HỒ CHÍ MINHKHOA: THỦY SẢN BÁO CÁO THỰC TẬP GIÁO TRÌNH NUÔI THỦY SẢN NƯỚC LỢ Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện: NGUYỄN NHƯ TRÍ ĐỒNG QUỐC DŨNG ONG MỘC QUÝ MSSV: 07116026 TRẦN VĂ
NỘI DUNG THAM QUAN NGÀY 12/09/2011
Trung Tâm Nghiên Cứu Giống Và Dịch Bệnh Thủy Sản Nha Trang
Hình 1: Trung Tâm Nghiên Cứu Giống Và Dịch Bệnh Thủy Sản Nha Trang
Trung tâm đặt tại số 02 Nguyễn Đình Chiểu – Nha Trang – Khánh Hòa
Chức năng và nhiệm vụ:
Nghiên cứu, ứng dụng và kiểm tra các công nghệ tiên tiến vào thực tiễn nuôi trồng thủy sản Việt Nam
Hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu khoa học, giáo dục và đào tạo của trường Đại Học Nha Trang về nuôi hải sản.
Hoạt động theo cơ chế tự hạch toán và tự chủ về tài chính theo nghị định
Xây dựng quá trình sản xuất giống cá bớp, cá mú, nghêu trong bể xi măng
Quá trình hoàn thành hệ miễn dịch và phòng bệnh Streptococcois cho cá chẽm giống bằng vaccin.
1.1.2 Quy trình sản xuất giống cá chẽm
Nước biển được lắng trong bể chứa , dùng chlorine 20-30ppm xử lý trong 24h Sau đó dùng sodium thiosulphate ( Na2SO3) trung hòa chlorine. Độ mặn trung bình 25-30 ‰.
Nguồn cá bố mẹ chủ yếu được khai thác từ tự nhiên, trước đây tập trung ở các tỉnh phía Nam như Kiên Giang, Cà Mau, Vũng Tàu Hiện nay, nguồn cá này đã được lấy từ các tỉnh phía Bắc.
Cá bố mẹ mới đem về được nuôi riêng 1 tháng ,sau đó kiểm tra chất lượng trứng và tinh trùng rồi mới đưa vào sản xuất.
Thức ăn cho cá bố mẹ bao gồm cá nục, cá mối, tôm sú, tôm thẻ và mực Nên cho cá ăn từ 2-5% trọng lượng thân và bổ sung vitamin E, P-Complex cùng viên nhộng Hadaclin A Việc bổ sung này nên thực hiện trong 3 ngày mỗi tuần và xen kẽ nhau để đảm bảo dinh dưỡng tối ưu cho cá.
Số lượng cá bố mẹ : 25cặp/bể ,có 4 bể Cá bố mẹ có gắn thẻ chip để dễ kiểm soát các thông số (nguồn gốc, trọng lượng, kích thước, ).
Hàng năm phải bổ sung cá đực từ 30 – 50 con Điều kiện chất lượng nước:
• Nhiệt độ: 28-30 o C, nhưng không quá 32 o C
Hình thức sinh sản: cho cá bắt cặp đẻ tự nhiên không cần dùng chất kích thích sinh sản, chủ yếu là kích thích môi trường nước.
Cho sinh sản: tháng cho đẻ 2 lần, theo con nước 15 hay 30
Tỷ lệ đực: cái là 1:1
Sinh sản bằng chất kích thích sinh sản: bằng LHRHa + Domperidone
Cá thường đẻ trứng vào ban đêm Vào sáng hôm sau, cần vớt sạch trứng đã thụ tinh và chuyển sang bể ấp Để đảm bảo trứng nở, cần sục khí liên tục trong 18 giờ và duy trì nhiệt độ từ 28-30 độ C.
Mật độ ấp: 2triệu trứng/ bể / 100L
Trứng nở sau 18h ở nhiệt độ 28 – 30 0 C
Mật độ ương : 100 - 150 con/l Độ mặn thích hợp cho ương cá giống từ 28 – 30 ‰, sau hạ dần độ mặn đến 15
‰ để cá tăng trưởng nhanh hơn.
Hình 2: Bể ương cá bột Phổ thức ăn:
• Ngày 2-14 : ăn tảo và luân trùng
• Ngày 10-25 : ăn arternia kết hợp luân trùng và tảo
• Ngày 18 : cho ăn thức ăn tổng hợp và arternia
Hình 3: Artemia và thức ăn tổng hợp dùng làm thức ăn cho cá bột
Để giảm thiệt hại trong nuôi cá, cần thường xuyên theo dõi đàn cá và thực hiện san thưa đúng thời điểm Bên cạnh đó, nên phân cỡ cá mỗi 3 – 7 ngày để đảm bảo sức khỏe và sự phát triển đồng đều cho đàn cá.
Khoảng 60 ngày thì cá được 2-3cm , giá bán: 600 – 1.000 đồng/cm
Bệnh do vi khuẩn Vibrio Verniticus và Vibrio Anniticus gây ra, thường khiến cá bị lở loét và có hiện tượng trắng đuôi Thời gian phát bệnh thường diễn ra vào khoảng ngày 30-35, đặc biệt dễ mắc trong những tháng lạnh từ tháng 10 đến tháng 12 Để điều trị bệnh này, người nuôi thường sử dụng Chlorine với nồng độ 200 ppm.
Bệnh VNN: thường gặp vào tháng 5 âm lịch.
Mật độ: khoảng 1/3 tảo → 2/3V nước đã xử lý.
Nước để nuôi tảo: dùng 1ml F2/1L Khoảng 3-5 ngày thì thu một lần.
Hình 4: Ương tảo trong túi nhựa
Trung Tâm Nghiên Cứu Và Phát Triển Nuôi Biển
Hình 5: Trung tâm nghiên cứu và phát triển nuôi biển Trung tâm được thành lập theo quyết định số 603 của bộ thủy sản ngày 30/6/2003.
Trung tâm gồm 2 cơ sở:
Cơ sở 1: Trung tâm nghiên cứu và phát triển nuôi cá biển sông lô, thành phố nha trang Được nhật bản tài trợ với số vốn là 7 triệu usd.
Cơ sở 2: đặt tại huyện Vạn Ninh tỉnh Khánh Hòa.
Với diện tích 40 hecta, đội ngũ nhân sự của chúng tôi bao gồm 1 tiến sĩ, 8 thạc sĩ, 32 kỹ sư và nhiều công nhân có trình độ khoa học kỹ thuật cao.
Các đối tượng chính của trại trong giai đoạn này là: cá chẽm, cá mú, tôm thẻ chân trắng.
Hệ thống cấp thoát nước riêng
1.2.2 Sản xuất giống cá Mú:
Nước lấy từ biển, ở độ sâu khoảng 7-8m cách bờ khoảng 50m vào nhà chứa khoảng 8000m 3 Được bơm lên tháp lọc, sau đó được xử lý bằng tia UV.
Khi cần hạ độ mặn thì sử dụng nguồn nước cung cấp từ giếng khoang.
Hệ thống cấp nước hoàn toàn tự động.
Hình 6: Tháp lọc và xử lý nước
Nguồn cá bố mẹ được thu mua từ người dân bắt được trong tự nhiên.
Cá có sự thay đổi giới tính, ban đầu là cá cái, sau đó là cá đực.
Cá khoảng 3 tuổi thì cho sinh sản được ( tầm 3-10kg/con)
1.2.2.3 Nuôi dưỡng và kích thích sinh sản:
Cá bố mẹ được nuôi trong bể 200m 3 với mật độ 9 con/bể. Định kỳ thay nước, chu kỳ 15 ngày, thay nước hoàn toàn.
Cá bố mẹ được cho ăn thức ăn tươi sống: cá tạp, mực khi cần bổ sung thêm vitamin C.
Cho ăn ngày 1 lần, khẩu phần ăn 3 - 5% trọng lượng cơ thể Khi cá đẻ thì giảm lượng thức ăn xuống.
Cá thường bắt đầu sinh sản khi đạt khoảng 3 năm tuổi và có trọng lượng từ 3-8 kg Đến khi cá nặng từ 10 kg trở lên, chúng sẽ chuyển giới tính thành cá đực.
Hình 7: Bể nuôi cá mú bố mẹ Nguồn cá bố mẹ không chủ động nên tỉ lệ đực cái có sự chênh lệch lớn, 6 cái:3 đực.
Hình thức sinh sản là sinh sản tự nhiên theo mùa vụ sinh sản và kích thích lưu tốc nước, tạo dòng nước gần giống thủy triều.
Cá thường đẻ tập trung vào tháng 3 – 8 âm lịch, đẻ vào ban đêm khoảng 8h tối. Sức sinh sản: 2-3 triệu trứng/ 01 cá cái 7-8kg
1.2.2.4 Bệnh thường gặp đối với cá mú
Mô hình thay nước liên tục bệnh ít xảy ra Định kỳ 3 tháng / lần có người xuống kiểm tra.
Nấm đỏ :Nâng sục khí, đặt sục khí cách mặt đáy 15 cm,tăng mật độ tảo.
Kí sinh trùng :thì cho tắm nước ngọt
Tốc độ tăng trưởng nhanh từ giai đoạn nhỏ đến 1,5 – 2 kg, sau đó thì rất chậm Thường nuôi đến 18 tháng hay 2 năm mới bán, lúc này cá đạt khoảng 0,8 – 1,2
1.2.3 Sản xuất Tôm thẻ chân trắng :
Nguồn tôm:F1 của con Hawai
1.2.3.2 Nuôi dưỡng và sinh sản:
Cho ăn: mực, hàu thì 5 ngày cho ăn 1 lần, còn dời thì ngày 2 lần cho tôm bố mẹ len trứng.
Cắt mắt lúc 10 – 15 con/kg
Sau khi cắt mắt thì sau 2 ngày lên trứng Đến khi giao vỹ cho tôm đực vào bể đẻ
Tôm cho đẻ 10 – 17 vạn trứng/con
Sau 4 ngày thì thành thục lại
1.2.3.3 Ấp và ương ấu trùng: Ấp trứng :sục khí nhẹ Đến giai đoạn Nauplli thì tăng sục khí
Khi rớt Nauplli ra phải sát trùng bằng iodine Đến giai đoạn Mysis mới chăm thêm nước vào (nước ngọt)
Trong giai đoạn Nauplli, nên cho ăn tảo tươi và tảo khô Ở giai đoạn Zoea, thức ăn bao gồm tảo tươi và Artermia Đối với giai đoạn Mysis, thức ăn thích hợp là tảo chuỗi và Artermia Độ mặn nên duy trì ở mức 30%0 và có thể hạ xuống 25%0, nhưng nếu bán ra bên ngoài, cần giảm xuống thấp hơn Trung bình, mỗi ngày giảm 10%0.
Tỉ lệ sống đến giai đoạn post 40 – 60%
Xuất bán là từ post 8 – 9
NỘI DUNG THAM QUAN NGÀY 13/09/2011
Trung tâm nghiên cứu hải sản giống quốc gia miền Trung ( Vạn Ninh, Khánh Hòa)
Diện tích trung bình mỗi ao :2500 m 2
2.1.2 Nuôi thương phẩm Tôm thẻ chân trắng:
2.1.2.2 Cho ăn và quản lý :
Thức ăn của cty CP
Bổ sung men vi sinh và chế phẩm sinh học
Nguồn nước : hệ thống độc lập, ao lắng , lọc sinh hoc tự nhiên ( hải sâm)
Cho ăn thì phải quan sát nhá, đặt 2 nhá cho 1 ao Độ mặn :28 – 30 0 /00
Mô hình sản xuất giống và nuôi ốc hương thương phẩm của chú Tòng
Hệ thống cấp nước, đèn ,bể xi măng
Nguồn nước:lấy nước từ kênh dẫn ngoài biển vào, nước được lọc qua hệ thống lọc cơ học và được xử lý clorin 20ppm
2.2.2 Nuôi vỗ ốc bố mẹ
Ốc bố mẹ tại Bình Thuận có kích thước từ 30 gam trở lên và có khả năng sinh sản quanh năm, với chu kỳ đẻ trứng mỗi 2 tuần Để đảm bảo sức khỏe, ốc cần được cung cấp đầy đủ thức ăn 4 ngày một lần Tuy nhiên, khi nhiệt độ xuống dưới 25°C, ốc sẽ ngừng sinh sản.
Thức ăn cho ốc bố mẹ là ốc giáp xáp, nhuyễn thể Mỗi ngày ăn 50% trọng lượng thân
Mực nước trong bể 50cm, nền đáy trải lớp cát từ 20-30cm để ốc trú đông.
Mật độ 15con/1m 2 , tỉ lệ đực cái :3/7
4-5 ngày thay cát 1 lần Định kỳ cho ăn 1lần/ngày vào buổi tối, định kỳ thay nước, vệ sinh hàng ngày
Thu trứng bằng tay, hoặt cào bằng lưới khi ốc đẻ nhiều
Mỗi con cái đẻ được 25 bọc trứng
Trứng được chứa trong vỏ bọc mỗi bọc khoảng 500 trứng Ấp trứng :Ấp tập trung trong rổ, sục khí liên tục sau 3 ngày thì bọc trứng bung
Để ương giống mực nước trong bể ở mức 0,3 cm, cần duy trì môi trường nuôi ổn định với các chỉ tiêu quan trọng: độ mặn từ 34-35‰, nhiệt độ từ 26-29°C, pH từ 7,5-8,0 và nồng độ oxy hòa tan từ 6,2-8,5 mg/l.
Mật độ nuôi ấu trùng lý tưởng là từ 120-150 ấu trùng/lít, trong đó thời điểm ấu trùng xuống đáy, mật độ tối ưu nên duy trì ở mức 100-120 ấu trùng/lít để đảm bảo quá trình ương phát triển hiệu quả.
Mỗi ngày thay nước 2 lần thay 50% lượng nước
Ốc mới nở nên được cho ăn thức ăn hỗn hợp từ tảo, sử dụng tảo khô đóng lon Đối với bể có dung tích 6 khối và mật độ ốc đạt 1 triệu con, cần cung cấp 2g thức ăn hỗn hợp mỗi ngày để đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho ốc.
Hình 8 : Bể ương ốc hương
2.2.5 Nuôi ốc hương thương phẩm:
Nuôi trong ao đất có diện tích 700m 2 , sâu 1,2 – 1,5m.
Cải tạo ao: tháo cạn, vét bùn, phơi ao, sau đó rải cát mịn dày khoảng 3 – 4 cm. Nguồn nước lấy từ biển rồi đưa vào bể lắng.
Thức ăn: cá tươi, tôm, ghẹ, nhuyễn thể cho ăn vào buổi sáng, 100kg ốc ăn khoảng 5kg mồi.
Cho ăn 10 % trọng lượng than
Quan sát thức ăn dư thừa bằng cách lặn xuống hàng ngày
Nuôi khoảng 4 – 5 tháng thì thu hoạch.
Thu hoạch ban đêm,thu hoạch bằng cách tháo cạn nước,dùng thìa cào cát bắt ốc.
NỘI DUNG THAM QUAN NGÀY 14/09/2011
Công ty hoằng kí
Đối tượng nuôi :cá bóp, mú ,chẽm ,chim vây vàng , đối tượng nuôi chính là cá bóp Độ mặn ở trại là 15 – 20 0 /00
Vận chuyển trứng trước 4h khi trứng nở
Sử dụng cá tạp xay nhuyễn nấu chin ủ gây màu nước
Một đìa 6000 m 2 sử dụng 100 kg cá tạp
Cá bột nuôi trong đìa có chắn bạc,sau 1 ngày thì tháo bạc ra
Cho ăn : mới đầu cho ăn luân trùng đến ngày 12, ngày 8 -9 cho ăn copepoda, đến ngày 20 thì cho ăn thức ăn công nghiệp.
Cá bóp sao 40 – 45 ngày đạt 12 cm
Tôm hùm thầy Tuấn Đại học Nha Trang
Đối tượng nuôi :Tôm hùm
24 bể, 1 bể 50 con, không sử dụng hóa chất.
Nguồn nước tự biển cách bờ 300 m.
Xử lý nước: theo chương trình hợp tác với Úc.
Lắng – lọc cát – siêu lọc – UV (nhưng còn thiếu siêu lọc và UV)
Thay nước: tối thiểu 100 %, đạt yêu cầu 300 % nhưng chỉ mới thay được 50% Nuôi thử nghiệm nuôi tôm hùm thương phẩm trong bể xi măng…
- Tự nhiên: ương từ tôm trắng – 5 g
Vận chuyển bằng thùng xốp, trong có làm nhiều lớp lưới để tăng khả năng vận chuyển.
Mật độ 500 con / thùng ( 5 g/ con) tùy quãng đường
Để tối ưu hóa môi trường sống cho tôm trong bể, cần bố trí 2 tấm lưới ở hai bên bể giúp tôm bám vào, từ đó giảm thiểu tình trạng ăn nhau trong quá trình lột xác Đối với tôm lớn, nên đặt các ống để hạn chế xung đột và bảo vệ chúng khỏi việc ăn nhau.
Thử nghiệm nuôi với 3 mật độ: 6, 9 , 12 con/ m 2
Giai đoạn thuần dưỡng cho ăn thức ăn tươi sống, cắt nhỏ ra cho ăn, ngày 2 lần và kết hợp siphon.
Sau đó chuyển dần qua cho ăn thức ăn viên 100% Ở đây sử dụng thức ăn của công ty Đài Loan Lobster Feed, 1 bao 20 kg/ 80 USD.
Bổ sung: β enro 30 + 30 trộn vào thức ăn, dùng dầu gan mực bao ngoài.
400 – 500 g đã đưa vào thương phẩm: 1 – 1,5 kg ưa chuộng (ở Việt Nam được xem là loại 1), 2,5 kg trở lên (loại 1 của thế giới).
Khó khăn: Điện ko ổn định
Nước phụ thuộc thủy triều, không thể lấy xa do máy không đủ công sức, lấy nguồn nước ở gần thì dễ ô nhiễm.
Thủ tục hành chính nhà nước.
Địa Điểm: Hòn Một- trại sản xuất giống cá chim vây vàng (thầy Thanh)
-Chia làm 3 khu chính: khu sản xuất giống cá chim vây vàng, khu thí nghiệm nuôi cá póp, khu nuôi luân trùng và cá chim vây vàng.
-Lấy trực tiếp từ biển qua túi lọc bằng vải sau đó được xử lí bằng clorin(nồng độ 7- 10ppm).
-Mua cá bố mẹ từ lồng nuôi thương phẩm hay đánh bắt ngoài tự nhiên(120.000đ/kg) sau đó đem về thuần dưỡng trong các lồng ngoài biển.
-Cá bố mẹ được nuôi vỗ ngoài biển với thể tích lồng khoảng 64m3(4 cạnh mỗi cạnh gần 4m, độ sâu khoàng 5m)
-Cho ăn thức ăn tươi sống gồm các loại cá tạp, trước khi cho sinh sản 1 tháng bổ sung thêm tôm, mực và vitamin.
-Cho sinh sản tự nhiên có kích thích bằng HCG.
-Đối với cỏ cỏi sử dụng 1.000 IU/kg, cỏ đực bằng ẵ cỏ cỏi Chỉ tiờm một lần Khoảng 30 tiếng sau khi tiêm cá đẻ.
-Sức sinh sản khoảng 50 ngìn-80 ngìn trứng/kg cá cái
Cá chim vây vàng là loài cá đẻ trứng nổi, và để thu trứng hiệu quả, chúng ta cần chuẩn bị những túi vải có kích cỡ phù hợp và đặt chúng vào lồng nuôi.
-Sau khi đẻ trứng được thu và được đóng bao oxy đem vào trại trong đất liền để ấp.
Hình 9: Hệ thống bể ương cá chim vây vàng
Từ ngày 1 đến 12, cho ăn tảo; bắt đầu từ ngày 2, bổ sung luân trùng Từ ngày 12 đến 18, cho ăn artemia, và sau ngày 18, kết hợp thức ăn công nghiệp với artemia Đến ngày 25, chuyển hoàn toàn sang thức ăn công nghiệp.
-Mật độ ương khoảng 4 ngìn-6 ngìn con/bể 4 m3(kích cở cá từ 2-2,5 cm).
-Ương khoảng 30 ngày tuổi thì bắt đầu phân cỡ để cho cá được đồng đều.
-Sau khi phân cở những cá thể nào đạt 2-2,5 cm có thể xuất bán(5000đ/con).Mỗi đợt trại xuất bán từ 60 ngìn- 80 ngìn con.
Trong quá trình ương nuôi, dịch bệnh ít khi xảy ra, nhưng nếu có, cá sẽ chết đồng loạt Để phòng ngừa, việc quản lý tốt nguồn nước là rất quan trọng, vì hiện tại chưa có thuốc điều trị hiệu quả.
Thị trường tiêu thụ cá chim vây vàng còn mới và chưa ổn định, vì vậy cần mở rộng mô hình nuôi để từng bước xây dựng thương hiệu cho loại cá này.
NỘI DUNG THAM QUAN NGÀY 15/09/2011
Tham quan Đầm Nha Phu
Giống từ ĐH Nha Trang
Hình thức nuôi : dây , rổ
Dây: nếu dày đặc thì chuyển sang rổ , phát triển nhanh hơn , kích thước khi sang thưa cỡ 1 ngón tay
Rổ : độ sâu từ mặt nước đến rổ 1,2 m , khoảng cách 2 dây là 40 cm, từ rổ cách đáy là 1 m, 1 rổ nuôi khoảng 80 con
1kg hàu khoảng 12 con, giá 22 ngàn /kg
Có 2 loại hàu : trắng và đỏ Hàu trắng lớn nhanh hơn
Nuôi quanh năm, mùa vụ chính tháng 10 đến tháng 4
Nuôi trong 5 tháng thì thu hoạch
Vệ sinh hàu bằng cách xịt nước
4.1.2 nuôi thương phẩm Vẹm xanh:
Hình thức nuôi: nuôi cọc, cọc dài 2,2 m
Chon cọc sâu 0,5 m, sau 2 tháng thì vẹm bám vào
Khi vẹm lớn bằng ngón tay thì ta san thưa
Nuôi khoảng 1 năm thì ta thu hoạch
Kích thước đạt 20 – 25 con /kg
NỘI DUNG THAM QUAN NGÀY 16/09/2011
Tham quan mô hình nuôi cá bố mẹ trong lồng thuộc Đại Học Nha Trang (Vũng Ngán, Tỉnh Khánh Hòa)
Có 32 lồng , mỗi lồng có khoảng 20 – 25 con
Có 2 loại cá chim vây vàng : cá chim vây ngắn và cá chim vây dài
Tiêm 1 liều duy nhất ,sau 12 -14h thì cá đẻ
Sau 12 – 36h cá đẻ dùng lưới vải vớt trứng, rồi bơm oxy vận tải bằng bao
Cá chim vây dài : 3 tháng
Cá chim vây ngắn : 1 tháng
Cá chim vây ngắn có tốc độ phát triển tốt hơn, giá trị kinh tế cao hơn
Chăm sóc: kiểm tra lưới, lặn xuống xem thường 3 ngày / lần
NỘI DUNG THAM QUAN NGÀY 17/09/2011
Trại sản xuất giống tu hài Anh Thi – phường Cam Phúc Nam, Cam Ranh, Khánh Hòa
Mua từ các ngư dân địa phương, hoặc các nguồn nuôi thương phẩm.
Giá mua khoảng 250.000đ sau khi cho sinh sản xong thì bán đi.
Phân biệt tu hài bố mẹ:
Bụng hơi phồng có màu trắng hoặc ngà là con cái.
Bụng xẹp là con đực.
Thường thì con đực lớn hơn con cái.
Tu hài bố mẹ nuôi đạt 8 tháng thì thành thục, mùa vụ sinh sản chính thường từ tháng 10 – tháng 4 âm lịch
Cho đẻ tự nhiên có thể được kích thích qua nhiều phương pháp, bao gồm kích thích khô, kích thích nhiệt bằng bóng đèn, sử dụng nước nóng, hoặc kết hợp cả hai hình thức khô và nhiệt.
Tỷ lệ đực cái là 1:10.
Tỷ lệ sống khoảng 5% là có thể thu lợi nhuận cao.
6.1.3 Thức ăn và cách cho ăn:
Cho ấu trùng ăn tảo tảo được lấy từ đại học Nha Trang rồi đem về nhân lên (2 – 3 ngày nhân 1 lần)
Cho ăn ngày 2 lần (sáng 9h, chiều 16h), cho ăn theo kinh nghiệm.
Chuẩn bị các dụng cụ trong quá trình ương và xử lí bể trước khi cho con giống xuống.
Mật độ ương giống: 1.000.000 con/5m3.
Mực nước ương từ 80 – 100 cm.
Trong quá trình ương, dùng vôi sò để trộn lẫn vào trong cát để tu hài có thể tạo vỏ nhanh, mau cứng.
Cứ 4 ngày chuyển bể 1 lần.
Dưới 11 ngày tu hài sống nổi, từ 11 ngày trở đi tu hài bắt đầu xuống đáy do đó cần chuẩn bị cát (đã qua xử lí trước vài ngày khi tu hài xuống đáy), cát dày khoảng 2cm để tu hài vùi xuống.
Từ 11 ngày trở đi tu hài bắt đầu xuống đáy do đó cần chuẩn bị cát (đã qua xử lí trước vài ngày khi tu hài xuống đáy), cát dày khoảng 2cm để tu hài vùi xuống. Ánh sáng vừa đủ để tảo phát triển, độ mặn từ 28‰ - 32‰.
Hình 10: Bể ương tu hài
Sau 25 ngày khi con giống đạt kích cỡ 2cm – 3cm có thể vớt tu hài để bán, vớt tu hài bằng lưới có mắt lưới vừa đủ để giữ tu hài và cho cát lọt qua.
Nơi xuất bán: Hải Phòng, Quảng Ninh.
Tham quan trại sản xuất giống tôm sú Nguyễn Văn Lương – phường Cam Phúc Xuân, Cam Ranh, Khánh Hòa
Phúc Xuân, Cam Ranh, Khánh Hòa:
Tổng cộng có 5 trại, mỗi trại… Đối tượng: tôm sú
Sản xuất giống quanh năm.
Tôm bố mẹ chủ yếu lấy từ: Cà Mau, Bạc Liêu, Bến Tre.
Nước được lấy từ biển và qua hệ thống lọc cơ học trước khi được đưa vào hồ Sau đó, nước được xử lý bằng formol và iodine, sau 12 giờ mới được đưa vào sử dụng.
Giá tôm bố mẹ 2 triệu đồng/ con cái, con đực có thể sử dụng từ trại nuôi Trung bìn
6.2.1 Tuyển chọn tôm bố mẹ:
Khi chọn tôm bố mẹ, hãy ưu tiên tôm có màu sắc tươi sáng, khoang trắng và khoang xanh đậm rõ rệt Tôm nên bơi lội nhanh nhẹn, có vỏ bóng mượt và phần phụ đầy đủ, không mang mầm bệnh Đối với tôm cái, chọn tôm có trọng lượng 130g/con; nếu tôm có buồng trứng ở giai đoạn IV, tiến hành cho đẻ ngay trong đêm, còn nếu ở các giai đoạn khác thì cần cắt mắt và nuôi vỗ thành thục Đối với tôm đực, chọn tôm có trọng lượng từ 60 – 100g/con và có túi tinh trong thelycum.
6.2.2 Cắt cuống mắt tôm: Ở đây người ta dùng dây thung buộc vào cuốn mắt con cái, tiến hành cắt 1 bên cuống mắt của tôm mẹ Đàn tôm mẹ sau khi tuyển chọn và vận chuyển về trại để tôm mẹ phục hồi sức khỏe hoàn toàn thì sau 2 ngày mới tiến hành cắt cuống mắt.
6.2.3 Nuôi vỗ thành thục tôm bố mẹ:
Tôm mẹ sau khi cắt mắt được đưa vào bể để nuôi vỗ thành thục.
Chuẩn bị bể nuôi vỗ: Nguồn nước dùng để nuôi vỗ tôm bố mẹ phải được xử lý qua hệ thống các bể lọc và khử trùng bằng iodine.
Mật độ nuôi vỗ: 4 – 5con/m 2 Tỷ lệ đực cái: 1 – 2 cái/ 1 đực
Chăm sóc và quản lý tôm bố mẹ:
- Thức ăn: giun nhiều tơ, hay ốc ký cư, hầu trìa mở, vẹm, mực, tôm Khẩu phần cho ăn là 10% trọng lượng cơ thể.
Để đạt hiệu quả cao trong việc nuôi tôm, cần thường xuyên quan sát hoạt động của chúng, bao gồm tình hình bắt mồi và lột xác Việc kiểm tra độ thành thục của tôm là rất quan trọng để lên kế hoạch cho quá trình đẻ trứng Trong điều kiện nhiệt độ và chế độ dinh dưỡng tốt, tôm có thể bắt đầu đẻ trứng chỉ sau 4 – 5 ngày kể từ khi cắt mắt và nuôi vỗ.
6.2.4 Kỹ thuật cho tôm đẻ:
Sau khi kiểm tra độ thành thục của tôm mẹ nếu buồng trứng ở giai đoạn IV thì chuyển vào bể đẻ cho đẻ.
Chuẩn bị bể đẻ: nguồn nước cấp vào bể đẻ phải được lọc thật kỹ đảm bảo không còn dư lượng hóa chất từ xử lý nước.
Vận chuyển tôm mẹ vào bể đẻ cần thực hiện nhẹ nhàng để tránh làm tổn thương tôm Sau hai ngày, khi trứng chuyển sang giai đoạn nauplius, cần tách tôm mẹ ra khỏi bể.
Trung bình mỗi bể ương 1,5 – 2 triệu ấu trùng Nauplius
Giai đoạn mysis cho ăn artemia bung dù với mật độ là 15 – 20 g/hồ.
Trại thực nghiệm đại học Nha Trang
Diện tích 25 ha gồm 6 ao 1 ha, 5 ao 5000 m 2 , 6 ao 3000 m 2 , 10 ao 500 m 2 Trong đó có 3 ao lắng (2ao nước mặn và 1 ao nước ngọt). Ương và nuôi tôm thẻ chân trắng.
Chuẩn bị ao: ao có lót bạt dày 5 mm, đáy ao có lắp dây sục khí mỗi dây đặt cách nhau 3m.
Nước được cấp vào từ ao lắng, xử lý chlorine, 10 ngày sau gây màu nước
(dolomite 7 – 10 ppm) và tiến hành thả tôm. Độ mặn 35 – 36‰, độ kiềm 90 – 160, nhiệt độ 32 – 33 0 C, pH = 7,5 – 8,8
Thả giống: post 10 – 12, mật độ 100 – 120 con/ m 2
Cho ăn: thức ăn của công ty CP 4 lần/ngày (6h, 10h, 16h, 20h).
Hiện tại, trong 2 tháng, chế độ ăn được áp dụng là 3% trọng lượng cơ thể (BW) Trong 10 ngày đầu, tăng lượng thức ăn mỗi ngày 1 kg, sau đó giảm xuống 0,5 kg mỗi ngày cho đến ngày thứ 21 Nếu có mưa, cần điều chỉnh giảm lượng thức ăn.
Để duy trì chất lượng nước, không cần thay nước mà chỉ cần bổ sung khi thấy nước bị rò rỉ Mỗi 15 ngày, nên sử dụng iodine để xử lý tảo với liều lượng từ 0,3 đến 0,5 ppm Trong trường hợp mưa nhiều, cần đánh vôi 3 ngày một lần với liều 60 kg cho 5000 m2.
Sau 1 tháng nuôi thì tiến hành siphon đáy, cách 2 tuần siphon 1 lần.
FCR 1,2 – 1,5, tỉ lệ sống 60 – 70% Sau 3 tháng tôm đạt kích cỡ 100 con/ kg có thể xuất bán.
Bệnh: gan, ký sinh trùng, phân trắng ( thay nước, đánh men vi sinh)
- Thay nước, xử lý iodine 0,5 ppm.
- Men vi sinh: EM2 10ppm.
Tham quan Viện Hải Dương Học
Ngày 14 tháng 9 năm 1922, Sở Nghề Cá Đông Dương - tiền thân của Viện Hải Dương Học ngày nay đã được thành lập Trải qua hơn 80 năm hoạt động và phát triển, Viện Hải Dương Học đã đóng góp được một khối lượng lớn các công trình nghiên cứu cho công cuộc chinh phục khai thác và bảo vệ biển Đông, bao gồm 1100 ấn phẩm đã được công bố, trong đó nghiên cứu về tính đa dạng sinh học chiếm 62,6%, về vật lý hải dương chiếm 11,6%, về sinh thái môi trường chiếm 7,6%, về địa chất địa mạo biển chiếm 5,4%, về hóa học biển và về hóa sinh chiếm 4,4% Qua đó, có thể thấy được Viện Hải Dương Học đã góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu khoa học của đất nước.
Viện Hải Dương Học không ngừng nâng cao đội ngũ cán bộ khoa học và quản lý, cả về số lượng lẫn chất lượng, cùng với việc trang bị các thiết bị hiện đại nhất Điều này nhằm đáp ứng hiệu quả cho nhiệm vụ nghiên cứu biển trong tương lai và hỗ trợ quá trình hiện đại hóa đất nước.
6.4.2 Một vài loài sinh vật được lưu giữ trong Viện:
Hình 11: Hải quỳ ống Phân bố: Úc, Ấn Độ, Thái Bình Dương.
Hải quỳ có kích thước tối đa khoảng 40cm, sử dụng các tua râu mảnh có chất nhầy để bắt những sinh vật nhỏ lơ lửng làm thức ăn Khi gặp nguy hiểm, chúng co vào trong ống hoặc ẩn dưới lớp trầm tích để lẩn tránh.
CÁ KHOANG CỔ VÀ HẢI QUỲ
Cá khoang cổ, chủ yếu phân bố ở các rạn san hô, sống chung với hải quỳ và thường mang thức ăn về chia sẻ với chúng Khi gặp nguy hiểm, hải quỳ sử dụng những tua bao cá khoang cổ để bảo vệ hoặc tiêu diệt kẻ thù Đặc biệt, cá khoang cổ đã được sinh sản nhân tạo thành công tại viện nghiên cứu.
Cá Ngát phân bố rộng rãi tại các vùng như Châu Phi, Ấn Độ, Malaysia, Philippines, Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam Loài cá này tìm kiếm thức ăn trên đáy nhờ vào những gai xúc giác nhỏ Đặc biệt, trên vây lưng và ngực của cá có các gai nhọn chứa độc tố, gây sưng tấy và đau nhức khi bị thương Cá Ngát thường sống thành đàn, tạo thành những nhóm lớn trong môi trường sống của chúng.
Hình 14: Cá Chình Phân bố: ở cá vùng nhiệt đới và ôn đới.
Cá chình có kích thước tối đa lên đến 3m và thường hoạt động vào ban đêm Vào ban ngày, chúng thường ẩn mình trong các hang hoặc vùi trong cát Những con cá chình lớn sở hữu răng sắc nhọn và có khả năng tấn công khi bị provoked.
Hình 15: Cá Mao Tiên Phân bố: Úc, Ấn Độ, Thái Bình Dương.
Kích thước tối đa của loài cá này là 38cm Với đặc điểm nổi bật là những tua vây xòe đẹp khi bơi, chúng được mệnh danh là "công chúa biển" Ngoài ra, những chiếc vây lưng sắc nhọn có chứa độc tố cũng là vũ khí tự vệ của chúng.
Hình 16: Cá Sơn Đá Phân bố : ở tất cả các vùng biển nhiệt đới.
Cá có kích thước tối đa lên đến 32cm và thường ẩn nấp trong các khe đá, hang hốc vào ban ngày Chúng hoạt động chủ yếu vào ban đêm và có khả năng phát ra tiếng "click" rõ ràng để giao tiếp với nhau.
Hình 17: Cá Nóc Phân bố: Biển Đỏ, Ấn Độ- Thái Bình Dương.
Cá nóc có kích thước tối đa lên đến 90cm và một số loài trong số đó chứa độc tố cực mạnh, chỉ cần tiêu thụ một lượng nhỏ cũng có thể gây tử vong Khi gặp nguy hiểm, cá nóc có khả năng phình to để tự vệ.
Hình 18: Bò hoả tiển Phân bố: Úc, Ấn Độ, Thái Bình Dương.
Cá có kích thước tối đa lên tới 60cm, nổi bật với lớp da dày và những chiếc gai khỏe Chúng có khả năng ăn được các sinh vật có vỏ cứng như cua và cầu gai.