1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phân tích Nỗi thương mình

2 799 7

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 2
Dung lượng 34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với đoạn trích “Nỗi thương mình”, đó không chỉ là một tấm lòng đồng cảm mà còn là sự xót xa sâu sắc của Tố Như với Kiều.. Gợi mở bằng những chi tiết tả thực về cảnh sinh hoạt ở lầu xanh,

Trang 1

Đề: Phân tích đoạn trích “Nỗi thương mình” từ câu 5 đến câu 12.

Bài làm Nguyễn Du là một con người có tấm lòng thấu hiểu và thương cảm với những bi kịch thời đại Với đoạn trích “Nỗi thương mình”, đó không chỉ là một tấm lòng đồng cảm mà còn là sự xót xa sâu sắc của Tố Như với Kiều Trong tâm trạng lạc lõng, tủi hổ cho thân phận nhơ nhớt, Kiều lại càng bộc

lộ một tâm hồn cao quý hơn cả:

“Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh, Giật mình mình lại thương mình xót xa.

Khi sao phong gấm rủ là, Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.

Mặt sao dày gió dạn sương, Thân sao bướm chán ong chường bấy thân.

Mặc người mưa Sở mây Tần, Những mình nào có biết xuân là gì?”

Truyện Kiều không chỉ kể về một câu chuyện tình éo le mà còn là tiếng khóc thương của

Nguyễn Du cho thân phận con người bị chà đạp Đoạn thơ này có bối cảnh sau khi Kiều bị bán vào lầu xanh, tự vận không thành, nàng phải nếm trải cuộc sống đắng cay, tủi nhục ở lầu xanh.

Gợi mở bằng những chi tiết tả thực về cảnh sinh hoạt ở lầu xanh, khi mà cuộc vui đã tàn, không gian vắng lặng, Kiều mới bắt đầu đối diện với chính mình:

“Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh, Giật mình mình lại thương mình xót xa.”

Bằng một phép tiểu đối giàu sức gợi, khung cảnh được miêu tả ngắn gọn, súc tích Khi tiếp khách, nàng say sưa với niềm vui nhộn nhịp, giả dối nhưng khi đã sống thật với lòng mình, sự kịch cỡm đó lại khiến nàng phải giật mình mà ghê tởm Nhịp thơ 3/3 ở câu rất phù hợp với chi tiết tự sự này Câu thơ tiếp theo có đến 3 chữ “mình”, ta có thể thấy nỗi cô đơn, bơ vơ của Kiều được bộc lộ đến tận cùng “Giật mình”, một sự thức tỉnh ùa vào tâm trí Kiều, bởi nàng không ngờ rằng nàng đang hiện diện ở một cảnh bùn nhơ thế này, đến cả trong mơ nàng cũng không thể có thể tưởng tượng đến điều này Thật khó cho Kiều để chấp nhận cuộc sống như thế bởi lẽ một thời gian ngắn trước đây thôi cuộc sống của Kiều vẫn còn hạnh phúc, an nhàn:

“Êm đềm trướng rủ mành che, Tường đông ong bướm đi về mặc ai.”

“Mình lại thương mình”, bởi lẽ nàng có thể thương ai khác nữa trong hoàn cảnh thế này? Từ láy “xót xa” lại càng nhấn mạnh hơn nỗi đau đớn, cô đơn ấy Xót xa rằng tình yêu nay đã không còn, nàng đã trở thành một kẻ phản bội bất đắc dĩ dâu luôn mong muốn trở thành một người tình thủy chung, cuộc sống bẩn thỉu ở lầu xanh đã chà đạp lên danh tiết thanh cao của nàng, khiến nàng trở nên không ra gì Nhịp thơ chắc chắn 2/2/2/2 lại càng khiến câu thơ thêm sức gợi, lời tâm sự của Kiều lại càng dễ thấu hiểu hơn

Trong nỗi cô đơn và đau xót cho thân phận của chính mình, Kiều nhớ thương cho cảnh sống sung túc khi xưa và lại càng đau xót cho sự ê chề hiện tại:

“Khi sao phong gấm rủ là, Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.”

Vâng, cuộc sống của Kiều cũng đã từng “phong gấm rủ là”, tượng trưng cho sự êm đềm, tươi đẹp nhưng hiện thực lại rất “tan tác” ở câu thơ tiếp theo “Tan tác”, thật đau đớn làm sao, ở văn cảnh của câu này, Kiều vừa bị chà đạp không thương xót, vừa không được coi như là con người, cả thể xác và tâm hồn đều bị người khác dùng mua vui “Hoa giữa đường” như một hình ảnh thân phận phụ nữ quen thuộc trong văn thơ của Nguyễn Du, những người phụ nữ có sắc có tài nhưng lại bị

những thế lực xấu xa, của đồng tiền xúc phạm, không coi ra gì Ở đây là hình ảnh của Kiều đã lỡ làng

và mong manh như cánh hoa mà hẳn là dễ dàng tan nát khi không còn một chỗ dựa nào.

Chua chát sao khi Kiều nghĩ đến nhân phẩm của nàng, sự chai lỳ đã trở nên quen thuộc bởi việc tiếp khách:

“Mặt sao dày gió dạn sương, Thân sao bướm chán ong chường bấy thân.”

Trang 2

Câu thơ trên đã được Nguyễn Du rất linh hoạt vận dụng thành ngữ dày gió dạn sương”, khi mà phải đối mặt với quá nhiều sóng gió của cuộc đời này, sự xúc phạm với nàng trở nên quá đỗi tầm thường Từ đây, cách viết đối lập giữa cảnh sống trong quá khứ và hiện tại lại càng xoáy sâu thêm nỗi đau mà người đọc cảm nhận trong tâm trạng của Kiều Bốn câu hỏi tu từ liên tiếp đã bày tỏ sự thương cảm của Tố Như cho hoàn cảnh khốn cùng của nhân vật trữ tình và sự bất công của xã hội phong kiến.

Không chỉ cảm thấy ê chề, nhục nhã mà cuộc sống của Kiều ở lầu xanh còn rơi vào một nỗi cô đơn, lạc lõng Bởi một con người “lấy hiếu làm trinh” như nàng sao có thể bị vẩn đục trong thế giới ấy:

“Mặc người mưa Sở mây Tần, Những mình nào có biết xuân là gì?”

Tác giả đã sử dụng phép đối giữa “người” và “mình” thể hiện một sự xa cách giữa Kiều và thế giới này Trong khi những người khách đang vui thú lấy Kiều làm trò chơi thì tâm trạng của Kiều vừa cay đắng vừa phẫn nộ khi bị đưa ra làm cuộc vui như thế “Xuân” của nàng, sự hạnh phúc, tươi trẻ của tuổi đôi mươi còn đâu với những đắng cay ấy Nhưng bởi có sự phẫn uất, tự thấy đau đớn ấy mới khiến Kiều “đã thanh cao lại thêm phần thanh cao”, nhân phẩm này không hề đổi thay dù trong hoàn cảnh sống u tối này.

Như thế, qua 8 câu thơ trên đã bộc lộ nỗi lòng tê tái, thảng thốt của Kiều khi tự đối diện với bản thân trong cuộc sống của nàng Có thể thấy rõ nỗi cô đơn, lạc lõng không thể hòa nhập với sinh hoạt ở lầu xanh đan xen với nỗi đau xót của nàng làm cho việc nàng phải tiếp khách, phải sống một cách chai

lỳ, giả tạo là cách thể hiện của một con người vẫn còn biết rõ đến đạo đức và nhân phẩm của chính mình

Qua đó, Nguyễn Du đã bày tỏ sự thấu hiểu tiếng lòng thương cảm cho nỗi đau, nỗi bất hạnh của Kiều Vẻ đẹp trong sáng của Kiều là lời ca ngợi, từ những bi kịch của nàng, Tố Như lại càng bộc

lộ nỗi căm phẫn những thế lực đen tối đã chà đạp lên những ước mơ sống chính đàng của nàng, đẩy nàng vào chốn bùn nhơ Vì thế, đoạn thơ đã bộc lộ được những giá trị nhân đạo được gửi gắm.

Bằng việc sử dụng thể thơ lục bát để miêu tả diễn biến sự việc và nội tâm nhân vật, tác giả đã khai thác được sức gợi của thể thơ này Kết hợp với một bút pháp tinh tế, sâu sắc, những từ ngữ thuần Việt, Hán Việt, điển tích, hình ảnh tượng trưng và có chọn lọc đã giúp cho nỗi lòng của Kiều dễ dàng

đi vào tâm trí người đọc Ngoài ra, những phép lặp, phép tiểu đối, từ láy và câu hỏi tu từ càng giúp câu thơ thêm mượt mà, có thanh sắc.

Qua đoạn trích, ta thấy rõ hơn về một nàng Kiều tài hoa, bạc mệnh và một Nguyễn Du với sự vận dụng đầy sáng tạo của ông giữa kiến thức uyên thâm với từ ngữ bình dân, biến một câu chuyện tình khổ thành một khúc ca thương người bạc mệnh Đây là một đoạn trích thế hiện đầy đủ những dấu ấn trong nội dung và nghệ thuật của Truyện Kiều.

Ngày đăng: 13/11/2015, 00:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w