Với sự ra đời của Luật Hônnhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015, pháp luật nước ta đã không cấm việc kết hôn của người đồng tính hôn nhân giữa những người cùng giới tí
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 4
4 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 4
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 5
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài 5
7 Kết cấu đề tài 5
NỘI DUNG 6
Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI 6
1.1.Định nghĩa và đặc điểm về người đồng tính 6
1.1.1 Định nghĩa về người đồng tính 6
1.1.2 Đặc điểm của người đồng tính 8
1.2.Các hình thức công nhận hôn nhân đồng giới trên thế giới 11
1.2.1 Hôn nhân 11
1.2.2 Kết hợp dân sự 12
1.2.3 Sống chung không đăng ký 14
Chương 2 PHÁP LUẬT VỀ HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI Ở VIỆT NAM VÀ CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ KHI HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI KHÔNG ĐƯỢC THỪA NHẬN 16
2.1.Pháp luật về hôn nhân đồng giới ở Việt Nam 16
2.2.Các vấn đề pháp lý khi hôn nhân đồng giới không được thừa nhận 20
2.2.1 Quan hệ nhân thân 20
2.2.2 Quan hệ tài sản 21
2.2.3 Quan hệ về con cái 22
2.2.4 Những vấn đề pháp lý khác 22
Trang 2Chương 3 THỰC TRẠNG HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI TRÊN THẾ GIỚI
VÀ VIỆT NAM – NHỮNG ĐỀ XUẤT TỪNG BƯỚC TIẾN TỚI THỪA
NHẬN HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 25
3.1.Thực trạng hôn nhân đồng giới trên thế giới và ở Việt Nam 25
3.1.1 Trên thế giới 25
3.1.2 Ở Việt Nam 33
3.2.Những đề xuất tiến tới thừa nhận hôn nhân đồng giới 36
KẾT LUẬN 40
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
PHỤ LỤC 46
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Khoản 1, Điều 16, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: “Mọi công
dân đều bình đẳng trước pháp luật” Điều này đồng nghĩa với việc pháp luật
không thừa nhận cũng như không cho phép có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào vì
lý do giới tính hay xu hướng tính dục của cá nhân Với sự ra đời của Luật Hônnhân và gia đình năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2015), pháp luật nước ta
đã không cấm việc kết hôn của người đồng tính (hôn nhân giữa những người
cùng giới tính – hôn nhân đồng giới) Điều 8 về “Điều kiện kết hôn” của Luật
này quy định là “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng
giới tính” Việc không thừa nhận này là dấu hiệu tích cực cho các cặp đôi cùng
giới Thực trạng mối quan hệ đồng giới ở nước ta thời gian qua cho thấy, kếthôn là một nhu cầu có thật và hoàn toàn chính đáng của những người đồng tính.Mặc dù không được pháp luật thừa nhận nhưng trên thực tế nhiều người đồngtính vẫn đang chung sống với nhau như một gia đình, từ đó phát sinh các quan
hệ về nhân thân, tài sản hoặc về con cái nhưng lại chưa có cơ chế pháp lý đểđiều chỉnh các hậu quả về nhân thân, tài sản và con cái từ việc chung sống giữanhững người cùng giới tính Thực tiễn xét xử của Tòa án trong thời gian quacũng cho thấy, đã có một số vụ việc tranh chấp về tài sản giữa những ngườiđồng tính có quan hệ sống chung, nhưng chưa có cơ sở pháp lý cụ thể để giảiquyết tranh chấp
Để đi sâu phân tích nhằm làm hiểu rõ hơn vấn đề này, chúng ta sẽ nghiêncứu nó một cách cụ thể, chi tiết hơn về lý luận và đồng thời so sánh giữa lý luận
và thực tiễn để thấy được những bất cập chưa thực sự hợp lý giữa lý luận vớithực tiễn Qua tìm hiểu, xem xét thực trạng hôn nhân đồng giới trên thế giới và ởViệt Nam, từ đó, có thể đưa ra đề xuất giúp hoàn thiện hệ thống pháp luật về vấn
đề hôn nhân đồng giới
Trang 4Vì vậy, tác giả đã đi đến thực hiện nghiên cứu với đề tài “Vấn đề kết hôn
đồng giới – lý luận pháp lý và thực tiễn”.
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Với mục đích là tìm hiểu một cách có hệ thống và toàn diện về mặt lý
luận về vấn đề hôn nhân đồng giới, đánh giá đúng thực trạng hôn nhân đồng giới
ở Việt Nam hiện nay Qua đó phân tích quy định của pháp luật Việt Nam về vấn
đề này, cũng như chỉ ra những bất cập giữa thực tiễn và lý luận khi hôn nhânđồng giới không được thừa nhận, trên cơ sở đó đưa ra các đề xuất nhằm hoànthiện pháp luật hôn nhân và gia đình về vấn đề hôn nhân đồng giới, tiến tới thừanhận hôn nhân đồng giới ở Việt Nam
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Hôn nhân đồng giới là một vấn đề phức tạp trong pháp luật về hôn nhân
và gia đình, được nhiều người quan tâm hiện nay Vì vậy, trong phạm vi nghiêncứu của mình, tác giả chỉ dừng lại ở phạm vi nghiên cứu những vấn đề khái quátchung về hôn nhân đồng giới bao gồm định nghĩa, đặc điểm của người đồngtính, các hình thức thừa nhận hôn nhân đồng giới trên thế giới hiện nay, cũngnhư những quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này Đề tài cũng chỉ rathực trạng hôn nhân đồng giới trên thế giới và Việt Nam, từ đó đưa ra những đềxuất từng bước tiến tới thừa nhận hôn nhân đồng giới trong pháp luật Việt Nam
4 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Niên luận nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về hôn nhân đồng giới,
từ đó đi sâu vào những quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này, đồng thờitìm hiểu thực trạng hôn nhân đồng giới ở một số nước trên thế giới và phân tích thựctrạng hôn nhân đồng giới ở Việt Nam hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Niên luận được tác giả nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận củachủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Niên luận đặc biệt
Trang 5coi trọng các phương pháp hệ thống, lôgic, tổng hợp, so sánh, dự báo, kết hợpvới phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia để chọn lọc tri thức khoa học,kinh nghiệm thực tiễn trong vấn đề hôn nhân đồng giới.
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài
Với nội dung nghiên cứu đã đề cập, thông qua những kết quả thu được từviệc nghiên cứu thể hiện trong đề tài để nói lên được những vấn đề đang mắcphải trong lí luận cũng như thực tiễn, cái nhìn từ xã hội và từ luật pháp về vấn đềhôn nhân đồng giới Đồng thời, với việc đưa ra các đề xuất sẽ góp phần làm hoànthiện hệ thống pháp luật Việt Nam về lĩnh vực hôn nhân và gia đình nói chung
và lĩnh vực hôn nhân đồng giới nói riêng
Ngoài ra, nội dung nghiên cứu này còn có thể được sử dụng làm tài liệutham khảo cho những tác giả nghiên cứu khác về cùng vấn đề này, cho các bạnsinh viên, cũng như tất cả những ai quan tâm đến vấn đề kết hôn đồng giới
7 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, niênluận gồm 3 chương:
- Chương 1: Khái quát chung về hôn nhân đồng giới.
- Chương 2: Pháp luật về hôn nhân đồng giới ở Việt Nam và các vấn
đề pháp lý khi hôn nhân đồng giới không được thừa nhận.
- Chương 3: Thực trạng hôn nhân đồng giới trên thế giới và Việt Nam
– những đề xuất từng bước tiến tới thừa nhận hôn nhân đồng giới trong pháp luật Việt Nam
Trang 6NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI
1.1 Định nghĩa và đặc điểm về người đồng tính
1.1.1 Định nghĩa về người đồng tính
Trên thế giới, thuật ngữ “giới” theo tiếng Anh là “gender” ban đầu xuất
phát từ khái niệm “Phụ nữ trong phát triển” (Women in development - WID).Đây là quan điểm được tính đến trong chính sách và chương trình kinh tế - xãhội của một số nước đang phát triển vào cuối những năm 1970, đầu những năm
1980 Như vậy, theo quan điểm xã hội học, “giới” dùng để chỉ các đặc điểm,
vị trí, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam và nữ Hay nói cách khác, giới là
sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong quan hệ xã hội.
Khái niệm “giới” và “giới tính” hoàn toàn khác nhau, nhằm phân biệt hai
loại đặc điểm của phụ nữ và nam giới: một loại đặc điểm do quan niệm xã hội và
sự phân công lao động xã hội tạo nên, loại đặc điểm thứ hai do yếu tố sinh họcquy định - đặc điểm giới tính1 Tính hoặc giới tính (sex) được dùng để chỉ cácđặc điểm sinh học của nam và nữ, bao hàm các đặc điểm về mặt tâm lý học, ýthức và ý chí tính dục (gọi chung là xu hướng tính dục) Xu hướng tính dục đượcđịnh nghĩa là sự hấp dẫn có tính bền vững về tình cảm và/hoặc tình dục hướngtới những người khác Nó khác với ba cấu thành khác của tính dục bao gồm giớitính sinh học (do các yếu tố sinh học quy định), bản dạng giới (cảm nhận tâm lýmình là nam hay nữ), và thể hiện giới (sự thể hiện và vai trò về nam tính hay nữtính trong đời sống)2 Từ đó phân ra các loại xu hướng tính dục:
- Thấy hấp dẫn bởi người khác giới: Dị tính
- Thấy hấp dẫn bởi người cùng giới: Đồng tính
1 Tài liệu học tập: Luật Bình đẳng giới, Khoa Luật – Đại học Huế.
2 Báo cáo nghiên cứu về người đồng tính, song tính và chuyển giới – TS.Nguyễn Quỳnh Phương, Viện
Nghiên cứu Xã hội- Kinh tế và Môi trường.
Trang 7- Thấy hấp dẫn bởi cả hai giới: Song tính.
Theo thuyết đa dạng tình dục (Queer Theory), trên thực tế bản dạng tínhdục của con người phức tạp hơn nhiều so với cách phân chia giới tính thành nam
và nữ như hiện nay Việc phân chia bản dạng thành hai cực thể hiện cách nhìnđối lập nhị phân và không thể hiện được sự đa dạng của cuộc sống Liên quanđến xu hướng tính dục, trong một công trình xuất bản từ cuối những năm 1940,Alfred Kinsey và đồng nghiệp chỉ ra rằng xu hướng tính dục có thể được chia ralàm bảy loại, từ hoàn toàn dị tính cho tới hoàn toàn đồng tính, và song tính làđiểm giữa3
Trong thuật ngữ tiếng Anh có từ LGBT4 dùng để chỉ nhóm người có xuhướng tình dục thiểu số trên thế giới, bao gồm bốn nhóm người: đồng tính nữ(lesbian), đồng tính nam (gay), người chuyển giới tính từ nam sang nữ hoặc từ
nữ sang nam (transsexual/transgender) và người song tính luyến ái (bisexual)5
Quan niệm về người đồng tính rất đa dạng và điều này phản ảnh sự đadạng về cách hiểu thế nào là người đồng tính của xã hội Sự đa dạng này xuấtphát từ cách nhìn nhận các khía cạnh khác nhau trong cuộc sống xã hội – từ góc
độ con người sinh học, đặc điểm cấu tạo cơ thể, thay đổi nội tiết tố bên trong cơthể, thể hiện giới bên ngoài, hay vai trò giới v.v… Cho dù quan niệm về ngườiđồng tính được nói đến ở khía cạnh nào thì hầu hết cũng dựa trên bản chất “làhai người cùng giới yêu nhau và có ham muốn quan hệ tình dục với nhau” Như
vậy, có thể khái niệm: Người đồng tính thuộc nhóm đồng tính luyến ái
(homosexual) là người bị hấp dẫn trên phương diện tình yêu hay tình dục hoặc
3 Một số khái niệm cơ bản về người đồng tính, song tính và chuyển giới – Lương Thế Huy, Viện
Nghiên cứu Xã hội- Kinh tế và Môi trường.
4LGBT là từ viết tắt cụm từ tiếng anh Lesbian - Gay - Bisexual -Transgender.
5 Đồng tính luyến ái là vấn đề đã xuất hiện từ rất lâu, nhưng mãi đến giữa thế kỷ thứ 19, thuật ngữ đồng tính luyến ái “homosexuality” mới lần đầu tiên được biết đến bởi một bác sĩ người Hungary, Benkart
(với bút danh là K.M.Kertbeny) Xem: J.Lauritsen and D.Thorstad, The Early Homosexual Rights
Movement (1864-1935).
Trang 8việc yêu đương hay quan hệ tình dục giữa những người cùng giới tính với nhau trong hoàn cảnh nào đó hoặc một cách lâu dài Người đồng tính nam thường gọi
là “gay” và người đồng tính nữ thường được gọi là “les”/“lesbian”.
Về phân loại, đối với đồng tính nam (gay) thì thường thấy có 3 típ chính:
- Seme (hoặc top): có vẻ bề ngoài nam tính cả về thể chất (dáng vóc, cơ
bắp, giọng nói…) và tâm lý (mạnh mẽ, có tính cách quả quyết,…) Trongquan hệ tình cảm, và tình dục, nhóm này tương tự như nam giới
- Uke (hoặc bot): có vẻ bề ngoài nữ tính chủ yếu được thể hiện dưới phương
diện tâm lý (thích làm đẹp, làm dáng, chiều chuộng…) hơn là phương diệnthể chất Trong quan hệ tình cảm và tình dục, nhóm này tương tự như nữgiới
- Seke: là mức trung tính được xếp ở mức độ giữa Seme và Uke.
Đối với đồng tính nữ (les) thì thường thấy có 3 típ chính:
- B (đọc là bi): có vẻ bề ngoài nam tính Nhóm này có xu hướng ngoại hình(đặc biệt là ở trang phục) và tính các (mạnh mẽ, cứng cỏi,…) giống namgiới Trong quan hệ tình cảm, và tình dục, nhóm này tương tự như namgiới
- F (đọc là fem): có vẻ bề ngoài nữ tính cả về thể chất và tâm lý đều giống
nữ giới Trong quan hệ tình cảm và tình dục, nhóm này tương tự như nữgiới
- SB (đọc là “ét-bi” hoặc “súp-bi”): được xếp giữa B (bi) và fem (phem)
1.1.2 Đặc điểm của người đồng tính
Các yếu tố hình thành:
Có nhiều giả thuyết về các yếu tố hình thành nên thiên hướng tình dụcđồng tính, trong đó bao gồm:
Trang 9- Kiểu gen6 (bẩm sinh): Theo các nhà nghiên cứu Peter Bearman và HannahBruckner, từ Đại học Columbia và Đại học Yale, khi nghiên cứu dữ liệu từTrung tâm Y tế quốc gia vị thành niên, kết luận: kiểu gen là một trongnhững nguồn gốc của đồng tính luyến ái.
- Môi trường sống và sự dạy dỗ, bao gồm: sự tương quan với môi trường
sống, yếu tố gia đình, chấn thương tâm lý và ảnh hưởng từ văn hóa – xãhội
- Số lượng anh trai của đối tượng (đối với người đồng tính nam)7: Theonhiều nhiên cứu, có thêm một người anh trai sẽ tăng khả năng là đồng tínhlên 28%–48% Hiệu ứng anh trai chiếm khoảng 1/7 trong số người đồngtính nam Không có sự tương quan giữa số chị gái và sự đồng tính của mộtngười nữ
- Hoócmôn trong giai đoạn bào thai.
- Sự lo âu của người mẹ khi mang thai
- Tổng hợp của các yếu tố trên.
Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics) khẳng định
rằng: “Thiên hướng tình dục được quyết định bởi sự tổng hợp của kiểu
gen, hoocmon và ảnh hưởng môi trường”.Nhiều tranh cãi tiếp tục dựa trên cácyếu tố sinh học và/hoặc tâm lí như kiểu gen và sự hoạt động của một sốhoocmon ở bào thai Năm 2012, nghiên cứu của trường Queen Mary và ViệnNghiên cứu Karolinska ở Stockholm đã theo dõi 3.826 cặp song sinh cùng trứng,kết luận: môi trường xã hội là yếu tố đóng vai trò chủ yếu trong việc hình thànhđồng tính luyến ái, trong khi yếu tố bẩm sinh chỉ là thứ yếu Cụ thể, kiểu genchiếm 35% còn ảnh hưởng từ môi trường xã hội lên mỗi cá nhân (đã loại bỏ các
6 American Psychological Association, Answers to Your Questions For a Better Understanding of
Sexual Orientation & Homosexuality.
7 Blanchard, R., Cantor, J M., Bogaert, A F., Breedlove, S M., & Ellis, L (2006),"Interaction of fraternal birth order and handedness in the development of male homosexuality." Hormones and Behavior, 49, 405–414
Trang 10yếu tố tương đồng) chiếm 64% trong việc hình thành đồng tính nam, tỷ lệ tươngứng đối với đồng tính nữ là 18% và 80%.
nữ hiện đang có một quan hệ tình cảm Có những nghiên cứu cho thấy các cặpđồng tính và các cặp dị tính là tương đương nhau về mặt toại nguyện và sự gắnkết nhiều hay ít trong quan hệ tình cảm
Nhà nghiên cứu Brad Hayton cung cấp cái nhìn sâu sắc thái độ của nhiều
người đồng tính đối với cam kết hôn nhân: “Người đồng tính có niềm tin rằng
mối quan hệ hôn nhân chỉ là tạm thời và chủ yếu là vì bản năng tình dục Quan
hệ tình dục giữa họ chủ yếu vì niềm vui chứ không phải vì sự sinh sản” 8
Người đồng tính không phải là người bị bệnh:
Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ (American Psychiatric Association) đã loạiđồng tính luyến ái khỏi danh sách các bệnh sau một cuộc bỏ phiếu năm 1973, với58% phiếu thuận và 42% phiếu chống (chưa kể phiếu trắng) Ảnh hưởng bởi cácquyết định này, năm 1975, Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (AmericanPsychological Association) cũng đưa ra kết luận tương tự và đến năm 1990 là Tổchức y khoa thế giới Tuy nhiên, đến nay vẫn có những tổ chức và nhà tâm lýhọc phản đối những quyết định này Họ cho rằng quyết định đó là do áp lựcchính trị dữ dội từ các tổ chức ủng hộ đồng tính chứ không phải vì các bằng
8 Timothy J Dailey, Ph.D, Homosexual parenting: placing children at risk (Part II of III),
http://ac21doj.org/contents/homosexuality/homosexualParentingPlacingChildrenAtRisk-Part2.html
Trang 11chứng khoa học vững chắc Năm 2012, bác sĩ tâm thần học nổi tiếng RobertSpitzer đã lên tiếng rút lại nghiên cứu của ông năm 2001 về hiệu quả “chữa trị”đồng tính thành dị tính và xin lỗi cộng đồng đồng tính Cùng với sự kiện này,chứng cứ khoa học duy nhất mà những người muốn “chữa trị đồng tính” thườngdựa vào nay đã không còn nữa.
Người đồng tính không phải là người chuyển giới:
Người chuyển giới và người đồng tính thường bị đồng nhất một cách sailầm Thực tế, người chuyển giới thường trải qua quá trình bối rối trong việc nhậndiện giới của chính mình cũng như đối mặt với những quyết định chuyển đổi,khó khăn liên quan đến sử dụng hoocmon phẫu thuật và công khai thể hiện giới.Người chuyển giới liên quan tới việc người đó nhận dạng mình là nam hay nữ,trong khi người đồng tính liên quan tới việc người đó yêu người cùng giới haykhác giới Chuyển giới là một khái niệm liên quan đến bản dạng giới, trong khiđồng tính, song tính hay dị tính là những khái niệm liên quan đến xu hướng tínhdục Vì vậy người chuyển giới và người đồng tính khác nhau
1.2 Các hình thức công nhận hôn nhân đồng giới trên thế giới
Pháp luật các nước trên thế giới tồn tại rất nhiều các chế định khác nhau,thấp hơn hoặc tương tự như hôn nhân với các tên gọi khác nhau, ví dụ như: quan
hệ đối tác chung nhà (domestic partnership), kết đôi có đăng ký (registered
partnership), kết hợp dân sự (civil union) hay các tên gọi khác tùy vào từng quốc
gia Nhìn chung, sự công nhận pháp lý đối với mối quan hệ giữa hai người cùnggiới tính có thể được phân vào ba hình thức kết đôi chính sau đây:
1.2.1 Hôn nhân
Hôn nhân là hình thức kết đôi có đăng ký với Nhà nước, được cấp giấychứng nhận đăng ký kết hôn với đầy đủ tất cả những quyền, nghĩa vụ và sự côngnhận pháp lý như những cặp khác giới
Trang 12Sự hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới hoặc khả năng thực hiện hôn nhânđồng giới được những người ủng hộ xem là quyền bình đẳng hôn nhân hoặc hônnhân bình đẳng Thế kỷ 21 được xem là thế kỷ của bình đẳng hôn nhân, sau khi
đã có quyền bình đẳng của người da màu, quyền bình đẳng của phụ nữ và quyềnbình đẳng tôn giáo
Những điều luật đầu tiên trong thời kỳ hiện đại cho phép hôn nhân đồnggiới được thông qua vào thập niên đầu tiên của thế kỷ 21 Cho đến thời điểmcuối năm 2014, trên thế giới có 16 nước, 34/50 bang ở Hoa Kỳ, nhiều bang ởMexico và nhiều vùng lãnh thổ đã hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới và luật hóa
các quyền của người đồng tính (xem phụ lục bảng 1) Tại những quốc gia hợp
pháp hóa hôn nhân cùng giới, pháp luật đã định nghĩa lại khái niệm hôn nhân,bãi bỏ điều kiện về giới tính của hai bên phối ngẫu (vợ/chồng) dẫn đến việc banhành một luật hôn nhân thống nhất không phân biệt giới tính Ví dụ, Thụy Điểnghi trong luật hôn nhân của mình là “luật này áp dụng cho tất cả mọi người”
Hôn nhân đồng giới đem đến cho những người đồng tính được sử dụngnhững dịch vụ công và hiện thực nhu cầu tài chính như những cặp khác giớikhác Hôn nhân đồng giới cũng đem đến cho họ sự bảo vệ hợp pháp ví dụ nhưquyền thừa kế và quyền thăm nuôi Hôn nhân đồng giới có thể được thực hiệnmột cách đơn giản hoặc theo nghi thức tôn giáo Nhiều cộng đồng tín ngưỡngtrên thế giới đã cho phép hai người cùng giới kết hôn hoặc thực hiện hôn lễ cùnggiới, ví dụ như: Phật giáo ở Đài Loan, Úc; Nhà thờ ở Thụy Điển; Giáo hộiPresbyterian; Do Thái giáo bảo thủ; Giáo hội Thống Nhất Canada
1.2.2 Kết hợp dân sự
Kết hợp dân sự là hình thức kết đôi có đăng ký với Nhà nước, được cấp
giấy chứng nhận “có quan hệ gia đình”, “kết đôi có đăng ký”,“kết hợp dân sự”
hoặc các tên gọi tương tự khác tùy vào từng quốc gia Đây là dạng chung sốngnhư vợ chồng không phát sinh hậu quả hôn nhân trước pháp luật Pháp luật
Trang 13không bảo hộ đầy đủ quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng trong pháp luật Trongquá trình chung sống, người ta phải thực hiện quyền, nghĩa vụ với nhau như thếnào về tài sản Việc đăng ký nhằm công khai hóa quyền, nghĩa vụ với nhau trongquá trình chung sống đó Nếu sau quá trình chung sống mà chia tay, dẫn đếntranh chấp, phân chia tài sản thì thỏa thuận khi đăng ký là luật đối với chính họ.Tòa án căn cứ vào thỏa thuận đó để xác định tài sản phân chia, giải quyết tranhchấp và giải quyết quyền, nghĩa vụ các bên Giống như một dạng hợp đồng đã cóhiệu lực miễn là không vi phạm pháp luật Chế định này quy định cho những cặpcùng giới một tình trạng, quyền, nghĩa vụ và sự công nhận pháp lý tương đương(có thể có một vài ngoại lệ)
Tại những quốc gia hợp pháp hóa kết đôi giữa hai người cùng giới, bêncạnh hôn nhân giữa hai người khác giới, trong hầu hết trường hợp, luật phápnhiều nơi quy định các quyền, nghĩa vụ dành cho kết đôi có đăng ký giữa haingười cùng giới là hoàn toàn giống với quyền, nghĩa vụ dành cho hôn nhân giữahai người khác giới Ví dụ, Bộ luật Gia đình của bang California (Hoa Kỳ) có
một hình thức kết đôi dành riêng cho người đồng tính có tên gọi là “quan hệ gia
đình có đăng ký” Bộ luật Gia đình của bang tại đoạn 297.5(a) quy định rằng
“các bên trong quan hệ gia đình có đăng ký có đầy đủ các quyền, sự bảo hộ,
quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ và bổn phận giống như các quy định dưới luật này”
Hay Bộ luật Dân sự của Pháp dự liệu hai hình thức sống cặp đôi đối vớingười đồng tính đó là PACS và quan hệ sống chung thực tế bên cạnh hình thứchôn nhân hợp pháp chỉ áp dụng đối với người khác giới9 Theo đó, PACS (pactecivil de solidatité) là một hợp đồng ký kết bởi hai thể nhân đã thành niên cùnghoặc khác giới tính nhằm tổ chức sống chung; ràng buộc hai người chung sống
9 Bùi Minh Hồng - Nghiên cứu sinh về luật dân sự tại Cộng hòa Pháp, Về dự án luật cho phép kết hôn
giữa những người cùng giới tính hợp pháp, Hội thảo kinh nghiệm quốc tế về bảo vệ quyền của LGBT
trong quan hệ hôn nhân và gia đình, Bộ Tư pháp, 2012.
Trang 14về các quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản Còn quan hệ sống chung thực tế(concubinage) là một sự liên kết thực tế thể hiện một quyền sống chung có tínhchất ổn định và liên tục giữa hai người khác hoặc cùng giới tính chung sống cặpđôi; không đương nhiên làm phát sinh các hậu quả về nhân thân và về tài sảngiữa hai người chung sống Chẳng hạn, họ sẽ là đồng sở hữu đối với những tàisản mua được nhân danh hai người, hai bên có thể thỏa thuận, tuy nhiên không
vi phạm nguyên tắc tự do cá nhân
Hiện nay, có 17 quốc gia và 17 vùng lãnh thổ công nhận hình thức kết hợp
dân sự (xem phụ lục bảng 2) Có hai nguyên nhân chủ yếu mà nhiều nước bắt
đầu thừa nhận quan hệ cùng giới bằng hình thức “kết đôi có đăng ký” hoặc “kếthợp dân sự” là do các nhà lập pháp không muốn thay đổi định nghĩa hôn nhân làgiữa một nam và một nữ Bên cạnh đó, các nhà lập pháp cũng muốn có một bướcđệm, một khoảng thời gian chuyển tiếp để xã hội có thể thay đổi quan niệm vềhôn nhân là giữa nam và nữ
Hình thức kết hợp dân sự là mô hình của kỹ thuật lập pháp “tách biệt
nhưng bình đẳng” (“seperate but equal”), với ý tưởng rằng không đụng chạm
đến những chế định truyền thống, nhạy cảm mà vẫn tạo ra được sự công bằngcho tất cả mọi người một cách hợp pháp Tuy nhiên, quan điểm của những ngườiủng hộ hôn nhân không phân biệt giới tính là mặc dù quyền lợi của hai hình thứcnhư nhau, nhưng khi nào vẫn còn sự phân biệt nghĩa là vẫn chưa có được côngbằng thật sự Ở những quốc gia này, điều mà pháp luật hướng tới là thống nhấtlại thành một chế định hôn nhân duy nhất dành cho tất cả mọi người Đó cũng là
lý do ngày càng có nhiều nước chuyển từ hình thức kết hợp dân sự hay sốngchung có đăng ký sang hình thức hôn nhân cùng giới Tùy vào từng quốc gia màthời gian chuyển đổi nhanh hay chậm
1.2.3 Sống chung không đăng ký
Trang 15Sống chung không đăng ký là hình thức kết đôi tự nguyện giữa hai người,không đăng ký với Nhà nước Chế định này áp dụng cho cả cặp cùng giới vàkhác giới, tự động phát sinh khi hai người đã chung sống thực tế với nhau mộtthời gian theo luật định Hai người chung sống không đăng ký có một số quyềnlợi và nghĩa vụ hạn chế liên quan tới tài sản, nhân thân Hiện có 3 quốc gia côngnhận hình thức sống chung không đăng kí, đó là: Úc, Croatia, Israel.
Trang 16Chương 2 PHÁP LUẬT VỀ HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI Ở VIỆT NAM VÀ CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ KHI HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI KHÔNG ĐƯỢC
hệ chung sống… đã phần nào phản ánh hiện tượng hôn nhân đồng giới ở ViệtNam trong giai đoạn này Họ là những công dân, là những con người và cóquyền lựa chọn việc kết hôn cho mình Vì vậy, họ cho rằng việc thừa nhận quyềnkết hôn đối với mình là một điều đương nhiên Vậy pháp luật Việt Nam quy địnhnhư thế nào về vấn đề hôn nhân đồng giới?
2.1 Pháp luật về hôn nhân đồng giới ở Việt Nam
Ở Việt Nam, hầu như pháp luật không ghi nhận quyền của người đồngtính Tuy nhiên, một số tài liệu về lịch sử ở nước ta đã từng đề cập vấn đề này,như thế kỷ thứ 16 và 17 có một vài vua chúa có thê thiếp là đàn ông10 hoặc sách
sử có chép rằng, vua Khải Định tuy có tất cả 12 bà vợ nhưng bất lực hoặc khôngthích gần đàn bà, chỉ thích đàn ông Luật Hồng Đức có đề cập đến hành vi hãmhiếp, ngoại tình và loạn luân nhưng không nhắc gì đến đồng tính11 Chính quyềnthực dân Pháp cũng không cấm đoán các hành vi đồng tính trong các thuộc địa
10 Jakob Pastoetter (1997-2001),“The International Encyclopedia of Sexuality: Vietnam (Bách khoa
toàn thư quốc tế về tình dục: Việt Nam)”, The Continuum Publishing Company.
11 Helmut Graupner, International Bar Association Conference, Phillip Tahmindjis (2005), Sexuality
and Human Rights (Tình dục và quyền con người), Haworth Press, 192, ISBN 1560235551, http://books.google.com/books?id=gem-0JOOWVMC&pg=PP1&dq=1560235551&ei=AmSTSYm- CYrIlQSU0dTBCg#PPA192,M1
Trang 17Thời điểm hiện nay, tuy không có luật cấm quan hệ tình dục đồng tính, nhưngLuật Hôn nhân và gia đình không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùnggiới tính.
Luật Hôn nhân và gia đình (Luật HNGĐ) 1986 không quy định cấm hônnhân đồng tính, sau đó có một vài đám cưới đồng tính được tổ chức nhưngkhông nhận được sự đồng tình của dư luận12 Đến Luật HNGĐ năm 2000, có
khoản 2 Điều 8 xác định: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng
theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn” Và cũng
trong luật này, quy định các trường hợp cấm kết hôn, theo đó, khoản 5, điều 10,
Luật Hôn nhân và gia đình 2000 quy định: “Việc kết hôn bị cấm […] giữa những
người cùng giới tính” Theo quan điểm của luật Hôn nhân và gia đình năm 2000,
có thể giải thích rằng: Hôn nhân là sự liên kết giữa một người nam và một người
nữ nhằm xây dựng gia đình với một chức năng vô cùng quan trọng đó là duy trìnòi giống Xét về thực chất, nó là một hình thức để nhà nước xác nhận hai người
là vợ chồng, đồng thời là cha mẹ cho đứa trẻ được sinh ra Vì mục đích của hìnhthức hôn nhân là để tạo nên một gia đình, mà gia đình có chức năng là “cái nôinuôi dưỡng con người” như trong lời nói đầu của luật hôn nhân và gia đình ViệtNam đã dẫn Đây là chức năng quan trọng nhất của gia đình, và là mục đích củaviệc thành lập gia đình Ai cũng biết loài người muốn tồn tại thì con người phảiđược sinh ra, con người ta sinh ra thì đã cần phải có gia đình để nuôi dưỡng khônlớn đến trưởng thành Vậy ai chịu trách nhiệm nuôi dưỡng? Chính là cha mẹ đãsinh ra con người đó phải chịu trách nhiệm nuôi dưỡng Muốn người cha người
mẹ này phải chịu trách nhiệm nuôi dưỡng con người sinh ra đó thì nhà nước phảiquy định hình thức kết hôn của cha mẹ của con người đó Mục đích là để xác
12 Năm 1997, đám cưới đồng tính từng được tổ chức đầu tiên ở thành phố Hồ Chí Minh và bị nhiều
người dân phản đối Sau đó, thêm một vụ hai người đồng tính nữ làm đám cưới tại Vĩnh Long, nhưng giấy xin phép kết hôn không được chấp nhận Năm 2002, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã liệt
kê đồng tính luyến ái vào trong các "tệ nạn xã hội" cần phải bài trừ như mại dâm và ma túy, nhưng đến nay Chính phủ chưa có chính sách nào về quan hệ đồng tính.
Trang 18định ai là cha mẹ của con người đó, nhằm buộc hai người là cha, là mẹ đó phải
có trách nhiệm nuôi dưỡng con người họ đã sinh ra Như vậy, ai cũng thấy mụcđích của hình thức hôn nhân là nhằm để đảm bảo cho đứa trẻ được sinh ra bởicha mẹ của nó thì được cha mẹ nó phải có trách nhiệm nuôi dưỡng nó từ khi nólọt lòng đến khi trưởng thành Cặp tình nhân đồng giới không thể sinh con vớinhau được, thì chẳng có đứa trẻ nào được họ tạo ra để phải xác định họ là cha mẹ
để họ phải có trách nhiệm nuôi dưỡng cả Như vậy, rõ ràng không cần phải quyđịnh hai người đồng tính sống với nhau như vọ chồng thì phải đăng kí kết hôn.Chỉ những người khác giới tính kết hôn với nhau mới có thể cùng nhau thực hiệnđược chức năng cơ bản đó.13
Tuy nhiên, trước thực trạng dư luận, báo chí, pháp luật trên thế giới quantâm và đề cập nhiều trong khoảng vài thập kỷ trở lại đây, tháng 6/2014, Quốc hội
đã thông qua Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, trong đó khoản 5 điều 10 của
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định cấm kết hôn “giữa những người
cùng giới tính” đã bị loại bỏ Dù đã bãi bỏ quy định cấm kết hôn cùng giới,
nhưng Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cũng đồng thời quy định tại Điều 8 về
“Điều kiện kết hôn” là “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người
cùng giới tính” Việc không thừa nhận này đồng nghĩa với việc các đôi cùng giới
sẽ không thể đăng ký kết hôn, không được cấp chứng nhận kết hôn, hay việcchung sống của họ sẽ không được pháp luật thừa nhận Tuy nhiên, các đôi cùnggiới có thể tổ chức đám cưới hay chung sống với nhau theo quyền công dân củamình Nhà nước sẽ không can thiệp, không xử phạt hành chính việc này Về việc
hỗ trợ pháp lý những cặp hôn nhân đồng giới, trong quá trình xây dựng dự thảo
đã có quy định về giải quyết quan hệ chung sống và tài sản, hay nuôi con chung,con riêng, giải quyết những tranh chấp xảy ra, tuy nhiên đến giai đoạn tiếp thu ý
13 Phạm Mạnh Hà, Sửa đổi Luật Hôn nhân và gia đình, một số vấn đề cần giải quyết, ngày 15/05/2013,
http://www.moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=5929
Trang 19kiến, đại biểu Quốc hội đã bác bỏ, nên những quy định như thế này không cótrong luật Mặc dù vậy, không cấm nhưng không công nhận vẫn được xem là sựnhìn nhận bước đầu về hôn nhân giữa những người cùng giới tính của nhà nước
ta, cho thấy Việt Nam đã cởi mở hơn, biết chấp nhận sự đa dạng của cuộc sống
Tiêu chí Hôn nhân theo Luật hôn
nhân gia đình năm 2014
Quyền hôn nhân của người đồng tính
Giới tính Khác giới tính: một nam –
Luật hiện hành
điều chỉnh
Luật Hôn nhân và gia đìnhnăm 2014 thừa nhận và bảohộ
Pháp luật không thừa nhậnhôn nhân giữa những ngườicùng giới tính
Hậu quả pháp lí Phát sinh quan hệ pháp luật
Thỏa mãn quyền con ngườicủa một số đối tượng đặcbiệt
Thủ tục Phải đăng kí kết hôn tại cơ
Tính chất
Tập quán, truyền thống vănhóa được pháp luật ghi nhận,bảo hộ
Hiện tượng xã hội
Trang 20- Không công nhận là hônnhân do đó không có cơ chếpháp luật điều chỉnh.
- Áp dụng theo Luật dân sự
Bảng 2.1 So sánh theo luật hiện hành về vấn đề hôn nhân và hôn
nhân của những người đồng tính 2.2 Các vấn đề pháp lý khi hôn nhân đồng giới không được thừa nhận
Cách đây vài tháng, nhiều tờ báo tại Việt Nam đã phát động phong trào
“Tôi đồng ý” để kêu gọi luật pháp chấp nhận hôn nhân đồng tính Tuy nhiên,phong trào này chỉ dừng lại ở kết quả “chấp nhận đám cưới đồng tính”, điều màhầu hết những người kêu gọi vẫn không vừa lòng14 Điều này chỉ ra rằng, kết hôn
là một nhu cầu thực tế của những người đồng tính Việc không thừa nhận hônnhân đồng giới dẫn đến một số hệ lụy Dù pháp luật không công nhận thì họ vẫnđang sinh sống với nhau, từ đó phát sinh các quan hệ về nhân thân, tài sản hoặc
về con cái (ví dụ sinh con riêng hoặc cùng nhận con nuôi), tuy nhiên lại chưa có
cơ sở pháp lý để điều chỉnh các vấn đề này
2.2.1 Quan hệ nhân thân
Thực tế cho thấy việc sống chung của cặp đôi đồng tính là điều đang diễn
ra phổ biến tại Việt Nam hiện nay Trong khi các cặp đôi dị tính đã kết hôn, mộttrong hai người được hưởng chế độ bảo hiểm y tế của cơ quan làm việc và chế
độ bảo hiểm này cũng bao phủ cho vợ/chồng và con cái của người đó thì khánhiều cặp đôi đồng tính đã sống với nhau nhiều năm, có các đóng góp chi tiêu và
sở hữu tài sản chung, bộc lộ mối quan hệ sống chung của mình với gia đình hai
14 Bạn biết và nghĩ gì về LGBT? (Phần 1),
http://motthegioi.vn/cau-vong-luc-sac/hieu-ve-lgbt/ban-biet-va-nghi-gi-ve-lgbt-phan-1-44288.html
Trang 21bên và bạn bè, nhưng mối quan hệ có bản chất hôn nhân này vẫn chưa được thừanhận về mặt pháp lý Do vậy, người cùng chung sống không được hưởng chế độphúc lợi dành cho vợ/chồng.
Bên cạnh đó, một số chế độ phúc lợi liên quan đến các tổ chức công đoàncủa các cơ quan nhà nước dành cho vợ/chồng của các cán bộ cũng không thể ápdụng đối với cặp đôi đồng tính (đau ốm, hiếu,…) Điều này cho thấy, thực tếsống chung của người đồng tính là có thật nhưng chưa được pháp luật công nhậnnên vô hình chung khiến cho họ không được hưởng những phúc lợi đáng ra phảiđược hưởng
2.2.2 Quan hệ tài sản
Thực tiễn xét xử của Tòa án trong thời gian qua cho thấy, đã có một số vụviệc tranh chấp về tài sản giữa những người đồng tính có quan hệ sống chungnhưng chưa có cơ sở pháp lý cụ thể để giải quyết tranh chấp Mặc dù các cặp đôicùng giới hoàn toàn có thể đứng tên chung khi mua một mảnh đất, một căn nhànhưng trong thực tế có nhiều cặp đôi tin tưởng nhau hoặc thiếu hiểu biết phápluật nên chỉ có một người đứng tên Điều này đã làm cho quyền lợi của một bênkhông được đảm bảo, mất tài sản do chính mình tạo ra Cho dù hai người trongcặp đôi đồng tính đã có sự sắp xếp tài sản trong quá trình chung sống, nhưngngười này sẽ không được quyền thừa kế tài sản của người kia nếu một trong haingười qua đời đột ngột (trừ khi di chúc có quy định khác) Trong hoàn cảnh này,
sẽ có những tài sản chung phải bán đi để trả phần giá trị đó cho người nhà củangười đã mất Trong cuộc sống chung, nhiều tài sản không chỉ mang ý nghĩa giátrị vật chất mà còn có thể mang giá trị tinh thần, đặc biệt khi một người đã ra đi.Điều này có thể gây ra những trải nghiệm tâm lý rất nặng nề cho người ở lại Bêncạnh đó, không phải lúc nào mua một món đồ chung, hai người đều thực hiện thủtục đăng ký dân sự về sở hữu chung tài sản Do không được thừa nhận quan hệhôn nhân hợp pháp, cặp đôi cùng giới không có sự ràng buộc của pháp luật một
Trang 22cách chặt chẽ trong việc sử dụng và định đoạt khối tài sản chung này Từ đó cóthể dẫn đến những rủi ro pháp lý khi một trong hai người tự ý định đoạt tài sảnchung mà chưa có sự chấp thuận của bên kia, có thể làm ảnh hưởng đến nguồnsống của gia đình, thậm chí xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người kia.
2.2.3 Quan hệ về con cái
Pháp luật hiện hành chỉ quy định hỗ trợ sinh sản cho các cặp vợ chồnghiếm muộn Như vậy, nếu những người đồng tính nam muốn có con đẻ, họ phải
sử dụng đến dịch vụ đẻ thuê Trong trường hợp này, người nam đồng tính cùngchung sống cũng không thể nhận là bố nuôi vì pháp luật quy định khi mối quan
hệ con nuôi đã được xác định thì bố mẹ đẻ không còn quyền và nghĩa vụ vớingười con này nữa (khoản 4, điều 24 Luật Nuôi con nuôi năm 2010) Như vậy,rất khó duy trì cả quyền và nghĩa vụ của hai người đồng tính với đứa con Tương
tự như vậy, khi một người đồng tính nữ sinh con, người đồng giới cùng chungsống cũng không thể nhận là mẹ nuôi của đứa con và do đó không thể thực hiệnquyền giám hộ khi cần thiết
2.2.4 Những vấn đề pháp lý khác
Hiện nay, vấn đề bảo vệ quyền của người đồng tính đang thực sự dần trởthành một trong những mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới Quyềnđược sống, được hưởng chính sách an sinh xã hội bình đẳng như các chủ thểkhác trong xã hội và quyền được kết hôn là những quyền đặc biệt, ảnh hưởng lớnđến chất lượng nhân quyền của những đối tượng dễ bị tổn thương này Trong khicuộc sống của con người dần phát triển, nhu cầu của con người cũng khôngngừng nâng lên, thì dường như cuộc sống của những người đồng tính lại đingược với xu thế đó Bởi lẽ, xã hội không có cái nhìn đúng đắn về họ, có thái độ
dè bỉu, khinh miệt nên ít người trong số họ dám đối diện với sự thực, phải sốngtrong vỏ bọc khác của con người mình
Trang 23Theo số liệu từ cuộc khảo sát về mối quan hệ đồng giới do Trung tâmnghiên cứu về quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới cho thấy,việc không thừa nhận kết đôi đồng giới sẽ tác động đến những người đồng tính ởcác khía cạnh: sự kỳ thị xã hội tiếp tục tiếp diễn (87%), người đồng tính có thể bịtrở thành nạn nhân của bạo lực gia đình hoặc bạo lực học đường (87.8%), khôngdám bộc lộ xu hướng tính dục (95.5%), nhiều người kết hôn dị tính giả (89%),không được đảm bảo quyền yêu thương và kết đôi (94%), không được đảm bảosức khoẻ tinh thần (93.9%), không có được đời sống và sức khoẻ tình dục viênmãn (92.5%)
Về các tác động đến gia đình của những người đồng tính, kết quả điều tracho thấy: nếu không có sự công nhận của pháp luật, gia đình của những ngườiđồng tính họ tiếp tục phải chịu sự kỳ thị xã hội nặng nề (74.9%), vấn đề bạohành gia đình sẽ còn tiếp diễn (62.4%) Với xã hội nói chung, khi không có sựcông nhận pháp luật với kết hôn cùng giới, sự kỳ thị của xã hội đối với ngườiđồng tính sẽ còn tiếp diễn nặng nề (71.2%), từ đó khiến người đồng tính không
tự tin tham gia đóng góp tích cực vào các hoạt động kinh tế - xã hội (78.1%),làm gia tăng nguy cơ lây lan Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải(HIV/AIDS15) và các bệnh lây truyền qua đường tình dục (82.1%)
Một hậu quả không nhỏ của việc không thừa nhận hôn nhân đồng giới là
đã có rất nhiều người đồng tính phải tạo vỏ bọc cho mình Ví dụ, người đồngtính nữ phải lập gia đình và có con, sau đó mới tìm đến hạnh phúc cho riêngmình bằng cách ly dị chồng hoặc duy trì những mối quan hệ bên ngoài với ngườiđồng giới Trong mẫu nghiên cứu với 63 người đồng tính, tỷ lệ người nữ đồngtính cho biết họ kết hôn với người khác giới vì nguyên nhân bị gia đình ép buộcchiếm 27,3%, do bản thân mong muốn có một gia đình bình thường như những
15 HIV/AIDS: Viết tắt từ Acquired Immunodeficiency Syndrome hay từ Acquired Immune Deficiency
Syndrome.
Trang 24người khác chiếm 43.5% và kết hôn vì muốn có gia đình để sinh con chiếm28.6% Tỷ lệ này ở người đồng tính nam lần lượt là 61%, 46.3% và 39%.
Trang 25Chương 3 THỰC TRẠNG HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI TRÊN THẾ GIỚI
VÀ VIỆT NAM – NHỮNG ĐỀ XUẤT TỪNG BƯỚC TIẾN TỚI THỪA NHẬN HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 3.1 Thực trạng hôn nhân đồng giới trên thế giới và ở Việt Nam
3.1.1 Trên thế giới 16
Từ năm 1973, các nhà tâm lý học không còn xem đồng tính luyến ái làmột bệnh tâm thần nữa Trong vài ba thập kỉ nay, tại các nước Tây phương có sựhình thành của một nền văn hóa của những người đồng tính Tuy nhiên, cũng cónhiều người đồng tính không tham gia trong xã hội đó Trong lĩnh vực tôn giáo,một số tôn giáo cũng bắt đầu tỏ ra cởi mở với người đồng tính Một giáo phái DoThái giáo cũng bắt đầu mở dịch vụ làm lễ kết hôn cho người đồng tính, trong khinhóm Anh giáo đã nhận một mục sư đồng tính
Theo báo cáo của tổ chức ILGA (International Lesbian, Gay, Bisexual,Trans and Intersex Association) cho đến tháng 5/2010, có 32 quốc gia trên thếgiới chấp nhận đồng tính nữ nhưng không chấp nhận đồng tính nam Cũng theobáo cáo này, quan hệ đồng tính bị cấm tại 44 quốc gia trên thế giới, trong đó cómột số quốc gia như Iran, Mauritania, Saudi Arabia, Sudan, Yemen và một phầncủa Nigeria + Somalia có thể xử phạt đến chết nếu phát hiện quan hệ đồng tính17
Có thể thấy, dù đã có những tiến bộ trong việc giảm kỳ thị và từng bước tôntrọng quyền của người đồng tính nhưng những nỗ lực đó còn quá ít ỏi Nhìnchung, trên phạm vi toàn thế giới hiện nay, người đồng tính vẫn chưa thực sựđược bảo vệ bởi hệ thống chính sách pháp luật và thêm vào nữa một số quyền tự
do cơ bản của họ vẫn bị vi phạm Cho đến thời điểm cuối năm 2014, trên thế giới
16 Xem thêm tại: Tường Linh, Hôn nhân đồng giới nhìn từ thế giới , ngày 03/08/2012,
http://thethaovanhoa.vn/the-gioi/hon-nhan-dong-gioi-nhin-tu-the-gioi-n20120803081944603.htm
17 Trương Hồng Quang, Pháp luật một số quốc gia trên thế giới về quyền của người đồng tính,
nguoi-dong-tnh/
Trang 26http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2012/08/06/php-luat-mot-so-quoc-gia-trn-the-gioi-ve-quyen-cua-có 16 nước, 34/50 bang ở Hoa Kỳ, nhiều bang ở Mexico và nhiều vùng lãnh thổ
đã hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới và luật hóa các quyền của người đồng tính
(xem thêm tại Phụ lục).
Hà Lan là quốc gia nổi tiếng với phong trào đòi quyền bình đẳng cho
người đồng giới vào thập niên 1980 Vào giữa những năm thập niên 80 của thế
kỷ XX, một nhóm các nhà hoạt động nhân quyền của người đồng tính đã yêu cầuChính phủ phải cho phép người đồng tính kết hôn Năm 1995, Quốc hội Hà Lanquyết định thành lập một Ủy ban đặc biệt nghiên cứu khả năng của hôn nhânđồng tính Ủy ban này đã hoàn thành công việc vào năm 1997 và kết luận rằngquan hệ hôn nhân dân sự nên được mở rộng18 Sau các cuộc bầu cử năm 1998,Chính phủ hứa sẽ giải quyết vấn đề này Vào tháng 9-2000, dự thảo luật cuốicùng đã được đưa ra tranh luận trong Quốc hội Dự luật được 109 phiếu ủng hộtrong khi có 33 phiếu phản đối Sau đó, Thượng viện thông qua dự luật vào ngày19/12/2000 Như vậy, Hà Lan là quốc gia đầu tiên hợp pháp hóa kết hôn đồngtính Đạo luật công bố ngày 21/12/2000 đã sửa đổi phần 1 của Bộ luật dân sựliên quan đến việc mở rộng quan hệ hôn nhân đối với những người cùng giớitính (tên tiếng Anh đầy đủ là Act on the Opening up of Marriage), chính thức cóhiệu lực từ ngày 1/4/2001 Theo đạo luật nói trên, điều 30 của Bộ luật dân sự Hà
Lan được sửa đổi thành: “Một hôn nhân có thể được xây dựng bởi hai người
cùng giới hoặc khác giới tính Pháp luật chỉ xem xét hôn nhân trong những mối quan hệ dân sự của nó” Luật cũng yêu cầu ít nhất một người trong cặp đôi là
công dân Hà Lan19 Cũng trong ngày 1/4/2001, 4 cặp đôi bao gồm 6 nam và 2 nữ
đã kết hôn dưới sự chứng nhận của Thị Trưởng thành phố Amsterdam Các cặpđồng giới có nhiều sự lựa chọn cho mối quan hệ của họ nhưng kết hôn có đăng
ký vẫn là lựa chọn ưa thích nhất của họ hơn hẳn so với kết đôi có đăng ký Các
18 Xem: Marriage in the Netherlands, https://christiangays.com/marriage/netherlands.shtml
19 Xem: The Freedom to Marry Internationally,
http://www.freedomtomarry.org/landscape/entry/c/international.