Các nhà nghiên cứu tính được rằng nếu sử dụng một chất liệu hấp thụ ánh sáng như silicon, thì ở những bước sóng nhất định, hai chùm laser giống hệt nhau chiếu thẳng vào nhau sẽ triệt tiê
Trang 2W W W T H U V I E N V A T L Y C O M
Bản Tin Vật Lý
Tháng 9 - 2010
© Thư Viện Vật Lý www.thuvienvatly.com banquantri@thuviemvatly.com Tháng 9 năm 2010
Nội dung: Trần Nghiêm – trannghiem@thuvienvatly.com
Biên tập: Trần Triệu Phú – trieuphu@thuvienvatly.com
Thiết kế: Bích Triều, Vũ Vũ
Cùng một số Cộng tác viên khác
Trong bản tin có sử dụng hình ảnh và các bài dịch từ các tạp chí nổi tiếng
Physics World, Nature Physics, New Scientist, cùng một số tạp chí khác
Trang 3Bản Tin Vật lý tháng 9-2010 – Thuvienvatly.com Trang 2
Nội dung
Phản-laser là hoàn toàn khả thi 3
Laser có thể biến các hạt ảo thành thật 4
Mặt trời đang tỉnh giấc 6
5 thiết bị được chọn cho sứ mệnh tìm kiếm sự sống trên sao Hỏa ExoMars 7
Silicon tan chảy khi nguội đi 9
Nguyên lí Pauli bị vi phạm tại rìa của lỗ đen 11
Hayabusa 2 sẽ tìm kiếm nguồn gốc của sự sống trong vũ trụ 13
Dùng laser điều khiển nhịp tim 15
Đo hàm lượng glucose mà không cần lấy máu thử 17
Một lỗ đen cần có khối lượng tối thiểu bao nhiêu? 19
Nicola Cabibbo: 1935–2010 22
‘Năng lượng tối’ sẽ làm cho vũ trụ giãn nở mãi mãi 24
Hệ mặt trời có lẽ già hơn ước tính đến 2 triệu năm tuổi 26
Mộc tinh bị tấn công lần thứ ba trong 13 tháng 27
Mặt trăng đang co lại 29
Vi khuẩn sống sót một năm rưỡi trong không gian vũ trụ 31
Phát hiện mới đe dọa lí thuyết cấu tạo hạt nhân 33
Đo lường vũ trụ 34
Kính thiên văn Kepler phát hiện hai hành tinh đang quay đồng bộ 36
Định cỡ các tiểu hành tinh có nguy cơ gây hại 38
Lần đầu tiên chụp ảnh được liên kết hydro 40
Các lỗ đen siêu khối lượng sinh ra bởi sự hợp nhất thiên hà 42
CERN đối mặt trước sự cắt giảm ngân sách 250 triệu bảng 46
Skyrmion có thể mang đến các dụng cụ điện tử mới lạ 48
Giải pháp vật lí cho bài toán nhiệt đô thị 50
Trang 4Phản-laser là hoàn toàn khả thi
Các nhà khoa học gọi nó là phản laser Thay vì
khuếch đại ánh sáng, nó dập tắt ánh sáng hoàn toàn,
để lại bóng tối tuyệt đối
Laser hoạt động bằng cách tạo ra một đợt thác photon
phản xạ tới lui bên trong một vật liệu khuếch đại ánh
sáng trước khi thoát ra ở một đầu Mội đội nghiên cứu
tại trường Đại học Yale tự hỏi không biết điều gì sẽ
xảy ra nếu họ đảo ngược quá trình lại, làm cho vật
liệu hấp thụ ánh sáng chứ không phát ra một chùm
laser
Đa số laser phát ra ánh sáng từ một đầu, nhưng người
ta cũng có thể làm cho các laser phát ra hai chùm tia
giống hệt nhau theo hai hướng ngược nhau Điều này
yêu cầu có những lớp trong suốt một phần, giống hệt
nhau, ở hai đầu của một thanh vật liệu phát sáng, thí
dụ như gallium arsenide
Các nhà nghiên cứu tính được rằng nếu sử dụng một
chất liệu hấp thụ ánh sáng như silicon, thì ở những
bước sóng nhất định, hai chùm laser giống hệt nhau
chiếu thẳng vào nhau sẽ triệt tiêu nhau hoàn toàn bên
trong khối chất liệu
Một miếng silicon mỏng bằng tờ giấy thông thường hấp thụ khoảng 20% ánh sáng tới, nhưng đội nghiên cứu tính được rằng
cơ cấu này sẽ triệt tiêu hầu như toàn bộ ánh sáng tới ở bước sóng
945 nm, trong vùng hồng ngoại gần Kết quả của họ công bố trên
tạp chí Physical Review Letters,
số 105, trang 053901
Cho đến nay, hiệu ứng chỉ mới tồn tại trên giấy, nhưng thành viên đội nghiên cứu, Dougals Stone cho biết “các thí nghiệm đang triển khai là cực kì có triển vọng, và tôi hoàn toàn tin chắc rằng nó có thể được hiện thực hóa” Năng lượng từ các chùm laser dập tắt nhau sẽ biến đổi thành nhiệt, nhưng nếu bằng cách nào đó có thể biến nó thành dòng điện, thì hiệu ứng có thể cho phép các xung sáng truyền trong cáp quang được biến đổi thành tín hiệu điện với hiệu suất cao
Nguồn: New Scientist
Trang 5Bản Tin Vật lý tháng 9-2010 – Thuvienvatly.com Trang 4
Laser có thể biến các hạt ảo thành thật
Các laser thế hệ tiếp theo sẽ có khả năng
tạo ra vật chất bằng cách bắt giữ các hạt ma
quỷ, theo cơ học lượng tử, vốn tràn ngập
không gian dường như trống rỗng
Nguyên lí bất định của cơ học lượng tử
hàm ý rằng không gian không bao giờ có
thể thật sự trống rỗng Thay vào đó, các
thăng giáng ngẫu nhiên làm khai sinh ra
một vạc dầu nóng bỏng gồm các hạt, thí dụ
như electron, và các đối tác phản vật chất
của chúng, gọi là positron
Những cái gọi là “hạt ảo” như thế này
thường thì hủy lẫn nhau quá nhanh nên
chúng ta không chú ý tới chúng Nhưng các
nhà vật lí đã dự đoán từ những năm 1930
rằng một điện trường rất mạnh sẽ biến đổi các hạt ảo thành hạt thật mà chúng ta có thể quan sát thấy Điện trường đó đẩy chúng theo những hướng khác nhau vì chúng có điện tích trái dấu nhau, tách li chúng ra nên chúng không thể nào phá hủy nhau được
Trên lí thuyết, các laser thật thích hợp cho nhiệm vụ này vì ánh sáng của chúng khoác trong mình những điện trường mạnh Năm
1997, các nhà vật lí tại Trung tâm Máy gia tốc Thẳng Stanford (SLAC) ở Menlo Park, California, Mĩ, đã sử dụng ánh sáng laser tạo ra được vài ba cặp electron-positron Nay các phép tính mới cho thấy các laser thế hệ tiếp theo sẽ có khả năng tạo ra những cặp như vậy với số lượng lên tới hàng triệu
Các laser tương lai sẽ tạo ra vật chất từ ánh sáng (Ảnh: nickwinch/stock.xchng)
Phản ứng dây chuyền
Trong thí nghiệm SLAC, chỉ một cặp electron-positron được tạo ra tại mỗi thời điểm Nhưng với các laser mạnh hơn, thì một phản ứng dây chuyền trở nên là khả thi
Trang 6Cặp đầu tiên được gia tốc lên tốc độ cao bằng laser đó, làm cho chúng phát ra ánh sáng Ánh sáng này, kết hợp với ánh sáng của laser, tiếp tục sinh ra nhiều cặp hơn Đó là theo một nghiên
cứu đăng tải trên tạp chí Physical Review Letters của tác giả Alexander Fedotov thuộc Đại học
Nghiên cứu Hạt nhân Quốc gia ở Moscow cùng các đồng nghiệp
Ở những laser có khả năng tập trung khoảng 1026 watt trong một cm2, thì phản ứng phi mã này
sẽ biến đổi hiệu quả ánh sáng laser thành hàng triệu cặp electron-positron, đội nghiên cứu kết luận như vậy
Xưởng phản vật chất
Loại cường độ đó có thể đạt tới với một laser do dự án Cơ sở hạ tầng Cực Sáng ở châu Âu xây dựng Phiên bản đầu tiên của laser trên có thể chế tạo vào năm 2015, nhưng có khả năng phải mất vài năm sau đó nữa mới hoàn tất những nâng cấp cần thiết để đạt tới 1026 watt/cm2 – theo lời đồng tác giả Georg Korn thuộc Viện Quang học Lượng tử Max Planck ở Garching, Đức
Khả năng tạo ra những số lượng lớn positron có thể hữu ích cho các máy va chạm hạt như Máy Va chạm Thẳng Quốc tế đã đề xuất, thiết bị sẽ cho lao các electron và positron vào nhau
Nhưng Pisin Chen thuộc trường Đại học Quốc gia Đài Loan ở Đài Bắc cho biết chi phí cao của nguồn laser rất mạnh trên có thể làm cho phương pháp này trở nên tốn kém hơn giải pháp thay thế Cách chuẩn tạo ra những số lượng lớn positron hiện nay là bắn một chùm electron năng lượng cao vào một miếng kim loại để tạo ra những cặp electron-positron
Nguồn: New Scientist
Trang 7Bản Tin Vật lý tháng 9-2010 – Thuvienvatly.com Trang 6
Mặt trời đang tỉnh giấc
Những người thích chiêm ngưỡng cảnh đẹp kì thú trên bầu trời có thể thưởng thức một số cực quang ngoạn mục vào ngày mai Sau một giấc ngủ dài, Mặt trời của chúng ta đang bừng thức giấc Hồi sáng thứ bảy tuần trước, bề mặt ngài thái dương đã phun trào và phóng thích hàng tấn plasma (các nguyên tử bị ion hóa) vào không gian vũ trụ Plasma lao thẳng về phía chúng
ta, và khi tới nơi, nó có thể tạo ra một màn trình diễn ánh sáng đẹp mắt
Nhà thiên văn học Leon Golub ở Trung tâm Thiên văn vật lí Harvard-Smithsonian (CfA) cho biết: “Đợt phun trào này nhắm thẳng về phía chúng ta, và được trông đợi sẽ tới đây vào ngày 4 tháng 8 Khá lâu rồi mới có một đợt phun trào chính thức nhắm thẳng về phía chúng ta như thế này”
Đợt phun trào, gọi là sự phun trào vật chất
vành nhật hoa, đã được Đài thiên văn Động
lực học Mặt trời (SDO) của NASA ghi hình
trên camera SDO là một phi thuyền phóng
lên quỹ đạo hồi tháng 2 Nó cung cấp các hình
ảnh chất-lượng-tốt-hơn-HD của Mặt trời ở
nhiều bước sóng khác nhau
Ảnh chụp tia X của Mặt trời vào sáng thứ bảy, ngày 1
tháng 8 Vòng cung tối ở gần rìa trên bên phải ảnh là
sợi plasma đang phun ra khỏi bề mặt Vùng sáng rực là
một tai lửa mặt trời không có liên quan Ảnh: NASA
Khi một đợt phun trào vật chất vành nhật hoa
đi tới Trái đất, nó tương tác với từ trường của
hành tinh chúng ta, có khả năng gây ra bão địa từ Các hạt bức xạ từ mặt trời đổ thác theo các đường sức từ xuống hai địa cực của Trái đất Các hạt đó va chạm với các nguyên tử nitrogen
và oxygen trong khí quyển, làm cho chúng phát sáng giống như cơ chế xảy ra trong bóng đèn neon
Cực quang thường chỉ có thể nhìn thấy ở những vĩ độ cao Tuy nhiên, trong một cơn bão địa
từ, cực quang có thể thắp sáng bầu trời ở những vĩ độ thấp hơn Những người đam mê bầu trời
ở miền bắc nước Mĩ và những nước khác sẽ hướng mắt về phương bắc trong đêm 3 hoặc 4 tháng 8 để chiêm ngưỡng màn trình diễn ánh sáng lục và đỏ hết sức ngoạn mục
Mặt trời của chúng ta đã trải qua một chu kì hoạt động đều đặn trung bình khoảng 11 năm Cực đại mặt trời gần đây nhất xảy ra vào năm 2001 Cực tiểu gần đây nhất của nó thì đặc biệt yếu và kéo dài Đợt phun trào này là một trong những dấu hiệu đầu tiên cho thấy Mặt trời của chúng ta đang tỉnh giấc và đang tiến tới một kì hoạt động cực đại khác
Trang 85 thiết bị được chọn cho sứ mệnh tìm kiếm sự sống trên sao Hỏa ExoMars
Ảnh minh họa ExoMars Phi thuyền sẽ được phóng lên vào năm 2016 (Ảnh: ESA/NASA)
Có sự sống trên sao Hỏa hay không? Câu hỏi
đó có thể trả lời bằng năm thiết bị khoa học
vừa được chọn cho bay cùng sứ mệnh
ExoMars đầu tiên lên hành tinh đỏ vào năm
2016 Là một dự án hợp tác của Cơ quan Vũ
trụ châu Âu (ESA) và NASA, ExoMars là
viết tắt của dự án Ngoại Sinh vật học trên Hỏa
tinh và được trông đợi sẽ có ít nhất hai sứ
mệnh thẳng tiến lên sao Hỏa
Năm thiết bị đã được chọn ra từ 19 đề xuất đệ
trình hồi tháng 1, 2010 Chúng bao gồm ba
máy dò hồng ngoại khác nhau sẽ quét qua bầu
khí quyển Hỏa tinh tìm kiếm các thành phần
phân tử hàm lượng thấp, đồng thời tìm bụi và
hơi nước
Các nhà khoa học dự án đặc biệt muốn lập
bản đồ hàm lượng methane trong khí quyển
Hỏa tinh “Việc lập bản đồ methane cho phép
chúng ta nghiên cứu sâu hơn câu hỏi quan
trọng nhất đó: sao Hỏa là một hành tinh có sự sống hay không, hay nó có thể và sẽ trở nên
có sự sống trong tương lai hay không?”, David Southwood, giám đốc khoa học và thám hiểm bằng rô bôt của ESA, giải thích
Khí methane được sứ mệnh Mars Express của ESA phát hiện ra lần đầu tiên trên hành tinh
đỏ hồi năm 2003 và sự có mặt của nó sau đó được xác nhận bởi các nhà khoa học NASA Methane sao Hỏa đặc biệt hấp dẫn với các nhà ngoại sinh vật học [nghiên cứu sự sống ngoài trái đất] vì chất khí này sẽ bị phân hủy bởi bức xạ mặt trời Có những lượng đáng kể methane, do đó, sẽ có nghĩa là chất khí này đang được tạo ra bởi những sinh vật sống – giống hệt như quá trình xảy ra trên Trái đất chúng ta
Phi thuyền ExoMars sẽ bay trên quỹ đạo cách
bề mặt Hỏa tinh 400 km và sẽ có một camera ghi lại các ảnh 3D phân giải cao và sẽ có
thể tập trung vào những chi tiết có sức thu hút khi chúng được phát hiện ra Thiết bị thứ năm trên tàu là một camera góc rộng đa
Trang 9Bản Tin Vật lý tháng 9-2010 – Thuvienvatly.com Trang 8
bước sóng sẽ ghi ảnh toàn cầu của sao Hỏa
để điều khiển hoạt động của bốn thiết bị
kia
Hộ tống cùng ExoMars TGO trên hành
trình của nó lên sao Hỏa sẽ là một phi
thuyền tiếp đất nhỏ do ESA cung cấp sẽ hạ
cánh xuống bề mặt hành tinh đỏ Phi
thuyền tiếp đất đó có chứa một bộ thí
nghiệm địa vật lí và khí quyển, nhưng các
trở ngại tài chính khiến ESA phải lùi kế
hoạch thời gian của mình lại Thay vào đó,
phi thuyền tiếp đất trong kế hoạch hiện nay
là một phi thuyền “thao diễn” sẽ chứa một
số hạn chế các thiết bị và sẽ kiểm nghiệm
sự phát triển của công nghệ hạ cánh cho sứ
mệnh ExoMars thứ hai, theo lịch trình sẽ
khởi động vào năm 2018
Mục tiêu chính của sứ mệnh năm 2018 là đưa một cỗ xe tự hành lên bề mặt sao Hỏa
Cỗ xe sẽ được trang bị một máy khoan để thu gom mẫu địa chất, chúng có thể được mang về Trái đất bởi những sứ mệnh hợp tác ESA/NASA khác đã được lên kế hoạch cho thập niên 2020
Đồng thời, ESA cho biết họ đã có được
470 triệu bảng Anh để chi cho một sứ mệnh khoa học “tầm trung” sẽ phóng lên vào năm 2022 Cơ quan này đã kêu gọi các nhà khoa học vũ trụ hãy đưa ra các đề xuất cho sứ mệnh hiện đang được triển khai cùng với kế hoạch Tầm nhìn Vũ trụ của ESA cho tương lai của khoa học vũ trụ ở châu Âu
Nguồn: physicsworld.com
Trang 10Silicon tan chảy khi nguội đi
Bánh xốp silicon: vật liệu được sử dụng rộng rãi nhất trong ngành công nghiệp chip máy tính và pin mặt trời
(Ảnh: Patrick Gillooly) Một tính chất kì lạ của silicon có thể dẫn tới một phương pháp rẻ tiền hơn tinh chế loại chất liệu điện tử được sử dụng nhiều nhất này Đó là theo các nhà nghiên cứu tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT), họ đã quan sát thấy hiệu ứng silicon tan chảy khi lạnh đi – một quá trình mang lại sự phân tách silicon ra khỏi một số tạp chất của nó
“Sự tan chảy ngược” như thế này đã được quan sát thấy trước đây ở một số chất liệu khác và
nó có thể xây dựng vì nhiều nguyên do khác nhau Trong trường hợp silicon, đội khoa học MIT do Steve Hudelson đứng đầu cho biết hiệu ứng thu được từ chất liệu đang trở nên quá bão hòa khi lạnh đi Đội Hudelson đã có thể theo dõi quá trình đó với các phép đo huỳnh quang tia X thực hiện tại Nguồn Sáng Tiên tiến (ALS) tại Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Berkeley ở California
Các nhà nghiên cứu lấy một mẫu silicon pha tạp có cân nhắc với đồng, nickel và sắt, và làm nóng chất liệu lên 1000oC – thấp hơn nhiệt độ nóng chảy của silicon hơn 400oC Sau đó, khi
họ làm nguội hỗn hợp xuống dưới 900oC, họ quan sát thấy sự hình thành các giọt chất lỏng nhỏ xíu bên trong vật chứa silicon và ba tạp chất trên Khi đội nghiên cứu tiếp tục làm lạnh khối vật liệu, các tạp chất dần trở nên bị tách li khỏi silicon bên trong các giọt Cuối cùng, khối vật liệu trở nên hoàn toàn rắn trở lại một khi nhiệt độ giảm xuống dưới một điểm tới hạn gọi là “nhiệt độ eutectic” – khoảng 700oC
Kết quả trên có thể hữu ích cho ngành công nghiệp sản xuất bán dẫn, nơi mà một trong những thử thách lớn là làm thế nào điều chỉnh các hỗn hợp của silicon và tạp chất của nó “Nếu bạn
có thể tạo ra những giọt chất lỏng nhỏ bên trong một khối silicon, thì chúng đóng vai trò giống
Trang 11Bản Tin Vật lý tháng 9-2010 – Thuvienvatly.com Trang 10
như những máy hút chân không nuốt lấy các tạp chất”, theo lời Tonio Buonassasi, một thành viên của đội MIT
Đồng thời, nhiều ứng dụng điện tử - trong đó có pin mặt trời – liên quan đến việc đưa các tạp chất có cân nhắc vào silicon, cho nên kết quả trên có thể giúp các nhà nghiên cứu điều khiển các tương tác hóa học bên trong những chất liệu này
Nguồn: physicsworld.com
Trang 12Nguyên lí Pauli bị vi phạm tại rìa của lỗ đen
Toàn bộ vật chất trong vũ trụ - mọi cái
chúng ta nhìn thấy, cảm nhận và ngửi được
– có một cấu trúc nhất định có thể dự đoán
trước, nhờ những electron nhỏ xíu đang
quay tròn xung quanh hạt nhân nguyên tử
của chúng trong những lớp vỏ đồng tâm
hay các mức nguyên tử Một nguyên lí cơ
bản của cấu trúc có trật tự này là không có
hai electron có thể chiếm giữ cùng một
mức nguyên tử (trạng thái lượng tử) đồng
thời – một nguyên lí gọi là nguyên lí loại
trừ Pauli, xây dựng trên nền tảng thuyết
tương đối rộng của Albert Einstein và
thuyết lượng tử
Tuy nhiên, một đội gồm các nhà vật lí ở
trường Đại học Syracuse gần đây đã phát
triển một mô hình lí thuyết mới giải thích
làm thế nào nguyên lí loại trừ Pauli có thể
bị vi phạm và làm thế nào, dưới những điều
kiện hiếm hoi nhất định, nhiều hơn một
electron có thể đồng thời chiếm giữ cùng
một trạng thái lượng tử
Mô hình của họ, công bố trên tạp chí
Physical Review Letters (vol 105) ngày
26/7, có thể giúp giải thích vật chất hành
xử như thế nào tại ranh giới của các lỗ đen
và góp phần vào công cuộc nghiên cứu
khoa học đang diễn ra hiện nay hướng tới
một lí thuyết thống nhất của sự hấp dẫn
lượng tử
“Các chuyển tiếp của electron từ một lớp
vỏ nguyên tử này sang một lớp vỏ khác vi
phạm nguyên lí Pauli là cái thách thức các
nền tảng của vật lí học”, giáo sư A.P
Balachandran, tác giả đứng đầu nhóm
nghiên cứu, phát biểu “Vì lí do này nên có
sức hút thực nghiệm mạnh mẽ trong việc
tìm kiếm các chuyển tiếp đó Cho đến nay,
đã có một vài mô hình hợp lí có thể giải thích làm thế nào những chuyển tiếp như vậy có thể xảy ra Lí thuyết của chúng tôi cung cấp một mô hình như thế”
Phương thức ổn định mà các electron lắp đầy các mức nguyên tử mang lại sự ổn định
và cấu trúc cho vật chất, đồng thời chi phối tính chất hóa học của các nguyên tố trong bảng tuần hoàn Cơ sở của sự ổn định này
là khả năng định vị các đối tượng (electron, proton và neutron) hầu như chính xác trong không gian và thời gian Mô hình mới thừa nhận rằng ở cấp độ mà sự hấp dẫn lượng tử
là đáng kể, bức ảnh không-thời gian liên tục này bị phá vỡ, làm ảnh hưởng sâu sắc đến đối xứng quay của các nguyên tử và kích thích các chuyển tiếp electron (chuyển động từ lớp vỏ này sang lớp vỏ khác) vi phạm nguyên lí Pauli
Theo mô hình trên, các vi phạm của nguyên lí Pauli trên lí thuyết sẽ xảy ra trong tự nhiên trong khoảng thời gian dài hơn tuổi của vũ trụ - hoặc kém thường xuyên hơn một lần “trăng xanh” như ai cũng biết [kì trăng tròn thứ hai trong cùng một tháng]
“Mặc dù hiệu ứng này là nhỏ, nhưng các nhà khoa học đang sử dụng các thiết bị chính xác cao để cố gắng quan sát hiệu ứng”, Balachandran nói “Nếu tìm thấy, nó
sẽ ảnh hưởng sâu sắc đối với các nền tảng
lí thuyết vật lí cơ sở hiện nay”
“Ngoài ra, ngành hóa học và sinh học trong một thế giới xảy ra những vi phạm như vậy cũng sẽ khác đi nhiều lắm”, đồng tác giả Padmanabhan cho biết thêm
Trang 13Bản Tin Vật lý tháng 9-2010 – Thuvienvatly.com Trang 12
Thực tế nguyên lí Pauli có thể bị vi phạm
có thể giúp giải thích vật chất hành xử như
thế nào tại ranh giới của các lỗ đen Joseph,
một thành viên của nhóm, nói: “Trong khi
chúng ta không biết cái gì xảy ra với vật
chất trong một lỗ đen, thì mô hình của
chúng tôi có thể mang lại những gợi ý về cách thức vật chất hành xử khi các nguyên
tử co lại do sức hút hấp dẫn của các lỗ đen”
Nguồn: PhysOrg.com
Trang 14Hayabusa 2 sẽ tìm kiếm nguồn gốc của sự sống trong vũ trụ
Một hậu duệ mới và đã được cải tiến của tàu vũ trụ Nhật Bản Hayabusa – cuối cùng đã mang
về Trái đất một capsule hồi đầu năm nay – có thể cất cánh vào vũ trụ vào năm 2014 Hayabusa 2 khi đó được trông đợi sẽ quay về vào năm 2020, mang lại các manh mối về nguồn gốc của sự sống trên Trái đất
Hồi tuần rồi, Cơ quan Thám hiểm Hàng không Vũ trụ Nhật Bản (JAXA) đã được chính phủ bật đèn xanh bắt đầu phát triển Hayabusa 2, con tàu ước tính sẽ tiêu tốn khoảng 164 tỉ yen (2 tỉ USD)
Giống như bậc tiền bối của nó, phi thuyền sẽ viếng thăm một tiểu hành tinh để thu gom các mẫu bụi Nhưng trong khi Hayabusa đến thăm tiểu hành tinh Itokawa rộng 500 mét để thu gom bụi giàu silicon và sắt, thì Hayabusa 2 sẽ đến thăm một tảng đá vũ trụ kích cỡ 1 km tên gọi là 1999 JU3, để tìm kiếm các phân tử hữu cơ có thể đã gieo mầm cho sự sống trên Trái đất
Con tàu cũng sẽ được thiết kế tránh những trục trặc mà tàu Hayabus đã gặp phải trong hành trình rắc rối và gây lo lắng không yên của nó Mặc dù Hayabusa đã thành công trong việc đưa capsule của nó trở về Trái đất hồi đầu năm nay, nhưng người ta vẫn chưa rõ là nó có thu gom được bụi tiểu hành tinh theo như kế hoạch hay không
Một chi tiết mới trên tàu Hayabusa 2 sẽ là một quả bom rộng 30 cm gọi là bom công phá, theo lời Makoto Yoshikawa, thành viên của đội Hayabusa tại JAXA Khi Hayabusa 2 ở cách tiểu hành tinh 500 mét, nó sẽ thả bom công phá và rồi lui ra phía sau tiểu hành tinh để “nấp”, Yoshikawa nói “Sau đó, quả bom công phá phát nổ”
Miệng hố rộng 1 mét thu được sẽ cho phép thu gom mẫu từ bên dưới bề mặt của tiểu hành tinh, nơi chất liệu của nó ít bị ảnh hưởng hơn bởi bức xạ mặt trời Mục tiêu của Hayabusa là thu gom mẫu từ bề mặt Itokawa, nhưng vật chất dưới bề mặt mà Hayabusa 2 sẽ thu gom có khả năng chứa nhiều manh mối hơn về cơ sở hóa học của quá khứ của tiểu hành tinh trên
Để thu gom bụi từ miệng hố này, Hayabusa 2 sẽ sử dụng hai phương pháp khác nhau Giống như bậc tiền bối của nó, nó sẽ có một viên đạn nhỏ để bắn vào tiểu hành tinh trên, làm bụi bay
ra và gom lấy bằng một dụng cụ hình nón Tuy nhiên, viên đạn của tàu Hayabusa đã bắn ra không thành công, cho nên lần sau sẽ là một lần thử nghiệm lại
Phi thuyền mới cũng sẽ được thiết kế để tống một chất liệu dính, gốc silicon vào trong miệng
hố tiểu hành tinh nhằm thu gom thêm nhiều bụi “Nếu chúng ta có hai loại phương pháp thu gom mẫu, thì chắc chắn chúng ta thu gom được nhiều hơn”, Yoshikawa giải thích
Để tránh những trở ngại khác đã gây rắc rối cho Hayabusa, phi thuyền thám hiểm tiểu hành mới sẽ có những hệ thống điều khiển định hướng hồi phục, một anten tốt hơn và một động cơ được thiết kế lại
Bụi bặm thu gom từ phi thuyền mới này có thể cho chúng ta biết đôi điều về nguồn gốc của sự sống Một lí thuyết cho rằng các amino acid lần đầu tiên có mặt trên Trái đất có nguồn gốc từ
Trang 15Bản Tin Vật lý tháng 9-2010 – Thuvienvatly.com Trang 14
các tiểu hành tinh hay các sao chổi bắn phá vào hành tinh thời nằm nôi của chúng ta Nhưng
để chứng minh điều này, trước hết các nhà nghiên cứu phải tìm thấy các amino acid trên đất đã
vũ trụ
Hồi năm ngoái, NASA đã xác nhận sứ mệnh Stardust của họ đã chộp được các amino acid từ cái đuôi của sao chổi băng giá Wild 2 Nhưng tiểu hành tinh 1999 JU3, nơi giàu các hợp chất carbon như các ảnh chụp nhiệt cho biết, ở gần Trái đất của chúng ta hơn và do đó, có thể cung cấp những cái nhìn sâu sắc mới về nguồn gốc của sự sống
Jeremy Bailey, một nhà thiên văn vật lí tại trường Đại học New South Wales ở Sudney, Australia, cho biết thêm rằng việc hạ cánh lên một tiểu hành tinh và rồi thu gom mẫu, thay vì
sử dụng phương pháp chộp lấy khi bay lướt qua của Stardust, có thể là một giải pháp tốt hơn
vè do đó, là một phương pháp hiệu quả hơn để thu gom các hợp chất hữu cơ
Ông nói một phần chất liệu hữu cơ có thể đã bị đốt cháy khi nó lao vào máy gom mẫu của Stardust ở tốc độ cao
Hồi tháng 4 năm nay, tổng thống Mĩ Barack Obama đã hứa sẽ đưa các nhà du hành lên một tiểu hành tinh vào năm 2025
Cho đến nay, các thành phần có trong capsule mà tàu Hayabusa thả về Trái đất vẫn đang trong giai đoạn phân tích
Nguồn: New Scientist
Trang 16Dùng laser điều khiển nhịp tim
Theo các nhà nghiên cứu ở Mĩ, một kĩ
thuật điều hòa tốc độ nhịp tim bằng những
xung ánh sáng ngắn có thể mang đến một
loại máy điều hòa nhịp tim ít xâm hại hơn
Đội nghiên cứu do Andrew Rollins tại
trường đại học Reserve ở Cleveland, Hoa
Kì, đã lần đầu tiên chứng minh làm thế nào
có thể đồng bộ hóa nhịp tim trong cơ thể
của một phôi chim cút với những xung ánh
sáng laser hồng ngoại
Cánh cửa mở sang những dụng cụ như vậy
đã được mở ra vào năm 2008 khi những
xung femto giây cực ngắn phát ra từ laser
Ti:Sapphire đã có thể điều hòa hoạt động
của những nhóm nhỏ cardiomyocyte,
những tế bào chuyên dụng trong cơ tim co lại đồng bộ để tạo ra nhịp tim Thật không may, cái giá phải trả là nguy cơ gây nguy hiểm cho các tế bào trong quá trình đó
Trong nghiên cứu mới, nhóm của Rollins xuất phát từ một nghiên cứu chứng tỏ ánh sáng hồng ngoại dạng xung có thể ảnh hưởng đến “thế tác dụng” của một tế bào, tên gọi như vậy chỉ những biến thiên nhanh chóng ở sự lệch thế bên trong một tế bào, cái được cho là bước đầu tiên tiến tới sự co
cơ Những tác dụng này đã được trông thấy
ở những mức phơi sáng dưới ngưỡng gây nguy hại
Ảnh chụp phôi chim 53 giờ ấp Một sợi quang (bên dưới) mang các xung quang học đến bắt nhịp quả tim, còn laser khảo sát tốc kế Doppler (bên trái) ghi lại nhịp tim Ảnh: Michael Jenkins
Làm đập trái tim chim
Bật nguồn sáng sang một diode laser hồng ngoại dạng xung mili giây hoạt động ở bước sóng 1,88 μm, đội nghiên cứu đã thận trọng nhắm vào một diện tích 0,3 mm2 ống tim của một phôi mầm chim cút Trái tim trong phôi chim bắt đầu đập sau khoảng 40 giờ ấp, vì thế đội Cleveland sử dụng phôi 53 và 59 giờ ấp có trái tim thường đập xấp xỉ mỗi 2 giây một lần Ánh
Trang 17Bản Tin Vật lý tháng 9-2010 – Thuvienvatly.com Trang 16
sáng được đưa vào qua một sợi quang đường kính 400 μm, đặt cách chỗ phôi 500 μm, và ống tim được rọi sáng mỗi giây hai lần
Kết quả là sự đồng bộ hóa giữa xung laser
và tốc độ tim của phôi, với mỗi xung cảm
ứng một nhịp tim Tăng tần số rọi sáng lên
3 xung một giây làm cho nhịp tim tăng lên
theo, và khi laser tắt đi thì nhịp tim giảm
trở lại gần mức ban đầu của nó Chừng nào
cường độ phơi sáng được giữ dưới một
ngưỡng trên nào đó, đội nghiên cứu xác
định được ngưỡng đó khoảng chừng 0,81
Jcm-2, thì nhịp tim ăn khớp thành công với
xung sáng mà chẳng có dấu hiệu nào của
sự nguy hại được trông thấy dưới kính hiển
vi điện tử
Phôi chim là mô hình quan trọng cho
nghiên cứu tổng quát về sự tăng trưởng tim
và các khuyết tật bẩm sinh, một chủ đề vẫn
còn nhiều điều chưa rõ Đó là vì chim có
xu hướng có cấu tạo giải phẫu tương đối
đơn giản phát triển nhanh chóng mà vẫn
còn có những sự điều khiển chặt chẽ hoạt
động ở “động vật có xương sống còn sống”
Một phương thức không xâm lấn điều hòa
nhịp tim sẽ cho các nhà nghiên cứu một
phương tiện thao tác các lực hoạt động
trong “thòng lọng” của một ống tim thành
một cơ quan bốn buồng ngăn, và mang lại
những phương pháp mới khảo sát cái xảy
ra trong quá trình đó
Giải phóng thế tác dụng
Tuy nhiên, viễn cảnh của việc thay các máy điều hòa nhịp tim chạy điện trong cơ thể người với những tương đương trang bị laser vẫn hãy còn xa, chí ít là bởi nguyên
do vì sao laser tạo ra hiệu ứng trên cho đến nay vẫn chưa rõ Đội khoa học người Mĩ tin rằng nó gây ra một gradient nhiệt, mở ra những kênh ion và cảm ứng các thế tác dụng dưới những điều kiện thích hợp Người ta vẫn không rõ nếu áp dụng cho các
mô mờ đục hơn của tim người thì có đảm bảo hay không
Họ tin rằng các máy quang điều hòa nhịp tim có thể có lợi thế so với các mẫu chạy điện Chúng sẽ không cần tiếp xúc vật lí với tim, và vì thế tránh được nguy cơ bản thân các điện cực thỉnh thoảng có thể chạm trúng cơ quan mà chúng đang hỗ trợ Thêm nữa, laser có thể tập trung hẹp vào một diện tích đặc biệt nào đó như mong muốn
Nguồn: physicsworld.com
Trang 18Đo hàm lượng glucose mà không cần lấy máu thử
Các nhà khoa học MIT vừa nghĩ ra một phương pháp đo hàm lượng glucose trong máu bằng cách chiếu ánh sáng hồng ngoại gần lên trên da Ảnh: Patrick Gillooly
Những người bị bệnh đái tháo đường phải
chịu châm ngón tay vài lần mỗi ngày để lấy
máu Đó thật sự là một điều ám ảnh! Nay
các nhà nghiên cứu ở Mĩ vừa tìm ra một
giải pháp nhanh chóng và không gây đau
để đo hàm lượng đường trong máu – một
dụng cụ hoạt động đơn giản bằng cách
chiếu ánh sáng lên trên da
Trong tương lai, người ta sẽ chế tạo ra một
dụng cụ cỡ laptop có thể giữ trong nhà
hoặc mang đi khắp nơi Thay vì phải chích
vào da để lấy mẫu máu, dụng cụ trên đo
hàm lượng đường đơn giản bằng cách đặt
một máu quét lên trên da Vì phép đo diễn
ra nhanh chóng và dễ dàng, nên người ta hi
vọng dụng cụ có thể khích lệ những người
bị tiểu đường kiểm tra hàm lượng đường
trong máu của họ thường xuyên hơn, cho
Vấn đề trở ngại cho đến nay là ánh sáng hồng ngoại gần chỉ có thể thâm nhập một khoảng cách ngắn vào trong da Do đó, kĩ thuật trên phát hiện ra glucose trong chất lỏng xung quanh các tế bào da (chất lỏng khe), thay vì trong dòng máu chảy Đây là một khó khăn vì hàm lượng glucose trong máu có thể thay đổi nhanh chóng, thí dụ sau khi ăn uống 5-10 phút sau thì những thay đổi hàm lượng đường mới có thể nhìn thấy ở chất lỏng khe
Trang 19Bản Tin Vật lý tháng 9-2010 – Thuvienvatly.com Trang 18
Đội khoa học MIT giải quyết vấn đề này
bằng cách phát triển một thuật toán liên hệ
glucose trong máu với hàm lượng glucose
khe “Chúng tôi đã tích hợp một mô hình
truyền khối lượng vào trong thuật toán
quang phổ Raman tổng quát, cho phép
chúng tôi biến đổi liền mạch giữa glucose
trong máu và glucose khe”, Ishan Barman,
tác giả lãnh đạo nhóm nghiên cứu, cho biết
Sử dụng một phiên bản sơ bộ của dụng cụ
trên, đội nghiên cứu đã kiểm tra hàm lượng
đường trong máu của một số tình nguyện
viên và nhận thấy độ chính xác của phép
kiểm tra đúng là tốt ngang với các phép
kiểm tra chích máu ngón tay Ngoài ra,
thuật toán mới còn cho phép thử nghiệm
tiên đoán giai đoạn có hàm lượng đường
trong máu cao hoặc thấp (hyperglycemia
và hypoglycemia) sắp tới bằng cách ngoại
suy tốc độ biến đổi nồng độ đường trong
máu
Thách thức tiếp theo là giảm cỡ hệ Raman
và chế tạo một dụng cụ thu nhỏ thích hợp
cho sử dụng trong nhà Một nguyên mẫu đã
được chế tạo và hiện đã được lên lịch định
cho thử nghiệm lâm sàng, nhưng việc giảm
tính phức tạp của hệ và thu nhỏ các thành phần đòi hỏi cần có thêm thời gian
“Chúng tôi đang ở trong giai đoạn chứng minh nguyên lí của sự phát triển dụng cụ -
và chúng tôi hình dung ra một đơn vị cỡ laptop hoặc có thể cầm tay với giá thành cỡ chừng 200 USD”, Barman cho biết “Thật khó dự báo trước do các biến đổi thị trường
và các quy rắc FDA, nhưng người ta có thể
sử dụng một dụng cụ quang để theo dõi hàm lượng glucose trong vòng 5-7 năm tới”
Randall Jean, một chuyên gia về cảm biến
từ xa tại trường đại học Baylor ở Texas, Hoa Kì, thật ấn tượng trước công trình trên
“Nghiên cứu này xử lí một vấn đề thực tế
và có vẻ mang lại một phương tiện quan trọng nhằm cải tiến việc chế tạo các bộ cảm biến không xâm hại”, ông nói “Nó cũng có thể hữu ích trong việc phát triển cái gọi là ‘tuyến tụy nhân tạo’ – trong đó insulin có thể được phân phối tự động để phản ứng với hàm lượng đường trong máu”
Nguồn: physicsworld.com
Trang 20Một lỗ đen cần có khối lượng tối thiểu bao nhiêu?
Sử dụng Kính thiên văn Rất Lớn của ESO, các nhà thiên văn châu Âu lần đầu tiên đã chứng minh rằng một sao nam châm – một loại sao neutron bất thường – hình thành từ một ngôi sao
có khối lượng ít nhất bằng 40 lần khối lượng Mặt trời Kết quả trên mang lại những thách thức
to lớn cho những lí thuyết hiện nay của sự tiến hóa sao, vì một ngôi sao có khối lượng như thế này được trông đợi trở thành một lỗ đen, chứ không phải một sao nam châm Kết quả này làm phát sinh một câu hỏi cơ bản: một ngôi sao thật sự cần bao nhiêu khối lượng để trở thành một
lỗ đen?
Ảnh minh họa thể hiện ngôi sao nam châm trong đám sao rất dày đặc và non trẻ Westerlund 1
Để đi đến những kết luận của họ, các nhà thiên văn đã khảo sát chi tiết đám sao bất thường Westerlund 1, nằm cách xa chúng ta 16.000 năm ánh sáng theo hướng chòm sao phương nam Ara Từ những nghiên cứu trước đây, các nhà thiên văn biết rằng Westerlund 1 là đám siêu sao gần nhất từng được biết đến, có chứa hàng trăm ngôi sao rất nặng, một số tỏa sáng gần như một triệu lần mặt trời và một số có đường kính bằng hai nghìn lần đường kính Mặt trời (lớn bằng quỹ đạo của Thổ tinh)
Đám sao mở Westerlund 1 được phát hiện ra vào năm 1961 ở Australia bởi nhà thiên văn người Thụy Điển Bengt Westerlund Đám sao này nằm phía sau một đám mây khí và bụi khổng lồ nằm giữa các sao, chúng chặn mất đa phần ánh sáng nhìn thấy của nó Hệ số lu mờ là hơn 100.000, và đây là nguyên do vì sao phải mất một thời gian khá lâu người ta mới vén màn bản chất đích thực của đám sao đặc biệt này
Westerlund 1 là một phòng thí nghiệm thiên nhiên độc nhất vô nhị cho nghiên cứu nền vật lí sao cực độ, giúp các nhà thiên văn tìm hiểu cách thức đa số các ngôi sao nặng trong Dải Ngân
hà của chúng ta sinh sôi và qua đời Từ những quan sát của họ, các nhà thiên văn kết luận rằng đám sao cực độ này có khả năng nhất là không chứa ít hơn 100.000 lần khối lượng Mặt trời,
và toàn bộ các ngôi sao của nó nằm bên trong một vùng bề ngang chưa tới 6 năm ánh sáng Như vậy, Westerlund dường như là đám sao trẻ, đặc, nặng nhất từng được nhận ra cho đến nay trong Dải Ngân hà Cho đến nay, tất cả các ngôi sao đã phân tích trong đám Westerlund 1 có khối lượng ít nhất bằng 30-40 lần khối lượng Mặt trời Vì những ngôi sao đó có cuộc đời khá
Trang 21Bản Tin Vật lý tháng 9-2010 – Thuvienvatly.com Trang 20
ngắn ngủi – nói theo ngôn ngữ thiên văn học – nên Westerlund 1 phải rất còn trẻ Các nhà thiên văn xác định tuổi của nó đâu đó chừng 3,5 đến 5 triệu năm Như vậy, Westerlund 1 rõ ràng là một đám sao “mới sinh” trong thiên hà của chúng ta
Ảnh chụp đám sao trẻ Westerlund 1 với Máy ghi ảnh Trường Rộng trên kính thiên văn
MPG/ESO 2,2 mét tại Đài thiên văn La Silla của ESO ở Chile
“Nếu Mặt trời nằm tại trung tâm của đám sao nổi bật này, thì bầu trời đêm của chúng ta sẽ ngập tràn hàng trăm ngôi sao sáng như Mặt trăng rằm” – phát biểu của Ben Ritchie, tác giả đứng đầu nhóm nghiên cứu
Westerlund 1 là một vườn sao ngoạn mục, với số lượng sao đông đúc và đa dạng Các ngôi sao trong đám có chung một đặc điểm: chúng đều có cùng tuổi, ước tính chừng 3,5 đến 5 triệu năm, vì cụm sao được hình thành trong một sự kiện tạo sao duy nhất
Sao nam châm là một loại sao neutron có từ trường mạnh đến mức khó tin – mạnh hơn từ trường của Trái đất một triệu tỉ lần, chúng hình thành khi những ngôi sao nhất định trải qua những vụ nổ sao siêu mới Đám sao Westerlund 1 có chứa một trong vài ngôi sao nam châm
mà người ta đã biết trong Dải Ngân hà Nhờ sự có mặt của nó trong đám sao, các nhà thiên văn đã có thể suy luận ra rằng ngôi sao nam châm này phải hình thành từ một ngôi sao ít nhất
là nặng bằng 40 lần Mặt trời
Vì tất cả các ngôi sao trong đám Westerlund 1 đều có cùng tuổi, cho nên ngôi sao đã bùng nổ
và để lại một tàn dư sao nam châm phải có cuộc đời ngắn hơn những ngôi sao sống sót trong đám “Vì quãng đời của một ngôi sao liên hệ trực tiếp với khối lượng của nó – ngôi sao càng nặng thì cuộc đời của nó càng ngắn – nên nếu chúng ta có thể đo khối lượng của bất kì một ngôi sao sống sót nào, thì chúng ta biết chắc rằng ngôi sao đoản thọ trở thành sao nam châm phải có khối lượng nặng hơn nữa”, phát biểu của đồng tác giả Simon Clark “Kết quả này có
Trang 22tầm quan trọng to lớn vì chưa có lí thuyết nào được chấp nhận cho sự hình thành những vật thể
từ tính cực độ như vậy”
Do đó, các nhà thiên văn nghiên cứu các ngôi sao thuộc về hệ đôi đang che khuất W13 trong đám Westerlund 1 sử dụng thực tế rằng, trong một hệ như vậy, các khối lượng có thể được xác định trực tiếp từ chuyển động của các ngôi sao
Bằng cách so sánh với những ngôi sao này, họ nhận thấy ngôi sao đã trở thành sao nam châm phải có khối lượng ít nhất bằng 40 lần khối lượng của Mặt trời Điều này chứng tỏ, lần đầu tiên, rằng các sao nam châm có thể phát triển từ những ngôi sao quá nặng mà chúng ta thường mong chúng phát triển thành các lỗ đen Giả thuyết trước đây là các ngôi sao có khối lượng ban đầu bằng khoảng 10 đến 25 lần khối lượng mặt trời sẽ hình thành các sao neutron và những ngôi sao hơn 25 lần khối lượng mặt trời sẽ sinh ra các lỗ đen
“Những ngôi sao này phải giải phóng hơn chín phần mười khối lượng của chúng trước khi bùng nổ dưới dạng một sao siêu mới, nếu không chúng sẽ sinh ra một lỗ đen”, theo lời đồng tác giả Ignacio Negueruela “Sự mất khối lượng nhiều như vậy trước khi bùng nổ mang lại những thách thức to lớn cho các lí thuyết hiện nay của sự phát triển sao”
“Vì thế, kết quả này làm phát sinh một câu hỏi gai góc là một ngôi sao phải có khối lượng bằng bao nhiêu để co lại thành một lỗ đen nếu các ngôi sao nặng hơn 40 lần Mặt trời của chúng ta không thể làm chủ nổi số phận này”, kết luận của đồng tác giả Norbert Langer
Cơ chế hình thành mà các nhà thiên văn ưa chuộng là ngôi sao đã trở thành sao nam châm – ngôi sao tổ - đã ra đời với một ngôi sao đồng hành Khi cả hai ngôi sao phát triển, chúng bắt đầu tương tác với nhau, với năng lượng chuyển hóa từ chuyển động quỹ đạo của chúng tiêu hao vào việc tống khứ những lượng lớn khối lượng ra khỏi ngôi sao tổ Trong khi không có ngôi sao đồng hành nào như vậy có thể trông thấy hiện nay tại vị trí của sao nam châm, nhưng điều này có thể là do ngôi sao siêu mới tạo ra sao nam châm đã làm cho hệ sao đôi bị phá vỡ, tống khứ cả hai ngôi sao ra khỏi đám sao ở tốc độ cao
“Nếu đúng là trường hợp này, thì nó cho thấy các hệ sao đôi có thể giữ một vai trò quan trọng trong sự phát triển sao bởi sự chuyển hóa khối lượng tổn thấy – ‘kế hoạch ăn kiêng’ vũ trụ tối hậu cho các ngôi sao nặng, cái giải phóng 95% khối lượng ban đầu của chúng”, Clark kết luận
Nguồn: PhysOrg.com
Trang 23Bản Tin Vật lý tháng 9-2010 – Thuvienvatly.com Trang 22
Nicola Cabibbo: 1935–2010
Nhà vật lí người Italy Nicola Cabibbo, người
mà nhiều người cho rằng đáng lẽ nên được
tặng chung thưởng giải Nobel vật lí năm 2008
cho sự đóng góp của ông cho sự tìm hiểu cơ
chế của sự hòa trộn quark, đã qua đời hôm
16/8, thọ 75 tuổi
Cabibbo nắm giữ nhiều vị trí danh cao vọng
trọng trong sự nghiệp của ông, trong đó có
chức chủ tịch Viện Vật lí Hạt nhân Quốc gia
Italy (INFN) Lúc tạ thế, ông đang làm việc
tại Đại học Rome "La Sapienza", và là chủ
tịch Viện Hàn lâm Khoa học Giáo hoàng, và
chủ tịch hội đồng khoa học tại Trung tâm Vật
lí Lí thuyết Quốc tế Abdus Salam (ICTP)
Mới hồi tuần trước, Cabibbo, cùng với
Ennackal Chandy George Sudarshan thuộc
trường Đại học Texas ở Austin, cùng nhận
thưởng huy chương Dirac 2010 của ICTP cho
“những đóng góp cơ bản của họ cho việc tìm
hiểu các tương tác yếu và những khía cạnh
khác của vật lí lí thuyết” Một người bạn hoặc
đồng nghiệp của Cabibbo sẽ được mời tới
thay mặt ông nhận thưởng khi tổ chức trao
giải vào tháng 11 tới bởi Irina Bokova, tổng
giám đốc Tổ chức Giáo dục, Khoa học, và
Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO)
Ảnh: ICTP Photo Archive
Nhà tiên phong của lực yếu
Cabibbo nổi tiếng nhất với công trình
nghiên cứu của ông về tương tác yếu ở các
quark – một hạt cơ bản cấu thành nên các
hadron như proton và neutron – và đã được
công nhận cho sự đóng góp của ông cho
“sự hòa trộn quark” giữa những mùi khác
nhau của quark Năm 1963, ông đã đưa ra
“góc Cabibbo” liên hệ xác suất tương đối
mà các quark xuống (down) và quark lạ
(strange) phân hủy thành các quark lên (up)
Ma trận hòa trộn quark 2x2 của Cabibbo sau này được mở rộng để bao gồm một thế
hệ thứ ba của các quark bởi các nhà vật lí người Nhật Bản Makoto Kobayashi và Toshihide Maskawa, những người cùng nhận giải Nobel vật lí 2008 cùng với nhà lí thuyết Yoichiro Nambu Ma trận Cabibbo–Kobayashi–Maskawa (CKM) thu được mô
tả cách thức quark lạ và quark xuống bên trong một kaon có thể chuyển hóa tới lui thành các phản hạt của chúng và, trong khi làm như vậy, thỉnh thoảng vi phạm đối
Trang 24xứng điện tích – chẵn lẻ (CP) Ma trận này
còn dự đoán sự tồn tại của những hạt quark
mới – quark duyên (charm), quark đáy
(bottom) và quark đỉnh (top) – sau này
chúng đã được khám phá ra trong các thí
nghiệm
“Cabibbo là một cây đại thụ của nền vật lí
hạt đương thời”, phát biểu của Tim
Gershon, một nhà vật lí hạt cơ bản tại Đại
học Warwick ở Anh quốc “Tác động của
sự đóng góp của ông cho sự phát triển của
Mô hình Chuẩn hầu như không thể nào là
nói quá”
Tuy nhiên, một số nhà vật lí vẫn cảm thấy
Cabibbo đáng lí ra nên nhận được một suất
chia sẻ của giải thưởng Nobel 2008 cùng
với Kobayashi và Maskawa cho việc thiết
lập nền tảng của ma trận CKM “Có một
cảm nhận chung trong cộng đồng là
Cabibbo đúng là xui xẻo nên đã chẳng
được nhận giải”, Gershon nói
Một đời dành cho vật lí học
Sinh ra ở Rome năm 1935, Cabibbo tốt
nghiệp ngành vật lí ở trường Đại học Rome
"La Sapienza" vào năm 1958 và sau đó làm việc với vai trò một nhà nghiên cứu tại INFN cho đến năm 1962 Sau một thời gian làm việc tại Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Berkeley, California và tại Đại học Harvard, ông trở lại Italy làm việc tại trường Đại học Aquila vào năm 1965 Năm 1966, ông quay về "La Sapienza", nơi ông tiếp tục ở lại trong quãng còn lại của
sự nghiệp của mình Ông trở thành chủ tịch INFN vào năm 1983 và rồi là chủ tịch của Viện Hàn lâm Khoa học Giáo hoàng kể từ năm 1993
"Nicola Cabibbo có sức ảnh hưởng rất lớn lên các đồng nghiệp của ông Ông rất được tôn kính và được xem là một quý ông đích thực”, phát biểu của nhà vật lí lí thuyết Giorgio Parisi ở trường "La Sapienza", người từng được Cabibbo cố vấn cho nghiên cứu tốt nghiệp của mình “Tôi nhớ ông ấy luôn dành một chút thời gian vào sáng thứ bảy để làm vật lí Đối với ông ấy,
nó giống như trò chơi ghép hình vậy”
Nguồn: physicsworld.com
Trang 25Bản Tin Vật lý tháng 9-2010 – Thuvienvatly.com Trang 24
‘Năng lượng tối’ sẽ làm cho vũ trụ giãn nở mãi mãi
Các nhà khoa học phát hiện vũ trụ của
chúng ta có khả năng sẽ tiếp tục giãn nở
mãi mãi
Các nhà nghiên cứu NASA sử dụng một
‘thấu kính thiên hà’ cho thấy vũ trụ cuối
cùng sẽ trở thành một vùng đất hoang vu, lạnh lẽo và chết chóc
Các nhà thiên văn đã sử dụng Kính thiên văn vũ trụ Hubble để tính ra lượng ‘năng lượng tối’ bí ẩn có mặt trong vũ trụ
Ánh sáng sao bị bẻ cong xung quanh đám thiên hà Abell 1689
Nghiên cứu khảo sát năng lượng tối, cái
đang tiếp tục đẩy vũ trụ ra xa nhau, cấu
thành từ cái gì
Sử dụng ‘thấu kính thiên hà’ để tính ra
lượng năng lượng tối có mặt trong không
gian, các nhà khoa học kết luận rằng sự
phân bố của lực chưa giải thích được đó có
nghĩa là vũ trụ có khả năng sẽ không bao
giờ ngừng giãn nở
Các nhà khoa học đã sử dụng kính Hubble
để khảo sát xem ánh sáng phát ra từ các
ngôi sao bị bóp méo như thế nào bên trong
và xung quanh một đám thiên hà khổng lồ
tên gọi là Abell 1689
Kích cỡ của đám thiên hà làm cho ánh sáng
bị bẻ cong xung quanh các thiên hà mà các
nhà thiên văn sử dụng để đi xem Abell
1689 cách Trái đất bao xa, đo khối lượng
của nó và quan trọng hơn, đo sự phân bố của năng lượng tối
Các nhà khoa học đã khảo sát 34 ảnh chụp thiên hà do Hubble và các đài thiên văn mặt đất thực hiện để nghiên cứu hiện tượng trên
‘Hình dạng, thành phần và số phận của vũ trụ đều liên hệ phức tạp với nhau’, phát biểu của nhà nghiên cứu Priyamvada Natarajan ở trường đại học Yale ‘Nếu bạn biết hai, bạn có thể suy luận ra cái thứ ba Chúng ta đã có kiến thức khá tốt về thành phần khối lượng-năng lượng của vũ trụ, cho nên nếu chúng ta có thể làm chủ dạng hình học của nó thì chúng ta sẽ có thể luận
ra chính xác số phận của vũ trụ sẽ như thế nào’
Trang 26Giáo sư Eric Jullo ở Phòng thí nghiệm Sức
đẩy Phản lực của NASA, những đứng đầu
nhóm nghiên cứu, nói: ‘Chúng ta phải giải
bài toán năng lượng tối từ mọi phương diện
Điều quan trọng là có một vài phương pháp,
và hiện nay chúng ta có thêm một phương
pháp mới, rất mạnh Cái tôi ưa chuộng ở
phương pháp mới của chúng tôi là nó rất dễ
hình dung Bạn đúng là có thể thấy sự hấp
dẫn và năng lượng tối bẻ cong hình ảnh của
các thiên hà nền thành các vòng cung’
Người ta tin rằng năng lượng tối chiếm
khoảng ba phần tư vũ trụ nhưng vẫn hoàn
toàn vô hình đối với các nhà thiên văn
Toàn bộ những gì đã biết là nó là một lực đẩy các thiên hà ngày một ra xa nhau Giáo
sư Jullo nói ông đảm bảo rằng nghiên cứu hiện nay sẽ giúp các ước tính khoa học về năng lượng tối tăng thêm chính xác độ 30% trong tương lai
Ông cho biết thêm rằng hiện nay người ta nghĩ rằng sự giãn nở của vũ trụ không những tiếp tục đến vô hạn định mà còn ngày một nhanh nữa
Nguồn: Daily Mail
Trang 27Bản Tin Vật lý tháng 9-2010 – Thuvienvatly.com Trang 26
Hệ mặt trời có lẽ già hơn ước tính đến 2 triệu năm tuổi
Hệ mặt trời có thể già hơn người ta nghĩ
gần hai triệu năm, đó là theo một nghiên
cứu mới công bố hôm chủ nhật qua trên tạp
chí Nature Geoscience
Bằng chứng từ một thiên thạch cân nặng
1,49kg tìm thấy trong sa mạc Moroc hồi
năm 2004 có chứa một khoáng chất “cổ
sơ”, được biết là một trong những chất liệu
rắn lớn tuổi nhất hình thành sau sự ra đời
Tác giả của bài báo trên là Audrey Bouvier
và Meenakshi Wadhwa ở Trung tâm Nghiên cứu Thiên thạch thuộc trường Đại học Bang Arizona
Nguồn: AFP
Trang 28Mộc tinh bị tấn công lần thứ ba trong 13 tháng
Đây là lần thứ ba trong vòng chỉ hơn một năm, các nhà thiên văn nghiệp dư đã phát hiện ra một sao chổi hoặc tiểu hành tinh đã lao vào sao Mộc Các quan sát cho biết các vụ va chạm với kẻ khổng lồ hành tinh xảy ra thường xuyên hơn trước nay người ta vẫn nghĩ
Hôm thứ sáu trước, một sao chổi hoặc tiểu hành tinh nhỏ đã lao vào khí quyển của Mộc tinh, tạo ra một quả cầu lửa trong tích tắc, đã được ghi nhận độc lập bởi hai nhà thiên văn nghiệp dư người Nhật Bản thu video qua kính thiên văn của họ
Một vụ tấn công nữa lên Mộc tinh (Ảnh: Masayuki Tachikawa/Takahashi) Quan sát trên noi theo bước chân của hai
quan sát tương tự thực hiện bởi các nhà
thiên văn nghiệp dư trong 13 tháng qua –
một quan sát vào tháng 6/2010 và một quan
sát vào tháng 7/2009, mặc dù trong trường
hợp thứ hai vừa nói người ta chỉ quan sát
thấy vết thâm tối do vụ va chạm để lại
Trước khi có ba quan sát mới này, người ta
chỉ biết duy nhất một trường hợp xác định
một sao chổi hay tiểu hành tinh va chạm
với Mộc tinh – cú va chạm của các mảnh
vỡ của sao chổi Shoemaker-Levy 9 hồi
năm 1994, một sự kiện được dự báo trước
và được quan sát rộng khắp với các kính
thiên văn chuyên nghiệp Tuy nhiên, vào
năm 1690, nhà thiên văn người Italy
Giovanni Domenico Cassini, người phát
hiện ra bốn trong số các vệ tinh của sao
Thổ, đã vẽ ra một sự kiện trông giống một
Sự phong phú bất ngờ của những quan sát như vậy có lẽ là nhờ một kĩ thuật chụp những bức ảnh rất sắc nét bằng cách kết hợp các khung hình rõ nhất từ một bản ghi video, theo lời Glenn Orton thuộc Phòng thí nghiệm Sức đẩy Phản lực của NASA ở Pasadena, California
Trang 29Bản Tin Vật lý tháng 9-2010 – Thuvienvatly.com Trang 28
Orton và một nhóm nhà thiên văn học do
nhà thiên văn nghiệp dư người Australia
Anthony Wesley đứng đầu đã đề xuất
thành lập một mạng lưới toàn cầu gồm các
kính thiên văn tự động cỡ nhỏ để theo dõi
liên tục các va chạm trên Mộc tinh
Họ đã đệ trình ý tưởng lên một ủy ban thuộc Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Mĩ,
cơ quan sẽ xác lập các ưu tiên cho ngành khoa học hành tinh trong thập kỉ tới trong một bản báo cáo sẽ công bố vào năm 2011
Nguồn: New Scientist