1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tìm hiểu nhà văn nguyễn ái quốc

39 1,6K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 8,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt đông cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc và nhiều bí danh, bút danh khác Sinh n

Trang 1

Thực hiện:Mai Thị Mỹ Phương

Võ Hồng Tâm

Võ Thị Hoài Chi

Lê Thị Trúc Hiền

Trang 4

Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc nhỏ

tên là Nguyễn Sinh Cung, khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt đông cách

mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc

và nhiều bí danh, bút danh khác

Sinh ngày 19 tháng 5

năm 1890 ở Kim Liên

huyện Nam Đàn, tỉnh

Nghệ An,

Trang 5

Năm 1911 Người đã rời

Tổ quốc đi sang phương Tây để tìm con đường giải phóng dân tộc

Từ năm 1912 đến năm

l917, Nguyễn Tất

Thành đến nhiều nước

ở Châu Á, Châu Âu,

Châu Mỹ, châu Phi,

sống hòa mình với

nhân dân Cuối năm 1917, Người từ Anh trở lại Pháp tiếp tục hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp

Trang 6

Năm 1919, lấy tên là

Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi tới Hội nghị

Vesailles bản yêu sách đòi quyền tự do cho

nhân dân Việt Nam và cũng là quyền tự do cho nhân dân các nước

thuộc địa.Dưới ảnh hưởng của

Cách mạng Tháng

Mười Nga năm 1917

và Luận cương của

Lênin về vấn đề dân

tộc và thuộc địa 

Trang 7

“Thanh niên”

Trang 8

 Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Người đọc “Tuyên ngôn độc lập”, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ 

Cộng hòa. 

Người trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của 

nước Việt Nam độc lập

Trang 9

nhận Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất

Trang 10

Sự nghiệp văn học

Trang 11

Những tác phẩm của Nguyễn Ái

Quốc chủ yếu

gồm ba thể loại chính :

_Văn chính luận _Truyện và kí

_Thơ

Trang 12

Văn chính luận của Hồ Chủ tịch hùng hồn, đanh thép,

là "lời Non nước" Đó là:

 

Trang 13

nhân dân, khởi nghĩa toàn quốc đã thắng lợi. Ngày 

26- 8- 1945 Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc đã về tới Hà Nội. Sau khi ổn định nơi ăn ở, làm việc, điều 

quan trọng đầu tiên là Bác bắt tay ngay vào soạn thảo TNĐL. Vì Bác biết rất rõ rằng: lúc bấy giờ nếu ta 

không tuyên bố Độc lập kịp thời thì rất có thể các 

nước Đồng minh sẽ can thiệp vào nội tình của ta. Hơn 

20 vạn quân Tưởng đang rập rình ở biên giới phía 

Bắc chuẩn bị tiến vào miền Bắc nhằm đánh tan Việt Minh, giúp bọn phản động lật đổ chính quyền cách 

mạng non trẻ để thành lập Chính phủ bù nhìn. Ở miền Nam, quân viễn chinh Anh mượn cớ tước khí giới 

quân đội Nhật, giúp Pháp sẽ tràn vào

Trang 14

Toàn văn bản Tuyên ngôn Độc lập chỉ có

1.010 chữ, sắp xếp trong

49 câu,

nhưng Tuyên ngôn Độc lập

đã hàm chứa một nội dung rất to lớn và sâu sắc

Trang 15

Toàn bộ lịch sử xã hội Việt Nam trong hơn 80 năm dưới ách cai trị của thực dân Pháp, rồi phát xít Nhật được khái quát

lại trong 622 chữ, 186 chữ dành cho việc vận dụng pháp lý quốc tế suốt hơn một thế kỷ rưỡi

Còn chí khí Việt Nam, sức mạnh Việt Nam, tương lai Việt Nam thì được khẳng định trong 144 chữ.

Trang 17

2.LỜI KÊU GỌI TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN

Lời kêu gọi toàn quốc kháng

chiến, do Hồ Chí Minh soạn

thảo, là lời phát động cuộc

kháng chiến chống Pháp vào

cuối năm 1946

Lời kêu gọi này được phát ra

vào sáng ngày 20 tháng 12

năm 1946 Đêm hôm trước -

ngày 19 tháng 12 , khi chiến sự

bùng nổ - là ngày

Toàn quốc kháng chiến

Ngày 20 tháng 12 tại Hang

Trầm (huyện Chương Mỹ,

Hà Tây ),

Đài Tiếng Nói Việt Nam đã phát

đi “Lời kêu gọi toàn quốc kháng

chiến”.

Trang 18

Nhật ký trong tù (nguyên văn 

chữ Hán: 獄中日記 - Hán-Việt

: Ngục trung nhật ký) là một

tập thơ của Hồ Chí Minh, viết từ ngày 29 tháng 8 năm 1942 đến ngày 10 tháng 9 năm 1943 [1] ,

trong thời gian ông bị chính

quyền Tưởng Giới Thạch bắt

giam và giải đi khắp 18 nhà giam

13 tỉnh Quảng Tây Trung Quốc

Trang 21

Một số bài thơ tiêu biểu khác như

Nguyên Tiêu

Cảnh Khuya

Rằm xuân lồng lộng trăng soi

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân

Giữa dòng bàn bạc việc quân

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà

Trang 22

Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,

Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông.

Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến, Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng.

Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!

Trang 23

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,

Thắng trận tin vui khắp nước nhà,

Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ

Tiến lên!

Toàn thắng ắt về ta!

(Thơ chúc tết xuân Mậu Thân - 1968)

Nǎm qua thắng lợi vẻ vang,

Nǎm nay tiền tuyến chắc càng thắng to

Trang 25

III.TRUYỆN VÀ KÍ

Trang 26

1922 thực dân Pháp đưa vua

Khải Định sang Pháp

- 1923 NAQ đã viết một loạt TP

để vạch trần âm mưu của chính

phủ Pháp và lật tẩy bộ mặt bù

nhìn bán nước của Khải Định

- Đối tượng sáng tác là người

dân Pari Bác viết bằng tiếng

Pháp theo nghệ thuật Châu Âu

hiện đại

Vạch trần bộ mặt thật bù nhìn lố lăng của Khải

Định và âm mưu thâm độc nham hiểm của thực

dân Pháp đối với nhân dân các nước thuộc địa.

( Trích “ Những bức thư gửi cô em họ do tác giả dịch từ tiếng An Nam”)

Trang 27

2.Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội

nhà cách mạng Phan BộI Châu

bị bắt cóc ngày 18-6-1925 ở Trung Quốc , giải về giam ở nhà

tù Hoả Lò-Hà Nội và sắp bị xử

án Phơi bày bản chất dối trá , lố

bịch của Va-ren và ca ngợi khí

phách của Phan Bội Châu , cổ

vũ phong trào yêu nước lúc đó

Truyện được viết bằng tiếng Pháp đăng trên báo “ Người cùng khổ” tại Pa-ri số 36-37 phát hành tháng 9, 10 năm1925

Trang 28

1.Lời than vãn của Bà Trưng Trắc

Ngày 24/6/1922, tờ

“L’Humanité” (Nhân Đạo) của Đảng Cộng sản Pháp đăng bài “Lời than vãn của

Bà Trưng Trắc” ký tên Nguyễn Ái Quốc.

Báo L\'Humanité: Tờ báo hằng ngày của Đảng Xã hội Pháp do Giǎng Giôrét sáng lập nǎm 1904 Sau Đại hội lần thứ XVIII (Đại hội Tua), Đảng

Cộng sản Pháp thành lập, báo L\'Humanité trở thành cơ

quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng sản Pháp.

Trang 30

* HCM xem văn chương là vũ khí chiến đấu sắc bén phục vụ cho sự nghiệp Cách mạng, do đó, thơ văn phải mang tính chiến đấu và nhà thơ, nhà văn là những chiến sĩ tiên phong :

“ Nay ở trong thơ nên có thép

Nhà thơ cũng phải biết xung phong !"

(Cảm tưởng đọc Thiên Gia Thi)

* Bác yêu cầu, văn chương phải mang tính chân thật và tính dân tộc

Trang 31

* Mục đích, đối tượng sáng tác quyết định nội dung và hình thức sáng tác , nên trước khi viết, người cầm bút

phải tự dặt cho mình câu hỏi : Viết để làm gì ? (Mục đích), Viết cho ai ? (Đối tượng), Viết cái gì ? (Nội dung) và

viết như thế nào ? (Hình thức

Trang 32

Phong cách Hồ Chí Minh rất hấp dẫn, độc đáo, đa

dạng mà thống nhất

Ở mỗi thể loại văn học, từ văn chính luận, truyện, ký đến thơ ca, Hồ Chí Minh đều tạo được những nét

phong cách riêng độc đáo và hấp dẫn

1 Văn chính luận của Người thường ngắn gọn, súc

tích, lập luận chật chẽ Lí lẽ đanh thép, bằng chứng

đầy sức thuyết phục, tính chiến đấu và đa dạng về

bút pháp Văn chính luận của người có sự kết hợp

giữa tình và lí, lời văn giàu hình ảnh, giọng điệu khi ôn tồn thân mật như đưa lẽ phải thấm vào lòng người,

khi mạnh mẽ hùng hồn

Trang 33

2 Truyện, kí của Người được viết với bút pháp rất hiện đại, đầy sáng tạo, thể hiện tính chiến đấu

mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng sắc bén

Tiếng cười trào phúng của Nguyễn Ái Quốc tuy

nhẹ nhàng, hõm hỉnh nhưng thâm túy, sâu cay

3 Thơ ca thể hiện sâu sắc và tinh tế vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh

a Những bài thơ nhằm mục đích tuyên truyền

cách mạng thường được viết bằng hình thức bài

ca, lời lẽ giản dị, mộc mạc, dễ nhớ mang màu sắc dân gian hiện đại

Trang 35

VIẾNG LĂNG BÁC VIỄN PHƯƠNG

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp mưa sa, đứng thẳng hàng

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân

Bác nằm trong giấc ngủ bình yên

Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim

Mai về miền Nam thương trào nước mắt

Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này

1976

Trang 36

Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở

Xa nước rồi, càng hiểu nước đau thương

Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp Giấc mơ con đè nát cuộc đời con

Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp

Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn…

CHẾ LAN VIÊN

Trang 37

Bác ơi

Tố Hữu

6-9-1969

Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa

Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa Chiều nay con chạy về thǎm Bác

Ướt lạnh vườn cau, mấy gốc dừa!

Con lại lần theo lối sỏi quen

Đến bên thang gác, đứng nhìn lên Chuông ôi chuông nhỏ còn reo nữa? Phòng lặng, rèm buông, tắt ánh đèn!

Bác đã đi rồi sao, Bác ơi!

Mùa thu đang đẹp, nắng xanh trời Miền Nam đang thắng, mơ ngày hội Rước Bác vào thǎm, thấy Bác cười!

Trang 39

The end

Ngày đăng: 18/08/2015, 14:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN