác giả:

* Thân thế:

- Nguyễn Du (1765 - 1820), tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên

- Quê ở làng Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh

- Sinh ra trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống văn học

Trang 22

- Năm 9 tuổi mồ côi cha, 12 tuổi mồ côi mẹ, cuộc đời gắn với những biến cố lịch sử: chế độ phong kiến khủng hoảng trầm trọng, phong trào khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi mà đỉnh cao là phong trào Tây Sơn.

- Nguyễn Du sống phiêu bạt nhiều năm, làm quan dưới triều Nguyễn, từng làm chánh sứ sang Trung Quốc

- Ông là người hiểu biết sâu rộng, vốn sống phong phú và có trái tim giàu yêu thương

- Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới

a Giá trị nội dung:

- Giá trị hiện thực: Phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội đương thời với bộ mặt tàn bạo của tầng lớp thống trị và số phận của những người bị áp bức bốc lột

- Giá trị nhân đạo:

+ Thể hiện niềm cảm thương sâu sắc trước số phận đau khổ của con người

+ Lên án, tố cáo các thế lực tàn bạo chà đạp con người ( quyền lực, đồng tiền, nhà chứa).+ Trân trọng, đề cao con người

dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh

Bút pháp ước lệ, thủ pháp đòn bẩy, nghệ thuật liệt kê, từ ngữ miêu tả đặc sắc

Cảnh ngày Nằm ngay sau đoạn Đoạn trích miêu tả bức Từ ngữ chọn lọc, bút

Trang 23

xuân miêu tả chị em Thuý

Kiều, từ câu 39

tranh thiên nhiên và lễ hội mùa xuân tươi đẹp, trong sáng

pháp miêu tả giàu chất tạo hình

Đoạn trích đã bốc trần bản chất xấu xa, đê tiện của MGS, qua đó lên án những thế lực tàn bạo chà đạp lên sắc tài và nhân phẩm của người phụ nữ

Ngôn ngữ đặc sắc lột

tả được bản chất nhân vật

Kiều ở lầu

Ngưng Bích

Khi bị bán đến lầu xanh, Kiều định tự vẫn nhưng mụ Tú Bà ngăn lại, hứa sẽ gả chồng cho nàng nhưng thục chất là giam lỏng nàng,

từ câu 1033

Đoạn trích thể hiện cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi và tấm lòng thuỷ chung, hiếu thảo của Kiều

Nghệ thuật miêu tả nôi tâm, tả cảnh ngụ tình đặc sắc, dùng điển tích và biện pháp điệp ngữ

Thuý Kiều

báo ân báo

oán

Sau khi cứu Thuý Kiều

ra khỏi lầu xanh, Từ Hải giúp Kiều báo ân báo oán, từ câu 2325

Đoạn trích làn nổi bật tính cách của Thuý Kiều và Hoạn Thư, thể hiện ước

mơ công lí chính nghĩa theo quan niệm của nhân dân:ở hiền gặp lành, ác giả

"Hiện Chính Hữu mới chỉ công bố: tập thơ Đầu súng trăng treo (1966), Thơ Chính Hữu (1977), Tuyển tập Chính Hữu (1988) Thơ Chính Hữu giàu hình ảnh, nhiều suy tưởng, ngôn ngữ chon lọc, cô đọng Ông thường sử dụng thể thơ tự do, giàu nhạc điệu, mà chủ yếu là nhạc điệu của nội tâm, vừa lắng đọng vừa có sức âm vang Chính Hữu làm thơ không nhiều nhưng vẫn có một vị trí xứng đáng trong nền thơ hiện đại Việt Nam, và một số bài thơ của ông thuộc

số những tác phẩm tiêu biểu nhất của thơ ca kháng chiến (Đồng chí, Đường ra mặt trận, Ngọn đèn đứng gác, Trang giấy học trò) Chính Hữu được tăng Giải thưởng Hồ Chí Minh về

Văn học - Nghệ thuật năm 2000 (Nguyễn Văn Long, Từ điển văn học, Sđđ)

2 Tác phẩm:

Bài thơ Đòng chí được sáng tác đầu năm 1948, thể hiện những cảm xúc sâu xa và mạnh mẽ của nhà thơ Chính Hữu với đồng đội trong chiến dịch Việt Bắc Cảm hứng của bài thơ hướng

Trang 24

về chất thực của đời sống kháng chiến, khai thác cái đẹp và chất thơ trong sự bình dị của đời thường.

Bài thơ nói về tình đồng chí, đồng đôi gắn bó thắm thiết của những người nông dân mặc áo lính trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp Trong hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn, tình cảm đó thật cảm động đẹp đẽ

Phạm Tiến Duật "Bài thơ về tiểu đội xe không kính"

1 Tác giả :

Nhà thơ Phạm Tiến Duật sinh năm 1941, quê ở huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ Sau khi tốt nghiệp khoa Ngữ văn, Trường đại học sư phạm Hà Nội, năm 1964, Phạm Tiến Duật gia nhập quân đội, hoạt động trên tuyến đường Trường Sơn và trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ cứu nước

Thơ Phạm Tiến Duật tập trung thể hiện hình ảnh thế hệ trẻ trong cuộc khánh chiến chống

đế quốc Mĩ qua các hình tượng người lính và cô thanh niên trên tuyến đường Trường Sơn Thơ ông có giọng điệu sôi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, tinh nghịch mà sâu sắc

Các tác phẩm chính: Vầng trăng quầng lửa (thơ, 1970); Thơ một chặng đường (thơ, 1971);

ở hai đầu núi (thơ, 1981); Vầng trăng và những quầng lửa (thơ, 1983); Nhóm lửa (thơ,

sử thời kì kháng chiến chống đế quốc Mĩ

"Chỉ một tuần sau bài thơ ra đời, cả mặt trận có vô số tiểu đội xe không kính Sau này, vào những năm cuối cuộc kháng chiến, đã có những chiến sĩ lái xe tự lái xe vỡ để mắt thường nhìn trực tiếp mặt đường chằng chịt hố bom cho rõ hơn dưới ánh sáng lù mù của chiếc đèn gần soi Thậm chí, có người còn tháo cả cánh cửa buồng lái để tiện cho việc xử lí tình huống khi xe bị máy bay AC130 săn đuổi - loại máy bay bắn roc - ket hay đạn 27 li vào mục tiêu di động bằng thiết bị dò âm thanh mặt đất và bằng kính nhìn có tia hồng ngoại

Mạn phép nói thêm cái chất thực của bài thơ để chúng ta hiểu rằng, một bài thơ có nhiều khi vượt qua phạm trù cái đẹp văn chương thuần túy, dâng cho cuộc sống những giá trị thực tiễn lớn lao biết nhường nào Bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính có cái mãnh lực thần

kỳ ấy, nó vừa mang tính chiến đấu nóng bỏng, tính thời sự tức thời vừa mang tính lịch sử! Tất nhiên một bài thơ như thếphải là tiếng nói của cuộc sống thực hào hùng Đó là tiếng nói chân thành, độc đao của người trong cuộc Nó như một tuyên ngôn về lẽ sống của một thế hệ người Việt Nam!

Giờ đây mỗi lần có dịp đọc lại hay nghe ai đó đọc lên bài thơ này, không ít người như tôi lại bồi hồi nhớ về một quãng đời chiến tranh ở đường 9 - Nam Lào, nhớ về hình ảnh anh Phạm Tiến Duật lần đầu đứng trước anh em đơn vị D61 Anh đọc cho anh em nghe bài thơ nói về họ trước giờ xuất kích Đã hết câu cuối cùng của bài thơ mà cả đơn vị còn lặng im, rồi

Trang 25

phút chốc cùng vùng dậy, thoáng đã nhồi sau tay lái Một khoảng rừng già rộ lên, những cỗ

xe dắt kín lá ngụy trang rùng rùng chuyển bánh đi về hướng Nam đã định"

Huy Cận "Đoàn thuyền đánh cá"

1.Tác giả:

Nhà thơ Huy Cận tên đầy đủ là Cù Huy Cận (1919-2005) Huy Cận nổi tiếng trong phong trào Thơ mới với tập thơ Lửa thiêng(1940) Ông tham gia Cách mạng từ trước năm 1945 và sau cách mạng tháng Tám từng giữ nhiều trọng trách trong chính quyền cách mạng, đồng thời

là một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ ca hiện đại Việt Nam Huy Cận được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học và nghệ thuật( năm 1996)

Hơn sáu mươi năm Hoạt động văn học nói chung và làm thơ nói riêng, với gần hai mươi thi phẩm thơ đi từ nỗi buồn "từ ngàn xưa"đến niềm vui lớn hôm nay

Huy Cận luôn gắn liền với mạch đời chung của dân tộc Thơ Huy Cận vừa bám lấy cuộc đời, vừa hướng tới những khoảng rộng xa của tạo vật và thời gian, vừa trăn trở với cái chết, vừa nâng niu sự sống trước qui luật tử sinh, vừa triết lý suy tư, vừa hồn nhiên thơ trẻ, vừa bay bổng lãng mạn, vừa hiện thực đời thường, trong cái khoảnh khắc hữu hạn của đời người vẫn muốn hóa thân vào cái vĩnh cửu, trường sinh(Trời mỗi ngày lại sáng, đất nở hoa, Bài thơ cuộc đời, Những năm sáu mươi, chiến trưỡng gần đến chiến trường xa, ngày hằng sống ngày hằng thơ, Ngôi nhà giữa nắng, ta về với biển, Lời tâm nguyện cùng hai thế kỷ) Với ý thức vận động và sự chuyển hóa giữa nhiều yếu tố trong hình tượng cái tôi trữ tình, Huy Cận đã tạo cho mình một phong cách đặc sắc, độc đáo Huy Cận đã tỏ ra sở trường về thơ lục bát và có đóng góp đáng kể trong sự mở rộng hình thức và nâng cao trí tuệ cho thơ theo hướng suy tưởng, vươn lên những khái quát rộng xa, giàu liên tưởng trong những bài thơ mở rộngl khuôn khổ , kích thước

Các tác phẩm chính : Lửa thiêng (thơ, 1940); Vũ trụ ca (thơ, 1942); Kinh cầu tự (văn xuôi, 1942); Tính chất dân tộc trong văn nghệ (nghiên cứu, 1958); Trời mỗi ngày lại sáng (thơ, 1958); Đất nở hoa (thơ, 1960); Bài ca cuộc đời (thơ, 1963); Hai bài tay em (thơ; 1967); Phù Đổng Thiên Vương

(thơ, 1968); Những năm sáu mươi (thơ, 1968); Cô gái Mèo (thơ; 1972);

Thiếu niên anh hùng họp mặt (thơ, 1973); Chiến trường gần đến chiến trường xa (thơ,

1973);Chiến trường gần chiến trường xa(Thơ, 1973);Những người mẹ, những người vợ( thơ, 1974); Ngày hằng sốmg ngày hằng thơ(thơ,1975); Sơn Tinh, Thủy Tinh (thơ, 1976) ; Ngôi nhà giữa nắng(thơ, 1978); Hạt lại gieo (thơ, 1984) ; Tuyển tập( thơ, 1986);

2 Tác phẩm:

Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá thể hiện sự kết hợp giữa cảm hứng lãng mạn

và cảm hứng thiên nhiên, vũ trụ của nhà thơ Huy Cận

Bài thơ được bố cục theo hành trình một chuyến ra khơicủa đoàn thuyền đánh cá Hai khổ đầu là cảnh lên đường và tâm trạng náo nức của con người, bốn khổ tiếp theo là hoạt động của đoàn thuyền đánh cávà khổ cuối là cảnh đoàn thuyền trở về trong buổi bình minh của ngày mới

Về hoàn cảnh sáng tác, nhà thơ Huy Cân nhớ lại: "Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của tôi được viết ra trong những tháng năm đất nước bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội Không khí

Trang 26

lúc này vui, cuộc đời phấn khởi, nhà thơ cũng rất phấn khởi Cả tác phẩm vùng than, vùng biển đang hăng say lao động từ bình minh cho đến hoàng hôn và cả từ hoàng hôn cho đến binh minh Đoàn thuyền đánh cá lấy thời điểm xuất phát khác với lệ thường, lúc mặt trời lặn và trở về trong ánh bình minh chói lọi Khung cảnh trên biển khi mặt trời tắt không nặng

nề, tăm tối mà mang vẻ đẹp của thiên nhiên tạo vật trong quy luật vận động tự nhiên của nó

ở đây tôi đã miêu tả khung cảnh tạo vật với cảm hứng vũ trụ Nếu trước cách mạng vũ trụ ta còn buồn thì bây giờ vui, trước là cách biệt xa cách với cuộc đời thì hôm nay lại gần gũi với con người Bài thơ của tôi là một cuộc chạy đua giữa con người và thiên nhiên và con người

đã chiến thắng Tôi coi đây là khúc tráng ca, ca ngợi con người trogn lao động với tinh thần làm chủ với niềm vui Bài thơ cũng là sự kết hợp giữa hiện thực và lãng mạn Chất hiện thực của khung cảnh lao động trên biển cả khi vùng biển đã về ta Và chất lãng mạn thì cũng không cần phải tưởng tượng nhiều ở giữa cảnh biẻn cao rộng đó, với gió, với trăng, rồi bình minh và nắng hồng, và đặc biệt là sức người trong lao động đều thực sự mang tính chất lãng mạn bay bổng "Thuyền ta lái gió với buồm trắng" ; "Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời" Cảm hứng và hình ảnh ấy rất thích hợp với lạo động trên biển Tôi nghĩ rằng trong khung cảnh đó cũng không thể viết khác đi Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh đẹp của một ngày đẹp của một ngày mới khi đoàn thuyền đang trở về, các khong thuyền đầy ắp cá Mở đầu bài thơ

là hình ảnh "Mặt trời xuống biển" và kết thúc là hình ảnh "mặt trời đội biển" nhô lên giữa sông nước

Thiên nhiên đã vận động theo một vòng quay của mặt trời và con người đã hoàn thành trách nhiệm của mình trong lao động Không có gì vui bằng lao động có hiệu quả

Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá nằm trong cảm hứng chung của thơ tôi trong những năm xây

dựng chủ nghĩa xã hội Tôi viết bài thơ tương đối nhanh, chỉ vài một giờ của buổi chiều trên vùng biển Hạ Long Bài thơ được viét liền mạch và ít phải sửa chữa Tôi nghĩ đó cũng không phải là chuyện ngẫu nhiên mà thực sự là cảm hứng đã được tích tụ trên một đề tài quen thuộc của tôi và được viết ra trong không khí rất vui của những năm tháng đầu xây dựng chủ

nghĩa xã hội" (Huy Cận, Tác phẩm văn học, NXB Văn học,

hệ các nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước

"Bằng Việt là một nhà thơ được bạn đọc biết đến từ phần thơ in chúng với Lưu Quang Vũ trong tập Hương cây - Bếp Lửa (1968) Nỗi nhớ quê hương dầu tiên thành thơ là giành cho bếp lửa : "Bếp lửa chờn vờn sướng sớm - Một bếp lửa ấp iu nồng đượm" gắn với hình ảnh người bà và bên người bà là người cháu Bài thơ nói về tình bà cháu vừa sâu sắc , vừa thâm thía trong những năm đầu đất nước đói kém, loạn lạc, cuộc đời gian khổ khó khăn Cảm xúc tinh tế, đượm buồn của ông về những kỷ niệm về cuộc sống gia đình , về truyền thống nghĩa tình của dân tộc Việt Nam Bài thơ biểu hiện một triết luận thầm kín: những gì là thân thiết nhất của mỗi tuổi thơ mỗi con người, đều có sức tỏa sáng, nâng đỡ họ trong suốt cuôc

Trang 27

đời.Mạch triết luận thầm kín được khởi đầu từ bếp lửa còn được tiếp nối trong nhiều bài thơ khác nhơ trở lại trái tim mình khi ông coi Thủ đô Hà Nội như một cội nguồn tình cảm, cội nguồn sức mạnh Cùng với thư gửi người bạn xa đất nước, tình yêu và báo đông, Trở lại trái tim, nhà thơ ghi lạiđược những trạng thái phong phú của một tâm hồn thanh niên rất mực mến yêu đất nước, con người, nêu bật được một thủ đô hào hoa thanh lịch, trầm tĩnh và anh hùng Bằng Việt còn có những bài thơ khá tài hoa diên đạt những suy tư về những danh nhân văn hóa nhân loại nhơ: Béc- tô - ven, Pau - tốp xky, pli- xet- xcai- a Người đọc còn biết đến ông về những lo toan chu đáo, những bồi hồi thương nhớ của một người cha ở nơi xa chăm chú theo rõi từng bước đi chập chững của đứa con, trong bài thơ Về Nghệ An thăm con với lời thơ điềm đạm, kiệm lời mà có sức vang xa Có thể nói với 20 bài thơ trong tập thơ hương cây- Bếp lửa Bằng Việt đã phác họa được một triết luận thầm kín của riêng mình Ông là một trong số không nhiều nhà thơ trẻ được bạn đọc tin yêu ngay từ ban đầu của thơ Thơ Bằng Việt thường nghiêng về một lời tâm sự, một sự trao đổi suy nghĩ, gây được một cảm giác gần gũi, thân thiết đối với người đọc.Thơ ông thường sâu lắng trầm tư thích hợp với người đọc trong sự trầm tĩnh vắng lặng Đó là một dấu ấn riêng của thơ Bằng Việt, còn lưu lại trong ký

ức người đọc" (Từ điển tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam, Sđđ)

Các tác phẩm chính : Hương cây - Bếp lửa (thơ, in chung, 1968); Những gương mặt những khoảng trời (thơ, 1973); Đất sau mưa (thơ, 1977); Khoảng cách giữa lời (thơ, 1983); Cát sáng (thơ, 1986); Bếp lửa - khoảng trời (thơ tuyển, 1988); Phía nửa mặt trăng chìm ( thơ, 1986); Lọ lem (dịch thơ ép - tu - sen - kô);

Tác giả đã được nhận: Giải Nhất Văn học - Nghệ thuật Hà Nội năm 1967 với bài thơ Trở lại trái tim mình; Giải thưởng chính thức về dịch thuật văn học quốc tế và phát triển giao lưu văn hóa quốc tế do Quỹ Hòa bình (Liên Xô) trao tăng năm 1982

Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm sinh năm 1943, tại thôn Ưu Điềm, xà Phong

Hòa, huyện Phong Điềm, tỉnh Thừa Thiên Huế Quê gốc: làng An Cựu, xã Thủy An , thành phố Huế.Lúc nhỏ đi học ở quê, năm 1955 ra miền Bắc học tại trường học sinh miền Nam Sau khi tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm1964, vào miền Nam hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên Huế, tham gia quân đội , xây dựng cơ sở cách mạng, viết báo ,làm thơ, cho đến năm 1975 Ông thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Nguyễn Khoa Điềm từng là Tổng thư Ký Hội nhà văn Việt Nam (khóa V), Bộ trưởng bộ Văn hóa thông tin Từ năm 2001, ông là ủy viên Bộ ChínhTrị,

Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương

Nguyễn Khoa Điềm trưởng thành trong giai đoạn kháng chiến chống đế quốc Mỹ Tập thơ Đất ngoại ô và Trường ca Mặt đường khát vọng nhanh chóng khẳng định sự đóng góp và tài

Trang 28

thơNguyễn Khoa Điềm lúc bấy giờ có thể nói thơ Nguyễn Khoa Điềmlà thơ của một trí thức trẻ, giàu vốn sống thực tếvà vốn văn hóa,triết lý và trữ tình, suy tư và cảm xúc.

Các tác phẩm chính : Cửa thép (ký, 1972); Đất ngoại ô (thơ, 1973); Mặt đường khát vọng (trường ca, 1974); Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (thơ, 1986) ; Thơ Nguyễn Khoa Điềm (thơ,

- Bài thơ đã thể hiện truyền thống yêu nước thương dân một cách đặc

sắc qua hình ảnh bà mẹ cõng con lên rẫy những lời người mẹ ru con bộc lộ sâu sắc tinh thần yêu nước cùng ý chí quyết tâm đánh giặc đến cùng của đồng bào các dân tộc nói riêng và nhân dân ta nói chung

Nam Lào Từ năm 1967, chuyển khỏi quân đội về làm báo Văn nghệ Giải phóng Hiện công tác tại tuàn báo Văn nghệ

Các tác phẩm chính: Cát trắng (thơ, 1973); ánh trăng (thơ, 1984); Nhìn ra bể rộng trời cao (bút kí, 1985); Khoảng cách (tiểu thuyết, 1985); Mẹ và em (thơ, 1987); Đường xa (thơ, 1989); Quà tặng (thơ, 1990); (thơ, 1994);

Tác giả đã được nhận: Giải Nhất thơ tuần báo Văn Nghệ (1973); Tặng thưởng loại A về thơ của Hội Nhà văn Việt Nam (1985)

"Xuất hiện vào chặng cuối của chiến trang chống Mĩ cứu nước, từ khoảng 1972 trở đi, Nguyễn Duy đã trở thành một gương mặt tiêu biểu cho lớp nhà thơ trẻ thời chống Mĩ Cho đến nay, Nguyễn Duy vần là một trong số không nhiều nhà thơ "thời ấy" con sung sức và được bạn đọc yêu thích Có thể thấy tài năng và con đường thơ của ông phát triển và khẳng định gắn chặt với những tháng năm đầy những biến động của lịch sử dân tộc Những năm cuối cùng của cuộc chiến tranh, với chùm thơ đăng trên báo Văn nghệ nảm 1972, Nguyễn Duy đã chiếm được lòng mến mộ của độc giả Nhà phê bình Hoài Thanh có công phát hiện và giới thiệu Nguyễn Duy Ông đã khẳng định ở thơ Nguyễn Duy có một vẻ đẹp "không gì so sánh được" ,

"Quen thuộc mà không nhàm chán" , "Nguyễn Duy đặc biệt thấm thía cái cao đẹp của những cuộc đời cần cù, gian khổ" , chất thơ của Nguyễn Duy chính là "cái hiền hậu, một cái

gì rất Việt Nam"

Trang 29

Sau chiến thắng năm 1975, Nguyễn Duy vần say sưa và tiếp tục con đường thơ của mình Tiếng thơ của ông ngày càng đậm đà, ổn định một phong cách, một giọng điệu quen thuộc mà hấp dẫn người đọc Tập thơ nổi bật của Nguyễn Duy là tập ánh trăng (1984) Tập thơ được coi là một bước tiến trong thơ Nguyễn Duy , tập thơ đã được tặng Giải A của Hội Nhà văn Việt Năm 1984 (cùng với tập thơ hoa trên đá của Chế Lan Viên) ánh trăng tiếp tục viết về

bộ đội, về cuộc đời người lính sau chiến tranh với những vần thơ tha thiết và thấm thía, những trăn trở băn khoăn (ánh trăng, nghe tắc kè kêu trong thành phố ) Cũng ở tập thơ này, Nguyễn Duy còn dành nhiều bài thơ viết về tuổi thơ, ruộng đồng cây cỏ, những vùng quê với

những con người thân thuộc bằng một tình cảm tha thiết nặng tình, nặng nghĩa (Đò Lèn, Tuổi thơ, Cầu Bố, Ông già sông Hậu, Gửi Huế, Lời của cây, Sông Thao, Đà Lạt một lần trăng, )

Vần tiếp tục chất giọng ca dao đậm đà, thân thuộc nhiều bài trong ánh trăng viết theo thể lục bát hết sức nhuần nhị, ngọt ngào nhiều khi khó mà nbiết phân biệt được những bài ca dao (Từ điển tác giả tác phẩm văn học Việt Nm dùng trong nhà trường)

Sa Pa là

truyện ngắn tiêu biểu như thế Truyện viết về một thị xã nhỏ bé của tỉnh Lào Cai luôn chìm đắm trong sương mù: Sa Pa Đén với nới ấy là những con người thật: một anh thanh niên làm công tác khí tượng thủy văn trên đỉnh Yên Sơn cao 2600 mét, một cô kĩ sơ nộng nghiệp mới

ra trường, một bác lái xe già đã chạy suốt 30năm trên tuyến đường Sa Pa, một họa sĩ đi thực

tế chuyến cuối cùng - của cuộc đời công tác trước khi nghỉ hưu, bốn gương mặt tiêu biểu, bốn tính cách khác nhau: anh thanh niên đầy nhiệt huyết bộc trực, chân thành, cô kĩ sư trẻ hồn nhiên nhưng kín đáo tế nhị, ông họa sĩ trầm tĩnh sâu lắng, còn bác lái xe thì sôi nổi, vui tính Họ tình cờ gặp nhau trên con đường tới Sa Pa mà bỗng trở nên gần gũi và thân thiết như một gia đình Tuy tính tình và nghề nghiệp khác nhau, nhưng tất cả đều có chung một tâm hồn trong sáng, tinh tế, một suy nghĩ lành mạnh sâu sắc và nhất là họ có chung một thái độ sống, lao động, lầm việc và cống hiiến hết mình cho Tổ quốc một cách vô tư hồn nhiên, âm thầm và lặng lẽ.Đó là một truyện ngăn hay tiêu biểu cho phong cách của Nguyễn Thành Long: nhẹ nhàng kín đáo mà rất sâu sẵcvà thấm đẫm chất thơ (Từ điiển tác giả tác phẩm văn học Việt Nam dùng cho nhà trường )

Trang 30

Các tác phẩm chính: Bát cơm cụ Hồ( 1953); Chuyện nhà chuyện xưởng( 1962); những tiếng vỗ cánh(1967); Giũa trong xanh(1972); Nửa đêm về sáng(1978); Lí Sơn mùa tỏi(1980); Sáng mai nào, xế chiều nào(1984)

2 Tác phẩm:

Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa được nhà văn Nguyễn Thành Long viết năm 1970 sau chuyến

đi Lào Cat của tác giả

Thông qua một tình huống gặo gỡ bất ngờ giữa ông họa sĩ già, cô kĩ sư trẻ với anh thanh niên làm công tác ở trạm khí tượng trên đỉnh Yên Sơn thuộc Sa Pa, tác giả khẳng định vẻ đẹp của con người lao động và ý nghĩa của những công việc thầm lặng

Nguyễn Quang Sáng "Chiếc lược ngà"

1 Tác giả :

Nhà văn Nguyễn quang Sáng sinh năm 1932, qua ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang Trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp, ông tham gia bộ đội, hoạt động ở chiến trường Nam Bộ Từ sau năm 1954

tập kết ra bắc Nguyễn Quang Sáng bắt đầu viết văn Trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước, ông trở về Nam Bộ tham gia kháng chiến và tiếp tục sáng tác văn học

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng viết nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim

và hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như sau hòa bình

"Lối viết của Nguyễn Quang Sáng giản dị , mộc mạc nhưng sâu sắc, viết để "phục vụ ngay,

để đánh trả lại kẻ thù từng miếng từng nhát thật sâu" Ông đã khắc họa những hình ảnh chân duung thực, đẹp đẽ của những con người miền Nam kháng chiến Đó là hình ảnh những người dân Sài Gòn đánh địch ngoan cường theo "kiểu Sài Gòn" ( Chị Nhung, Sài Gòn dưới tầng khói) đó là những người nông dân đồng bằng sông Cửu Long như anh Báy Ngàn bình thản ngồi hút thuốc sau khi quần nhau mấy lần hút chết với giặc

( Một chuyện vui) hay anh Ba Hoành trong Quán rượi người câm cắn răng chụi đựng những trận tra tấn của kẻ thù đến hóa câm, bốn năm ở nhà với vợ trông nom một quán rượi ven sông

và âm thầm chuẩn bị lực lượng cho ngày đống khởi Trong những năm kháng chiến, tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng đã có tác dụng to lớn trong việc cổ vũ, động viên sức chiến đấu mạnh mẽ của nhân dân miền Nam, củng cố niềm tin yêu của cả nước đối với đồng bào nơi thành đồng Tổ quốc" ( Từ điển tác giả, tác phẩm văn xuôi dùng trong nhà trường)

Với thể loại truyện ngắn, qua nhiều tác phẩm, ông đã khẳng định một phong cách đậm đầ chất Nam bộ từ việc xây dựmh khung cảnh thiên nhiên đến kháec họa tính cách con người

Các tác phẩm chính: Con chim vàng ( 1957); Người quê hương (truyện ngắn,1958); Nhật

kí người ở lại (tiểu thuyết,1962); Đất lửa (1963); Câu chuyện bên trận địa pháo (truyện vừa,1966); Chiếc lược ngà (truyện ngắn 1966); Bông cẩm thạch (truyện ngắn, 1969); Mùa gió chướng ( tiểu thuyết, 1975); Người con đi xa (truyện ngắn 1977); Dòng sông thơ ấu (tiểu thuyết, 1985); Bàn thờ tổ của một cô đào (truyện ngắn, 1985); Tôi thích làm vua

(truyện ngắn, 1988); Paris - tiếng hát Trịnh Công Sơn (1990); Con mèo Fujita (truyện ngắn, 1991); Mùa gió chướng (1977, kịch bản phim); Cánh đồng hoang (1978, kịch bản phim); Cho đến bao giờ (1982); Mùa nước nổi

Trang 31

(1986); Dòng sông hát (1988); Câu nói dối đầu tiên (1988); Thời thơ ấu (1995); Giữa dòng (1995); Như một huyền thoại (1995);

Tác giả đã được nhận : Giải thưởng cuộc thi truyện ngắn báo Thống nhất (1995); Giải thưởng cuộc thi truyên ngắn Tạp chí văn nghệ quân đội (1959); Giải thưởng Hội đồng văn học thiếu nhi Hội Nhà Văn (1985); Giải thưởng thưởng Hội Nhà Văn Việt Nam 1993; Huy chương vàng Liên hoan phim toàn quốc (1980); Huy chương vàng Liên hoan phim ở Matxcơva (1981); Huy chương bạc Liên hoan phim toàn quốc (1980)

2 Tác phẩm:

Truyện chiếc lược ngà được nhà văn Nguyễn Quang Sáng viết năm 1966 tại chiến Nam Bộ trong thời kì cuộc kháng chiến chông đế quốc Mĩ của nhân dân ta đang diễn ra quyết liệt Đây là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật Nguyễn Quang Sáng Băng nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật đặc sắà xây dựng tình huống bất ngờ, tác giả đã thể hiện một cách cảm động tình cha con của ông Sáu và bé Thu

Chế Lan Viên "Con cò"

1 Tác giả:

Nhà thơ Chế Lan Viên (1920 - 1989) tên khai sinh là Phan Ngọc Hoan, quê ở Cam Lộ - Quảng trị Trước CM tháng 8, Chế Lan Viên đã nổi tiếng trong phong trào Thơ Mới qua tập Điêu tàn, Chế Lan Viên đã có những đóng góp lớn vào những thành tựu của văn học kháng chiến, ông là một trong những tên tuổi hành đầu ở nền thơ Viết Nam thế kỉ XX

"17 tuổi với tập thơ Điêu tàn, Chế lan Viên đã làm nên "một niềm tin kinh dị "trên thi đài của Việt Nam đầu thế kỉ Bộc lộ bằng một cảm xúc khác thường, quay lưng lại với thực lại

hiện hữu: "hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh - Một vì sao trơ trọi cuối trời xa - Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh - những ưu phiền đau khổ với buồn lo" Chế Lan Viên tìm về quá

khứ của dân tộc Chăm cũng là một cách diễn tả tâm trạng mình về hiện thực của dân tộc Phần tích cực lẫn hạn chế trong hồn thơ Chế Lan Viên giao thao trên những nội buồn, giấc

mơ, những dằn vặt về sự tồn tại của chính mình Khi những quan điểm Điêu tàn đến Vàng sao đã không còn phù hợp, Chế Lan Viên rơi vào thần bí, bế tắc Chỉ còn một cách lựa chọn

là hướng cảm xúc của chủ thể sáng tạo và yêu cầu mới, Chế Lan Viên đã bắt gặp ngọn nguồn của sáng tạo sau CM tháng 8 1945

Với Gửi các anh, tập thơ viết trong kháng chiến chống thực dân Pháp Chế Lan Viên đã cố gắng tiếp cận với hiện thực cách mạng Những ở đây, con người công dân và con người nghệ

sĩ vẫn chưa gặp nhau, bản sắc thi sĩ chưa kịp định hình Chỉ đến ánh sáng và phù sa, Chế Lan Viên mới thực sự "từ thung lũng đau thương đến cánh đông vui", làm nên một gương mặt thi nhân tài hoa vào độc đáo trong nền thơ ca cách mạng Việt Nam Từ đây cho những bài thơ cuối đời, cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên luôn vận động vào phát triển, thống nhất trong đa dạng Thơ Chế Lan Viên đã tạo được một sức mạnh ám ảnh đối với người đọc trên

cả hai phương diện cảm xúc và trí tuệ Với ý thức phục vụ cáh mạng, phục vụ cuộc sống bằng thi ca, thơ Chế lan Viên đã muốn là tiếng nói thi ca lịc sử đất nước trong thời đại mới Trong những cảm hứng từ vĩ mô đến vi mô có cả chim báo bão, có cả hai ngày thường, có đối thoại mới lẫn độc thoại với chính mình

Trang 32

Chế Lan Viên là nhà thơ có công đầu trong việc cách tân câu thơ Việt Nam Ông đã làm một cuộc cách mạng về câu thơ, dòng thơ, khuôn khổ, phạm vi câu thơ cũ bị phá vỡ Thay vào đó, là các bài thơ tự do xuất hiện ngày càng nhiều với những câu thơ dài ngắn xen lẫn nhau với các cặp phạm trù đối lập nhằm biểu đạt ý tưởng lớn của bài thơ Chế lan Viên đa diện, đa chiều, nhiều tầng ngữ nghĩa, chủ yếu thể hiện ở chiều sâu, ở tần triết lí, có sự gặp gỡ của hai nền thơ ca phương Tây và phương Đông.Chế Lan Viên còn là một trong số những nhà thơ hiếm hoi là thơ tứ tuyệt thành công nhất trong thơ ca Việt Nam hiên đại, kết hợp hài hòa giữa cái đẹp truyền thống và hiện đại" (từ điển tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam dùng cho nhà trường,sdd)

Các tác phẩm chính: Điêu tàn (1937); Gửi các anh (1954); ánh sáng và phù sa (1960); Hoa ngày thường,Chim báo bão (1967); Những bài thơ đánh giặc (1972); Đối thoại mới (1973); Hoa trước lăng Người (1976); Hái theo mùa (1977); HoaTrên đáTuyển tập Chế Lan Viên (hai tập 1985); Di cảo I (1994); Di cảo II (1995) Về văn xuôi có các tập ký: Thăm Trung Quốc (1963); Những ngày nổi giận (1966); Giờ của số thành (1977); Nói chuyện văn thơ (1960); Phê bình Văn học (1962); Vào nghề (1962); Suy nghĩ và bình luận (1971); Bay theo đường dân tộc đang bay (1976); Nghĩ cạnh dòng thơ (1981); Từ gác Khuê văn đến quán trung tân ( 1981);

Tác giả đã nhận được huân chương độc lập hạng 2 (năm 1988) Giả thưởng Hồ Chí Minh

về văn học và nghệ thuật (1996); Giải A giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 1985( Tâp thơ Hoa trên đá ); Giải thưởng hội nhà Văn Việt Nam 1994 (Di cảo I và Di cảo

II )

2 Tác phẩm :

Bài thơ Con cò được rút trong tập Hoa ngày thường ,Chim báo bão (1967) thông qua hình tượng con cò- một hình ảnh quên thuộc của những lời hát ru trong ca dao - tác giả muốn đề cao ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng và muốn khẳng định ý nghĩa lời ru đối vơí cuộc đời mỗi con người

Thanh Hải "Mùa xuân nho nhỏ"

1 Tác giả :

Nhà thơ Thanh Hải (1930 - 1980) quê ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế Ông hoạt động văn nghệ trong suốt những năm kháng chiến chống thực dân Pháp rồi chống đế quốc Mĩ và là một trong số những cây bút có công xây dựng nền văn học cách mạng ở mirnf Nam thời kì đầu

Các tác phẩm chính: Những đồng chí trung kiên (1962); Huế mùa xuân (tập 1, 1970; tập 2, 1975); Dấu võng Trường Sơn (1977); Mùa xuân đất này (1982); Thanh Hải thơ tuyển tập

Trang 33

Nhà thơ Viễn Phương sinh năm 1928, quê ở tỉnh An Giang Ông là một trong những cây bút ccó mặt sớm nhất của lực lượng Văn nghệ Giải phóng ở miền Nam thời kì chống Mĩ cứu nước Thơ Viễn Phương còn nhỏ nhẹ, giàu tình cảm, khá quen thuộc với bạn đọc thời kì kháng chiến chống đế quốc Mĩ.

Các tác phẩm chính: Chiến thắng Hòa Bình (trường ca, 1953); Anh hùng mìn gạt (tập truyện kí, 1968); Mắt sáng học trò (tập thơ, 1970); Lời di chúc

(trường ca, 1972); Như mây màu xuân (tập thơ, 1978); Sắc lụa Trữ la (tập truyện, 1988); Phù

sa quê mẹ (tập thơ, 1991); Quê hương địa đạo (tập truyên và kí);

Tác giả đã được nhận: Giải Nhì Giải thưởng Cửu Long Nam Bộ (1954); Giải Nhì Cuộc thi viết cho thiếu nhi do Mặt trận tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức; Giải thưởng Hội nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh; Tăng thưởng ủy ban toàn quốc Liên hiệp Văn học - Nghệ thuật Việt Nam

2 Tác phẩm:

- Bài thơ Viếng lăng Bác được viết khi lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng xong, đất nước thống nhất, đồng bào miền Nam đã có thể thực hiện được mong ước ra viếng Bác Trong niềm xúc động vô bờ của đoàn người vào lăng viếng Bác, Viễn Phương đã viết bài thơ này

Hữu Thỉnh "Sang thu"

Năm 1981, sau khi tốt nghiệp trường viết văn Nguyễn Du( khóa 1), Hữu Thỉnh về làm phó tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Quân đội ông được bầu vào Ban Chấp hành Hội nhà Văn Việt Nam từ khóa III(1983) đến nay Hiện là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Phó Chủ t5ịch Hội liên hiệpVăn học - Nghệ thuậtViệt Nam, đại biểu Quốc hội khóa X, XI

"Trước khi là nhà thơ, Hữu Thỉnh đã là một người lính, sống thậy sự cuộc sóng của mình giữa lòng cuộc chiến đấu của dân tộc, Hình tượng người lính và hiện thực lớn lao, sôi động của những năm tháng chiến tranh ác liệt đã trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo cho các tập

thơ của Hữu Thỉnh Ngay ở tập thơ âm vang chiến hào, Hữu Thỉnh đã có một giọng điệu

riêng chân thật trong cảm xúc, tinh tế và có nhiều tìm tòi trong cách biểu hiện Sức bền của đất, Trên một chiếc xe tăng và Chuyến đò đêm giáp ranh là những bài thơ được nhiều người biết tiếng Một trong những đặc điểm đưa đến sự thành công trong thơ Hữu Thỉnh là sự vận dụng nhuần nhuyễn và linh hoạt những câu tục ngữ , ca dao dân gian Nét đặc trưng này cũng

là một điểm mạnh và là yếu tố cơ bản hình thành cá tính thơ Hữu Thỉnh làm nên nét đặc sắc cho thơ ông Trường ca Đường tới thành phố đời đã thực sự đánh dấu một giai đoạn trưởng thành của thơ Hữu Thỉnh Hiện thực của mỗi thời chiến trận đã được thể hiện với một quy môvà chiều dày hơn hẳn những tác phẩm ở những giai đoạn trước Bằng những hình tượng

Trang 34

tiêu biểu đầy cảm xúc, chặng đường dẫn đến chiền thắng của dân tộc được miêu tả và lí giải hợp lí, đạt hiệu quả nghệ thuật cao, trong đó có khá nhiều những câu thơ tài hoa xúc động Trường ca Biển viết về đảo Trường Sa là một cuộc đối thoại khôn cùng giữa con người và biển cả Nhiều suy nghĩ và chiêm nghiệm sâu sắcvề cuộc đời đã được thể hiện trong đó Trước đây những câu thơ hay của Hữu Thỉnh thiên về cảm Bây giờ câu thơ của ông đậm màu triết luận, có sức nặng của suy nghĩ và chiêm nghiệm Chất lượng thơ Hữu Thỉnh thể hiện một quá trình phấn đấu không ngừng Tập Thư mùa đông là một nỗ lực tự vươn lên mình của ông"(từ điển tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam dùng cho nhà trường Sđđ)

Các tác phẩm chính: âm vang chiến hào (in chung 1975); Đường tới thành

phố (trường ca, 1979); Khi bé Hoa ra đời (thơ thiếu nhi, in chung); Thư mùa

đông (1984) ; Trường ca Biển (1984); Từ chiến hào đến thành phố (1985);

Tác giả đã được nhận : Giải nhất cuộc thi thơ báoVăn nghệ(1976), Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam(1980,1995); Giải thưởng văn học ASEAN

(1999); Giải thưởng Nhà nước (2001);

Hữu Thỉnh có nhiều bài thơ hay về con người và cuộc sống nông thôn

Y Phương nhập ngũ năm 1968, phục vụ trong quân đội đến năm 1981 chuyển về công tác tại Sở Văn hóa-Thông tin Cao Bằng

Thơ Y Phương như một bức tranh thổ cẩmđan dệt những màu sắc khác nhau, phong phú và

đa dạng, nhưng trong có màu sắc chủ đạo, âm điệu chính là bản sắc dân tộc rất đậm nét và độc đáo Nết độc đáo đó nằm ở cả nội dung và hình thức Với Y Phương, thơ của dân tộc Tày nói riêng và thơ Việt nam nói chung, có thêm một giọng điệu mới, một phong cach mới (Từ điển tác giá tác phẩm văn học Việt Nam dùng trong nhà trường)

Các tác phẩm chính: Người hoa núi(kịch bản sân khấu, 1982);Tiếng hát tháng giêng(thơ, 1986); Lửa hồng một góc( thơ in chung, 1987);Lời chúc

(thơ,1991); Đàn then (thơ, 1996)

Tác giả đã nhận được: giải A cuộc thi thơ tạp chí Văn nghệ quân dội; Giải thưởng loại A Giải thưởng văn học 1987 của hội nhà văn Việt Nam

2 Tác phẩm:

Về hoàn cảnh ra đời bài thơ Nói với con, nhà thơ Y Phương cho biết:

Những năm cuối bảy mươi đầu tám mươi của thế kỉ XX , đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân ta cả nước nói chung, nhân đan cả nước nói chung, nhân dân các dân tộc thiểu số ở miền núi nói riêng, vô cùng khó khăn thiếu thốn Bởi vì đất nước ta vừa ra khỏi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ lâu dài và cục kì gian khổ Hiện thực xã hội ấy đã tác động sâu sắc

Trang 35

đến đời sống con người Đại bộ phận nhân dân ta vẫn kiên trì khắc phục và tìm mọi cách để vượi qua để duy trì đời sống Họ vẫn tồn tại và không ngừng sinh trưởng là không phải nhờ vào phép màu của lượng siêu nhiên nào mà chỉ dựa vào sức mạnh tinh thần của truyền thống văn hóa từ ngàn đời mà ông cha ta để lại.

Cuối năm 1975, tôi cũng mới từ mắt trận trở về, sau tám năm đánh giặc xa

nhà nay trở về lấy vợ sinh con trong bối cảnh túng thiếu bần hàn chung của

toàn xã hội Nhìn cách con cầm bát cơm ăn không thịt cá mà lòng xót đau khôn tả Bởi chúng tôi cũng như nhiều gia đình cán bộ khác chỉ sống bằng đồng lương quá ít ỏi Hàng hoá khan hiếm, giá cả leo thang từng ngày đến chóng mặt Bên cạnh cái tốt của những người làm ăn lương thiện, không ít những con người bị tha hóa biến chất Họ buôn bán lận, lợi dụng khẽ hở của nhà nước móc lối làm ăn phi pháp ở miền Nam, một bộ phận nhỏ công chức dưới thời ngụy quyền Sài Gòn không chịu được đã tìm mọi cách để vượt biên trốn ra nước ngoài

Từ hiện thực khó khăn ngày ấy, tôi làm bài thơ này để tâm sự với chính mình, động viên mình, đồng thời là để nhắc nhở con cái sau này.”

Nguyễn Minh Châu - "Bến quê"

và sự nghiệp vă học của Nguyễn Minh Châu còn tiềm ẩn nhiều vấn, nhiều ngợi ý có khả năng hứa hẹn cho việc tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu ở những bình diện và phương pháp tiếp cận mới.” (Nguyễn Trọng Hoàn, Nguyễn Minh Châu- về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục 2001)

Các tác phẩm chính : Cửa sông (tiểu thuyết, 1967) ; Những vùng trời khác nhau ( Tập truyện ngắn, 1970) ; Dấu chân người lính (tiểu thuyết, 1972) ; Từ giã tuổi thơ (tiểu thuyết, 1974) ; Miền cháy (tiểu thuyết, 1977) ; Lửa từ những ngôi nhà (tiểu thuyết,1977) ; Những ngày lưu lạc (tiểu thuyết, 1981); Những người đi từ trong rừng ra (tiểu thuyết, 1982) ; Người đàn bà trên chiến tàu tốc hành ( Tập truyện ngắn, 1983) ; Đảo đá kì lạ ( 1985) ; Mảnh đất tình yêu (tiểu thuyết, 1987) ; Chiếc thuyền ngoài xa ( Tập truyện ngắn, 1987) ; Cỏ lau ( Tập truyện vừa, 1989) ; Trang giấy chiếc đèn ( tiểu luận phê bình, 1994) ;

Tác giả đã được nhận : Giải thưởng bộ quốc phòng ( 1984, 1989) ; Giải thưởng hội nhà văn Việt Nam ( 1988, 1989) ; Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật ( 2000)

2 Tác phẩm:

Truyện ngắn Bến Quê in trong tập truyện cùng tên của Nguyễn Minh

Châu, xuất bản năm 1985 Trong truyện ngắn này, ngòi bút của nhà văn hướng vào đời sống thế sự nhân sinh thường ngày với những xhi tiết sinh hoạt đời để phát hiện được chiều sâu của cuộc sống với bao quy luật và nghịch lý, vượt ra khỏi cách nhìn, cách nghĩ trước đây của

cả xã hội và của chính tác giả

Trang 36

Lê Minh Khuê - "Những ngôi sao xa xôi"

1978 đến nay, nhà văn Lê Minh Khuê là biên tập viên nhà xuất bản Hội Nhà văn

Là nhà văn sở trường về truyện ngắn, từ sau năm 1975, sáng tác của Lê Minh Khuê đã bám sát những biến chuyển của đời sống, đề cập đến nhiếu vấn đề bức xúc của xã hội thời điểm mới Ngòi bút miêu tả tâm lí của Lê Minh Khuê khá sắc sảo, nhất là khi miêu tả tâm lí phụ nữ

Các tác phẩm chính: Cao điểm mùa hạ ( 1978) ; Đoàn kết (1980) ; Thiếu nữ mặc áo dài xanh (1984) ; Một chiều xa thành phố (1987) ; Em đã không quên (1990) ; Bi khịch nhỏ (1993) ; Trong làn gió heo may (1998) ;

Tác giả đã được nhận: Giải thưởng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam năm 1987 ( tập truyện ngắn: Mội chiều xa thành phố)

2 Tác phẩm:

Truyện Những ngôi sao xa xôi viết về ba cô gái thanh niên xung phong làm nhiệm vụ phá bom ở một cao điểm trong thời kì cuộc chiền tranh trống đế quốc Mĩ đang diễm ra khốc liệt Miêu tả các cô gắi hằng ngày, hằng giờ đối mặt với nguy hiểm nhưng hấ dẫn của truyện không phải ở những chi tiết, sự kiện hòi hộp, nóng bỏng mà ở khả năng miêu tả đời sống tâm hồn con người khá sinh động, sâu sắc của tác giả

G MỘT SỐ BÀI TẬP:

BT1 Chép lại chính xác 4 dòng thơ đầu trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân trích” trong

“Truyện Kiều” của Nguyễn Du Viết khoảng 5 câu nhận xét về nội dung và nghệ thuật của

đoạn thơ đó

Gợi ý: Ngày xuân con én đưa thoi,

Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi

Cỏ non xanh tận chân trời,

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ (1 điểm)

+ Bức tranh mùa xuân được gợi lên bằng nhiều hình ảnh trong sáng : cỏ non, chim én, cành hoa lê trắng là những hình ảnh đặc trưng của mùa xuân

+ Cảnh vật sinh động nhờ những từ ngữ gợi hình : con én đưa thoi, điểm

+ Cảnh sắc mùa xuân gợi vẻ tinh khôi với vẻ đẹp khoáng đạt, tươi mát

BT2 Nhận xét về nghệ thuật tả người của Nguyễn Du qua đoạn trích “Mã Giám Sinh mua Kiều”.

Trang 37

Gợi ý: Nhận xét nghệ thuật tả người của Nguyễn Du qua đoạn trích “Mã Giám Sinh mua Kiều” cần đạt được các ý cơ bản sau :

- Bút pháp tả thực được Nguyễn Du sử dụng để miêu tả nhân vật Mã Giám Sinh Bằng bút pháp này, chân dung nhân vật hiện lên rất cụ thể và toàn diện : trang phục áo quần bảnh bao, diện mạo mày râu nhẵn nhụi, lời nói xấc xược, vô lễ, cộc lốc "Mã Giám Sinh", cử chỉ hách dịch ngồi tót sỗ sàng tất cả làm hiện rõ bộ mặt trai lơ đểu giả, trơ trẽn và lố bịch của tên buôn thịt bán người giả danh trí thức

- Trong Truyện Kiều, tác giả sử dụng bút pháp tả thực để miêu tả các nhân vật phản diện như

Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh, Hồ Tôn Hiến phơi bày bộ mặt thật của bọn chúng trong

xã hội đương thời, nhằm tố cáo, lên án xã hội phong kiến với những con người bỉ ổi, đê tiện đó

BT3 Phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ sau:

"Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo"

(Đồng chí – Chính Hữu)

Gợi ý: Học sinh cần làm rõ giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ như sau :

- Cảnh thực của núi rừng trong thời chiến khốc liệt hiện lên qua các hình ảnh : rừng hoang, sương muối Người lính vẫn sát cánh cùng đồng đội : đứng cạnh bên nhau, mai phục chờ giặc

- Trong phút giây giải lao bên người đồng chí của mình, các anh đã nhận ra vẻ đẹp của vầng

trăng lung linh treo lơ lửng trên đầu súng : "Đầu súng trăng treo" Hình ảnh trăng treo trên

đầu súng vừa có ý nghĩa tả thực, vừa có tính biểu trưng của tình đồng đội và tâm hồn bay bổng lãng mạn của người chiến sĩ Phút giây xuất thần ấy làm tâm hồn người lính lạc quan thêm tin tưởng vào cuộc chiến đấu và mơ ước đến tương lai hoà bình Chất thép và chất tình hoà quyện trong tâm tưởng đột phá thành hình tượng thơ đầy sáng tạo của Chính Hữu

BT4.Phần cuối của tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” được tác giả xây dựng

bằng hàng loạt những chi tiết hư cấu Hãy phân tích ý nghĩa của các chi tiết đó

Gợi ý: Các chi tiết hư cấu ở phần cuối truyện : cảnh Vũ Nương gặp Phan Lang dưới thuỷ

cung, cảnh sống dưới Thuỷ cung và những cảnh Vũ Nương hiện về trên bến sông cùng những lời nói của nàng khi kết thúc câu chuyện Các chi tiết đó có tác dụng làm tăng yếu tố li kì và làm hoàn chỉnh nét đẹp của nhân vật Vũ Nương, dù đã chết nhưng nàng vẫn muốn rửa oan, bảo toàn danh dự, nhân phẩm cho mình

- Câu nói cuối cùng của nàng : “Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa” là lời nói có ý nghĩa tố cáo sâu sắc, hiện thực xã hội đó không có chỗ cho nàng dung

thân và làm cho câu chuyện tăng tính hiện thực ngay trong yếu tố kì ảo : người chết không thể sống lại được

BT5 Nêu tác dụng của việc sử dụng từ láy trong những câu thơ sau:

Nao nao dòng nước uốn quanh,Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang

Sè sè nấm đất bên đường,Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh

Trang 38

Gợi ý:

- Đây là 4 câu thơ trong đoạn “Cảnh ngày xuân” trích truyện Kiều của Nguyễn Du 4 câu thơ đã sử dụng các từ láy như: nao nao, nho nhỏ, sè sè, rầu rầu trong đó các từ láy “nao nao, rầu rầu” là các từ láy góp phần quan trọng tạo nên sắc thái cảnh vật và tâm trạng con người

- Việc sử dụng từ láy đó có tác dụng trong đoạn thơ, cụ thể là:

+ Các từ láy nao nao, rầu rầu là những từ láy vốn thường được dùng để diễn tả tâm trạng con người

+ Trong đoạn thơ, các từ láy nao nao, rầu rầu chẳng những biểu đạt được sắc thái cảnh vật (từ nao nao: góp phần diễn tả bức tranh mùa xuân thanh nhẹ với dòng nước lững lờ trôi xuôi trong bóng chiều tà; từ rầu rầu: gợi sự ảm đạm, màu sắc úa tàn của cỏ trên nấm mộ Đạm Tiên) mà còn biểu lộ rõ nét tâm trạng con người (từ nao nao: thể hiện tâm trạng bâng khuâng, luyến tiếc, xao xuyến về một buổi du xuân, sự linh cảm về những điều sắp xảy ra - Kiều sẽ gặp nấm mộ Đạm Tiên, gặp Kim Trọng; từ rầu rầu: thể hiện nét buồn, sự thương cảm của Kiều khi đứng trước nấm mồ vô chủ)

+ Được đảo lên đầu câu thơ, các từ láy trên có tác dụng nhấn mạnh tâm trạng con người - dụng ý của nhà thơ Các từ láy nao nao, rầu rầu đã làm bật lên nghệ thuật tả cảnh đặc sắc trong đoạn thơ: cảnh vật được miêu tả qua tâm trạng con người, nhuốm màu sắc tâm trạng con người

BT6 Truyện “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê được trần thuật từ ngôi kể nào?

Việc chọn ngôi kể như vậy có tác dụng gì trong việc thể hiện nội dung truyện ?

+ Làm cho câu chuyện sinh động, khách quan và chân thực hơn

BT7 Suy nghĩ về nhan đề của bài thơ “Bếp lửa” ? ( Bằng Việt).

Gợi ý:

- Nhan đề bài thơ gợi lên nét văn hoá gần gũi, bình bị, thân thương của dân tộc Việt Nam

- Gợi lên sự ấm áp, chắt chiu tình cảm của người bà dành cho cháu

- Gợi lên nỗi nhớ, tình yêu gia đình, quê hương, đất nước của tác giả

BT8: Cảm nhận về hai câu thơ

“Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi,

Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng.”

BT9: Ý nghĩa biểu tượng của vầng trăng trong bài “Ánh trăng” của Nguyễn Duy.

BT10: Suy nghĩ về tấm lòng người mẹ qua hai dòng thơ:

“Con dù lớn vẫn là con của mẹ,

Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con.”

BT11: Trong bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải có mấy lần xuất hiện hình ảnh

cành hoa và tiếng chim? Ở mỗi lần xuất hiện, hai hình ảnh ấy nói về điều gì?

Trang 39

BT12: Nêu tình huống truyện và ý nghĩa của nó trong truyện ngắn “Bến quê” của Nguyễn

Minh Châu?

BT13: Chi tiết Vũ Nương chỉ bóng mình trên vách và nói đó là cha Đản chứng tỏ điều gì?

Gợi ý:

- VN rất yêu con, không muốn cho con thiếu thốn tình cảm của người cha

- VN rất chung thuỷ, luông nhớ và luôn nghĩ về chồng

- VN rất cô đơn, chỉ biết trò chuyện cùng chiếc bóng

BT14: “Bến quê” của Nguyễn Minh Châu là một truỵên ngắn giàu chất triết lí Hãy nêu

những triết lí đó?

Gợi ý:

- Triết lí về cuộc đời: Cuộc đời con người luôn chứa đựng những nghịch lí, những bất

thường, những điều bất ngờ vượt ra ngoài dự tính

- Triết lí về con người: Con người ta trên đường đời khó tránh khỏi những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình

- Triết lí về hạnh phúc: Hạnh phúc là những gì bình dị, gần gũi đang ở xung quanh chúng

ta, cần trân trọng và nâng niu nó

BT15: Nêu những điểm chung đã giúp những cô gái thanh niên xung phong trong tác phẩm

“Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê gắn bó làm nên một khối thống nhất

BT16:

“Mùa xuân người cầm súng

Lộc giắt đầy trên lưng”

(Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải)

Trong câu thơ trên, từ lộc được hiểu như thế nào? Theo em, vì sao người cầm súng được miêu tả “lộc giắt đầy trên lưng”?

Gợi ý:

- Từ “lộc” trong câu thơ trên có nhiều nghĩa:

+ Nghĩa gốc: Lộc là những mầm non nhs lên ở cây khi mùa xuân đến

+ Nghĩa chuyển: Lộc là sức sống, sức phát triển của đất nước với nhiệm vụ bảo vệ đất nước trong những ngày đầu xuân

- Hình ảnh người cầm súng được miêu tả “lộc giắt đầy trên lưng” là vì: Trên đường hành quân, trên lưng người lính lúc nào cũng có những cành lá để nguỵ trang, trên đó có những lộc non mới nhú lên khi mùa xuân đến Với nghĩa chuyển của từ lộc, ta cảm nhận anh bộ đội như mang trên mình mùa xuân của đất nước Anh cầm súng để bảo vệ mùa xuân tươi đẹp đó Cách diễn đạt sức sống của một đất nước đang vào xuân với nhiệm vụ lớn lao là bảo vệ đất nước thật cụ thể và sinh động

BT 17

Trong bài Mùa xuân nho nhỏ, Thanh Hải viết :

Ta làm con chim hót

Ta làm một cành hoa.

Kết thúc bài Viếng lăng Bác, Viễn Phương có viết :

Mai về Miền Nam thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác.

Trang 40

a Hai bài thơ của hai tác giả viết về đề tài khác nhau nhưng có chung chủ đề Hãy chỉ ra

tư tưởng chung đó

b Viết một đoạn văn khoảng 5 câu phát biểu cảm nghĩ về 1 trong hai đoạn thơ trên

+ Các nhà thơ đều dùng những hình ảnh đẹp của thiên nhiên là biểu tượng thể hiện ước nguyện của mình

b HS chọn đoạn thơ để viết nhằm làm nổi bật thể thơ, giọng điệu thơ và ý tưởng thể hiện trong đoạn thơ

- Đoạn thơ của Thanh Hải sử dụng thể thơ 5 chữ gần với các điệu dân ca, đặc biệt là dân ca miền Trung, có âm hưởng nhẹ nhàng tha thiết Giọng điệu thể hiện đúng tâm trạng và cảm xúc của tác giả : trầm lắng, hơi trang nghiêm mà tha thiết khi bộc ạch những tâm niệm của mình Đoạn thơ thể hiện niềm mong muốn được cống hiến cho đời một cách tự nhiên như con chim mang đến tiếng hót Nét riêng trong những câu thơ của Thanh Hải là đè cập đến một vấn đề lớn : ý nghĩa của đời sống cá nhân trong quan hệ với cộng đồng

- Đoạn thơ của Viễn Phương sử dụng thể thơ 8 chữ, nhịp thơ vừa phải với điệp từ muốn làm, giộng điệu phù hợp với nội dung tình cảm, cảm xúc Đó là giọng điệu vừa nghiêm trang, sâu lắng, vừa thiết tha th hiện đúng tâm trạng lưu luyến của nhà thơ khi phải xa Bác Tâm trạng lưu luyến của nhà thơ muốn ở mãi bên lăng Bác và chỉ biết gửi tấm lòng mình bằng cách hoá thân hoà nhập vào những cảnh vật bên lăng : làm con chim cất tiếng hót

Ngày đăng: 17/12/2015, 12:33

Xem thêm

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh tự nhiên, độc  đáo, giọng điệu khoẻ  khoắn, sôi nổi. - ÔN NGỮ VĂN 9
nh ảnh tự nhiên, độc đáo, giọng điệu khoẻ khoắn, sôi nổi (Trang 16)
Hình ảnh giọng điệu ca  dao, giọng thơ thiết  tha, trìu mến. - ÔN NGỮ VĂN 9
nh ảnh giọng điệu ca dao, giọng thơ thiết tha, trìu mến (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w