1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài liệu ôn tập môn lịch sử Triết học

38 552 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 224 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là quan điểm của các nhà triết học Nhị nguyên và học thuyết triết học của họ đợc gọi là Nhị nguyên luận hay thuyết nhị nguyên + Đối với mặt thứ hai của vấn đề cơ bản trong triết học T

Trang 1

câu hỏi ôn tập Lịch sử triết học

Câu 1: "Triết học" là gì? vấn đề cơ bản của triết học?

Câu 2: Đối tợng của môn lịch sử triết học

Câu 3: Những điều kiện kinh tế - xã hội quyết định nền t tởng triết học ấn Độ cổ đại là những điều kiện nào? Đặc trng của nền triết học ấn Độ?

Câu 4: T tởng triết học của Đạo Phật?

Câu 5: Nêu đánh giá thế nào về những giá trị triết học của Đạo Phật?

Câu 6: Triết học Trung Hoa đã nảy sinh trong điều kiện kinh tế - chính trị đặc biệt nào?

Câu 7: T tởng triết học của thuyết âm - dơng, ngũ hành? Nhận định thế nào về giá trị của nó?

Câu 8: Nho giáo và những t tởng triết học của Nho giáo?

Câu 9: Nên đánh giá nh thế nào về những quan điểm triết học xã hội của Nho giáo?

Câu 10: Những quan điểm triết học của học thuyết "Đạo"?

Câu 11: Nên có những nhận định nh thế nào về giá trị của nền triết học phơng Đông thời cổ?

Câu 12: Nét đặc trng về kinh tế - xã hội có liên quan tới sự hình thành và phát triển của nền triết học Hy Lạp thời cổ

Câu 13; Những giá trị t tởng triết học biện chứng của Hêraclit?

Câu 14: Giá trị t tởng duy vật của Đêmôcrit ?

Câu 15: Nhận định gì về giá trị và hạn chế trong học thuyết "ý niệm tuyệt đối" của Platon

Câu 16: Lý luận nhận thức trong triết học của Aristôt và giá trị lịch sử của nó?

Câu 17: Có thể nhận xét gì về nền triết học Hy Lạp cổ đại?

Câu 18: Phân tích nét đặc thù của t tởng triết học Tây Âu thời Trung cổ

Câu 19: Phân tích giá trị cách mạng của t tởng triết học thời Phục Hng

Câu 20: Phân tích nét đặc thù về điều kiện kinh tế - xã hội và những đặc trng của nền triết học thời kỳ tiền T bản các nớc Tây Âu (thế kỷ 17-18)

Câu 21: Phân tích t tởng triết học duy vật nớc Anh qua hệ thống triết học của F.Bêcơn (thế kỷ 17)

Câu 22: T tởng triết học siêu hình của T.Hôpxơ

Câu 23: Phân tích và đánh giá lý luận nhận thức của triết học Lốccơ

Câu 24: Phân tích t tởng triết học duy tâm chủ quan của nhà triết học G.Beccơli

Câu 25: Phân tích nội dung t tởng triết học Nhị nguyên của R.Đêcáctơ

Câu 26: Phân tích nét đặc thù về điều kiện kinh tế xã hội và đặc trng của nền triết học cổ điển Đức

Câu 27: Phân tích t tởng triết học Nhị nguyên của nhà triết học E.Kant

Câu 28: Phân tích giá trị và hạn chế trong triết học duy tâm khách quan của Hêgen

Câu 29: Phân tích giá trị và hạn chế trong triết học của PhơBách

Câu 30: Những điều kiện lịch sử cho sự ra đời triết học Mác

Trang 2

Câu 31: Phân tích bớc ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học do Mác - F.Enghen thực hiện?

câu hỏi ôn tậpLịch sử triết học

Câu 1: "Triết học" là gì? vấn đề cơ bản của triết học?

Trả lời:

a- Triết học là gì?

Triết học là môn học nghiên cứu về những nguyên lý phổ quát (phổ biến) nhất của mọi tồn tại (của thế giới)

Mọi khoa học đều có nhiệm vụ nghiên cứu, phát hiện ra những nguyên lý, quy luật của tồn tại Song, sự khác nhau giữa triết học và các khoa

học cụ thể nh vật lý học, sinh vật học, kinh tế học là ở chỗ: Triết học nghiên cứu những nguyên lý, quy luật phổ quát nhất của mọi tồn tại còn các khoa học cụ thể chỉ nghiên cứu, phát hiện ra những nguyên lý, quy luật phổ biến của một lĩnh vực tồn tại nào đó, chẳng hạn các môn khoa

học kinh tế chỉ nghiên cứu, phát hiện những nguyên lý, quy luật của riêng lĩnh vực kinh tế của đời sống xã hội

- Những nguyên lý, quy luật phổ quát nhất của tồn tại một khi đợc phát hiện ra và đợc khái quát thành một hệ thống các nguyên lý, quy luật,

phạm trù thì chỉ khi đó mới có "triết học"

Trong thực tế lịch sử nhận thức nhân loại, triết học chỉ phát sinh vào khoảng giữa thiên niên kỷ thứ I tr ớc Công nguyên song một số nguyên lýphổ quát nhất của tồn tại đã đợc phát hiện ra từ trớc đó rất lâu Chẳng hạn một số nguyên lý về luật Âm-Dơng đã đợc phát hiện ra từ đầu thiênniên kỷ III trớc Công nguyên ở Trung Hoa

Điều này cũng cho thấy rằng có những dân tộc có t tởng triết học nhất định nhng cha hẳn đã đủ trình độ sáng tạo ra triết học Điều này chỉ

thuộc về một số dân tộc nhất định, có đủ điều kiện nhận và xã hội

- Trên cơ sở một hệ thống các nguyên lý, quy luật đã đợc phát hiện ra, mỗi hệ thống triết học trong lịch sử đợc hớng trọng tâm vào việc giảiquyết những vấn đề đặt ra của thời đại mình Điều này tạo ra tính phong phú, đa dạng của các học thuyết triết học khác nhau trong lịch sử Có

những học thuyết triết học đặc biệt quan tâm tới vấn đề nhân sinh quan (nh Đạo Phật) lại có những học thuyết triết học chú trọng giải quyết

những vấn đề quan hệ chính trị - đạo đức của xã hội (nh Đạo Nho)

- Sự xuất hiện của triết học phải hội đủ những điều kiện về mặt nhận thức (tri thức) và điều kiện xã hội, đó là phải trên một nền tri thức rấtphong phú, rất sâu sắc mới có thể làm xuất hiện triết học, đồng thời còn cần phải có sự phân công lao động xã hội nữa: sự phân công lao độngxã hội thành lao động trí óc và lao động chân tay (vật lý) để làm xuất hiện một tầng lớp ng ời có điều kiện chuyển sang nghiên cứu, khái quátnhững tri thức của loài ngời, xây dựng hệ thống triết học

- Mọi triết học đều khác biệt căn bản với hệ t tởng tôn giáo ở chỗ: triết học dựa trên nền tảng cuả tri thức, còn hệ t tởng, ý thức tôn giáo dựa trên đức tin.

- Mọi triết học đều có hai chức năng: chức năng giải thích thế giới trên bình diện tổng quát nhất (gọi là chức năng thế giới quan) và chức năng

định hớng, cải tạo thế giới (gọi là chức năng phơng pháp luận) Chức năng thứ hai phụ thuộc vào chức năng thứ nhất Trong lịch sử triết học,

cũng có những học thuyết, những giai đoạn lịch sử mà ở đó chức năng này hay chức năng kia đợc đề cao, đợc chú trọng hơn .Các Mác nói:

Các nhà triết học trớc đây chỉ giải thích thế giới, nhng vấn đề là ở chỗ cải tạo thế giới.

b- Vấn đề cơ bản của triết học

- Theo F.Engels trong tác phẩm "Lút vích Phơ bách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức" ch ơng II thì vấn đề cơ bản của triết học là vấn

đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

- Vấn đề cơ bản của triết học gồm có hai nội dung (hay hai mặt)

+ Giữa vật chất và ý thức, cái nào có trớc và quyết định cái nào?

+ Con ngời có khả năng nhận thức đợc thế giới hay không?

Trong thực tế lịch sử phát triển của triết học thế giới, Đông cũng nh Tây, cổ đại cũng nh hiện đại đều đã có những giải đáp khác nhau cho

những câu hỏi nh vậy

Trang 3

Từ việc giải đáp khác nhau đối với vấn đề cơ bản ấy mà đã hình thành trong lịch sử triết học thế giới những trờng phái triết học khác nhau,

thậm chí đối lập nhau về mặt quan điểm triết học Từ đó dẫn tới sự khác nhau rất lớn trong việc giải quyết hàng loạt vấn đề khác trong triết

học

- Vì sao vấn đề cơ bản của triết học lại là vấn đề quan hệ giữa vật chất và ý thức? Sở dĩ đây là vấn đề cơ bản của triết học vì rằng triết học cónhiệm vụ phát hiện ra những nguyên lý phổ quát nhất, thống nhất của mọi tồn tại Mà tồn tại, nơi nhận thức của con ng ời thì chỉ có thể phânchia thành hai loại: tồn tại vật chất khách quan và tồn tại ý thức, với t cách là tồn tại vật chất khách quan đợc con ngời phản ánh Việc giảiquyết vấn đề quan hệ giữa vật chất và ý thức nhằm đạt tới sự tìm keíem sự thống nhất của những nguyên lý phổ quát nhất của mọi tồn tại nơivật chất hay ý thức

Vấn đề cơ bản của triết học đợc sử dụng nh thế nào?

Trong tác phẩm "Lút vích Phơ bách " sau khi nêu ra vấn đề cơ bản của triết học, F.Engels đã sử dụng vấn đề ấy để phân tích, phân loại cáchọc thuyết triết học khác nhau trong lịch sử

+ Đối với mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản

Trong lịch sử triết học đã có những lý giải khác nhau đối với câu hỏi: vật chất và ý thức, cái nào có trớc và quyết định cái nào

Một số nhà triết học cho rằng: Vật chất là cái có trớc và quyết định ý thức Trong trờng hợp này họ là những nhà triết học duy vật, còn học thuyết triết học của họ đợc gọi là chủ nghĩa duy vật.

Chủ nghĩa duy vật có 3 hình thức lịch sử:

1- Chủ nghĩa duy vật cổ đại

2- Chủ nghĩa duy vật siêu hình

3- Chủ nghĩa duy vật biện chứng

Một số nhà triết học khác lại chủ trơng: ý thức là cái có trớc và quyết định vật chất Đây là quan điểm của các nhà triết học duy tâm và học thuyết triết học của họ đợc gọi là chủ nghĩa duy tâm

Chủ nghĩa duy tâm đã có hai hình thức lịch sử:

1- Chủ nghĩa duy tâm khách quan

2- Chủ nghĩa duy tâm chủ quan

Ngoài hai quan điểm lớn, đối lập nhau nói trên, còn tồn tại quan điểm thứ ba: coi vật chất và ý thức tồn tại độc lập với nhau, không cái nào

quyết định cái nào Đó là quan điểm của các nhà triết học Nhị nguyên và học thuyết triết học của họ đợc gọi là Nhị nguyên luận (hay thuyết

nhị nguyên)

+ Đối với mặt thứ hai của vấn đề cơ bản trong triết học

Thực tế lịch sử cũng đã có những lý giải khác nhau Một số nhà triết học quan niệm: con ngời ta có thể nhận thức đợc thế giới Thông thờng đó

là quan điểm của các nhà triết học duy vật Họ là những nhà triết học Khả tri luận.

Một số nhà triết học lại phủ nhận khả năng nhận thức thế giới của con ngời Họ là những nhà triết học bất khả tri luận, thông thờng họ là

- Với t cách là một môn khoa học, môn lịch sử triết học có nhiệm vụ nghiên cứu, phát hiện ra những tính quy luật khách quan chi phối toàn bộ

sự phát triển của lịch sử triết học thế giơí trong chỉnh thể thống nhất của nó từ cổ đại đến hiện đại, từ Đông sang Tây.

- Với t cách là một môn học góp phần vào việc rèn luyện t duy, rèn luyện nhận thức cho con ngời, môn lịch sử triết học có nhiệm vụ tái tạo

trong t duy, trong nhận thức của ngời nghiên cứu sự phát triển tất yếu tự nhiên của lịch sử triết học thế giới F.Engels từng cho rằng: Nghiên

cứu lịch sử triết học là trờng học tốt nhất để rèn uyện t duy.

Trang 4

- Nghiên cứu lịch sử triết học còn là để đào sâu, tìm kiếm những giá trị phổ biến của t tởng loài ngời đã đợc nhân loại phát hiện ra và đợc tái tạo

dới hình thức t tởng triết học Giá trị ấy không những đối với lịch sử quá khứ mà còn có ý nghĩa nhất định đối với xã hội và cuộc sống con ng ời

đơng đại

- Nghiên cứu lịch sử triết học còn cho ta thấy triết học Mác - Lênin đã kế thừa nh thế nào đối với toàn bộ lịch sử t tởng của nhân loại, góp phần

hiểu rõ hơn giá trị của triết học Mác - Lênin

- Môn lịch sử triết học Mác xít đã phát hiện ra những tính quy luật khách quan sau đây, chi phối phổ biến lịch sử triết học thế giới

Một là: Sự đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, giữa biện chứng và siêu hình là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt toàn bộ lịch sử triết

học thế giới

Hai là: Mỗi thời đại triết học cũng nh mỗi hệ thống triết học của một thời đại là sự phản ánh ít nhiều chính xác những đặc điểm và nhu cầu thời

đại của nó Đó là sự "thăng hoa" của đời sống hiện thực trong t tởng triết học

Ba là: Các hệ thống triết học khác nhau trong lịch sử không phải là tồn tại trong mối liên hệ cô lập "xếp cạnh nhau" mà là một "dòng chảy liên

tục" của t tởng nhân loại trong quá trình tiến về phía trớc để tìm kiếm chân lý phổ biến Bởi vậy lịch sử triết học thể hiện ra là một quá trình

phát triển liên tục trên cơ sở kế thừa quá khứ và kế thừa lẫn nhau giữa các học thuyết triết học cùng giai đoạn lịch sử.

Bốn là: T tởng triết học một mặt chịu sự tác động chi phối của các hệ t tởng khác nhau nh hệ t tởng chính trị, pháp quyền, tôn giáo song mặt

khác nó lại chi phối, ảnh hởng lại sự phát triển của các hệ t tởng ấy Nó là thế giới quan và phơng pháp luận của mọi giai cấp, mọi tầng lớp xãhội đồng thời nó cũng chi phối quá trình nhận thức và hành động lịch sử của giai cấp đó

Câu 3: Những điều kiện kinh tế - xã hội quyết định nền t tởng triết học ấn Độ cổ đại là những điều kiện nào? Đặc trng của nền triết học ấn Độ?

Trả lời:

- Về mặt kinh tế: Theo Các Mác, ấn Độ cổ đại có sự tồn tại lâu dài và phổ biến của mô hình kinh tế xã hội "công xã nông thôn" Đó là mô

hình kinh tế tự cấp, tự túc, khép kín và trì trệ Theo Các Mác: Mỗi công xã là "Một bầu trời riêng" của ngời dân công xã Mỗi công xã nông thôn ấy cùng tơng đơng với mô hình "làng - xã" của ngời dân Việt Nam trong lịch sử quá khứ.

- Về mặt chính trị: Xã hội ấn Độ cổ đại không có sự phân chia sâu sắc về mặt giai cấp mà chủ yếu là sự hình thành trong xã hội các đẳng cấp

khác nhau, sự phân chia xã hội thành các đẳng cấp mà không phải các giai cấp còn là đặc tr ng chung của các nớc viễn đông nh Trung Quốc,Việt Nam

ở ấn Độ, đó là bốn đẳng cấp khác nhau nh sau:

+ Đẳng cấp tôn giáo (hay tăng lữ)

+ Đẳng cấp vua, quan

+ Đẳng cấp bình dân

+ Đẳng cấp hạ tiện (hay nô tỳ)

Sự phân chia này rất sâu sắc, dai dẳng và phổ biến trong lịch sử ấn Độ

Việc xếp đẳng cấp tôn giáo lên hàng đầu chứng tỏ xã hội ấn Độ cổ đại rất coi trọng sinh hoạt tôn giáo Vấn đề tôn giáo là vấn đề chi phối rấtlớn đối với sự phát triển của nền triết học ấn Độ trong quá khứ Đây là điểm khác với nền triết học Trung Hoa và Hy Lạp thời cổ đại

- Về mặt tri thức: Ngời ấn Độ cổ đại đã đạt tới một nền tri thức rất phong phú, đôi khi rất sâu sắc và trong một số tr ờng hợp có thể nói là vợt

thời đại, đó là những hiểu biết về thiên văn, lịch pháp, toán học Đó còn là những hiểu biết về cấu tạo của vật chất (vật lý) và cấu tạo của cơthể con ngời

Trên cơ sở hiện thực của đời sống kinh tế - xã hội và tri thức ấy ngời ấn Độ cổ đại đã sáng tạo ra một nền triết học lớn, xứng đáng là một trong

ba trung tâm triết học của thời cổ đại trong lịch sử nhân loại (cùng với trung Hoa và Hy Lạp thời cổ)

Nền triết học ấn Độ có những đặc điểm khác biệt so với nền triết học Trung Hoa và Hy Lạp cổ đại:

Một là: So với nền triết học Trung Hoa và Hy Lạp thời cổ thì nền triết học ấn Độ có đặc trng là có sự đan xen, hoà đồng giữa những t tởng triết

học và những t tởng tôn giáo

Trang 5

Hai là: So với nền triết học Hy Lạp thời cổ thì nền triết học ấn Độ không có sự phân chia rạch ròi giữa các trờng phái duy vật và duy tâm, biện

chứng và siêu hình

Ba là: nền triết học ấn Độ đặc biệt chú trọng quan tâm tới những vấn đề về nhân sinh quan và giải quyết vấn đề ấy th ờng dới góc độ tâm linh

giáo

Bốn là: Xu hớng truyền thống triết học của ấn Độ cổ đại là nặng về thực hành hơn là t duy t biện nơi mỗi cá thể con ngời.

Nếu so sánh hai nền triết học ấn Độ và Trung Quốc cổ đại có thể thấy rằng các học thuyết triết học của ấn Độ chú ý nhiều hơn tới những vấn

đề siêu hình học và tôn giáo, xu hớng siêu hình học và tôn giáo với t cách là dòng chủ đạo của nền văn hoá và t tởng triết học ấn Độ cổ đại đã

nh một tất yếu khách quan

Câu 4: T tởng triết học của Đạo Phật?

Trả lời:

a- Đạo Phật trong nền t tởng triết học ấn Độ cổ đại

ấn Độ cổ đại có 9 trờng phái triết học lớn gồm:

Nh vậy Đạo Phật thuộc phái không chính thống hay phái cách mạng t tởng truyền thống của ấn Độ cổ đại

So với các trờng phái triết học khác, Đạo Phật có một ảnh hởng lớn trên phạm vi thế giới ở Việt Nam suốt chiều dài lịch sử khoảng hai ngànnăm thâm nhập và phát triển của Đạo Phật với cả hai t cách tôn giáo và triết học đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong đời sống t tởng và vănhoá nớc nhà

b- T tởng triết học của Đạo Phật gồm những nội dung nào?

T tởng triết học của Đạo Phật rất phong phú và sâu sắc F.Engels từng đánh giá: ngời ta có thể tìm thấy những t tởng biện chứng hết sức sâu sắctrong Đạo Phật sơ kỳ - tức Đạo Phật thời cổ đại

Sự phát triển về sau của Đạo Phật trong các tông phái đại thừa và tiểu thừa đã làm phong phú thêm rất nhiều những t tởng triết học sơ kỳ của

Đạo Phật Những t tởng ấy đợc chứa đựng trớc hết trong "Tam Tạng" (ba kho kinh điển) của Đạo Phật là Kinh, Luật, Luận Tam Tạng có tới

trên 5 nghìn quyển thuộc tạng Pali (Nam ấn) và tạng Sakrit (Bắc ấn)

Nhng dù có phát triển phong phú và sâu sắc bao nhiêu thì cốt lõi của t tởng triết học Đạo Phật cũng không ra ngoài phạm vi của những vấn đề

khởi thuỷ sau đây:

- Một là: Những t tởng triết học bản thể hay là những vấn đề thế giới quan gồm:

- Lý "Nhân duyên khởi" với t tởng cho rằng vạn vật trong vũ trụ có nguyên nhân tự thân không do một đấng thần linh naò tạo ra cả Với ý nghĩ

đó Đạo Phật có t tởng vô thần

Đạo Phật giải thích tính đa dạng của tồn tại là do nhân duyên khác nhau tạo ra

Nhân duyên hội - sự vật sinh ra

Nhân duyên hết - sự vật không còn

Cái t tởng "sinh, trụ, hoại, không" đều do lý nhân duyên hợp tan mà ra cả

Trang 6

Lý nhân duyên khởi quan hệ chặt chẽ với lý Nhân quả Nhân là nghiệp lực, quả là nghiệp lực đã thành hiện thực nhờ hội đủ duyên Cũng giống

nh xu hớng nảy mầm lá xu hớng tất yếu của một hạt giống, khi hội đủ duyên (điều kiện) nh độ ẩm, ánh sáng thì xu hớng ấy biến thành hiệnthực là cái mầm, cái cây

Đạo Phật coi lý Nhân duyên khởi cũng nh lý Nhân quả là nguyên l;ý phổ quát tuyệt đối của mọi tồn tại, không loại trừ đối t ợng nào, dù đó làvật vô tri vô giác hay những sinh vật hữu tình nh con ngời, cho tới thế giới Thần Thánh, Tiên, Phật cũng chẳng ra ngoài cái lý ấy

Ngời giác ngộ khác "kẻ phàm phu" chỉ ở chỗ thấu đạt hay mê mờ cái lý ấy ch chẳng thể bác bỏ hay tiêu diệt cái lý ấy

- T tởng "vô ngã", "vô thờng"

Vạn vật trong vũ trụ đều không thể vợt qua cái nguyên lý "vô ngã" và "vô thờng"

Vô ngã là không có cái ta Đó là nghĩa đen, còn theo nghĩa triết học thì sự vật là không có bản chất trờng tồn bất biến, cái gọi là "Ngã" - "Ban ngã" chỉ là giả Sao lại giả? Bởi lẽ vạn vật do hội đủ nhân duyên thì thành ra có - cái có ấy chẳng phải tự tính là có mà vốn là không

Đây là t tởng tiến bộ, cách mạng so với truyền thống t tởng ấn Độ Coi có bản chất bất biến nơi vạn vật, chẳng hạn nh bản thể tiểu ngã (linhhồn - át man) nơi mỗi ngời

Vô thờng là chẳng thờng hằng, thờng trụ Nghĩa triết học của nó là vạn vật đều trôi đi, đều biến đi đến mức vạn vật hiện ra trớc nhận thức conngời chỉ còn là ảo Sao lại ảo? biến đổi vô thờng nên cái thấy chẳng thật, nên gọi là ảo, là huyễn, là mộng, là bèo bọt, chớp điện Chỉ trongmột sát na thì sự vật đã chẳng còn là nó, thế thì cái thấy chỉ là huyễn hoặc

Ngời ta phê bình Đạo Phật ở chỗ đã quá nhấn mạnh sự biến đổi mà phủ nhận sự đứng im tơng đối (theo quan điểm Mác xít)

- Hai là: Những t tởng triết học nhân sinh của Đạo Phật

Đây là phần trung tâm, trọng tâm của triết học Đạo Phật Những t tởng triết học bản thể nói trên chỉ đóng vai trò là nền tảng lý luận cho việcluận chứng những t tởng triết học nhân sinh

Cốt lõi của những t tởng triết học nhân sinh của Đạo Phật là "tứ diệu đế" hay là bốn luận điểm cơ bản (còn gọi là bốn chân lý (sự thật) về cuộcsống nhân sinh)

- Luận điểm 1: Sự thật về cuộc sống con ngời không có gì khác ngoài những sự ràng buộc, hệ luỵ, thiếu tự do Bởi thế, đời ngời không có gì

khác ngoài sự đau khổ, đắng cay

Đó là những cái khổ về sinh, lão, bệnh, tử, khổ về oán ghét, hội hợp, yêu thơng, chia lìa

Trong những cái khổ ấy thì sự sinh là đầu mối của sự khổ Bởi có sinh mới có thân xác nên sinh ra những cái khổ của lão, bệnh, tử

Phật nói: "Nớc mắt của chúng sinh còn nhiều hơn nớc trong bể cá"

- Luận điểm 2: Nguyên nhân dẫn tới sự đau khổ của cuộc sống con ngời là "vô minh", "ái dục" Có tất cả 12 nguyên nhân trong mối quan hệ

ràng buộc lẫn nhau dẫn tới thực trạng cay đắng của cuộc sống đời ngời

- Luận điểm 3:Mục tiêu cứu cánh của con ngời không phải là đấu tranh giai cấp, làm cách mạng mà là đạt tới trạng thái Giải thoát - tức Niết

Bàn Đó là trạng thái không còn đau khổ, ràng buộc, đó là sự giải thoát sự khổ

- Luận điểm 4: Con đờng đạt tới sự giải thoát phải là con đờng tu đạo Đó là con đờng lớn gồm 8 nẻo đờng: chính t duy, chính ngôn ngữ, chính

nghiệp, chính tinh tấn (gọi là "bát chính đạo")

Tám con đờng đó đợc thu về thực hiện bởi ba nguyên tắc:

+ Giới: Giữ các điều kiêng kỵ để con ngời trở nên trong sạch, thanh tịnh thân, tâm nh: thực hành thập thiện, tránh thập ác

+ Định: Làm cho thân, tâm, trụ, định an lạc không bị tán loạn, không bị chi phối bởi hoàn cảnh

Định gồm: Chỉ và Quán Nhờ thực hiện phép Chỉ mà mọi nghiệp dừng lại, ngng đọng Nhờ Quán mà trí tuệ minh triết, phát sinh.

+ Tuệ (Huệ): Nhờ sức định mà trí tuệ Bát Nhã (trí tuệ Phật - Giác ngộ) phát sinh Khi đó con ngời ta liền vợt qua bể khổ, đạt tới bên bờ Giác

Trang 7

- Trong lý luận về nhân sinh của Đạo Phật có nói tới "sự thật đau khổ" của đời ngời Có quan điểm đánh giá: đó là tiếng nói của một thứ lý luận

bi quan, yếm thế về cuộc sống đời ngời

- Lại có quan điểm cho rằng: hạn chế của triết học nhân sinh Đạo Phật là không đề cập tới những nỗi khổ của sự áp bức giai cấp, không đề cậptới những biện pháp cách mạng để cải tạo xã hội mà lại đi vào con đờng giải thoát mang tính chất cá nhân, tiêu cực

- Nhng cũng có quan điểm cho giá trị t tởng triết học nhân sinh Đạo Phật là đã đề cập tới sự thật nơi cuộc sống của mỗi con ng ời Dù đó là ai

đều không thoát khỏi sự ràng buộc của sinh, lão, bệnh, tử Nh thế Đạo Phật đã đặt ra và định hớng giải quyết một vấn đề mà bất cứ ai ít nhiều

đều không thể lảng tránh

Có một sự thật là: Đạo Phật đã đặt ra và giải quyết một vấn đề rất có liên quan tới cuộc sống của mỗi con ng ời Nếu không thế nó đã không thể

có cơ hội thâm nhập và phát triển rộng rãi, lâu dài trên phạm vi không chỉ ở ấn Độ mà còn cả ở nớc khác trên thế giới

Nh vậy thì việc đánh giá giá trị phổ biến của Đạo Phật cần đứng trên quan điểm: nó đã phản ánh nhu cầu nào của con ng ời và có ý định giảiquyết những vấn đề có cần thiết đặt ra cho con ngời hay không trong khi đặt ra và giải quyết những vấn đề nh thế, triết học Đạo Phật đã cónhững suy t hết sức sâu sắc Và, đấy cũng là những giá trị về mặt t duy, về mặt t tởng triết học của Đạo Phật

Đồng thời, ngay trong những giá trị t tởng nhân bản của Đạo Phật đã bao hàm những hạn chế nhất định của nó

Đứng trên quan điểm duy vật lịch sử có thể thấy Đạo Phật chỉ chú trọng giải quyết những vấn đề nhân bản dới góc độ là tính nhân bản nhânloại Nó cha đề cập tới vấn đề nhân bản dới góc độ của những giới hạn về lịch sử nh tính giai cấp, tính dân tộc Do đó t tởng triết học nhân bảncủa Đạo Phật còn dừng lại ở mức độ trừu tợng về con ngời

Câu 6: Triết học Trung Hoa đã nảy sinh trong điều kiện kinh tế - chính trị đặc biệt nào?

Trả lời:

Triết học Trung Hoa cổ đại là triết học của thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc (Từ Thế kỳ VII - Thế kỷ III trớc Công nguyên) Đây là thời kỳ mà

về mặt kinh tế có sự tan rã của mô hình kinh tế "tỉnh điền" Đó là mô hình kinh tế mà sở hữu ruộng đất thuộc về Nhà nớc còn quyền sử dụng

ruộng đất đợc phân chia cho các thành viên công xã thông qua các cơ sở công xã

Mô hình kinh tế "tỉnh điền" tan rã làm xuất hiện một lực lợng chính trị mới Tầng lớp địa chủ, tầng lớp này là một lực lợng chính trị đối lập vớitầng lớp quý tộc thị tộc cũ (Nhà Chu)

Sự thật ấy dẫn tới sự tranh giành ảnh hởng quyền lực chính trị giữa các thế lực cũ - mới, giữa các thế lực chính trị với nhau

Xã hội ở trong trạng thái loạn lạc, thiếu sự thống nhất quyền lực tập trung

Khổng Tử, một nhà t tởng lớn thời kỳ này từng nhận xét: Đây là thời kỳ vua không ra đạo vua, tôi không ra đạo tôi, cha không ra đạo cha, conkhông ra đạo con Tức cũng là thời kỳ mà các giá trị chính trị - đạo đức bị đảo lộn căn bản, cái cũ cha mất hẳn, cái mới cha xuất hiện và cha đ-

ợc khẳng định

Thực tế ấy cuối cùng đã dẫn tới những cuộc thôn tính lẫn nhau của các thế lực chính trị Thế lực nào cũng muốn bá chủ thiên hạ "Chiến Quốc"

là vậy Cuối cùng thế lực Tần Thuỷ Hoàng đã thống nhất Trung Hoa bằng bạo lực vào cuối thế kỷ thứ III tr ớc Công nguyên Đây là điểm mốclịch sử chuyển sang thời kỳ phong kiến của Trung Hoa

Ra đời trong hoàn cảnh kinh tế - chính trị đặc biệt nh vậy nên triết học Trung Hoa cổ đại đã chịu sự chi phối rất mạnh và thờng xuyên bởi

những vấn đề chính trị - đạo đức của xã hội.

Hầu hết các triết thuyết, nhất là những học thuyết lớn nh đạo Nho đã không những không thể lảng tránh việc giải quyết về mặt lý luận nhữngvấn đề chính trị - đạo đức của xã hội, trái lại nó đã đặc biệt đặt trọng tâm vào việc giải quyết những vấn đề ấy, đó là những vấn đề nh : làm thếnào để thống nhất quốc gia Trung Hoa rộng lớn? Lý giải vì sao thời nào cũng có hng, có vong, có trị, có loạn? Những vấn đề ấy đã kéo theocác vấn đề khác về mặt triết học nh: bản tính con ngời là gì? Những nguyên lý nào chi phối vạn vật? Hành động thế nào để không trái đạoTrời? Không trái bản tính tiên thiên?

Câu 7: T tởng triết học của thuyết âm - dơng, ngũ hành? Nhận định thế nào về giá trị của nó?

Trả lời:

a- Thuyết âm dơng, ngũ hành là một trong những học thuyết triết học lớn của nền triết học Trung Hoa cổ đại Thuyết âm dơng và thuyết ngũ

hành khởi thuỷ không phải là một nhng từ khi có sự hợp nhất của những t tởng triết học âm dơng và những t tởng triết học ngũ hành thì nó đã

Trang 8

làm cho những t tởng triết học của chúng mang một tính cách thực tế, có khả năng ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực: Thiên văn, y học, dựtrắc, xã hội học

b- T tởng triết học của thuyết âm dơng có thể đợc khái quát ở những luận điểm sau đây:

Một là: Theo thuyết âm dơng thì vạn vật trong vũ trụ, từ cái tồn tại vô cùng lớn đến cái vô cùng bé đều bao hàm hai mặt đối lập, gọi là Â m và

D-ơng

Sự thống nhất giữa hai thế lực đối lập Âm - Dơng trong mỗi tồn tại đợc gọi là Thái cực

Hai là: Âm và Dơng không tồn tại bên cạnh nhau, độc lập tuyệt đối với nhau mà trái lại chúng có khả năng chuyển hoá cho nhau theo nguyên

tắc của sự đắp đổi, hoán vị: Âm biến thành dơng Dơng biến thành Âm

Ba là: Sự biến hoá, đắp đổi Âm - Dơng là xuất phát từ năng lực vốn có của Âm và Dơng

Khi Âm cùng thì Dơng khởi (phát sinh)

Theo cách đồ hoạ này thì:

1- Vòng tròn lớn không thay đổi, do đó Dơng tiến đến đâu thì Âm lùi đến đó và ngợc lại

(Thiếu Âm sinh ở phần lớn nhất của nửa trắng còn Thiếu Dơng phát khởi ở phần lớn nhất của phần đen)

Quan niệm về Âm - Dơng nh vậy có thể đợc vận dụng xem xét sự chuyển dịch của thời gian Một đại vận, một năm (tiểu vận), một ngày

Chẳng hạn: Một năm thì:

1- Thống nhất 4 mùa: Xuân, Hạ , Thu, Đông là cái vòng Thái cực

2- Hạ, Đông là Thái dơng, Thái âm

3- Xuân, Thu là Thiếu dơng, Thiếu âm

Bốn là: Sự biến đổi chuyển hoá Âm - Dơng không dẫn tới sự phát triển nào cả Đó chỉ là sự thay đổi giữa hai trạng thái của vạn vật trong vũ

trụ: Dơng (động) - Âm (tĩnh) mà thôi

Bởi vậy, thuyết Âm - Dơng không phải là thuyết về sự phát triển Nó là thuyết nhằm duy trì trật tự cân bằng Âm - Dơng trong vạn vật Coi đó làtrạng thái lý tởng của tự nhiên, của xã hội và con ngời

Năm là: Theo thuyết Âm - Dơng thì chu trình biến dịch của vạn vật trong vũ trụ là theo logic sau đây:

Thái cực sinh lỡng nghi (Âm - Dơng)

Lỡng nghi sinh tứ tợng (Thái âm, thiếu dơng, thái dơng, thiếu âm)

Tứ tợng sinh bát quái (kiền, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn và đoài)

Bát quái sinh vạn vật (thế giới đa dạng các loại hình tồn tại)

Vạn vật lại có thể qui về 64 trạng thái động, đó là các trạng thái nh: thái, bi, truân

c- Thuyết ngũ hành: Bao hàm t tởng triết học cho rằng: vạn vật trong vũ trụ đều đợc cấu tạo từ 45 yếu tố khởi thuỷ, bao quát sau đây:

Kim - Mộc - Thuỷ - Hoả - Thổ

Thứ nhất: Đây là 5 yếu tố khởi nguyên của vạn vật Vạn vật biến đổi vô cùng đa dạng khác nhau nhng đều có thể qui về 5 yếu tố này.

Thứ hai: Mỗi yếu tố trong 5 yếu tố này đều cai quát một loạt những đặc tính:

Kim thì cứng, trắng, phơng Tây

Mộc thì uyển chuyển, xanh, phơng Đông

Thuỷ thì hiểm hóc, đen, phơng Bắc

Hoả thì bốc lên, đỏ, phơng Nam

Thổ thì trì trụ, vàng, phơng chính giữa

Trang 9

Ba là: Năm yếu tố này không tồn tại biệt lập tuyệt đối mà là trong tơng quan chế ớc sinh, khắc với nhau theo luật tiên thiên:

Kim sinh Thuỷ

Bốn là: Sự tơng sinh hay tơng khắc (sinh khác tơng hỗ) bao giờ cũng qua yếu tố Thổ Nói cách khác thì trong 5 yếu tố, Thổ giữa vai trò trung

gian cho sự sinh khác tơng hỗ của 4 yếu tố còn lại Do đó Thổ giữ vai trò thống nhất của 4 yếu tố: Kim, Mộc, thuỷ và Hoả

d- Từ khi hai thuyết Âm - Dơng và ngũ hành hợp nhất thì thuyết Âm - Dơng, ngũ hành có sự bổ túc cho nhau trong quan niệm triết học về sự biến dịch và cấu tạo vạn vật trong thế giới: thuyết Âm - Dơng thiên về việc lý giải nguyên nhân của sự biến dịch, còn thuyết ngũ hành thiên về

giải thích cấu tạo vạn vật trong quá trình biến dịch vô cùng Đồng thời các yếu tố của ngũ hành cũng đợc quy khái quát về Âm - Dơng, thành

Ngợc lại: Kiền, Khảm, Cấn, Chấn., Tốn, Ly, Khôn và Đoài cũng đợc quy về ngũ hành:

Kiền + Đoài: Kim

Chấn + Tốn: Mộc

Cấn + Khôn: Thổ

Ly : Hoả

Khảm : Thuỷ

e- Nên nhận định thế nào về giá trị của thuyết Âm - Dơng, ngũ hành?

Hiện nay còn có nhiều cách đánh giá khác nhau, thậm chí đối lập nhau trong việc nhận chân giá trị phổ biến của những t tởng triết học củathuyết Âm - Dơng, ngũ hành Song khó có thể bác bỏ những nhận định sau đây:

- Thuyết Âm - Dơng, ngũ hành đã thể hiện trình độ t duy triết họckhái quát rất cao của ngời Trung Hoa cổ đại Họ luôn đặt vấn đề đi truy tầm

cội nguồn khởi nguyên của vạn vật và cuối cùng đã đạt tới sự khái quát thống nhất tính đa dạng của vạn vật ở 64 trạng thái, quy về 8 quẻ (Kiền,Khảm Đoài), rồi lại quy về tứ tợng, Âm - Dơng và cuối cùng là thái cực

Bởi vậy những khái niệm nh thái cực Âm - Dơng tứ tợng là kết quả của quá trình t duy khái quát hoá vạn vật để trở về cái nguyên lý phổ quátcủa mọi tồn tại

- Trên bình diện triết học, có thể quan niệm: thái cực, lỡng nghi, tứ tợng và Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả và Thổ là những khái niệm, những phạm

trù triết học, khái quát những thuộc tính thống nhất, bản chất của tồn tại.

Giá trị của những khái niệm, phạm trù ấy còn là ở chỗ đạt tới một hệ thống bộ máy khái niệm, phạm trù trong tính thống nhất chỉnh thể, phản

ánh tính thống nhất của tồn tại

Trang 10

- Giá trị lịch sử cũng nh giá trị phổ biến của thuyết Âm - Dơng, ngũ hành đã thể hiện rất rõ nét qua những ứng dụng thuyết này trong các lĩnhvực chuyên sâu nh thiên văn, lịch pháp, y học, dự trắc, xã hội học của Trung Hoa trong thời cổ đại và đặc biệt là về giai đoạn sau này.

Trong các ngành chuyên sâu nh vậy của ngời Trung Hoa đã đạt tới những phán đoán chính xác, đôi khi là vợt thời đại

- Ngày nay, trong nền t tởng và văn hoá nhân loại, thuyết Âm - Dơng, ngũ hành vẫn là một trong những lý thuyết triết học đợc giới nghiên cứuchú ý khai thác

trong quá trình giao lu t tởng, văn hoá - đông - tây thì thuyết Âm - Dơng, ngũ hành đã bộc lộ ra rõ là một trong những giá trị t tởng triết học sâusắc của ngời phơng Đông

Do sự giao lu t tởng và văn hoá với Trung Hoa trong suốt chiều dài mấy ngàn năm, con ngời Việt Nam đã tiếp thu những t tởng triết học Âm Dơng, ngũ hành một cách sáng tạo, vận dụng khá phổ biến trong sinh hoạt cuộc sống của mình, trên nhiều bình diện khác nhau Thiên văn, yhọc, xã hội học, kiến trúc, văn hoá

-Câu 8: Nho giáo và những t tởng triết học của Nho giáo?

Khổng Tử sau này đợc các học trò tôn xng là bậc "Chí thánh tiên s Vạn thế s biêủ"

Kinh sách của Nho giáo nói chung thờng đợc kể đến là tứ th và ngũ kinh

+ Kinh Xuân thu

Trong hệ thống "ngũ kinh" thì tơng truyền "Kinh Xuân thu" là do chính Khổng Tử biên soạn Theo "Sử ký T Mã Thiên" thì Ngài từng nói: Ngời

đời sau khen Khâu hay chê Khâu là căn cứ vào Kinh Xuân thu

Cũng theo tơng truyền thì Khổng Tử là ngời đã chỉnh lý, biên soạn lại các bộ Kinh th, Kinh dịch Ngài đã viết bổ xung vào Kinh dịch 10 thiêngọi là "thập dực"

Xem thế có thể nói đức Khổng Tử là bậc đại tri thức đơng thời Ông đã thâu thái mọi kiến thực hiện có của ngời Trung Hoa thời cổ đại và tậphợp thành một hệ thống

Trang 11

b- Những t tởng triết học cơ bản của Nho giáo cổ đại

- Trung tâm của những t tởng triết học Nho giáo thời cổ đại không phải là những t tởng triết học về bản thể, về vũ trụ Mối quan tâm hàng đầu

của Khổng Tử không phải là đạo Trời (Thiên mệnh) mặc dầu một số lần Khổng Tử có nói tới Thiên Mệnh, nói qới Quỉ, Thần, mà ông đặc biệtchú trọng giải quyết những vấn đề triết học về Đạo Ngời (Nhân Đạo) Nói theo ngôn ngữ hiện đại thì đó là những quan điểm triết học về xã hộicon ngời Đã đôi lần có học trò hỏi về Quỉ, Thần, về cuộc sống đời ngời sau khi chết Ngài bảo: "Kính Quỉ, Thần, Nhi viễn chi" (Quỉ, Thần chỉnên kính trọng nhng chớ có gần), rằng "hãy đợi đến khi chết cũng cha muộn", rằng "đạo Ngời cha biết sao tỏ đợc việc Quỉ, Thần "

Điều nàu cho thấy đức Khổng Tử ngài nặng lo đạo Ngời hơn đạo Trời, hơn việc Quỉ, Thần Điều ấy cũng phản ánh rõ nét ảnh hởng chính trị xã hội của thời đại Xuân Thu đã đợc thể hiện đặc biệt rõ trong triết thuyết của Khổng Tử

Có quan điểm đánh giá: không coi Khổng Tử nh một nhà triết học mà chỉ xem ông nh một ngời thầy dạy, một quân s về chính trị đơng thời.Quả là Khổng Tử đã từng làm thày dạy học và là ngời nêu tấm gơng sáng cho đạo làm Thày muôn đời sau, Ngài cũng đã từng làm chính trị,làm quan, làm tể tớng trong một thời gian ngắn, và cũng đúng là Ngài đã đào tạo ra nhiều nhà chính trị xuất sắc đơng thời cũng nh sau này.Nhng cũng phải thừa nhận rằng Khổng tử có những t tởng chính trị độc đáo, tạo ra nền tảng quan niệm về chính trị quân chủ trung ơng tậpquyền vùng á Đông mãi về sau này

Qua những t tởng ấy có thể thấy đợc quan niệm triết học về xã hội của ông

- Có thể khái quát những t tởng triết học (chứ không phải những t tởng chính trị) của Khổng Tử cũng nh của Nho giáo nói chung ở những điểm sau đây:

Một là: Phơng pháp luận tiếp cận giải quyết những vấn đề xã hội

Xã hội là một tổng thể của những quan hệ phức tạp, đa dạng bởi vậy khi tiếp cận giải quyết những vấn đề của đời sống xã hội buộc ng ời ta phải

có một phơng pháp luận định hớng tiếp cận

Phơng pháp luận định hớng tiếp cận giải quyết những vấn đề xã hội của Nho giáo không xuất phát từ việc phân tích cơ sở kinh tế của xã hội

(nh với triết học Mác chẳng hạn) mà là xuất phát từ những quan hệ chính trị - đạo đức.

Nói cách khác, Nho giáo quy toàn bộ quan hệ xã hội về những quan hệ chính trị - đạo đức, coi đó là quan hệ nền tảng của đời sống xã hội

Đồng thời, Nho giáo lại quy những quan hệ chính trị - đạo đức của xã hội vào ba mối quan hệ chính trị - đạo đức cơ bản hơn là:

+ Quan hệ vua - tôi

+ Quan hệ cha - con

Hai là: Lý tởng xã hội của Nho giáo là muốn hớng tới một xã hội "đại đồng"

Khái niệm xã hội "đại đồng" của Nho giáo không phải là một xã hội đặt trên nền tảng của một nền sản xuất phát triển cao mà là một xã hội "anhoà" trong đó sự "an hoà" đợc đặt trên nền tảng của sự "công bằng" xã hội

Khái niệm công bằng của Nho giáo không phải là thứ quan niệm "cào bằng" tiểu nông mà là công bằng trên cơ sở địa vị xã hội của mỗi cá

nhân, mỗi giòng họ

Ba là: Phơng thức để duy trì trật tự công bằng của xã hội theo quan điểm Nho giáo là phải nêu cao t tởng chính danh

"Chính danh" nghĩa là mỗi ngời cần phải nhận thức và hành động đúng theo cơng vị, địa vị của mình: vua phải ra đạo vua, tôi phải ra đạo tôi,cha phải ra đạo cha, con phải ra đạo con,chồng phải ra đạo chồng, vợ phải ra đạo vợ

Nếu nh mọi ngời không chính danh thì xã hội ắt trở nên loạn lạc Không thể có một xã hội trị bình mà nguyên tắc chính danh bị vi phạm

Bốn là: Để thực hiện chính danh thì xã hội phải có một nền giáo dục tốt, mỗi ngời phải tự giáo dục và đợc giáo dục.

Có giáo dục và tự giáo dục thì mỗi ngời mới biết phận vị của mình mà nhìn nhận hành động trong cuộc sống cho đúng

Trang 12

Sự giáo dục và tự giáo dục của nho giáo không hớng vào phơng diện kỹ nghệ và kinh tế mà là hớng vào việc giáo dục và tự giáo dục nhữngchuẩn mực chính trị - đạo đức đã hình thành từ ngàn xa, đợc nêu gơng sáng trong cổ sử.

Năm là: Những chuẩn mực giá trị chính trị - đạo đức mà Nho giáo đề cao là Nhân - Lễ - nghĩa - trí - Tín (còn gọi là ngũ thờng), trong đó nhân

giữ vị trí là giá trị chính trị - đạo đức đầu bảng của các giá trị

Giữ Lễ - Nghiã - Trí - Tín mà thiếu lòng nhân thì những cái đó chỉ mang ý nghĩa hình thức mà thiếu cái thực

Khổng Tử lên án những hành vi nh thế

Nhân là gì? Cốt lõi của nhân là tình yêu thơng con ngời.

Song "con ngời" mà Nho giáo cổ đại, nhất là Khổng Tử quan niệm không phải là con ngời nhân loại mà là con ngời tông tộc, dòng họ Ngoàinhững giá trị chuẩn mực chính trị - đạo đức nói trên Nho giáo còn đề cập tới hàng loạt những giá trị chuẩn mực khác nh: Trung, Hiếu, Tiết

Câu 9: Nên đánh giá nh thế nào về những quan điểm triết học xã hội của Nho giáo?

Trả lời:

- Do không xuất phát từ cơ sở kinh tế của xã hội để giải thích và giải quyết các vấn đề xã hội nói chung nên bất luận thế nào Nho giáo cũng rơivào quan điểm duy tâm về lịch sử

Song để đạt tới quan điểm duy vật lịch sử thì phải đợi tới sự ra đời của triết học Mác ở giữa thế kỷ XIX mới có thể có đợc

- Thế nhng tại sao một quan điểm duy tâm về lịch sử mà nó lại có thể tồn tại ở các nớc vùng á Đông đến 2000 năm nh vậy? Và trong việc ápdụng học thuyết Nho giáo vào quản lý xã hội đã có nhiều trờng hợp thành công trong việc duy trì trật tự xã hội phong kiến? V.I.Lênin từng nói:

"Chân lý là cụ thể" Đúng vậy, nếu ta xem xét xã hội truyền thống á Đông thì có thể thấy suốt chiều dài lịch sử ngàn năm, về cơ bản không cónhững cuộc cách mạng trong lực lợng sản xuất, trong kinh tế Bởi vậy, tính tất yếu của sự quy định từ nền tảng kinh tế đối với xã hội về cơ bản

là biểu hiện không rõ nét Vậy, điều tạo ra sự thống nhất trong xã hội trớc hết không phải là nền tảng kinh tế - nhất là đối với nền kinh tế tiểunông, phân tán Điều này chỉ có đợc trên cơ sở của việc nắm chắc, thống nhất xã hội về nền tảng chính trị - đạo đức mà thội

Tần thuỷ Hoàng ở cuối giai đoạn Chiến Quốc đã thống nhất xã hội loạn lạc Trung Hoa trên cơ sở của bạo lực chính trị Đấy cũng là một bằngchứng lịch sử cho thấy thiếu việc nắm uy quyền chính trị thì không thể thực hiện sự thống nhất đất nớc Trung Hoa rộng lớn

- Dù là một triết học duy tâm, song Nho giáo đặc biệt coi trọng các giá trị chính trị - đạo đức Trong những giá trị ấy, giai cấp chúng vẫn cónhững ý nghĩa nhân loại nhất định Nhiều ý nghĩa giá trị của những chuẩn mực đạo đức Nho giáo đã đ ợc quần chúng nhân dân sử dụng trongnền đạo đức của mình Bác Hồ cũng từng sử dụng những thuật ngữ đạo đức của Nho giáo và đã đ a vào đó những nội dung mơí nh "cần, kiệm,liêm, chính, chí, công, vô t, trung, hiếu "

Ngày nay chúng ta đang rất cần giữ thế ổn định của xã hội, điều mà Nho giáo hàng ngàn năm nay theo đuổi mục tiêu "ổn định" Nó đã suy t rấtnhiều về phơng cách thực hiện mục tiêu ấy Bởi thế nghiên cứu Nho giáo còn có ý nghĩa thực tiễn cấp bách

Câu 10: Những quan điểm triết học của học thuyết "Đạo"?

Trả lời:

- Ngời sáng lập ra học thuyết "Đạo" là Lão tử thời Xuân Thu Học thuyết này đã đ ợc Dơng Chu và Trạng Chu thời Chiến Quốc hoàn thiện vàphát triển

Những t tởng triết học của học thuyết "Đạo" tập trung trong hai cuốn kinh điển lứon là "Đạo đức kinh" và "Nam Hoa kinh"

Sau này, phái Đạo gia đã phát triển thành hai trờng phái: Đạo giáo thần tiên và Đạo giáo phù thuỷ

T tởng triết học của Đạo gia cũng ảnh hởng rất lớn và lâu dài trong lịch sử một số nớc vùng á Đông

- Những t tởng triết học của Đạo gia tập trung ở mấy điểm lớn sau đây:

+ Một là: Quan niệm về "Đạo"

"Đạo" là bản nguyên của mọi hiện hữu (tức của mọi tồn tại) Đấy là ý nghĩa của câu: Đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật

Điều này cũng có nghĩa là: Đạo sinh ra tất cả và tất cả có thể đợc quy về Đạo - với t cách là bản nguyên (bản căn) đầu tiên

"Đạo" là cái vô hình, hiện hữu, là cái có Song giữa Đạo và hiện hữu (vạn vật) không có sự tách rời tuyệt đối mà Đạo tồn tại nh bản chất củamọi hiện hữu, còn hiện hữu là biểu hiện của Đạo

Bởi thế, có thể nói: Đạo là nguyên lý thống nhất của mọi tồn tại

Trang 13

"Đạo" là nguyên lý vận hành của mọi hiện hữu Nguyên lý ấy là "Đạo pháp tự nhiên" Có quan điểm nghiên cứu về học thuyết "Đạo" đã coi

"Đạo" nh là tên gọi khác của "quy luật tự nhiên"

+ Hai là: Những t tởng biện chứng

Mọi hiện hữu đều biến dịch khôn cùng Sự biến dịch này theo hai nguyên tắc cơ bản là bình quân và phản phục Đấy là ý nghĩa của câu "Cái gì

khuyết ắt tròn đầy, cái gì cong ắt đợc thẳng, cái gì cũ sẽ lại mới "

Theo quan điểm ấy thì thế giới hiện hữu không có sự phát triển

Các mặt đối lập luôn trong thể thống nhất, quy định lẫn nhau, là điều kiện tồn tại của nhau, trong cái này có cái kia Đấy là ý nghĩa của câunói: "Đẹp tức là có xấu, dài ngắn tựa vào nhau, cao thấp liên hệ với nhau " hoặc "hoạ là chỗ tựa của phúc, phúc là nơi ẩn náu của hoạ "

Do nhấn mạnh nguyên tắc cân bằng và phán phục trong lý biên dịch nên Lão tử không đề cao t tởng điều hoà các mặt đối lập

+ Ba là: Chủ thuyết về chính trị - xã hội

Cốt lõi của chủ thuyết này là luận điểm "vô vi" Vô vi không phải là thụ động, bất động hay không hành động mà có nghĩa là: hành động theobản tính tự nhiên của đạo

Từ đó Đạo gia đề cao những t tởng về từ ái, cần kiệm, khiêm nhờng, khoan dung, tri túc Nghĩa là cần phải từ bỏ tất cả những gì là nhân tạo

thiếu tính đạo pháp tự nhiên

Quan niệm ấy đã dẫn tới chỗ chủ trơng một cuộc sống, một phong cách sống theo đạo đến mức chối bỏ truyền thống nhân tạo, những chuẩnmực đạo đức, pháp luật, xa lánh tri thức, kỹ sảo, công nghệ Đấy là lý tởng xã hội phục cổ, quay về với xã hội theo mô hình cộng đồngnguyên thuỷ

Câu 11: Nên có những nhận định nh thế nào về giá trị của nền triết học phơng Đông thời cổ?

1- ấn Độ và Trung Hoa là hai trung tâm triết học lớn của các dân tộc phơng Đông cổ đại nói chung và các dân tộc Châu á nói riêng

Tính phong phú, đa dạng và sâu sắc trong nội dung và phong cách của các triết thuyết ấn Độ và Trung Hoa cổ đại là bằng chứng nói lên rằngbất cứ một sự coi thờng nào về nền văn hoá và t tởng triết học của các dân tộc Châu á đều là biểu hiện chủ quan trong các khoa học về lịch sử

và, do đó không thấy đợc tính đa dạng trong sự thống nhất của lịch sử t tởng triết học nhân loại

Ngày nay nhiều nhà t tởng phơng Tây đang tìm về phơng Đông nh một sự tìm về cội nguồn quá khứ của những cảm hứng đầy bí ẩn và thú vị.2- So với triết học Hy Lạp thời cổ, triết học ấn Độ và Trung Hoa cổ đại có những thiên hớng riêng: đó là sự chú ý nhiều hơn tới các vấn đềnhân sinh quan (quan niệm về cuộc sống của con ngời, thân phận của con ngời, lẽ sống của con ngời )

Xung quanh vấn đề nhân sinh quan đã làm nảy sinh ba t tởng triết học lớn:

- Đạo Phật chú ý nhiều hơn tới vấn đề nhân sinh trên bình diện tâm linh, tình cảm, tôn giáo

- Đạo Lão lại chú ý sâu sắc vấn đề nhân sinh dới góc độ tự nhiên

- Đạo Nho lại đề cập tới vấn đề nhân sinh trên bình diện chính trị - đạo đức

Do cùng đề cập tới vấn đề nhân sinh và đặt nó vào trung tâm của hệ t tởng, nhng với ba góc độ tiếp cận khác nhau đã tạo ra ba thế mạnh khácnhau Vậy nên, cuối cùng với sự du nhập Đạo Phật vào Trung Hoa và các dân tộc vùng á Đông, đã tạo ra một hiện tợng đặc biệt trong đời sống

t tởng và văn hoá các dân tộc vùng á Đông: đó là hiện tợng hội nhập, cộng hởng của ba t tởng lớn: Nho - Đạo - Phật mà ngời ta thờng gọi là

"sự hoà đồng" ba đạo hay là "tam giáo đồng nguyên", "tam giáo đồng qui"

Hiện tợng này đã tạo ra nét đặc biệt về t tởng của các dân tộc vùng á Đông, và nó đã bổ túc cho nhau tạo ra một thế giói quan triết học "hỗndung", "tổng hợp" - nghĩa là tạo ra một thế giới quan triết học toàn diện hơn

Trang 14

3- Nếu so sánh hai nền triết học ấn Độ và Trung Hoa cổ đại, có thể thấy rằng: các hệ t tởng triết học của ấn Độ chú ý nhiều hơn tới những vấn

đề siêu hình học và tôn giáo, còn các chủ thuyết triết học Trung Hoa lại đặc biệt quan tâm tới những vấn đề của đời sống thực tiễn chính trị

-đạo đức của xã hội

ở ấn Độ cổ đại không phải mọi học thuyết đều chú trọng vào vấn đề siêu hình học, chẳng hạn nh Đạo Phật sơ kỳ, tơng truyền rằng bậc sánglập ra Đạo Phật là Thích ca mâu ni thờng im lặng trớc những câu hỏi về siêu hình học do các đệ tử đặt ra Song vào giai đoạn phát triển sau của

nó thì những vấn đề siêu hình học đã chiếm đợc địa vị quan trọng trong triết thuyết Đạo Phật Góc độ tôn giáo của Đạo Phật cũng nh vậy Nhất

là với sự phân chia các tông phái đạo Phật đã dẫn tới sự hình thành tông phái Đại Thừa Tính tôn giáo của Đại Thừa rất lớn (nhất là tông Tịnh

Ngay tới Đạo Lão, với chủ trơng "vô vi" xuất thế nhng nó cũng không thể xa lánh những vấn đề của xã hội Chỉ có điều với chủ trơng "vô vi"

nó đã đề ra chủ thuyết "vô vi trị" khác với chủ trơng "nhân trị", "lễ trị" của Nho gia

Ngay cả với thuyết Âm - Dơng, ngũ hành với t cách là chủ thuyết về những nguyên lý phổ quát của toàn bộ hiện hữu, nó cũng không xa lánhnhững vấn đề của đời sống chính trị - đạo đức của xã hội

4- Nếu chúng ta xuất phát từ vấn đề cơ bản của triết học để phân định các triết thuyết ở ấn Độ và Trung Hoa cổ đại thành các trờng phái duyvật - duy tâm - nhị nguyên, biện chứng - siêu hình, khả trị - bất khả trị thì đó là công cực kỳ khó khăn Bởi lẽ, xét tổng quát có thể nói sựphản tỉnh của tự ý thức không phải là đặc trng nổi bật của các triết thuyết phơng Đông mà là sự phản tỉnh của đời sống nhân sinh

5- Trong một số triết thuyết phơng Đông cổ đại có bao hàm những t tởng biện chứng sâu sắc Nhng với t cách là biện chứng của sự phát triểnthì về cơ bản nó cha đề cập tới

Câu 12: Nét đặc trng về kinh tế - xã hội có liên quan tới sự hình thành và phát triển của nền triết học Hy Lạp thời cổ

Trả lời:

a- Về mặt kinh tế:

- Khác với các xã hội ấn Độ và Trung Hoa thời cổ là xã hội dựa trên nền tảng của "phơng thức sản xuất Châu á" (mà nội dung của khái niệm

này cho tới nay vẫn còn nhiều vấn đề cha đợc làm sáng tỏ), xã hội Hy Lạp cổ đại có đặc trng về mặt kinh tế là sự phát triển mạnh mẽ của

ph-ơng thức sản xuất chiếm hữu nô lệ.

Sự phát triển của phơng thức sản xuất ấy đạt đến mức phổ biến trong xã hội và đã làm hình thành hai trung tâm kinh tế lớn của Hy Lạp thời cổ

Với sự thống trị của phơng thức sản xuất chiếm hữu nô lệ đã làm cho xã hội Hy Lạp thời cổ có sự hình thành phổ biến và phân hoá mạnh mẽ

thành các giai cấp đối lập nhau là chủ nô và nô lệ Có lẽ không có một xã hội cổ đại nào mà sự phân hoá con ngời thành chủ nô và nô lệ phổ

biến nh ở Hy Lạp thời cổ Sau này, tới thời kỳ La Mã chinh phục và thống trị lại Hy Lạp thì sự phân hoá ấy lại càng đợc thúc đẩy mạnh mẽ và

Trang 15

khốc liệt hơn nữa Sự thống trị tàn khốc của giai cấp chủ nô đã dẫn tới một số cuộc khởi nghĩa của giai cấp nô lệ ở giai đoạn cuối của xã hộinày.

- Giai cấp chủ nô của Hy Lạp không phải là một giai cấp thuần nhất Nó bao gồm hai tầng lớp chủ nô

Chủ nô quí tộc

và Chủ nô dân chủ

Tầng lớp chủ nô quí tộc tập trung chủ yếu ở trung tâm kinh tế Spác Còn tầng lớp chủ nô dân chủ lại chiếm phần lớn ở trung tâm Aten

Từ thực tế lịch sử ấy đã làm hình thành hai thể chế chính trị khác nhau ở hai trung tâm này

Tại trung tâm Spác là hình thức Nhà nớc chủ nô quân chủ

Còn tại trung tâm Aten lại hình thành hình thức Nhà nớc chủ nô dân chủ

Hai thế lực chính trị khác nhau này một mặt hống nhất với nhau ở chỗ đều là thế lực chính trị đối lập với nhau và có xu h ớng đấu tranh thủ tiêulẫn nhau Điển hình là cuộc chiến tranh Pelôponeze (giữa hai trung tâm chính trị này) mà phần chiến thắng, rốt cuộc thuộc về trung tâm Spác

đã làm tan hoang nền kinh tế và xã hội thời cổ của Hy Lạp Đấy là cơ hội để Alecxanđrơ (n ớc Maxeeddoan ở phía Bắc Hy Lạp) thôn tính biến

Hy Lạp thành thuộc địa riêng của mình

Chỉ trong vòng cha đầy 10 năm, với cuộc chinh phục của Hoàng đế Alecxanđrơ (Maxêđoan) thì không chỉ có Hy Lạp mà cả nột vùng đất rộnglớn cuả đế chế Maxêđoan đã đợc thiết lập bao gồm cả Ai Cập, Bibilon và Bắc ấn Độ

Chiến tranh, một mặt tàn phá Hy Lạp nhng mặt khác đã tạo ra một cơ hội cho sự phát triển mới về mặt t tởng triết học

c- Về mặt tri thức

Tri thức là một trong những cơ sở cho sự phát sinh triết học

Ngời Hy Lạp cổ đại đã đạt tới một nền tri thức khá cao Thêm vào đó là sự kế thừa đối với nền tri thức phơng Đông Đặc biệt, từ khi thiết lậpmối quan hệ giao lu kinh tế giữa Địa Trung Hải và phơng Đông sau cuộc chinh phục của Hoàng đế Alecxanđrơ thì nền tri thức của Hy Lạp cổ

đại đã đợc làm giàu thểmất nhiều bởi kiến thức của ngời phơng Đông

Tất cả những điều kiện kinh tế, chính trị và tri thức ấy đã trở thành những cơ sở hiện thực trực tiếp cho sự ra đời và phát triển của nền t tởngtriết học của Hy Lạp thời cổ đại

Một nền triết học lớn đã đợc phát sinh và phát triển và đã có ảnh hởng mãi về sau này

Sau một ngàn năm trung cổ các nớc Tây Âu thời phong kiến (từ thế kỷ IV đến thế kỷ XV) là thời kỳ Phục Hng - với ý nghĩa là khôi phục lại sựhng thịnh của một thời đại t tởng vĩ đại cổ Hy Lạp Nhiều nhà khoa học của thế kỷ XVII (nh F.Bêcơn ở nớc Anh chẳng hạn) đã rất tôn sùng uydanh, kiến thức của các nhà triết học cổ đại Hy Lạp

Nền triết học Hy Lạp cổ đại đã sản sinh ra những nhà triết học lớn mà tên tuổi của các ông đã không thể phải mờ trong lịch sử hàng ngàn nămsau này Ngày nay, nhiều nhà nghiên cứu, nhiều ngời hâm mộ vĩ nhân trong lịch sử vẫn còn thờng trích lại các danh ngôn của các ông coi ddó

nh là những chân lý phổ biến

Đó là Đêmôcrit, Platôn, Xôcrat, Aristôt

Câu 13; Những giá trị t tởng triết học biện chứng của Hêraclit?

Trả lời:

a- Hêraclit (520-460 trớc Công nguyên) Ông sinh ra và lớn lên ở thành phố Ephezơ thuộc xứ Iôni Ông thuộc dòng dõi quí tộc nhng đã từ bỏ

con đờng quan trờng mà say mê nghiên cứu khoa học Phơng châm của Ông trong nghiên cứu là không dừng lại ở sự thông thái (theo cách hiểuphổ biến đơng thời: "Triết học" nghĩa là yêu mến sự thông thái) mà điều quan trọng là biết đợc đến logos (tức bản chất, qui luật) của sự vật

Ông cho rằng thông thái không bằng thông minh

Theo đánh giá của V.I.Lênin thì Hêraclit là ngời sáng lập ra phép biện chứng (mặc dù ông không sử dụng từ biện chứng - dialectica) Hơn nữa,

ông là ngời đã xây dựng những t tởng biện chứng trên lập trờng của chủ nghĩa duy vật

b- Trong triết học của Hêraclit có đề cập tới những vấn đề bản thể luận Ông coi bản nguyên của thế giới là "lửa" Ông nói "Tia chớp điều

khiển tất cả", rằng: "Lửa sẽ phán xét tất cả, tất cả đợc trao đổi với lửa và lửa trao đổi với tất cả cũng nh hàng hoá trao đổi với vàng và vàng trao

đổi với hàng hoá"

Trang 16

Tuy nhiên, trung tâm của những t tởng triết học của ông không phải là những t tởng triết học về bản thể mà là những t tởng triết học biệnchứng.

Đó là mấy t tởng biện chứng khái quát sau đây:

+ Một là: Theo Ông, không có sự vật, hiện tợng nào của thế giới đứng im tuyệt đối, mà trái lại, tất cả đều trong trạng thái biến đổi và chuyển

hoá không cùng, cái này chuyển hoá thành cái khác và ngợc lại

Ông nói "Tất cả mọi vật đều vận động, không có cái gì tồn tại mà lại cố định" rằng: "không thể tắm hai lần trong một dòng sông"

Ông đã khái quát con đờng vận động của vạn vật theo hai chiều hớng: Đi xuống và đi lên

Lửa thể rắn, Thể lỏng, Thể hơi

Lửa Thể hơi, Thể lỏng, Thể rắn

Quan điểm về vận động nh thế có phần khác với quan điểm về vận động của triết giá Đêmôcrit Theo Đêmôcrit thì vận động là sự phân giải

hay hợp lại của các nguyên tử (ATOM) Trong tác phẩm "Bút ký triết học" Lênin đã phát hiện ra điều ấy khi Ông nghiên cứu tập bài giảng vềlịch sử triết học của Hêgen

+ Hai là: Hêracrit đã nêu lên t tởng về sự tồn tại phổ biến của các mâu thuẫn trong vạn vật.

Ông cho rằng thế giới hiện thực là cái duy nhất (cái một) và đồng thời là cái đa (tức cái nhiều - các hiện tợng biểu hiện đa dạng) Cái thống

nhất, duy nhất là ở chỗ thế giới đa dạng, phong phú nhng tất cả đầu là các trạng thái quá độ của lửa

Nh thế là quan điểm biện chứng của Ông thống nhất với quan điểm duy vật Bởi vậy có thể nói t tởng biện chứng của Hêracrit là biện chứngduy vật - đơng nhiên cha phải phép biện chứng duy vật hiện đại nh của Mác và Lênin

Tính biện chứng trong tính lý luận biện chứng của Hêracrit đã đạt tới cái quan niệm coi tính mâu thuẫn giữa các mặt đối lập đ ợc thể hiện ngaytrong mọi tồn tại cụ thể Ông nói: "Nớc biển vừa sạch, vừa không sạch" rằng: "Tất cả là thống nhất, cái phân chia đợc và cái không phân chia

đợc, cái đợc sinh ra và cái không đợc sinh ra, cái chế và cái không chết, cái toàn bộ và cái không toàn bộ, cái quy tụ và cái phân tán, cái đồng

và cái bất đồng

Khi đánh giá về luận điểm nói trên của Hêracrit, V.I.Lênin đã nói rằng: "Phân đôi cái thống nhất và nhận thức các bộ phận đối lập của nó làthực chất của phép biện chứng" (Bút ký triết học)

Thời cổ đại, xét ở nhiều hệ thống triết học khác không thấy có những t tởng biện chứng sâu sắc nh vậy Thời ấy, dới nhãn quan trực quan ngời

ta không thể hiểu đợc tại sao cái một và cái nhiều lại thống nhất với nhau, cái này vừa là nó lại không phải là nó, vừa cùng một cái mà lại nói

vừa đẹp vừa xấu, vừa tốt vừa không tốt

Chính bởi thế đã có ngời cho rằng triết học của Ông là "tối nghĩa" Thế song tính chính luận điểm ấy sau này đã đợc những triết gia biện chứng

cổ điển Đức kế thừa Còn các nhà sáng lập ra phép biện chứng mác xít thì đánh giá rất cao luận điểm nh thế, chẳng hạn với V.I.Lênin trong

"Bút ký triết học"

+ Ba là: Hêracrit không chỉ nêu ra cái đối lập tồn tại trong mọi sự vật của thế giới, Ông còn chỉ ra rằng:

1- Các mặt đối lập quy định ràng buộc lẫn nhau Đó là ý nghĩa của câu nói "Bệnh tật làm cho sức khoẻ quý hơn, cái ác làm cho cái thiện cao cảhơn, cái đói làm cho cái no dễ chịu hơn, mệt mỏi làm cho nghỉ ngơi dễ chịu hơn "

Hoặc sâu sắc hơn:

"Cùng một cái trong chúng ta, cái sống và cái chết, cái thức và cái ngủ Cái này mà biến đổi thì cái kia cũng sẽ biến đổi và ngợc lại"

2- Các mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau thông qua đấu tranh, nhờ đó sự vật đợc phát triển Đấy là ý nghĩa của câu nói "chiến tranh là cha đẻcủa tất cả, là ông hoàng của tất cả"

Tóm lại, theo đánh giá của các nhà sáng lập ra phép biện chứng duy vật hiện đại thì Hêracrit là một nhà triết học biện chứng "bẩm sinh"

Ông thực sự xứng đáng là một triết gia biện chứng thiên tài đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử t tởng triết học

Câu 14: Giá trị t tởng duy vật của Đêmôcrit ?

Trả lời:

a- Đêmôcrit (460-370 trớc Công nguyên) là một nhà triết học duy vật vĩ đại thời cổ Hy Lạp Ông là ngời đã hoàn thiện những t tởng (nguyên tử

luận) của ngời thầy của mình là Lơ-xíp (500-440 trớc Công nguyên)

Trang 17

Theo đánh giá của C.Mác và Ph.Engen thì Đêmôcrit đã nghiên cứu một cách thực nghiệm giới tự nhiên Thực ra tình thần ấy chỉ trội bật ở thế

kỷ 17-18 ở một số nớc Tây Âu nh Anh, Pháp sau này

Mác và Engen còn đánh giá rằng: Đêmôcrit là một bộ óc bách khoa đầu tiên trong số những ngời Hy Lạp

Quả thật, ông là một nhà đại bách khoa của thời đại mình Ông có nhiều tác phẩm bàn về đủ mọi lĩnh vực, song trung tâm học thuyết của ông

là nguyên tử luận (ATOMISME)

b- T tởng duy vật của Đêmôcrit trong "nguyên tử luận"

- Đồng quan điểm với Lơ-xíp, Đêmôcrit coi nguyên tử là cơ sở cấu tạo nên vạn vật của thế giới Song quan niệm của ông về nguyên tử có phầnphong phú hơn so với quan niệm của Lơ-xíp

Theo ông: nguyên tử là hạt vật chất nhỏ không thể dùng mắt thờng mà thấy đợc, nó không thể bị phân chia, không khác nhau về chất, khôngkhác về mùi, không vị, không âm thanh, không màu sắc, nó tồn tại vĩnh viễn, không nóng lên, chẳng lạnh đi, không khô, không ẩm ớt, các

nguyên tử chỉ khác nhau về hình thức, trật tự và t thế.

Vì sao nh vậy? Ông trả lời: vì thực tại chỉ đợc phân biệt với nhau bới cấu trúc (hay hình thức) tính kế tiếp (hay trật tự) và sự xoay đặt (hay t

thế)

Điều đó cũng đợc hình dung giống nh các chữ cái trong ngôn ngữ viết vậy:

- Để lý giải hiện tợng nguyên tử có thể tập hợp và phân tán, Đêmôcrit đã đa ra hai khái niệm cơ bản là tồn tại và chân không: Nguyên tử là tồn

tại, còn chân không là khoảng trống, kẽ hở giữa các nguyên tử, khái niệm chân không còn đợc Ông sử dụng để chỉ khoảng trống giữa các vậtthể, nhờ đó mà vật thể di động đợc

Quan niệm ấy sau này đã đợc một số triết gia và khoa học tự nhiên thời kỳ Phục Hng và thế kỷ 17-18 các nớc Tây Âu chấp nhận trong việc lýgiải các hiện tợng tự nhiên cơ giới

Vậy các nguyên tử vận động nh thế nào? Nhờ đâu mà chúng vận động? Nguyên nhân nào?

Giải thích vấn đề đó, Ông không đi tìm nguyên nhân ở bên ngoài nguyên tử mà là ở bản thân nguyên tử

Ông giải thích, nguyên tử vận động đợc là nhờ có khoảng trống (chân không) - Đây là điều kiện để các nguyên tử hấp dẫn nhau, tác động lẫn

nhau mà tạo ra vận động Thực ra cách giải thích nh vậy là cha thoả đáng Điều này có nguyên nhân sai lầm ở chỗ ông coi nguyên tử là phần tử

đồng chất Đã đồng chất thì sẽ không thể nói tới cấu trúc, và nh thế thì không thể nói tới sự tự vận động của các nguyên tử đợc Chính sai lầm

ấy sau này đã đợc khoa học thực nghiệm vật lý ở cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 sửa ddổi bằng việc phát hiện ra cấu trúc của nguyên tử Từ đâynguyên nhân vận động tự thân của nguyên tử mới đợc giải thích đúng đắn

- Đứng trên thuyết nguyên tử luận, Đêmôcrit đã giải thích theo t tởng duy vật quá trình hình thành vũ trụ vật chất "từ những cơn lốc nguyên tử".Các nguyên tử trong quá trình vận động đã tạo ra những cơn lốc xoáy tròn, làm cho những vật thể nhỏ, nhẹ bị bắn ra Còn các vật thể lớn, nặngthì ngày càng trụ lại ở trung tâm

Quan niệm nh thế đã đợc các nhà tự nhiên học và triết học ở thế kỷ 17-18 Tây Âu kế thừa, chẳng hạn nh trong học thuyết (giải thuyết) về sựhình thành vũ trụ từ các hạt bụi tinh vân của hai nhà khoa học Kant và Láplaxơ

Câu 15: Nhận định gì về giá trị và hạn chế trong học thuyết "ý niệm tuyệt đối" của Platon

Trả lời:

a- Platon (427-347 trớc Công nguyên) Là nhà triết học duy tâm khách quan lớn nhất thời cổ đại Hy Lạp Học thuyết của ông thuộc một trong

bốn trờng phái cùng xuấtphát từ một hệ t tởng duy tâm chủ quan của nhà triết học Xôcrat (469-399 trớc Công nguyên)

trung tâm triết học của Platon là học thuyết về "ý niệm tuyệt đối" Học thuyết này dựa trên nền tảng của các lý luận sau:

1- Lý luận về cái phổ biến của Xôcrat

2- Lý luận về tồn tại duy nhất, bất động trờng phái Êlê

3- Lý luận về con số, coi nh bản chất chân thực của phái Pitago

b- T tởng cốt lõi trong học thuyết "ý niệm tuyệt đối"

- Dới góc độ nhận thức luận - sk phản tỉnh của t duy triết học Platon đã phân đôi tồn tại thành:

1- Tồn tại của thế giới ý niệm

Trang 18

2- Tồn tại của thế giới cảm tính

Sự phân chia tồn tại vốn là cái thống nhất thành hai mặt đối lập nh vậy là thể hiện trình độ phanr tỉnh của t duy đã đạt tới trình độ t duy triếthọc

Nói theo F.Engen: Vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề quan hệ giữa vật chất và ý thức

Do vậy, chỉ khi nào con ngời đạt tới sự phản tỉnh: Phân đôi cái tồn tại vốn thống nhất thành hai tồn tại đối lập nhau thì mới thể hiện t duy đạttoứi tầm t duy triết học Khi con ngời ta cha nhận thức ra cái tồn tại phân đôi ấy thì t duy mới ở tầm tiền triết học Vậy, trong cách phân đôi tồntại này của Platon có hạt nhân hợp ý

- Tồn tại của thế giới ý niệm đợc Platon quan niệm không phải là thế giới ý niệm của con ngời mà là phi nhân loại - tức tồn tại ngoài thế giới

cảm tính

Hơn nữa, thế giới ấy còn là khởi thuỷ của thế giới cảm tính, thế giới cảm tính đ ợc ông coi chỉ nh cái bóng của thế giới ý niệm - là tồn tại khác

của thế giới ý niệm

Nh vậy, ông đã đứng trên quan niệm triết học duy tâm khách quan trong việc giải thích thế giới đó là một sai lầm

Sai lầm ấy nh V.I.Lênin đã chỉ ra( trong tác phẩm "Bút ký triết học") là có nguyên nhân của bản chất nhận thức, sự trừu tợng hoá, khi nó đợc tuyệt đối hoá thì dẫn tới quan niệm duy tâm khách quan - Thế giới ý niệm tuyệt đối mà Platon đề cập tới là thế giới của các khái niệm, khái niệm mang tính phổ biến và là bản chất của vạn vật cảm tính.

Số lợng của các khái niệm trong thế giớ ý niệm tuyệt đối, theo ông là có hạn và bất động

Khi quan niệm: Khái niệm là có tính phổ biến và là bản chất của vạn vật thì đã bao hàm hạt nhân hợp lý vì bản chất của khái niệm đúng là nhvậy: nó phải là cái khái quát tính phổ biến ở tầm bản chất của sự vật, hiện tợng, nhng chỉ nh vậy thôi, nếu đi xa hơn, coi nó là cái sản sinh ravạn vật cảm tính thì đã rơi vào quan điểm của chủ nghĩa duy tâm rồi

Còn những quan niệm: Số lợng của các khái niệm là có hạn và bất động thì không đúng Chính sau này Hêgen, nhà triết học biện chứng duytâm khách quan cổ điển Đức đã cải chính điều này: số lợng các khái niệm là vô cùng, vô tận trong mối liên hệ phổ biến, tác động và chuyểnhoá lẫn nhau

Câu 16: Lý luận nhận thức trong triết học của Aristôt và giá trị lịch sử của nó?

Trả lời:

a- Aristôt (384-322 trớc Công nguyên) là một nhà triết học vĩ đại thời cổ Hy Lạp, C Mác từng đánh giá ông là "nhà t tởng vĩ đại nhất thời cổ

đại" là "Alecxanđrơ Maxêđoan của triết học Hy Lạp"

Hệ thống triết học của ông thật đồ sộ, bao gồm hầu hết các lĩnh vực tri thức đ ơng thời Điều đó thể hiện qua hệ thống các tác phẩm lớn của

Trang 19

tại, nếu không có cơ thể" linh hồn không phải cơ thể mà là cái thuộc về cơ thể, cho nên nó ở trong cơ thể và ở ngay trong một cơ thể nhất

định Theo ông linh hồn trú ngụ ở trái tim của mỗi con ngời

Quan niệm nh vậy về bản chất của linh hồn là một quan niệm có xu hớng duy vật, dù rằng đó mới chỉ là một quan niệm duy vật chất phác, trựcquan

Là một nhà bách khoa, ôgn đã khái quát tri thức của thời đại mình và hệ thống hoá các loại "linh hồn" (thực chất là các hình thức phản ánh củavật chất giới tự nhiên) nh sau:

+ Linh hồn thực vật

+ Linh hồn của cảm giác (động vật)

+ Linh hồn lý tính (đặc trng cho con ngời)

Phân laọi nh vậy thể hiện Aristôt đã hệ thống hoá đợc các hình thức phản ánh của vật chất ở các cấp độ từ thấp đến cao.

Cách phân loại phản ánh của vật chất từ thấp đến cao chúng ta sẽ lại bắt gặp trong lý luận phản ánh của V.I.Lênin (trong tác phẩm "Chủ nghĩa

duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán")

- Nghiên cứu về bản chất và quá trình nhận thức Aristôt đã xuất phát từ việc coi Cảm giác là xuất phát điểm của mọi nhận thức và kết thúc của

quá trình nhận thức là t duy lý tính - đó là quá trình sau đây:

Cảm giác  Biểu tợng  Kinh nghiệm  Nghệ thuật  Khoa học

Quan niệm nh vậy về quá trình nhận thức đã thể hiện Aristôt đã nhận thấy mối quan hệ hữu cơ, không thể tách rời giữa hai giai đoạn của quátrình nhận thức của con ngời Từ trực quan sinh động (hay nhận thức cảm tính) đến t duy trữu tợng (hay nhận thức lý tính)

Quan niệm ấy cũng thể hiện một lập trờng có xu hớng duy vật trong việc giải quyết vấn đề bản chất của nhận thức

Trong lý luận nhận thức duy vật hiện đại cũng thừa nhận rằng mọi nhận thức phải bắt đầu từ những cảm giác và quá trình nhận thức phải đi từnhận thức cảm tính đến lý tính

Tuy nhiên, thừa nhận nhận thức bắt nguồn từ cảm giác cha hẳn đã là duy vật Triết học duy tâm chủ quan của Beccơly (nớc Anh- thế kỷ 17)cũng thừa nhận nh thế và đã lý giải cảm giác một cách duy tâm chủ quan

Còn nh coi t duy là điểm cuối cùng của mọi nhận thức thì không đúng Thực tiễn mới là điểm kết thúc mỗi chu kỳ nhận thức

Trong lý luận nhận thức của mình, đặc biệt là trong phần logic học với t cách là một bộ phận quan trọng, thống nhất của lý luận nhận thức Aristôt đã xây dựng một hệ thống các khái niệm, phạm trù - với t cách là những công cụ của t duy con ngời trong việc phản ánh thế giới kháchquan

Có thể có những nhận xét khác nhau về nền triết học Hy Lạp thời cổ Dới đây là một số nhận xét mang tính chất gợi ý cho ngời học:

So với triết học ấn Độ và Trung Hoa cổ đại thì triết học cổ đại Hy Lạp có những nét nổi bật

Ngày đăng: 11/09/2015, 12:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w