1.4.1.3.Động cơ truyền động kéo băng tải: Động cơ được điều chỉnh tốc độ bằng bộ biến tần để có thể điều chỉnh được thời gian vải đi qua máy; đồng thời nó có thể kết hợp với động cơ rải
Trang 1CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MÁY KHỬ ĐỘ CO VẢI
1.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐƠN VỊ CÓ THIẾT BỊ
Trong những năm gần đây ngành công nghiệp dệt may Việt Nam được tăng
cường đầu tư và phát triển phù hợp chung trong nền kinh tế của đất nước Công ty
May 10 cũng không nằm ngoài xu thế đó Là một doanh nghiệp chuyên sản xuất và gia
công hàng may mặc thuộc Tổng công ty dệt may Việt Nam là một trong những công
ty may hàng đầu của Việt Nam Ra đời từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến
chống Pháp chuyên sản xuất hàng may mặc phục vụ quân đội Ngày nay mặt hàng chủ
yếu của công ty là sơ mi cao cấp phục vụ nhân dân trong nước và xuất khẩu Từ năm
2004 để đa dạng hoá sản phẩm của mình công ty đã đầu tư xây dựng 2dây chuyền sản
xuất hàng comple Địa điểm chính của Công ty May 10 hiện nay nằm tại km 5 quốc lộ
5 trên đường Hà Nội đi Hải Phòng Tại đây Công ty có 5 xí nghiệp thành viên trong đó
3xí nghiệp chuyên sản xuất sơ mi và 2xí nghiệp may comple sử dụng trên 25000 máy
móc các loại với khoảng 5000 công nhân Ngoài ra để tạo công việc cho các lao động
tại tỉnh xa công ty đã liên doanh với các tỉnh để xây dựng các xưởng may tại đây như:
tỉnh Thái Bình có 3 xí nghiệp may, tỉnh Nam Định 1 xí nghiệp, thành phố Hải Phòng
1xí nghiệp, tỉnh Thanh Hoá 1xí nghiệp, tỉnh Quảng Bình 1xí nghiệp Để ra được một
sản phẩm may có chât lượng cao ngoài yếu tố con người ra thì máy móc thiết bị là một
yếu tố không thể thiếu Phù hợp trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất
nước nên máy móc và thiết bị của công ty được đầu tư trong những năm gần đây là
bán tự động và tự động chủ yếu sử dụng linh kiện điện tử
1.2 GIỚI THIỆU CÔNG NGHỆ MAY ÁO
Tại Công ty cổ phần May 10 để phù hợp với cách quản lý của một công ty cổ
phần với các xí nghiệp thành viên và các phòng ban phục vụ; trong một xí nghiệp
được chia thành các khu vực như sau:
+Khu vực cắt
+Khu vực may
+Khu vực là, hoàn thiện và đóng gói
Mỗi khi có một mã hàng mới thì phòng kỹ thuật có nhiệm vụ nghiên cứu để thiết
kế ra mẫu, thử nghiệm và tìm ra các thông số kỹ thuật của nó Với mẫu này vải từ kho
được đưa đến tổ cắt và được cắt thành các chi tiết nhỏ theo mẫu, các mẫu này được gọi
là mẫu bán thành phẩm Mẫu bán thành phẩm này được chuyển đến khu vực may, tại
Trang 2K IL
O B
O O
K S C O
M
đây các công nhân được tạo thành dây chuyền may ghép các mẫu này lại để tạo thành
một sản phẩm hoàn chỉnh theo đúng các thông số mà kỹ thuật đưa ra Khi đã có được
sản phẩm hoàn chỉnh sản phẩm này được bộ phận KCS kiểm tra lại theo các chỉ tiêu
kỹ thuật mà phòng kỹ thuật đưa ra Khi sản phẩm được kiểm tra đạt tùy từng loại vải
và mã hàng mà sản phẩm có thể được đem đi giặt Sản phẩm sau đó được chuyển tới
khu vực là; tuỳ từng loại sản phẩm mà có yêu cầu công nghệ và kỹ thuật là khác nhau
Có hai công nghệ là hay được sử dụng là công nghệ là thổi và công nghệ là ép Công
nghệ là thổi là sử dụng hơi nóng có áp suất để thổi vào sản phẩm, sau đó dùng hơi khí
nén hoặc hút chân không để làm khô sản phẩm Công nghệ này được sử dụng để là sản
phẩm comple Công nghệ là ép là sử dụng hai bục ép nóng và cốt của sản phẩm; sản
phẩm cần là được khoác vào cốt sau đó hai bục ép nóng được ép vào sản phẩm với
một lực nhất định (để tạo lực ép này thường sử dụng lực của hơi khí nén thông qua
xilanh) Công nghệ này thường được sử dụng để là sơ mi Khi sản phẩm được là xong
sẽ được đem đi gấp và đóng gói sau đó nhập kho
1.3 YÊU CẦU CỦA CÔNG NGHỆ
Thông thường các loại vải mới sau khi mang đi giặt, là sẽ xảy ra hiện tượng co
hoặc dãn, tuỳ từng loại vải mà có sự co dãn nhiều hay ít Chính vì vậy ngưòi kỹ
thuật khi thiết kế luôn phải tính toán đến sự co dãn này để tránh cho sản phẩm sau
khi sản xuất ra đem đi giặt sẽ không đạt yêu cầu Phương pháp đơn giản nhất để tìm
được độ co dãn của vải mà người ta thường áp dụng là chọn một mẫu vải có kích
thước nhất định và đem đi giặt, sấy khô và là với đầy đủ các yếu tố giống như sản
phẩm được sử dụng trong thực tế Sau đó mẫu vải này được kiểm tra lại và so sánh
với kích thước ban đầu từ đó có thể tính toán được độ co dãn của loại vải đó
Phương pháp này chỉ áp dụng được với những loại vải có độ co dãn ít nếu với loại
vải có độ co dãn lớn thì không thể tính toán được một cách chính xác dẫn đến sản
phẩm đến tay người tiêu dùng sau khi giặt sẽ không còn đẹp Đặc biệt, với sản phẩm
là comple với chất vải có độ co dãn lớn như len, dạ…và đặc biệt là yêu cầu không
được co dãn khi giặt là Với những loại vải này trước khi đem vào để may không
còn cách nào khác là phải giặt trước Điều này vấp phải một vấn đề là như thế thì
khối lượng vải cần giặt lớn, tốn kém dẫn đến đẩy giá thành sản phẩm lên cao Chính
vì vậy một loại máy chuyên dùng để xử lý độ co vải ra đời Máy này phải tạo ra
được tất cả các yếu tố giống như trong điều kiện thực tế mà sản phẩm đựơc sử dụng
Trang 3K IL
O B
O O
K S C O
M
để có thể thử nghiệm và sử lý được độ co dãn của vải trước khi vải được đưa vào
gia công thành sản phẩm
1.4 GIỚI THIỆU VỀ MÁY KHỬ ĐỘ CO VẢI
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại máy nhưng về công nghệ cơ bản để
sử lý vải là giống nhau, vì vậy ở đây em xin được giới thiệu về một loại máy sử lý
độ co vải có tên là JSM-622-T Máy này hiện nay đang được sử dụng tại công ty cổ
phần May 10 do hãng SENGA PHILIPPINES INC cung cấp
1.4.1.CẤU TẠO MÁY KHỬ ĐỘ CO:
Trang 4K IL
O B
O O
K S C O
4 Động cơ rải vải
5 Gi n hơi nóng
6 Sợi đốt
7 Động cơ hút
8 Động cơ rung băng tải
9 Cơ cấu chỉnh băng
Trang 5Động cơ rung băng tải
380V/1,6kW50/60Hz4,7A
Động cơ hút
380V/17kWSợi đốt
200V/0,75kW
Động cơ kéo băng tải
200V/0,75kW
Động cơ rải vải
BA2500VA400/220V
Trang 6K IL
O B
O O
K S C O
Trang 7K IL
O B
O O
K S C O
M
Hình 1-4: Cơ cấu chỉnh băng
Trang 8K IL
O B
O O
K S C O
M
1.4.1.1.Băng tải
Băng tải có kích thước1840×7500(mm); băng tải được chế tạo bằng một loại
vật liệu đặc biệt có độ bền chắc cao được dệt thành dạng lưới tạo ma sát để có thể
có thể dẫn vải đi từ đầu vào đến đầu ra của máy
Băng tải có thể chạy được nhờ có sự dẫn động của 5 con lăn và mô tơ truyền
động
1.4.1.2.Con lăn
Hình 1-5: Con lăn Con lăn có 2 loại có kích thước khác nhau:
+3 con lăn có kích thước đường kính Φ76(mm), có chiều dài 2000(mm) trong
đó 2con lăn có tác dụng tạo lực căng cho băng tải, 1 con lăn dùng để chỉnh băng tải
luôn ở vị trí giữa
+2 con lăn ở hai đầu băng tải có đường kính Φ113(mm), dài 2000(mm) trong
đó có 1 con lăn nhận lực kéo trực tiếp từ động cơ kéo băng tải
1.4.1.3.Động cơ truyền động kéo băng tải:
Động cơ được điều chỉnh tốc độ bằng bộ biến tần để có thể điều chỉnh được
thời gian vải đi qua máy; đồng thời nó có thể kết hợp với động cơ rải vải để có thể
tạo được lực căng của vải khi vải đi qua máy trong quá trình sử lý độ co Động cơ
được sử dụng trong máy này là động cơ 3 pha 200V công suất 0,75 (kW)
1.4.1.4.Động cơ rải vải
Vải được chế tạo và cuộn thành cuộn vì vậy động cơ này kết hợp với một quả
lô để tở vải ra khỏi cuộn sau đó đưa lên băng tải Động cơ này được điều khiển thay
đổi tốc độ bằng một bộ biến tần để có thể kết hợp với tốc độ của băng tải tạo lực
căng cho vải trong quá trình sử lý Động cơ được sử dụng là động cơ 3 pha 200(V)
công suất 0.75(kW)
Quả lô được động cơ rải vải kéo có đường kính Φ200(mm), có chiều dài
2000(mm) trên bề mặt phủ một loại vật liệu đặc biệt để tạo ma sát có thể kéo được
vải
Trang 9K IL
O B
O O
K S C O
M
1.4.1.5.Giàn hơi nóng:
Được cấu tạo dạng hình hộp chữ nhật có kích thước 900×1840×150(mm) bề
mặt có nhiều lỗ để có thể phun hơi nóng xuống vải Bên trong có các đường ống để
dẫn hơi nóng; hơi nóng được cấp từ nguồn bên ngoài có áp suất tối thiểu 4kg/cm2
Giàn hơi nóng này được lắp ở phía trên của băng tải Hơi nóng từ nguồn bên ngoài
đi vào giàn hơi nóng qua các lỗ trên bề mặt của giàn và phun xuống vải Khi vải đi
qua đây sẽ hấp thụ hơi nóng và vải sẽ mềm đi tức là tương đương với khi ta dùng
nước nóng để giặt Trong qúa trình này kết hợp với sự căng của vải do hai động cơ
rải vải và động cơ kéo băng tải tạo nên thì vải sẽ có hiện tưọng dãn
1.4.1.6.Sợi đốt:
Có công suất 17(kW), 3pha 380(V) Sợi đốt được cấu tạo liền nằm trong một
bục kim loại có kích thước 900×1840×200(mm) Sợi đốt này được lắp phía trên của
băng tải kết hợp với động cơ hút đặt phía dưới của băng tải tạo ra luồng không khí
nóng làm khô vải Nhiệt độ của sợi đốt khống chế và điều khiển bởi rơ le điều chỉnh
nhiệt độ thông qua một cảm biến, cảm biến này được lắp trên bục kim loại
1.4.1.7.Động cơ hút:
Có công suất 1,6(kW), sử dụng điện áp 3 pha 380(V), lực hút 4,5(kPa), thể tích
hút 22(m3/min) Động cơ hút được lắp một hệ thống ống hút và đặt ở phía dưới của
băng tải Hệ thống ống hút này được lắp đối diện với giàn nhiệt qua băng tải và kết
hợp với giàn nhiệt tạo luồng không khí nóng để làm khô vải
1.4.1.8.Động cơ rung băng tải:
Có công suất 0,1(kW), điện áp 3pha 380 (V) Động cơ rung được lắp một puli
lệch tâm và truyền lực rung vào một thanh nhôm đặt phía dưới băng tải qua một tay
biên Chính nhờ lực tác dụng rung của thanh nhôm này mà băng rung dẫn đến vải
cũng được rung Điều này chính là sự mô phỏng của quá trình khi ta giặt và giũ vải
bằng tay
1.4.1.9.Cơ cấu chỉnh băng:
Băng tải được chạy trên 5 con lăn; yêu cầu của băng tải là luôn phải chạy ở vị
trí giữa và nếu có lệch sang hai bên so với vị trí giữa một khoảng là nhỏ Muốn làm
được điều này người ta phải có một bộ phận để nhận biết được độ lệch của băng tải
và tự động điều chỉnh băng về vị trí giữa Để điều chỉnh được băng về vị trí giữa
người ta thường dùng phương pháp trượt băng, tức là nếu muốn băng tải lệch về
Trang 10K IL
O B
O O
K S C O
M
phía bên phải thì mép băng bên phải sẽ trùng hơn mép băng bên trái Khi đó băng
vừa chạy trên con lăn vừa có xu hướng trượt về phía bên phải nơi có mép băng
trùng hơn Thông thường người ta sử dụng một con lăn ở hai đầu có thể điều chỉnh
được để làm căng hoặc trùng mép băng Điều chỉnh con lăn này có thể sử dụng
động cơ để kéo hoặc dùng lực đẩy của khí nén thông qua xilanh Nếu sử dụng động
cơ thì phần điều khiển sẽ rất phức tạp, giá thành cao, tác động không nhanh Vì vậy
ở đây với máy này ta sử dụng hơi khí nén để chỉnh con lăn thông qua cơ cấu chấp
hành là xilanh
Trang 11K IL
O B
O O
K S C O
M
1.4.2.NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA MÁY:
1.4.2.1.Yêu cầu hoạt động:
-Điện áp cung cấp cho máy là điện áp 3pha 380(V), tần số 50 Hz
-Hơi khí nén tối thiểu 6kg/cm2
-Hơi nóng bão hoà 4-6 kg/cm2
1.4.2.2.Hoạt động của máy:
-Để cấp điện cho máy ta bật aptomat nguồn Q1 khi máy có điện và chờ hoạt
động
-Aptomat Q2 dùng để cấp điện cho máy biến áp BA, máy biến áp này có điện
áp sơ cấp 380V điện áp thứ cấp là 220V để cấp điện cho mạch điều khiển và biến
tần điều khiển động cơ rải vải và động cơ kéo băng tải Toàn bộ mạch điều khiển
được cấp từ máy biến áp thông qua contactor K1
-Aptomat Q3 và contactor K2 cấp điện cho giàn sợi đốt điện trở có công suất
17kW
-Aptomát Q4 và contactor K3 cấp điện cho động cơ rung băng tải
-Aptomat Q5 và contactor K4 cấp điện cho động cơ hút
*Để máy hoạt động được thì điều kiện đầu tiên là hơi khí nén phải đạt từ
4kg/cm2 trở lên khi đó đèn báo sẽ tắt, nếu không đèn báo thiếu khí sẽ sáng để người
vận hành biết Để khởi động máy ta ấn nút ấn M(4-5), khi đó contactor K1 có điện
đóng tiếp điểm K1(4-5) để tự duy trì và đóng tiếp điểm K1(1-6) cấp điện cho mạch
điều khiển Khi muốn dừng máy ta ấn nút ấn D(3-4) Khi mạch điều khiển có điện
bật công tắc S4 contactor K5 ,K6 có điện cấp điện cho hai biến tần điều khiển động
cơ kéo băng tải và động cơ rải vải Để hai contactor K5 , K6 , có điện thì công tắc S6
đóng(công tắc S6 là công tắc nhận biết được đã có vải nằm trên băng chuyền hay
chưa) Động cơ rải vải và động cơ kéo băng tải sẽ chạy thuận ngay nếu công tắc S10
đóng dẫn đến các van trong biến tần được điều khiển mở cấp điện áp thuận cho
động cơ Băng tải chạy trên 5 con lăn và được chỉnh để luôn chạy ở vị trí giữa nhờ
một con lăn, lực đẩy của xilanh (sơ đồ điều khiển xilanh như hình vẽ) Khi băng tải
bị lệch sang một bên nào đó, giả sử bị lệch về bên trái thì khi đó mép băng tải bên
trái sẽ tác động vào công tắc S7 dẫn đến S7(6-14) đóng lại rơle K7 có điện đóng tiếp
điểm K7(6-14) để tự duy trì Khi đó van hơi Y1.1 có điện mở van cấp hơi cho
xilanh; xilanh được lắp ở bên phải nên khi đó xilanh sẽ đẩy con lăn chỉnh băng lên
Trang 12K IL
O B
O O
K S C O
M
phía trên làm cho mép băng bên phải sẽ trùng hơn mép băng bên trái Băng tải vừa
chay trên con lăn vừa trượt về phía bên phải nơi có mép băng trùng hơn Khi băng
trượt về phía bên phải mép băng sẽ tác động vào công tắc S8, công tắc S8 là công tắc
thường đóng nên khi mép băng tải chạm vào nó thì dẫn đến S8(14-15) mở ra rơle K7
mất điện và van hơi Y1.1 mất điện theo Van hơi không được cấp điện dẫn đến
xilanh được cấp hơi qua cổng trực tiếp do đó pitton của xilanh thu lại kéo con lăn
phía bên phải thu vào làm cho mép băng bên phải căng hơn mép băng bên trái; băng
tải lại vừa chạy vừa trượt sang bên trái Nếu vì một lý do nào đấy giả sử van hơi bị
kẹt hoặc hai công tắc S7 , S8 không tác động thì băng sẽ chạy lệch về bên phải hoặc
bên trái quá khi đó mép băng sẽ tác động vào công tắc S5(10-12) (lắp ở vị trí của S5
, S6 nhưng sâu hơn một chút) làm cho K5 mất điện dẫn đến động cơ băng tải và
động cơ rải vải ngừng hoạt động Nếu muốn động cơ băng tải và động cơ rải vải
chạy ngược ta gạt công tắc sang vị trí S9 mở ra khi đó biến tần sẽ được điều khiển
mở van đảo chiều cấp điện cho động cơ chạy ngược
+Khi muốn sử dụng nhiệt độ bật công tắc S1(6-7) đồng hồ điều khiển nhiệt độ
được cấp điện Thông qua cảm biến B được lắp trong sợi đốt có tín hiệu phản hồi về
nên đồng hồ có thể điều khiển sự đóng cắt của contactor K2 cấp điện cho sợi đốt để
nhiệt độ của sợi đốt đạt được theo thông số đặt yêu cầu
+Để có thể hút khí nóng từ sợi đốt để làm khô vải ta bật công tắc S3 khởi động
từ K4 có điện cấp điện cho động cơ hút hoạt động Động cơ này được lắp cánh quạt
trong một buồng kín nên khi động cơ chạy cánh quạt sẽ hút gió từ trên sợi đốt
xuống tạo thành một luồng không khí nóng đi qua vải và làm khô vải
+Muốn rung băng tải ta bật công tắc S2 để khởi động từ K3 có điện cấp điện cho
động cơ rung hoạt động Khi động cơ chạy nhờ có một tay biên lắp lệch tâm với
trục động cơ còn đầu kia lắp vào một thanh nhôm dặt phía dưới băng tải nên băng
tải sẽ rung
Trang 13K IL
O B
O O
K S C O
M
CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG TRUYỀN ĐỘNG
CỦA BĂNG TẢI VÀ ĐỘNG CƠ RẢI VẢI 2.1.YÊU CẦU CHO TRUYỀN ĐỘNG KÉO BĂNG TẢI VÀ ĐỘNG CƠ RẢI
VẢI
Điều quan trọng của máy khử độ co vải là tốc độ của băng tải để đưa vải đi qua
máy để sử lý Nếu tốc độ băng tải không đạt thì việc sử lý vải cũng không đạt Với
mỗi loại vải khác nhau mà cần thời gian vải qua máy cũng khác nhau tức là tốc độ
của băng tải cũng khác nhau Mặt khác yêu cầu của máy là điều chỉnh tốc độ của hai
động cơ rải vải và động cơ băng tải phải phù hợp với nhau để có thể đưa vải đi qua
máy Nếu tốc độ rải vải lớn hơn tốc độ chạy của băng tải thì vải sẽ bị trùng; nếu tốc
độ của băng tải lớn hơn tốc độ rải vải thì vải đi qua băng sẽ quá căng Chính vì vậy
việc chọn loại động cơ, phương pháp điều chỉnh tốc độ cho động cơ rải vải và động
cơ băng tải là rất quan trọng Yêu cầu truyền nhiều động cơ với mỗi một truyền
động cần phải làm việc với tốc độ thích hợp hoặc tốc độ không đổi gắn với yêu cầu
chung của cả hệ Với truyền động có yêu cầu phải giữ sức căng không đổi thì
truyền động phải điều chỉnh cả tốc độ và lực kéo Đối với hệ đồng bộ hoá tốc độ
việc điều chỉnh hệ phụ thuộc vào loại liên kết cơ giữa các động cơ thành phần
+Các động cơ liên kết cơ cứng qua hộp giảm tốc yêu cầu đặc tính cơ của từng
động cơ phải tuyệt đối cứng
Trang 14K IL
O B
O O
K S C O
M
+Các động cơ liên kết mềm với nhau qua băng vật liệu có tiết diện lớn, lực cân
bằng truyền qua vật liệu cứng như vậy việc đồng bộ hoá có thể dùng đặc tính cơ các
truyền động thành phần mềm
+Ở các vật liệu băng của nó không truyền được lực kéo Như vậy truyền động
chính trong hệ sẽ điều chỉnh tốc độ và phát tín hiệu đặt tốc độ cho tất cả các truyền
động động cơ còn lại các truyền động này có nhiệm vụ điều chỉnh giữ mômen
không đổi Tốc độ của tất cả các truyền động chạy theo băng còn lực căng giữa các
cơ cấu truyền động do các mạch điều chỉnh xác định
+Nếu như không đo được trực tiếp lực kéo, người ta phải tạo mạch vòng nhân
tạo trong dây truyền bằng tín hiệu tỷ lệ với chiều dài, mạch vòng có thể hiệu chỉnh
tốc độ của từng động cơ trong hệ truyền động
+Ở dây truyền sản xuất vật liệu mỏng dễ đứt như giấy, vật liệu tổng hợp v.v…
thì tất cả các truyền động thành phần phải được giữ tốc độ không đổi Ở đây ta dùng
phương pháp đồng bộ bám tức là điều chỉnh tất cả các truyền động có tỷ lệ tốc độ
không đổi theo chiều chuyển động của vật liệu
+Đối với truyền động có cuộn cuốn và cuộn nhả yêu cầu tốc độ truyền động
phải thay đổi phụ thuộc vào đường kính các cuộn vật liệu, hay nói cách khác là giữ
tốc độ dài băng vật liệu không đổi
Trước đây ở trường hợp này người ta chỉ có thể dùng động cơ một chiều vì có
thể điều chỉnh tốc độ đơn giản nhưng cấu tạo động cơ lại phức tạp Ngày nay người
ta dùng động cơ xoay chiều với các bộ biến tần để điều chỉnh tốc độ động cơ Các
hệ này sử dụng động cơ không đồng bộ rôto lồng sóc có kết cấu đơn giản, vững
chắc, giá thành rẻ, có thể làm việc trong mọi môi trường Nhược điểm cơ bản của hệ
thống này là mạch điều khiển rất phức tạp Hình sau cho ta một khái niệm so sánh
giữa hệ thống một chiều và xoay chiều điều chỉnh tần số
Trang 15K IL
O B
O O
K S C O
M
2.2 GIỚI THIỆU VỀ ĐỘNG CƠ KHÔNG ĐỒNG BỘ
Động cơ không đồng bộ ngày nay được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp
thay cho các động cơ khác vì nó có nhiều ưu điểm như khởi động đơn giản, vận
hành tin cậy, rẻ tiền và kích thước gọn nhẹ Nhược điểm của nó là đặc tính cơ
phi tuyến mạnh nên trước đây, với các phương pháp điều khiển còn đơn giản,
loại động cơ này phải nhường chỗ cho động cơ điện một chiều Nhưng với việc
phát triển của các lý thuyết điều khiển, truyền động cộng với sự tiến bộ của khoa
học kỹ thuật như kỹ thuật vi xử lý, điện tử công suất nên đã hạn chế được nhược
điểm trên, đưa động cơ không đồng bộ trở thành phổ biến
Trước đây thường điều khiển động cơ bằng cách điều chỉnh điện áp Đây là
một phương pháp đơn giản nhưng chất lượng điều chỉnh kể cả tĩnh lẫn động đều
không cao Để điều khiển được chính xác và hiệu quả phải nói đến phương pháp
thay đổi tần số điện áp nguồn cung cấp Do tốc độ động cơ không đồng bộ xấp xỉ
tốc độ đồng bộ nên động cơ làm việc với độ trượt nhỏ và tổn hao công suất trượt
trong mạch rôto nhỏ Tuy nhiên phương pháp này còn phức tạp và đắt tiền Thiết
bị dùng để biến đổi tần số là các bộ nghịch lưu, có thể là nghịch lưu trực tiếp
hoặc gián tiếp Ta có thể sử dụng bộ biến tần là một thiết bị tích hợp cả chỉnh
Giá th nh phần điều khiển
Giá th nh phần động cơ P[kW]
t[năm]
P[kW]
t[năm]
Hình 2.6: Biểu đồ so sánh kinh tế
Trang 16K IL
O B
O O
K S C O
M
lưu, nghịch lưu lẫn điều khiển Luật điều khiển trong mỗi biến tần tuỳ thuộc vào
nhà sản xuất
Hiện nay để điều khiển động cơ đã có nhiều biến tần bán sẵn trên thị trường, ít
khi còn phải thiết kế theo phương pháp kinh điển nữa Các nhà sản xuất lựa chọn
biến tần nhiều hơn bảng điều khiển sao - tam giác hoặc điện trở phụ hoặc các
thiết bị điều khiển khác vì nó gọn nhẹ, điều khiển chính xác, tin cậy, đáp ứng
được nhu cầu tự động hoá và từng bước hiện đại hoá xí nghiệp của họ
2.2.1.Đặc tính cơ của động cơ không đồng bộ
a)Ph ương trình đặc tính cơ
Để thành lập phương trình đặc tính cơ của động cơ không đồng bộ ta sử dụng
sơ đồ thay thế Khi nghiên cứu ta đưa ra một số giả thiết sau:
-Ba pha của động cơ là đối xứng
-Các thông số của động cơ không đổi nghĩa là không phụ thuộc vào nhiệt độ,
điện trở rôto không phụ thuộc vào tần số dòng điện rôto; mạch từ không bão hòa
nên điện kháng X1 , X2 không đổi
-Tổng dẫn mạch từ hoá không thay đổi, dòng điện từ hoá không phụ thuộc tải
mà chỉ phụ thuộc điện áp đặt vào stato động cơ
-Bỏ qua các tổn thất ma sát, tổn thất trong lõi thép
-Điện áp lưới hoàn toàn sin và đối xứng ba pha
Với những giả thiết trên ta có sơ đồ thay thế một pha của động cơ như hình 2.7
Trang 17K IL
O B
O O
K S C O
M
Trong đó :
-Uf : Trị số hiệu dụng của điện pha stato
-Iµ ,I1 ,I2/ các dòng điện từ hoá, stato và dòng điện rôto đã quy đổi về stato
-Xµ ,X1 X2/ điện kháng mạch từ hoá, điện kháng tản stato và điện kháng tản rôto
dã quy đổi về stato
-Rµ ,R1 ,R2/ các điện trở tác dụng của mạch từ hoá, của cuộn dây stato và rôto đã
quy đổi về stato
-s - độ trượt của động cơ
f1 – tần số của điện áp nguồn đặt vào stato
p – số đôi cực từ của động cơ
Trang 18K IL
O B
O O
K S C O
X R U
2 1 1
/ 2 1
1 1
µ µ
(2-3)
X X
Xnm
/ 2
U
µ µ
=
2 2 1 1
Hình 2-8: Đặc tính dòng điện stato của động cơ không đồng
bộ
Trang 19K IL
O B
O O
K S C O
M
X s
R R
U I
nm
f
2 2 1 /
2
/ 2
I
nm
f nm
2 2
1 2
/ 2
/ 2
Đặc tính dòng điện rôto được biểu diễn ở hình 2-9 dưới đây:
Để tìm phương trình đặc tính cơ của động cơ ta dựa vào điều kiện cân bằng
công suất trong động cơ : Công suất điện từ chuyển từ stato sang rôto:
P12=Mđt ω1
Mđt là momen điện từ của động cơ
Nếu bỏ qua các tổn thất phụ thì Mđt = Mcơ = M
Công suất đó chia thành hai phần:
Pcơ : công suất đưa ra trên trục động cơ
∆P2: công suất tổn hao đồng trong rôto
Trang 20K IL
O B
O O
K S C O
M
Nên
' 2 2 ' 2
3
s M
R I
= (2-9) Thay giá trị I2/ đã tính được ở trên vào (2-9) và biến đổi ta có:
s
M
X s
R R
R U
nm f
' 2 1
3
ω
(2-10)
Biểu thức (2-10) là phương trình đặc tính cơ của động cơ không đồng bộ
Nếu biểu diễn đặc tính cơ trên đồ thị sẽ là đường cong như hình (2-10)
Có thể xác định các điểm cực trị của đường cong này bằng cách giải = 0
ds
dM
ta sẽ được trị số của M và s tại điểm cực trị ký hiệu là Mth , sth (momen và độ trượt giới
hạn), cụ thể là:
X R
R s
nm
1
' 2
Trang 21K IL
O B
O O
K S C O
U M
nm
f
1 1 1
2 1
2
3
ω
(2-12)
Trong hai biểu thức trên dấu (+) ứng với trạng thái động cơ, dấu (-) ứng với trạng
thái máy phát Do đó Mth ở trạng thái máy phát lớn hơn Mth ở chế độ động cơ
Ngoài ra khi nghiên cứu các hệ truyền động với động cơ không đồng bộ người ta
quan tâm nhiều tới trạng thái làm việc của động cơ nên các đường đặc tính cơ lúc
này thường biểu diễn trong khoảng tốc độ 0 ≤ s ≤ sth
Đặc tính trên hình 2-11 ứng với dấu (+)
Phương trình đặc tính cơ của động cơ không đồng bộ có thể biểu diễn thuận tiện
hơn bằng cách lập tỷ số giữa (2-10) và (2-12) và biến đổi sẽ được phương trình đặc
tính cơ:
s
s S
s M
th th
th
th th
a s s
a M
+ +
Trang 22K IL
O B
O O
K S C O
M
Đối với các động cơ công suất lớn thường R1 rất nhỏ so với Xnm , lúc này có thể
bỏ qua R1 nghĩa là coi R1=0, asth =0 và (2-13) có dạng gần đúng:
s s
M
s s
nm th
' 2
nm
f th
2 1
2
3
±
= (2-16) Nhiều trường hợp cho phép ta sử dụng những đặc tính gần đúng tuyến tính hoá
các đặc tính trong đoạn làm việc Ví dụ ở vùng độ trượt nhỏ s <<sth tỷ số
dm
dm.
= (2-18)
Từ dạng đặc tính biểu diễn trên trên hình (2-11) ta thấy độ cứng cơ biến đổi cả về
trị số lẫn về dấu tuỳ theo điểm làm việc :
ωω
(2-19) Với đặc tính tuyến tính hoá đường 1 H.2-11:
Trang 23K IL
O B
O O
K S C O
âm và gần như không đổi
Đối với đoạn đặc tính s>sth , khi s>>sth bỏ qua
s
sth và phương trình đặc tính cơ sẽ là:
2
ω
β = (2-23) Trong đoạn này độ cứng β là dương và giá trị của nó biến đổi Động cơ không
đồng bộ không làm việc trên đoạn đặc tính này
b) ảnh hưởng của các thông số đến đặc tính cơ
Từ phương trình đặc tính cơ động cơ không đồng bộ các thông số ảnh hưởng đến
đặc tính cơ bao gồm:
-Ảnh hưởng điện trở, điện kháng mạch stato (nối thêm điện trở phụ R1f , X1f vào
mạch stato)
-Ảnh hưởng điện trở mạch rôto (nối thêm điện trở phụ R2f vào mạch rôto đối với
động cơ rôto quấn dây)
-Ảnh hưởng của suy giảm điện áp lưới cấp cho động cơ
-Ảnh hưởng của thay đổi tần số lưới cấp cho động cơ f1
Ngoài ra việc thay đổi số đôi cực sẽ làm thay đổi tốc độ đồng bộ và làm thay đổi
đặc tính cơ (trường hợp này xảy ra đối với động cơ nhiều cấp tốc độ)
Trong phần này ta sẽ lần lượt xét đến các ảnh hưởng trên:
+ Ảnh hưởng của suy giảm điện áp lưới cấp cho động cơ
Khi điện áp lưới suy giảm theo (2-12) momen tới hạn sẽ giảm bình phương lần
độ suy giảm của điện áp Trong khi đó tốc độ đồng bộ ω1 giữ nguyên và độ trượt tới
hạn không thay đổi
Trang 24K IL
O B
O O
K S C O
M
Đối với động cơ công suất lớn làm việc với phụ tải bơm hoặc quạt gió; người ta
dùng phương pháp tăng dần điện áp đặt vào động cơ để hạn chế dòng điện khi khởi
động
+ Ảnh hưởng của điện trở phụ, điện kháng phụ mạch stato
Khi nối thêm điện trở hoặc điện kháng vào mạch stato R1f , và X1f thì ω1=conts,
sth giảm; Mth giảm
Giả sử cần hạn chế dòng điện khởi động từ Inm ứng với đặc tính tự nhiên đến dòng
Inm ứng với đặc tính cơ có R1f hoặc X1f trong mạch stato:
1 +
=
Znm ( R R ) Xnm
2 2
' 2
+ Ảnh hưởng của số đôi cực p
Để thay đổi số đôi cực ở stato ta thường thay đổi cách đấu dây Vì:
Nếu thay đổi số đôi cực p thì ω1 thay đổi, do đó tốc độ động cơ cũng thay đổi
Còn sth không phụ thuộc vào p nên không thay đổi, nghĩa là độ cứng của đặc tính cơ
vẫn giữ nguyên Nhưng khi thay đổi số đôi cực sẽ phải thay đổi cách đấu dây ở stato
của động cơ nên một số thông số như Uf , R1 , X1 có thể thay đổi và do đó tuỳ từng
trường hợp sẽ ảnh hưởng khác nhau đến mômen tới hạn Mth của động cơ
+ Ảnh hưởng của điện trở mạch rôto:
Trang 25K IL
O B
O O
K S C O
M
Đối với những động cơ không đồng bộ rôto dây quấn người ta thường mắc thêm
điện trở phụ vào mạch rôto để hạn chế dòng điện khởi động hoặc để điều chỉnh tốc
nm
f th
' 2
'
2 +
=
R2f càng lớn sth càng lớn và theo (2-20) thì β càng nhỏ nghĩa là đặc tính cơ càng
mềm khi đặc tính cơ nằm trong đoạn làm việc
Đặc tính cơ được biểu diễn trên H.2-12
Theo (2-11):
U I
nm
f nm
' 2 1 '
2
' 2
=
+
Rf càng tăng, dòng điện khởi động càng giảm Trong một phạm vi nhất định khi
Rf tăng sẽ làm cho Mk đ tăng lên, còn sau đó mômen khởi động sẽ giảm Vì vậy phải
ω0 ω
TN123
ω
123
Mth M
Hình 2-12 : Ảnh hưởng của điện trở mạch rôto đến các đặc tính cơ.
a) Sơđồ đấu dây; b) Các đặc tính dòng điện rôto; c)Các đặc tính cơ biến
trở
Trang 26K IL
O B
O O
K S C O
M
căn cứ vào điều kiện khởi động và đặc diểm của phụ tải mà chọn trị số điện trở phụ
cho thích hợp
+ Ảnh hưởng của thay đổi tần số lưới điện f1 c ấp cho động cơ
Xuất phát từ biểu thức ω1=2πf1/p, ta thấy rằng thay đổi tần số sẽ làm từ trường
quay và tốc tộ từ trường quay thay đổi
-Xét trường hợp khi tăng tần số f1>f1đm từ biểu thức (2-16) biến đổi ta có:
f L
U
p M
nm
1
2 2
-Trường hợp tần số giảm f1< f1đm , nếu giữ nguyên điện áp U1 thì dòng điện động cơ
sẽ tăng rất lớn (vì tổng trở động cơ giảm theo tần số) Do vậy khi giảm tần số cần
phải giảm điện áp theo một quy luật nhất định sao cho động cơ sinh ra được momen
như trong chế độ định mức Đó là bài toán tìm quy luật tối ưu trong chế độ làm việc
tĩnh của hệ điều chỉnh tần số động cơ không đồng bộ
2.2.2 Điều chỉnh tốc độ động cơ KĐB bằng phương pháp tần số:
Phương pháp điều chỉnh tốc độ động cơ bằng cách biến đổi tần nguồn áp,
cho phép mở rộng phạm vi sử dụng động cơ KĐB trong nhiều ngành công
nghiệp Nó cho phép mở rộng dải điều chỉnh và nâng cao tính chất động học của
hệ thống điều chỉnh tốc độ động cơ xoay chiều nói chung và động cơ KĐB nói
riêng Trước hết chúng ta ứng dụng cho các thiết bị cần thay đổi tốc độ nhiều
động cơ cùng một lúc như các truyền động của nhóm máy dệt, băng tải, bánh lăn
phương pháp này còn được ứng dụng cho cả các thiết bị đơn lẻ nhất là những
cơ cấu có yêu cầu tốc tốc độ cao như máy ly tâm, máy mài Đặc biệt là hệ thống
điều chỉnh tốc độ động cơ bằng cách biến đổi nguồn cung cấp sử dụng cho động
cơ KĐB rotor lồng sóc sẽ có kết cấu đơn giản vững chắc giá thành hạ có thể làm
việc trong nhiều môi trường
Nh ược điểm cơ bản của hệ thống này là mạch điều khiển rất phức tạp
Đối với hệ thống này động cơ không nhận điện từ lưới chung mà từ một
bộ biến tần Bộ biến tần này có khả năng biến đổi tần số và điện áp ra một cách
Trang 27K IL
O B
O O
K S C O
M
độc lập với nhau Trong phần này đề cập đến hai nội dung: Nguyên lý điều chỉnh
tốc độ động cơ KĐB bằng cách biến đổi tần số và các loại biến tần dùng trong hệ
truyền động biến tần - động cơ KĐB
2.3 KHẢO SÁT CÁC PHƯƠNG ÁN TRYỀN ĐỘNG
Phương án truyền động là dựa trên các yêu cầu công nghệ và kết quả tính
chọn công suất động cơ, từ đó tìm ra một phương án khả thi đáp ứng được cả yêu
cầu về đặc tính kỹ thuật và kinh tế với công nghệ đặt ra Lựa chọn phương án truyền
động tức là phải xác định được loại động cơ truyền động là một chiều hay xoay
chiều, phương pháp điều chỉnh tốc độ phù hợp với đặc tính tải, sơ đồ nối bộ biến
đổi đảm bảo yêu cầu truyền động
Để giải quyết vấn đề trên, trước hết ta đi phân tích các đặc tính kinh tế kỹ
thuật của các phương pháp điều chỉnh động cơ xoay chiều không đồng bộ ba pha
Trang 28K IL
O B
O O
K S C O
M
2.3.1 Hệ điều chỉnh điện áp động cơ
a Nguyên lý:
Theo lý thuyết máy điện, ta có quan hệ giữa mô-men và điện áp đặt vào Stato
động cơ như sau:
s X s
R R
R U M
m n
f
'
' 3
2
2 2 1 1
2
2 1
=
ω
Như vậy, ở một tần số nhất định, mô-men của động cơ KĐB tỷ lệ với bình
phương điện áp đặt vào phần cảm (stato) Do đó, ta có thể điều chỉnh tốc độ đ/c
KĐB bằng cách điều chỉnh điện áp stato trong khi giữ nguyên tần số Để thực hiện
được điều này người ta dùng các bộ biến đổi điện áp xoay chiều (ĐAXC)
Thực tế, hầu hết các động cơ KĐB có tốc độ trượt tới hạn (ứng với đặc tính
cơ tự nhiên) nhỏ, khi dùng điều chỉnh tốc độ sẽ bị hạn chế vì dải điều chỉnh hẹp
Ngoài ra, khi giảm áp, mô-men động cơ còn bị giảm nhanh theo bình phương điện
áp Vì lý do này mà phương pháp này ít được dùng cho động cơ KĐB roto lồng sóc
mà thường kết hợp với việc điều chỉnh mạch roto đối với động cơ KĐB roto dây
quấn nhằm mở rộng dải điều chỉnh
b Đánh giá về phạm vi ứng dụng:
+ Vì việc giảm điện áp đặt vào stato động cơ, trong khi giữ f=const không làm
thay đổi tốc độ không tải lý tưởng, nên khi tăng điện trở phụ ở roto, tốc độ động
cơ giảm, độ trượt tới hạn tăng lên kéo theo tăng tổn hao công suất trượt của động
cơ:
s P M
P s = c( 1− ) = dt.
+ Cùng với lý do trên, do phạm vi điều chỉnh phụ thuộc vào giá trị điện trở
phụ đưa vào mạch roto nên yêu cầu đối với hệ cần phạm vi điều chỉnh rộng sẽ
mâu thuẫn với việc giảm tổn thất điều chỉnh đối với tất cả các hệ truyền động
Tốc độ động cơ càng thấp (s càng lớn), nhất là trong trường hợp điều chỉnh sâu
tốc độ, thì tổn hao công suất trượt càng lớn
Trang 29K IL
O B
O O
K S C O
M
Do có nhiều hạn chế như trên nên vấn đề điều chỉnh điện áp stato để điều
khiển tốc độ động cơ chỉ được ứng dụng hạn hẹp Hiện nay, nó thường ứng dụng
làm bộ khởi động mềm (softstartor) với mục đích thay thế các bộ khởi động có cấp
dùng rơ-le, công-tắc-tơ cho các động cơ công suất lớn và rất lớn so với lưới tiêu thụ
chung Trong phạm vi này nó cho phép tạo ra các đường đặc tính khởi động êm,
tránh việc gây sụt áp lưới, làm ảnh hưởng đến các tải khác khi các động cơ công
suất lớn khởi động Trong ứng dụng vào điểu chỉnh nó chỉ phù hợp với hệ truyền
động với các phụ tải có mô-men là hàm tăng theo tốc độ (như quạt gió, bơm ly
tâm)
Lý thuyết chứng minh là đối với hệ truyền động có mô-men tải không đổi
(Mc=const) thì tổn thất sẽ rất lớn khi điều chỉnh Vì vậy, việc xem xét phương
án truyền động dùng phương pháp điều chỉnh điện áp stato đối với hệ truyền
động truyền động băng tải là không phù hợp; điều đó có nghĩa là phương án
dùng điều chỉnh điện áp bị loại bỏ trong đồ án này
2.3.2 Hệ điều chỉnh công suất trượt động cơ
a Nguyên lý điều chỉnh:
Theo kết quả nghiên cứu máy điện không đồng bộ thì công suất điện lấy ra từ
mạch roto, được gọi là công suất trượt, tỷ lệ với độ trượt s Theo cách tính tổn
thất khi điều chỉnh thì công suất này bằng:
s P s M M
Như vậy theo biểu thức trên thì nếu ta bảo đảm giữ công suất đưa và mạch stato
là không đổi, thì công suất điện từ Pđt cũng không đổi Khi đó bằng cách nào đó
ta thay đổi được tổn hao công suất trong mạch roto thì ta sẽ thay đổi được độ
trượt s; tức là ta điều chỉnh được tốc độ động cơ Đây chính là tinh thần của việc
điều chỉnh công suất trượt
Trong thực tế việc thay đổi ∆Ps có nhiều cách, đơn giản nhất là sử dụng điện trở
phụ đưa và mạch roto làm tăng tổn thất Việc này đối với các hệ thống truyền
động công suất nhỏ thì không có vấn đề gì, nhưng với hệ truyền động công suất
Trang 30K IL
O B
O O
K S C O
M
lớn thì các tổn hao là đáng kể Vì vậy để tận dụng công suất trượt người ta dùng
các sơ đồ nối tầng nhằm đưa công suất trượt trở lại lưới hoặc biến thành cơ năng
hữu ích quay trục động cơ nào đó, khi đó ta có hệ truyền động nối cấp đồng bộ
Dưới đây xin giới thiệu một sơ đồ nguyên lý của một hệ nối cấp
Trong sơ đồ này thì sức điện động roto được chỉnh lưu thành điện áp một chiều
qua bộ chỉnh lưu cầu điôt và qua điện kháng lọc cho nguồn dòng cấp cho bộ
nghịch lưu phụ thuộc Nghịch lưu làm việc với góc điều khiển từ 90ođến khoảng
140o, điều chỉnh góc điều khiển α trong khoảng này ta sẽ điều chỉnh được sức
điện động chỉnh lưu trong mạch roto; tức là điều chỉnh được tốc độ không tải lý
tưởng của động cơ Đặc tính cơ điều chỉnh của hệ nối tầng van điện được dựng
qua việc thay đổi góc điều khiển α của nghịch lưu được dựng như hình vẽ;
trong đó do ảnh hưởng của điện trở stato, điện trở mạch một chiều và điện kháng
tản của máy biến áp (MBA) cũng như sụt áp do chuyển mạch của nghịch lưu và
chỉnh lưu nên các đặc tính có độ cứng và mô-men tới hạn nhỏ hơn độ cứng và
mô-men tới hạn của đặc tính tự nhiên
b Đánh giá và phạm vi ứng dụng:
+ Như đã phân tích ở trên việc sử dụng sơ đồ nối cấp chỉ có ý nghĩa trong hệ
truyền động với công suất lớn (thường cỡ trên 500kW), vì khi đó công suất trượt
thuộc Hình 2-13: Sơ đồ nguyên lý
Trang 31K IL
O B
O O
K S C O
M
đưa về mới là đáng kể và việc đầu tư cho các bộ biến đổi mới thoả đáng, không
lãng phí
+ Việc tái sử dụng công suất trượt rõ ràng làm tăng hiệu suất của hệ thống lên;
việc điều chỉnh tốc độ bằng cách điều chỉnh lượng công suất đưa về có thể đạt
được những chỉ tiêu điều chỉnh tốt như êm,dải điều chỉnh khá rộng; tuy có hạn
chế là mô-men tới hạn có suy giảm so với tự nhiên, mô-men của động cơ bị
giảm khi tốc độ thấp
+ Một vấn đề nữa là đối với các hệ thống công suất lớn vấn đề quan trọng là
khởi động động cơ, thường dùng điện trở phụ kiểu chất lỏng để khởi động động
cơ đến vùng tốc độ làm việc sau đó mới chuyển sang chế độ điều chỉnh công
suất trượt Vì vậy mà việc sử dụng hệ thống này chỉ phù hợp với các hệ truyền
động có số lần khởi động, dừng máy và đảo chiều ít hoặc tốt nhất là không có
đảo chiều
Từ những đánh giá trên, đối chiếu với đặc điểm yêu cầu của hệ truyền động
băng tải nên ta loại bỏ việc sử dụng phương án này cho hệ truyền động
2.3.2 Hệ điều chỉnh xung điện trở rôto
a Nguyên lý điều chỉnh:
Trước hết cần phải nói rằng việc điều chỉnh điện trở roto chỉ áp dụng được với
động cơ roto dây quấn chứ không sử dụng được cho động cơ roto lồng sóc
Như đã biết, với động cơ roto dây quấn, ta có thể thay đổi được độ cứng của
đường đặc tính cơ bằng cách đưa điện trở phụ vào mạch roto động cơ Thực chất
của phương pháp này là điều chỉnh công suất trượt; công suất trượt ở đây được
lấy bớt ra và được biến thành tổn hao nhiệt năng vô ích trên điện trở
+ Vì độ trượt tới hạn tỷ lệ bậc nhất với điện trở roto nên:
rd f th
th
R
R R R
R s
2
2 0
= +
=
Nếu coi đoạn đặc tính làm việc của động cơ, tức là đoạn có độ trượt từ s=0 ÷
sth, là tuyến tính thì khi điều chỉ điện trở roto ta có thể viết:
Trang 32K IL
O B
O O
K S C O
M
2 0 2
0
R
R s s R
R s
s s
rd th
trong đó: s0 _ là độ trượt tới hạn khi điện trở roto là R2 (tức điện trở tự nhiên ở
mạch roto); còn s _ là độ trượt khi điện trở roto là Rrd=R2+Rf
Theo biểu thức mô-men thì:
0 1
2 2 2
2 1
2 2 1
.
3 ] )
' [(
' 3
s
R I X
s
R R
s
R U
m n
f
ωω
= +
+
=
Như vậy, khi thay đổi điện trở roto, nếu giữ dòng roto I2 không đổi thì
mo-men không đổi và không phụ thuộc vào tốc độ động cơ Vì vậy, phương pháp
điều chỉnh tốc độ động cơ bằng cách thay đổi điện trở roto rất thích hợp với hệ
truyền động có mô-men tải không đổi (x=0) Thực tế, việc thay đổi điện trở roto
dùng cấp điện trở ngày nay ít dùng, vì vừa có hiệu suất thấp, độ trươn điều chỉnh
kém, đặc tính điều chỉ lại dốc Vì thế điều chỉnh xung điện trở roto dùng van bán
dẫn với các mạch vòng điều chỉnh sẽ tạo được đặc tính điều chỉnh cứng và đủ
rộng; mặt khác lại dễ tự động hoá việc điều chỉnh
b Đánh giá và phạm vi ứng dụng:
Có thể nói việc sử dụng phương pháp xung điện trở roto trong điều chỉnh
truyền động, về mặt lý thuyết, là một phương pháp đơn giản nhất, dễ thực hiện và
vận hành; mạch điều chỉnh cũng rất đơn giản là gồm hai mạch vòng điều chỉnh
(tốc độ và dòng điện)
Do yêu cầu của truyền động là dùng động cơ không đồng bộ Roto lồng sóc
nên ta không sử dụng được phương pháp này Vì việc điều chỉnh điện trở Roto
chỉ áp dụng được động cơ Roto dây cuốn chứ không sử dụng được cho động cơ
Roto lồng sóc
2.3.4 Hệ điều chỉnh tần số động cơ KĐB
a Nguyên lý điều chỉnh:
Trang 33K IL
O B
O O
K S C O
+ Từ đặc tính cơ ta thấy khi tần só tăng ( f>fđm), thì mô-men tới hạn lại giảm
(với điện áp giữ không đổi), cụ thể là:
2 1
1
f
M th ≈
+ Trong trường hợp tần số giảm, nếu giữ nguyên điện áp thì dòng điện động
cơ tăng (do f giảm ⇒ X=2πfL cũng giảm ⇒ I tăng), gây ảnh hưởng xấu đến các
chỉ tiêu của động cơ Vì vậy để bảo đảm một số chỉ tiêu mà không làm động cơ
bị quá dòng cần phải điều chỉnh cả điện áp động cơ, cụ thể là giảm điện áp cùng
với việc giảm tần số theo quy luật nhất định
b Đánh giá và phạm vi ứng dụng
+ Từ đặc tính cơ của động cơ khi điều chỉnh nguồn ta có nhận xét là: Nếu đảm
bảo được luật điều chỉnh điện áp – tần số thì ta có mọi đường đặc tính cơ mong
Trang 34K IL
O B
O O
K S C O
M
muốn khi giảm tần số Nghĩa là phương pháp điều chỉnh tần số nguồn cung cấp
kết hợp với việc điều chỉnh điện áp stato mở ra khả năng áp dụng cho mọi yêu
cầu truyền động
+ Do có khả năng linh hoạt trong việc điều chỉnh cả tốc độ không tải lý tưởng
và tốc độ trượt tới hạn; cụ thể là khi tốc độ trượt giảm thì tốc độ không tải cũng
giảm với tỷ lệ tương ứng nên phương pháp này cho phép tổn thất điều chỉnh nhỏ
nhất
+ Vì việc điều chỉnh tần số yêu cầu phải điều chỉnh cả điện áp nên việc tìm ra
quy luật điều chỉnh và trang bị thiết bị điều chỉnh , biến đổi công suất phức tạp ;
nói chung giá thành các bộ biến tần có đắt hơn giá thành của các bộ biến đổi
trang bị cho các phương pháp điều chỉnh khác
Từ những phân tích đánh giá trên ta thấy rằng việc chọn phương án
truyền động dùng phương pháp điều chỉnh tần số là hoàn toàn có cơ sở vì
tính kinh tế khi vận hành cũng như đáp ứng được yêu cầu truyền động của
băng tải và động cơ rải vải
2.4 ĐIỀU KHIỂN TẦN SỐ ĐỘNG CƠ KHÔNG ĐỒNG BỘ
2.4.1 Khái ni ệm chung
Điều khiển tần số là một phương pháp điều khiển hiện đại cho phép điều
chỉnh tốc độ động cơ không đồng bộ (ĐK) trơn, rộng và hiệu quả
Hệ thống điều khiển tốc độ vòng hở động cơ bằng điều chỉnh tần số nguồn
cấp sẽ chỉ thích hợp ở những hệ thống truyền động điện không yêu cầu cao về
chất lượng quá trình quá độ và thông thường khi động cơ làm việc ở chế độ xác
lập Hệ thống điều khiển hở không thể đáp ứng được khi hệ thống cần có quá
trình gia tốc nhanh vì tần số nguồn có thể thay đổi quá nhanh vượt quá tần số
rôto giới hạn Ở ngoài vùng điểm tới hạn dòng điện động cơ sẽ lớn, nhưng hệ số
công suất, momen động cơ và hiệu suất thấp Điều khiển có phản hồi sẽ cần thiết
cho hệ thống làm việc ổn định trong chế độ xác lập khi điện áp nguồn và phụ tải
thay đổi và có phản ứng quá độ nhanh
2.4.2 Nguyên lý điều chỉnh tần số:
Nguyên lý điều chỉnh tốc độ động cơ KĐB bằng cách biến đổi tần số fi
của điện áp stato được rút ra từ biểu thức xác định động cơ KĐB
Trang 35K IL
O B
O O
K S C O
M
ωs = 2.π.fs Vậy sức điện động của dây quấn stato của động cơ tỷ lệ với tần số ra và từ
Mặt khác nếu bỏ qua độ sụt áp trên tổng trở dây quấn stato tức coi
Vậy đồng thời với việc điều chỉnh tần số ta phải điều chỉnh cả điện áp
nguồn cung cấp Từ công thức trên ta thấy khi điều chỉnh tần số mà giữ nguyên
điện áp nguồn Us không đổi thì từ thông động cơ sẽ biến thiên
*Khi ƒs giảm từ thông φ của động cơ lớn lên làm cho mạch từ bão hoà và dòng
điện từ hoá lớn lên Do các chỉ tiêu năng lượng xấu đi và đôi khi nhiều động cơ
còn phát năng lượng quá mức cho phép
*Khi ƒs tăng từ thông φ của động cơ giảm xuống và nếu mômen phụ tải không
đổi thì theo biểu thức M = k.φ.I.n.cosφ ta thấy dòng điện rotor Ir phải tăng
lên.Vậy trong trường hợp này dây quấn động cơ chịu quá tải còn lõi thép thì phải
non tải Ngoài ra cũng vì lý do trên mômen cho phép và khả năng quá tải của
động cơ giảm xuống
Vì vậy để tận dụng khả năng động cơ một cách tốt nhất là khi điều chỉnh
tốc độ bằng phương pháp biến đổi tần số người ta còn phải điều chỉnh cả điện áp
và dòng điện theo hàm của tần số và phụ tải
Việc điều chỉnh này chỉ theo hàm của tần số có đặc máy sản xuất có thể
được thực hiện trong hệ kín Khi đó nhờ các mạch hồi tiếp điện áp ứng với một
tần cho trước nào đó sẽ biến đổi theo phụ tải
Yêu cầu chính đối với đặc tính của truyền động điều chỉnh tần số đảm bảo
độ cứng đặc tính cơ và khả năng quá tải trong toàn bộ dải điều chỉnh tần số và
phụ tải ngoài ra còn có thể có vài yêu cầu về điều chỉnh tối ưu trong chế độ tĩnh
2.5 GIỚI THIỆU BIẾN TẦN
Biến tần (BT) là thiết bị để biến đổi năng lượng điện xoay chiều từ tần số
này sang tần số khác
Bộ Biến tần phải thoả mãn các yêu cầu sau:
fs C Es Us
X s Rs Is
Trang 36K IL
O B
O O
K S C O
M
• Có khả năng điều chỉnh tần số theo giá trị tốc độ đạt mong muốn
• Có khả năng điều chỉnh điện áp theo tần số để duy trì từ thông khe
hở không đổi trong vùng điều chỉnh momem không đổi
• Có khả năng cung cấp dòng điện định mức ở mọi tần số
Sự mất ổn định của hệ thống biến tần - động cơ không đồng bộ là tổng trở
của bộ biến đổi cộng với của mạch stato là một yếu tố gây mất ổn định cho hệ
biến tần - động cơ Bằng cách thay đổi thông số của bộ biến đổi hoặc bằng cách
thiết lập các mạch vòng điều chỉnh và hiệu chỉnh thích hợp có thể loại trừ khả
năng mất ổn định thông số của hệ
2.5.1 Các lo ại biến tần :
Gồm hai loại: Biến tần trực tiếp
Biến tần gián tiếp
Biến tần trực tiếp: Hình 2-15
Điện áp vào BT có điện áp U1 và tần số f1 chỉ qua một mạch van là ra ngay tải
với tần số f2,U2
Đặc điểm:
Hiệu suất biến đổi năng lượng cao do chỉ có một lần biến đổi điện năng
.Thực hiện hãm tái sinh năng lượng mà không cần mạch điện phụ
Hệ số công suất thấp,tần số đIều chỉnh bị giới hạn trên bởi tần số nguồn
cung cấp.Thường dùng cho hệ truyền động công suất lớn,tốc độ làm việc thấp
Biến tần gián tiếp:
Trang 37K IL
O B
O O
K S C O
M
Đặc điểm là điện áp ra trên tải được định hình sẵn còn dạng dòng điện tải
lại ít phụ thuộc vào tính chất tải Việc điều chỉnh tần số điện áp ra trên tải được
thực hiện dễ dàng bằng điều khiển qui luật mở van của phần nghịch lưu Phương
pháp điều khiển này thay đổi dễ dàng tần số mà không phụ thuộc vào lưới
Bi ến tần nguồn dòng : Hình 2-17
Sơ đồ đơn giản, làm việc tin cậy, đã từng được sử dụng rộng rãi để điều
khiển tốc độ động cơ xoay chiều 3 pha, rotor lồng sóc Sơ đồ gồm một cầu chỉnh
lưu và một cầu biến tần, mỗi tiristor được nối tiếp thêm một một điôt gọi là điôt
chặn
2.5.2 Gi ới thiệu biến tần MICROMASTER Vector:
Với máy khử độ co vải để điều khiển tốc độ cho động cơ rải vải và động cơ kéo
băng tải ta sử dụng biến tần MICROMASTER Vector do hãng SIEMENS chế tạo
*Mạch lực
L
Trang 38K IL
O B
O O
K S C O
M
Hình 2-18: Mạch lực của biến tần
*Nguyên lý điều khiển: Dựa theo phương pháp biến điệu bề rộng xung, phương
pháp này tiên tiến và hiệu quả vì:
-Vừa điều chỉnh được điện áp ra, vừa điều chỉnh được tần số
-Điện áp ra gần hình sin
-Có thể dùng chỉnh lưu không điều khiển ở đầu vào nghịch lưu làm tăng hiệu
quả của sơ đồ
Nội dung của phương pháp biến điệu bề rộng xung là so sánh một sóng sin
chuẩn có tần số bằng tần số của điện áp ra nghịch lưu mong muốn với một điện áp
răng cưa tần số cao cỡ 2kHz đến 10kHz Phương pháp biến điệu bề rộng xung có
nhiều dạng, trong đó có 2 dang đơn giản là:
- Biến điệu bề rộng xung một cực tính
Trang 39K IL
O B
O O
K S C O
M
- Biến điệu bề rộng xung hai cực tính
Theo dạng điện áp ra một cực tính những khoảng điện áp sin chuẩn cao hơn điện
áp răng cưa mở van để đưa điện áp ra tải, trong những khoảng điện áp sin chuẩn
thấp hơn điện áp răng cưa khoá van để điện áp ra tải bằng không Điện áp ra sẽ
được tạo thành riêng cho nửa chu kỳ dương và nửa chu kỳ âm
Theo dạng điện áp ra hai cực tính điiện áp ra sẽ là +E khi sin chuẩn cao hơn
xung răng cưa, và là -E khi sin chuẩn thấp hơn
Hình vẽ sau mô tả nguyên lý hoạt động PWM
Trang 40K IL
O B
O O
K S C O