luận văn về phân lớp phân cấp taxonomy văn bản WEB và ứng dụng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
Nguyễn Thị Hương Thảo
PHÂN LỚP PHÂN CẤP TAXONOMY VĂN BẢN WEB
VÀ ỨNG DỤNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY
Ngành: Công nghệ thông tin
Cán bộ hướng dẫn: TS Hà Quang Thụy
Cán bộ đồng hướng dẫn: CN Đặng Thanh Hải
HÀ NỘI - 2006
Trang 2Tóm tắt nội dung
Phân lớp văn bản là quá trình gán văn bản một cách tự động vào một hoặc nhiều lớp cho trước Tuy nhiên, trong trường hợp có số lượng khá lớn các lớp, bài toán sẽ phức tạp hơn rất nhiều, do đó, khi tiến hành phân lớp thường cho kết quả có độ chính xác không cao Vì vậy, một vấn đề được đặt ra là cần phân lớp các văn bản sử dụng cấu trúc phân cấp Hiện nay, bài toán này đã và đang trở thành lĩnh vực nhận được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới Khoá luận tốt
nghiệp với đề tài "Phân lớp phân cấp Taxonomy văn bản Web và ứng dụng" nghiên
cứu nội dung, các thuộc tính, các thuật toán giải quyết bài toán phân lớp phân cấp Khóa luận đã tiến hành thực nghiệm trên 12 lớp dữ liệu, sử dụng thuật toán máy vector
hỗ trợ, kết quả thu được rất tốt với độ đo F1 trung bình lên tới gần 90%
Trang 3Lời mở đầu
Trích chọn thông tin trên Web đã và đang tạo thêm nhiều tài nguyên thông tin,
tri thức mới đáp ứng ngày càng hiệu quả nhu cầu thông tin của con người Ngày nay,
công nghệ trích chọn thông tin trên Web đã hình thành loại hình dịch vụ đầy triển
vọng trong việc cung cấp thông tin phong phú và hữu ích từ nguồn dữ liệu được coi là
vô hạn trên Web Một trong những bài toán cơ bản và quan trọng trong trích chọn
thông tin trên Web là bài toán phát hiện các quan hệ của các lớp đối tượng trên Web
mà quan hệ phân cấp giữa chúng là một loại quan hệ điển hình Để thực hiện việc phát
hiện mối quan hệ phân cấp giữa các lớp đối tượng trên Web thì bài toán đầu tiên cần
giải quyết đó là bài toán phân lớp tự động các đối tượng Tự động phân lớp văn bản là
một nhiệm vụ rất quan trọng có thể giúp ích trong việc tổ chức cũng như tìm kiếm
thông tin trên nguồn tài nguyên lớn này Phân lớp văn bản là quá trình gán văn bản
một cách tự động vào một hoặc nhiều lớp cho trước
Trong các nghiên cứu phân lớp văn bản, hầu hết đều tập trung vào bài toán phân
lớp mà các lớp cho trước được xem là tách biệt nhau và không có cấu trúc xác định
mối quan hệ giữa chúng Những bài toán phân lớp như vậy được gọi là bài toán phân
lớp phẳng (flat classification) Tuy nhiên, trong trường hợp có số lượng khá lớn các
lớp, bài toán sẽ phức tạp hơn rất nhiều và khi thực hiện các giải pháp phân lớp thường
cho kết quả không chính xác Vì vậy, một vấn đề được đặt ra là cần phân lớp các văn
bản sử dụng cấu trúc phân cấp Thực hiện công việc này mặc nhiên cũng đã bao hàm
vấn đề phát hiện quan hệ phân cấp giữa các lớp đối tượng như đã nói ở trên Về bản
chất đây cũng được coi là một loại quan hệ ngữ nghĩa giữa các đối tượng và lớp đối
tượng Bài toán cần được giải quyết là phát hiện các lớp và kiến trúc các lớp đã được
phát hiện vào một cây phân cấp Đây là bài toán phân lớp phân cấp Phân lớp phân cấp
cho phép định hướng vào bài toán phân lớp lớn ban đầu và sử dụng phương pháp chia
nhỏ và đệ quy
Khoá luận tốt nghiệp với đề tài "Phân lớp phân cấp Taxonomy văn bản Web
và ứng dụng" nghiên cứu nội dung, các thuộc tính, các thuật toán giải quyết bài toán
phân lớp phân cấp và cố gắng đưa ra một số nhận xét, đề xuất thích hợp và thi hành
chương trình thực nghiệm để kiểm chứng tính khả thi của phương pháp
Trang 4Khóa luận được tổ chức thành ba chương mà nội dung chính của các chương
được giới thiệu như dưới đây
Chương 1 Tổng quan về Taxonomy và phân lớp văn bản trình bày những nét cơ
bản nhất về taxonomy, các khái niệm và nội dung cơ bản về bài toán phân lớp văn bản
Chương này cũng trình bày một số thuật toán phân lớp văn bản điển hình, đặc biệt tập
trung vào thuật toán SVM - thuật toán hiện nay được đánh giá là bộ phân lớp nhanh và
hiệu quả nhất với bài toán phân lớp văn bản
Chương 2 Phân lớp phân cấp Taxonomy văn bản Web nghiên cứu các phương
pháp giải quyết bài toán phân lớp phân cấp và cách xây dựng các bộ phân lớp cho cây
phân cấp văn bản Chương này cũng giới thiệu một số phương pháp đánh giá cho bài
toán phân lớp phẳng và độ đo dựa vào khoảng cách và độ tương tự giữa các lớp
Chương 3 Thực nghiệm trình bày các kết quả thực nghiệm thu được khi áp
dụng thuật toán SVM và phương pháp phân lớp phân cấp theo hướng top-down Một
số nhận xét, đánh giá kết luận cũng được trình bày
Phần kết luận tổng kết các kết quả của khóa luận và trình bày định hướng phát
triển nội dung của khóa luận Bài toán phân lớp phân cấp văn bản Web thực sự có ý
nghĩa về nghiên cứu và triển khai
Trang 5MỤC LỤC
Chương I TỔNG QUAN VỀ TAXONOMY VÀ PHÂN LỚP PHÂN CẤP 5
1.1 Giới thiệu Taxonomy 5
1.2 Phân lớp văn bản 6
1 2.1 Một số khái niệm 7
1.3 Quá trình tiền xử lý dữ liệu 11
1.3.1.1 Phương pháp biểu diễn tài liệu 12
1.3.1.2 Quá trình lựa chọn thuộc tính 14
1.4 Các thuật toán phân lớp văn bản 19
1.4.1 Thuật toán K người láng giềng gần nhất 19
1.4.2 Thuật toán phân lớp AdaBoost 19
1.4.3 Thuật toán máy vector hỗ trợ 21
Chương II PHÂN LỚP VĂN BẢN WEB SỬ DỤNG CẤU TRÚC PHÂN CẤP TAXONOMY 27
2.1 Hai phương pháp phân lớp phân cấp 27
2.2 Phân lớp phân cấp văn bản theo hướng top-down 28
2.2.1 Mô hình phân lớp 28
2.2.2 Xây dựng các bộ phân lớp nhị phân 31
2.3 Đánh giá 32
2.3.1 Đánh giá cho bài toán phân lớp phẳng 32
2.3.2 Đánh giá dựa vào độ tương tự 34
Chương III THỰC NGHIỆM 37
3.1 Dữ liệu và chương trình 37
3.2 Môi trường thực nghiệm 40
3.3 Kết quả và đánh giá 40
3.3.1 Thực nghiệm1 : Phân lớp phân cấp theo hướng top-down 40
3.3.2 Thực nghiệm 2 : Khảo sát sự phụ thuộc thời gian huấn luyện và kết quả vào tập thuộc tính .46
KẾT LUẬN .52
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Tài liệu Tiếng Việt 54
Tài liệu Tiếng Anh 54
PHỤ LỤC A DANH SÁCH TỪ DỪNG 57
Trang 7Chương I TỔNG QUAN VỀ TAXONOMY VÀ PHÂN
LỚP PHÂN CẤP
1.1 Giới thiệu Taxonomy
Vào những năm 90 của thế kỉ XX, khái niệm taxonomy được sử dụng trong
nhiều lĩnh vực khác nhau như tâm lý học, khoa học xã hội và công nghệ thông tin để
thiết lập sự trùng hợp giữa thuật ngữ của người sử dụng và thuật ngữ của hệ thống
Các chuyên gia đầu tiên phát triển cấu trúc hệ thống Web đã dùng thuật ngữ taxonomy
để nói về tổ chức nội dung các trang web Và từ đó, khái niệm taxonomy được sử dụng
rộng rãi với mục đích này
Do được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, nên có nhiều định nghĩa khác
nhau về taxonomy Từ năm 2000 đến năm 2005, có khoảng 36 định nghĩa khác nhau
về taxonomy trong các nguồn tài liệu [24] Trong lĩnh vực công nghệ thông tin,
taxonomy được định nghĩa như sau :
Định nghĩa : Taxonomy là sự phân loại của toàn bộ thông tin trong một hệ
phân cấp theo một mối quan hệ có trước của các thực thể trong thế giới thực mà nó
biểu diễn
Một taxonomy thường được mô tả với gốc ở trên cùng, mỗi nút của taxonomy –
bao gồm cả gốc – là một thực thể thông tin đại diện cho một thực thể trong thế giới
thực Giữa các nút trong taxonomy có một mối quan hệ đặc biệt gọi là is
subclassification of nếu hướng liên kết từ nút con lên nút cha hoặc là is
superclassification of nếu hướng liên kết từ nút cha xuống nút con Đôi khi những
quan hệ này được xác định một cách chặt chẽ hơn là is subclass of hoặc is superclass
of, nếu thực thể thông tin là một lớp đối tượng
Hình 1.1 mô tả một taxonomy đơn giản gồm lớp Person, lớp con của nó là
Employee, Manager; Lớp cha của Person là Agent Khi đi lên từ gốc của taxonomy,
các thực thể chung chung hơn Khi đi xuống những lá ở cuối, thực thể xác định rõ ràng
hơn Ví dụ, Agent chung chung hơn Person, Employee cụ thể hơn Person
Trang 8Hình 1.1 Taxonomy đơn giản
Taxonomy rất có ích cho việc phân lớp thực thể thông tin theo ngữ nghĩa, chúng
thiết lập một quan hệ ngữ nghĩa đơn giản để phân biệt giữa các đối tượng trong một
miền thông tin
Taxonomy đóng vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức thông tin và tổ chức tri
thức Nó được sử dụng chủ yếu để giúp cho việc tìm kiếm và duyệt thông tin thuận lợi
và nhanh chóng hơn, đặc biệt khi ta chỉ có những thông tin chung chung về vấn đề cần
tìm kiếm Khi tìm kiếm trên Internet, nếu sử dụng từ khoá để tìm kiếm thông tin, kết
quả trả về có thể từ vài nghìn đến vài chục nghìn tài liệu về các chủ đề khác nhau Sử
dụng taxonomy để tìm kiếm và duyệt thông tin sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian
cho người dùng để tìm được thông tin cần thiết Đồng thời, taxonomy cho phép các
máy tìm kiếm và các ứng dụng có thể dễ dàng tìm được các thực thể thông tin nhanh
và chính xác hơn nhiều
Taxonomy đã được áp dụng trong nhiều bài toán khác nhau: OU Shi-yan,
KHOO Christopher S.G, GOH Dion H (2005 [15]) xây dựng taxonomy hỗ trợ việc
tóm tắt tự động văn bản; H.T.Kung và C.H.Wu xây dựng taxonomy cho mạng nội
dung [9], Wollersheim và Rahayu (2002 [5]) xây dựng một taxonomy hỗ trợ việc
duyệt cơ sở dữ liệu về y tế
1.2 Phân lớp văn bản
Trong những năm gần đây, với sự phát triển và ứng dụng của Internet, khối
lượng dữ liệu đã tăng trưởng không ngừng theo cả hai phương diện tạo mới và lưu trữ
Trang 9Sự mở rộng các dữ liệu khoa học về địa lý, địa chất, khí tượng do vệ tinh thu thập, sự
giới thiệu quảng bá mã vạch đối với hầu hết các sản phẩm thương mại, việc tin học
hoá sâu rộng các thương vụ và giao dịch, sự phát triển việc ứng dụng công nghệ thông
tin trong quản lý hành chính nhà nước đã tạo ra một khối lượng dữ liệu khổng lồ Tự
động phân lớp văn bản là một nhiệm vụ rất quan trọng có thể giúp ích trong việc tổ
chức cũng như tìm kiếm thông tin trên nguồn tài nguyên lớn này
1 2.1 Một số khái niệm
Phân lớp văn bản (Text Classification) là quá trình gán nhãn các văn bản ngôn
ngữ tự nhiên một cách tự động vào môt hoặc nhiều lớp cho trước Thông thường, các
lớp cho trước là các chủ đề nào đó, nhưng cũng có nhiều ứng dụng mà các lớp được
thiết lập theo những tiêu chí khác, ví dụ phân lớp theo thể loại, phân lớp theo độ ưu
tiên Hầu hết các bài toán này sẽ tốn thời gian, công sức và đôi khi không chính xác
nếu được phân loại một cách thủ công - tức là đọc từng văn bản và gán vào một lớp
nào đó Phân loại những đối tượng mới vào các lớp bằng phương pháp thủ công gặp
phải những khó khăn sau:
♦ Đối với các lĩnh vực đặc biệt, phân loại các đối tượng mới (như cơ sở dữ liệu về
y tế, pháp luật) vào các lớp cho trước cần có hiểu biết về các lĩnh vực đó
♦ Phân lớp bằng tay đôi khi không chính xác vì quyết định phụ thuộc vào sự hiểu
biết và động cơ của người thực hiện
♦ Quyết định của hai chuyên gia khác nhau có thể nảy sinh bất đồng ý kiến Vì
vậy những công cụ để tự động phân lớp văn bản vào các lớp sẽ rất hữu ích với
công việc này nhất là khi thông tin tràn ngập như ngày nay Một số phương
pháp phân lớp thống kê và kĩ thuật học máy như Bayesian, máy vector hỗ trợ
(Support Vector Machines), K người láng giềng gần nhất (K-NN), mạng nơron
được áp dụng để giải quyết bài toán này
Rõ ràng, kĩ thuật phân lớp văn bản là rất cần thiết, nhất là ngày nay khi hầu hết
các thông tin được sinh ra và lưu trữ điện tử Các bài báo khoa học và giải trí là những
ví dụ về tập các tài liệu điện tử Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của mạng
Internet và Intranet đã tạo ra nguồn thông tin vô cùng phong phú Các kĩ thuật phân
lớp văn bản sẽ giúp cho nguồn dữ liệu này được lưu trữ tự động một cách hiệu quả và
Trang 10Phân lớp văn bản được xuất hiện từ những năm 1960, nhưng chỉ 15 năm sau, nó
đã trở thành lĩnh vực nghiên cứu chính trong hệ thống thông tin bởi sự đa dạng của các
ứng dụng Phân lớp văn bản được sử dụng để hỗ trợ trong quá trình tìm kiếm thông tin
(Information Retrieval), trích lọc thông tin (Information Extraction), lọc văn bản hoặc
tự động dẫn đường cho các văn bản tới những chủ đề xác định trước Một ứng dụng
khác của phân lớp văn bản là trong lĩnh vực hiểu văn bản Phân lớp văn bản có thể
được sử dụng để lọc văn bản hoặc một phần văn bản chứa các dữ liệu cần tìm mà
không làm mất đi tính phức tạp của ngôn ngữ tự nhiên
Định nghĩa phân lớp văn bản: Phân lớp văn bản là nhiệm vụ đặt một giá trị
Boolean cho mỗi cặp (d j , c i) ∈D×C , trong đó D là tập các văn bản và C= {c 1 ,c 2 c c}
là tập các lớp cho trước
Giá trị T (True) được gán cho cặp (d c j, i) có nghĩa là tài liệu d j thuộc lớp c i;
Giá trị F (False) tức là tài liệu d j không thuộc lớp c i
Hoặc, phân lớp văn bản là bài toán tìm một hàm Φ: D×C →{T,F} trong đó D là
tập các văn bản và C= {c 1 ,c 2 c c } là tập các lớp cho trước, hàm
{T F}
C
Φ được gọi là bộ phân lớp
Tuỳ vào bài toán khác nhau, ta có các ràng buộc khác nhau Nhìn chung có thể
phân biệt bài toán phân lớp theo hai cách sau :
• Phân lớp văn bản nhị phân/ đa lớp: Bài toán phân lớp văn bản được gọi là nhị
phân nếu C =2, gọi là đa lớp nếu C >2
• Phân lớp văn bản đơn nhãn/ đa nhãn: Bài toán phân lớp văn bản được gọi là
đơn nhãn nếu mỗi tài liệu được gán vào chính xác một lớp Một bài toán phân
lớp văn bản được gọi là đa nhãn nếu một tài liệu có thể được gán nhiều hơn một
nhãn
Về mặt lý thuyết, thuật toán phân lớp nhị phân cũng có thể được sử dụng cho
bài toán phân lớp đa lớp bằng cách chuyển bài toán đa lớp {c c1 , , , 2 c C} thành |C| bài
toán nhị phân {c c i, i} với i= 1, ,C Hơn nữa thuật toán phân lớp đa lớp có thể được
sử dụng để giải quyết bài toán phân lớp đa nhãn
Trang 11Do đó, bài toán phân lớp nhị phân là bài toán rất quan trọng trong các ứng dụng
của phân lớp văn bản Giải quyết bài toán phân lớp nhị phân cũng có nghĩa là giải
quyết bài toán phân lớp đa lớp – ứng dụng quan trọng trong phân lớp văn bản Bài toán
lọc văn bản (text filtering), lọc thư rác (spam mail) là những ứng dụng điển hình của
phân lớp nhị phân
1 2.2 Phân lớp văn bản sử dụng cấu trúc phân cấp
Mặc dù các lớp văn bản được tổ chức thành cây phân cấp, ví dụ các tài liệu
Web, thư viện điện tử, thư mục thư điện tử, các lớp sản phẩm Tuy nhiên cho đến
giữa những năm 1990, nhiều nhà nghiên cứu hầu như bỏ qua cấu trúc phân cấp của các
lớp Đặc biệt với các hệ thống phân lớp lớn trong đó số lượng các lớp từ vài chục đến
hàng trăm, nếu sử dụng các kĩ thuât phân lớp văn bản phẳng thì sẽ rất phức tạp đồng
thời kết quả phân lớp không cao, bởi vì để phân biệt giữa hàng trăm lớp như vậy là rất
khó khăn Vì vậy vấn đề đặt ra là cần phân lớp phân cấp Năm 1997 Koller và Sahami
đưa ra bài báo đầu tiên về vấn đề phân lớp văn bản sử dụng cấu trúc phân cấp [6] Từ
kết quả thực nghiệm, bài báo chỉ ra rằng phân lớp phân cấp cho kết quả tốt hơn so với
phân lớp phẳng Sau bài báo này, rất nhiều hướng nghiên cứu về bài toán phân lớp
phân cấp được đề xuất : Soumen Chakrabarti [19]; Dumais và Chen (2000 [21]); Sun
và Lim (2001 [3]) ; Ruiz và Srinivasan (2002 [14]); Cai và Hofmann (2004 [11]),
Yongwook Yoon (2005 [23]) Trong khoảng bốn năm gần đây, phân lớp phân cấp đã
trở thành lĩnh vực nhận được nhiều sự quan tâm và nghiên cứu của nhiều nhà khoa học
trên thế giới
1 2.2.1 Định nghĩa và một số khái niệm
Hệ đẳng cấp (H) : Một hệ đẳng cấp H = (N, E) là một đồ thị có hướng bao gồm
tập các nút N và tập các cạnh (N p, Nc) Hướng của một cạnh (Np, Nc) được xác định từ
nút cha N p đến nút con trực tiếp N c , xác định qua toán tử quan hệ N p→N c được gọi là
liên kết trực tiếp (direct path) từ N p đến N c
Tồn tại một nút gọi là nút gốc của cây phân cấp Các nút không có con là là nút
lá Tất cả các nút trừ nút lá và nút gốc được gọi là các nút trong
Bài toán phân lớp sử dụng cây phân cấp H là việc tìm một hàm Φ sao cho :
Trang 12Trong đó H là cấu trúc phân cấp xác định mối quan hệ giữa các lớp Mối quan
hệ C i →C j thể hiện mối quan hệ IS-A trong đó lớp C j là cha của Ci trong cây phân cấp
H Tất cả các tài liệu thuộc lớp C i đều thuộc lớp C j Mối quan hệ này là bất đối xứng
(Ví dụ, xem xét quan hệ giữa chó và động vật, chúng ta có "tất cả loài chó là động vật,
nhưng không phải tất cả động vật đều là chó") và có tính chất bắc cầu (Ví dụ, xem xét
quan hệ giữa cây, cây xanh và cây thông chúng ta có "tất cả cây thông là cây xanh và
tất cả cây xanh là cây thì tất cả cây thông là cây") Mục tiêu là tìm một hàm đánh giá
bằng cách sử dụng tập tài liệu thoả mãn điều kiện ràng buộc của hệ phân cấp Với bài
toán phân lớp phân cấp, có hai vấn đề cần được quan tâm :
♦ Cấu trúc của hệ phân cấp:
– Cấu trúc taxonomy (như trình bày ở phần 1) trong đó mỗi lớp (trừ lớp
gốc) có đúng một lớp cha
– Cấu trúc đồ thị có hướng phi chu trình (Directed Acyclic Graph) trong đó
một lớp có thể có nhiều hơn một lớp cha
♦ Yêu cầu các lớp chứa văn bản :
– Các tài liệu chỉ được gán vào các nút lá của hệ phân cấp
– Các tài liệu có thể được gán vào cả nút lá lẫn nút trong của hệ phân cấp
Khóa luận này chỉ giải quyết bài toán trong trường hợp cấu trúc hệ phân cấp là
taxonomy và văn bản có thể được gán vào cả nút lá lẫn nút trong của taxonomy
1.2.2.2 Phân lớp đa lớp sử dụng cấu trúc phân cấp
Không giống như phân lớp phẳng trong đó các ứng dụng nhị phân là phổ biến
(ví dụ, lọc thư rác, lọc văn bản), phân lớp văn bản sử dụng cấu trúc phân cấp là nhiều
lớp Thậm chí khi chúng ta chia bài toán lớn ban đầu thành các bài toán nhỏ hơn, hiếm
khi số lớp là hai Hầu hết các thuật toán học trạng thái ví dụ Naive Bayes, cây quyết
định, mạng noron, liên quan đến nhiều lớp Tuy nhiên, có những thuật toán như máy
máy vector hỗ trợ được xây dựng để làm việc chỉ với vấn đề nhị phân Trong những
trường hợp này, có một số phương pháp để chuyển bài toán phân lớp nhiều lớp thành
bài toán phân lớp nhị phân Cách đơn giản nhất là chúng ta chuyển vấn đề n lớp cho
Trang 13trước thành n vấn đề nhị phân: bài toán nhị phân thứ i tương ứng với một cây quyết
định xem tài liệu có thuộc về lớp thứ i hay không?
1.2.2.3 Phân lớp đa nhãn sử dụng cấu trúc phân cấp
Hầu hết các ứng dụng thực của phân lớp phân cấp văn bản là bài toán đa nhãn,
có nghĩa là một văn bản có thể được gán vào nhiều hơn một lớp Ví dụ, bài báo về
David Beckham và Victoria có thể thuộc lớp Sport/Football hoặc
Entertainment/Music Để giải quyết bài toán này, mỗi thuật toán phân lớp sẽ có những
chiến lược khác nhau Ví dụ, thuật toán Naive Bayes có thể gán một văn bản không chỉ
vào lớp có xác suất dự đoán cao nhất mà sẽ gán vào tất cả các lớp có xác suất cao hơn
một ngưỡng nào đó Với các thuật toán khác, giải pháp phổ biến là chuyển bài toán n
lớp thành n bài toán nhị phân
1.2.2.4 Ứng dụng
Rất nhiều ý tưởng nghiên cứu được được thử nghiệm trên tập dữ liệu
Reuters-21578 và 20 News Group và một số nguồn dữ liệu khác từ thư mục Yahoo và
DMOZ Bên cạnh những tập hợp dữ liệu này, phân lớp phân cấp văn bản cũng thu
được kết quả rất tốt khi áp dụng cho những miền dữ liệu khác Phân loại thư cũng là
một ứng dụng của phân lớp phân cấp văn bản
Một ứng dụng khác của phân lớp phân cấp văn bản là áp dụng cho máy tìm
kiếm Như chúng ta đã biết, khi người dùng tìm kiếm, số lượng kết quả trả về rất nhiều
(có thể vài nghìn tài liệu liên quan đến từ khoá tìm kiếm), trong số đó chỉ có rất ít tài
liệu đáp ứng mong muốn của người dùng Vì vậy, thay vì trả về một danh sách các văn
bản cho người sử dụng, những hệ thống này sẽ trả lại kết quả tìm kiếm được tổ chức
thành một hệ phân cấp các chủ đề hữu hạn cho trước Những biểu diễn như thế này sẽ
giúp người sử dụng dễ dàng tìm kiếm thông tin họ cần Việc này có thể thu được bằng
cách tính hạng của kết quả trả về bởi máy tìm kiếm trong một hệ phân cấp chủ đề cho
trước
1.3 Quá trình tiền xử lý dữ liệu
Phân lớp văn bản là quá trình gồm hai bước, với mục đích phân các tài liệu văn
bản vào các lớp hữu hạn có trước Trong bước thứ nhất, một mô hình của bộ phân lớp
Trang 14luyện thông qua việc áp dụng các thuật toán học Tập dữ liệu huấn luyện là tập hợp các
trang văn bản trong cơ sở dữ liệu đã được gán nhãn từ trước Trong bước thứ hai, mô
hình này được sử dụng cho việc phân lớp các trang văn bản chưa được gán nhãn
Để xây dựng mô hình trong bước thứ nhất, thông thường, được chia ra làm hai
bước chính sau (Hình 1.2):
♦ Tiền xử lý dữ liệu: là quá trình biểu diễn văn bản thành một dạng biểu diễn
logic mà thuật toán có thể xử lý được (ví dụ, dạng biểu diễn vector của văn
bản)
♦ Học các bộ phân lớp : sử dụng các thuật toán phân lớp để xây dựng mô hình từ
dữ liệu đã qua tiền xử lý
1.3.1.1 Phương pháp biểu diễn tài liệu
Trong bài toán phân lớp văn bản, cách biểu diễn văn bản đóng vai trò rất lớn
Một tài liệu được biểu diễn dưới dạng một tập hợp các từ, mỗi từ được xem là một
thuộc tính (feature) và văn bản tương ứng với một vector thuộc tính Đôi khi, thay vì
những từ đơn, các thuộc tính có thể được biểu diễn bằng các cụm từ hoặc chuỗi n từ
với n >= 2 Dễ dàng thấy, nhiều thuộc tính phức tạp có thể giàu thông tin hơn Ví dụ,
cụm từ “world wide web” mang nhiều thông tin hơn từng từ riêng biệt Tuy nhiên,
trong thực hành, sử dụng n-grams dẫn tới việc có quá nhiều số lượng thuộc tính và có
thể làm việc giải quyết bài toán khó khăn hơn Theo các nghiên cứu về các phương
pháp biểu diễn văn bản khác nhau, đặc biệt là khi so sánh ảnh hưởng và hiệu quả của
nó thì không có cách biểu diễn văn bản nào tốt hơn cách biểu diễn bằng tập các từ
riêng biệt (isolated words) được lấy ra từ văn bản gốc
Trang 15Sau khi xác định được các thuộc tính, chúng ta cần tính giá trị thuộc tính (hoặc
trọng số từ khoá) cho mỗi văn bản Mỗi từ mục t i trong một tài liệu được gán một
trọng số w i và do đó, mỗi tài liệu được biểu diễn như một vector Trọng số từ khoá có
thể được tính toán bằng nhiều cách khác nhau Cách đơn giản nhất là gán trọng số
bằng một giá trị nhị phân chỉ ra từ mục có mặt hay không có mặt trong văn bản
Phương pháp khác là tính số lần xuất hiện của từ mục trong một tài liệu gọi là tần suất
từ mục Tần suất từ mục được tính theo công thức :
( , )
k i
occ t D freq t D
N
=
Trong đó N là tổng số từ mục của tài liệu D i và occ(t k,Di) là số lần xuất hiện của
từ t k trong văn bản D i
Phương pháp này có vẻ rất trực quan, nhưng mặt hạn chế của phương pháp này
là : nếu một từ xuất hiện nhiều lần trong tài liệu sẽ có tần xuất cao Tuy nhiên nếu
những từ này đều xuất hiện trong tất cả các văn bản thì nó sẽ không mang nhiều thông
tin ngữ nghĩa của văn bản, và do đó độ quan trọng của nó giảm đi Thông thường tần
suất của các từ mục trong văn bản là không đồng đều nhau Một số từ mục xuất hiện
rất thường xuyên, trong khi đó, một nửa số từ mục xuất hiện chỉ một lần Để giải quyết
hạn chế này, tần xuất logarit (tương tự với tần xuất từ mục) được đề xuất và tính theo
công thức :
)) , ( 1
log(
) , (t k D i freq t k D i
Phương pháp thứ hai được sử dụng phổ biến hơn phương pháp tần suất từ mục,
nhưng phương pháp này vẫn chưa giải quyết triệt để hạn chế của phương pháp tần suất
từ mục Theo đó, một từ xuất hiện nhiều lần có tần suất cao, từ xuất hiện ít có tần suất
thấp
Phương pháp chuẩn thường được sử dụng là Term Frequency Inverse Document
Frequency (TFIFF), hàm tính trọng số từ khoá được xác định bởi công thức :
| |log
Trong đó, tần xuất từ mục l trong tài liệu d : freq l d, là số lần xuất hiện của từ
mục l trong tài liệu d
Trang 16Tần xuất văn bản df l là số văn bản trong tập tài liệu có chứa từ mục l
D là tổng số tài liệu học
Trọng số TFIDF của một từ mục biểu diễn độ quan trọng của từ mục TFIDF
của một từ mục trong một tài liệu sẽ giảm nếu như từ đó xuất hiện trong hầu hết các
văn bản Vì vậy, một từ xuất hiện quá ít hoặc quá nhiều được đánh giá ít quan trọng
hơn so với các từ xuất hiện cân bằng
Trọng số TFIDF của một từ mục trong toàn bộ tập tài liệu D được tính bởi :
Với bài toán phân lớp sử dụng cấu trúc phân cấp, khóa luận đề xuất một
phương pháp đánh trọng số đối với các nút trong cây phân lớp trong quá trình phân
lớp
Như chúng ta thấy, đối với các thuộc tính ở một mức nào đó được xuất hiện
nhiều lần, thì đó là những thuộc tính tốt để phân biệt các lớp ở mức trên, vì vậy chúng
cần được đánh trọng số cao Tuy nhiên, nếu các thuộc tính đó lại xuất hiện ở các lớp
con của nó hoặc ở mức dưới hơn, thì độ quan trọng của nó sẽ giảm đi, do đó trọng số
sẽ thấp hơn so với ở mức trên Như vậy, chúng ta cần xác định một giá trị ϖ cho mỗi
nút trong taxonomy, hoặc theo kinh nghiệm hoặc theo thống kê Sau khi xác định được
tập thuộc tính cho cho mỗi nút trong taxonomy, trọng số của các thuộc tính này sẽ
được nhân với giá trịϖ tương ứng với lớp đó Và như vậy, trọng số mới của thuộc tính
không chỉ thể hiện độ quan trọng của thuộc tính đối với văn bản đó, mà còn thể hiện
được độ quan trọng của nó đối với toàn bộ cấu trúc phân cấp
1.3.1.2 Quá trình lựa chọn thuộc tính
Kích cỡ của tập từ vựng của tập hợp văn bản thường rất lớn, ví dụ 20.000 tài
liệu của Reuters 21578, tập hợp dữ liệu có khoảng 15.000 từ mục khác nhau Xử lý các
vector thuộc tính đòi hỏi các thuật toán được tính toán mở rộng và có thể đôi khi
không thể tính toán được đối với một số thuật toán học Bên cạnh đó, nhiều thuộc tính
không mang thông tin, nhập nhằng hoặc bị nhiễu, do đó có thể dẫn tới bộ phân lớp đạt
được kết quả tốt trên dữ liệu học nhưng không tốt trên dữ liệu kiểm tra (overfitting)
Trang 17Lựa chọn thuộc tính là quá trình chọn ra những thuộc tính mang nhiều thông tin
nhất trong không gian thuộc tính và loại bỏ những thuộc tính nhiễu Trong phân lớp
phân cấp văn bản, việc chọn lựa các thuộc tính là rất quan trọng vì tập văn bản rất lớn
Để giải quyết vấn đề này, quá trình lựa chọn thuộc tính được tiến hành bằng cách chỉ
giữ những từ mục có giá trị về thông tin Vì vậy, vấn đề phát hiện các từ mục không
quan trọng phải được giải quyết để thu được không gian từ mục T′ ⊂T với T′ <<T
Đối với bài toán phân lớp sử dụng cấu trúc phân cấp, có hai cách tiếp cận khác nhau
cho quá trình trích chọn thuộc tính được đề xuất:
Lựa chọn thuộc tính toàn cục: Lựa chọn thuộc tính trong phân lớp văn bản sử
dụng cấu trúc phân cấp gọi là toàn cục nếu nó lựa chọn tập các thuộc tính T ′, T′ <<T
để phân biệt tất cả các lớp C i trong một cấu trúc phân cấp cho trước
Lựa chọn thuộc tính cục bộ: Lựa chọn thuộc tính trong trong phân lớp văn bản
sử dụng cấu trúc phân cấp gọi là cục bộ nếu nó lựa chọn tập các thuộc tính T′ i ,
i
T′ << T phù hợp cho mỗi lớp C i trong cấu trúc phân cấp cho trước
Hình dưới mô tả cách lựa chọn thuộc tính toàn cục và cục bộ :
Tin học Nông nghiệp
Ngôn ngữ lập trình
Hệ điều hành Trồng trọt
Chăn nuôi
Trang trại Máy tính Cây lúa mì Động vật Windows Java Sữa C++
Con bò Linux Con cừu Bệnh tật
Hình 1.3.a : Lựa chọn thuộc tính theo hướng toàn cục
Trang 18Cách tiếp cận toàn cục để chọn lựa các thuộc tính thường được sử dụng trong
phân lớp phẳng Cách tiếp cận cục bộ, coi mỗi nút trong của cây phân cấp như một bài
toán phân lớp và lựa chọn thuộc tính cho mỗi bài toán con độc lập nhau
Đối với bài toán phân lớp phân cấp, khi số lượng các lớp lên đến hàng trăm thì
việc quản lý số lượng quá nhiều thuộc tính trở nên vô cùng khó khăn, đồng thời làm
cho việc xử lý dữ liệu và thời gian học các bộ phân lớp tăng lên đáng kể Giải pháp là
lựa chọn thuộc tính theo phương pháp cục bộ, tức là sẽ chọn những thuộc tính phù hợp
nhất tại mỗi mức của taxonomy để phân biệt giữa các lớp tại mức ấy Với chiến lược
này, chúng ta có thể giảm được thời gian huấn luyện các bộ phân lớp đồng thời quản
lý số lượng thuộc tính nhỏ sẽ đơn giản hơn Weigend năm 1999 (theo [xx]) là người
đầu tiên đưa ra so sánh và phân biệt giữa hai chiến lược lựa chọn thuộc tính này
Trong học máy, một số kỹ thuật chính sau đây được xây dựng cho quá trình lựa
chọn thuộc tính :
Kỹ thuật thứ nhất thực hiện các phương pháp lọc (filtering) trên tập thuộc tính
ban đầu Với phương pháp này kết quả thu được từ tính toán thống kê được sử dụng để
loại bỏ những từ mục không thích hợp Sau đó, bộ phân lớp được huấn luyện trên
không gian từ mục đã được rút gọn Với chiến lược lựa chọn từ mục này, có một vài
phương pháp như : lựa chọn từ mục theo tần suất văn bản (Documen Frequency), độ
đo thông tin qua lại (Mutual Information)
Chăn nuôi
Trang trại Máy tínhCây lúa mì Động vật Windows Java
WindowsJava C++
Linux
Hình 1.3.b : Lựa chọn thuộc tính theo hướng cục bộ
Trang 19Tần suất văn bản : Tần suất của văn bản là số tài liệu mà một từ mục xuất
hiện Để lựa chọn từ mục theo phương pháp tần suất văn bản, chúng ta phải tính tần
suất văn bản với mỗi từ mục trong tập dữ liệu học và sau đó loại bỏ những từ mục có
tần suất nhỏ hơn một ngưỡng nào đó để thu được không gian từ mục nhỏ hơn Đây là
kĩ thuật đơn giản nhất để làm giảm số lượng tâp thuộc tính
Độ đo thông tin qua lại (MI) : là phương pháp được sử dụng khá phổ biến để
lựa chọn tập thuộc tính dựa vào mô hình thống kê Với mỗi cặp từ mục t và lớp c , MI
được tính theo công thức sau :
– A là số lần từ mục t và lớp c đồng thời xuất hiện
– B là số lần từ mục t xuất hiện mà không thuộc c
– C là số lần c xuất hiện không chứa t
– N là tổng số dữ liệu học
( ),
I t c nhận giá trị 0 nếu từ mục t và lớp c độc lập với nhau Giá trị I t c( ), càng
cao thể hiện độ quan trọng của thuộc tính t với lớp c
Kỹ thuật thứ hai được gọi là kĩ thuật wrapper, trong đó việc lựa chọn từ mục
phụ thuộc vào thuật toán phân lớp Bắt đầu từ không gian từ mục ban đầu, một không
gian từ mục mới được sinh ra bằng việc thêm hoặc bớt từ Khi một tập hợp từ mục mới
được tạo ra, bộ phân lớp dựa vào đó để xây dựng và sau đó kiểm tra trên tập dữ liệu
kiểm tra Tập dữ liệu cho kết quả tốt nhất sẽ được chọn Không gian từ mục tốt nhất
được tạo ra cho thuật toán phân lớp Phương pháp này tạo thuận lợi cho thuật toán
phân lớp; Tuy nhiên hạn chế của phương pháp này là sự phức tạp trong tính toán
Kỹ thuật thứ ba, đánh chỉ mục dựa vào ngữ nghĩa tiềm ẩn - Latent Semantic
Indexing (LSI – Deerwester 1990, theo [xx]), nén các vector từ mục thành các vector
Trang 20có số chiều ít hơn trong không gian từ T ′, số chiều thu được là sự liên kết các từ trong
không gian từ mục ban đầu T LSI sử dụng kĩ thuật toán học gọi là phép phân tích ma
trận dựa vào giá trị suy biến (Sigular Value Decomposition - SVD) SVD chuyển ma
trận từ mục – văn bản D ban đầu thành ma trận D% có số chiều nhỏ hơn sao cho khoảng
cách giữa hai ma trận :
đạt giá trị nhỏ nhất Để làm được điều này, với ma trận từ mục – văn bản D m n× ban
đầu, trong đó m là số từ mục và n là số tài liệu, SVD thực hiện như sau:
Trong đó U là ma trận m r× , V là ma trận r n× Các cột của U m r× trực giao với nhau
và được gọi là các vector suy biến trái Các cột của V r n× trực giao với nhau và được
gọi là các vector suy biến phải σr r× là ma trận chéo của các giá trị suy biến từ ma trận
ban đầu D, với r≤ min(m n, ) là hạng của ma trận từ mục – tài liệu D ban đầu Thông
thường r là min(m,n) Tuy nhiên, nếu chúng ta chỉ giữ lại k từ có giá trị suy biến lớn
nhất, xấp xỉ ma trận ban đầu thành ma trận mới sau:
Ma trận D% thu được bằng cách xóa bỏ những giá trị suy biến nhỏ từ σ , U% và V% thu
được bằng cách xóa bỏ hàng và cột tương ứng
Sau khi thu được kết quả từ SVD dựa trên dữ liệu học, một tài liệu mới được ánh xạ
vào không gian từ mục nhỏ hơn như sau:
Ngoài việc lựa chọn các thuộc tính mang nhiều thông tin từ tập thuộc tính ban
đầu, quá trình lựa chọn thuộc tính có thể tạo ra các thuộc tính mới (ví dụ các khái
niệm) để thay thế cho một nhóm các thuộc tính thông qua kỹ thuật phân cụm Nhóm
các từ có sự giống nhau về ngữ nghĩa sẽ được xem là một thuộc tính mới thay thế cho
các từ đơn lẻ Với phương pháp này, cần xác định độ tương tự giữa các từ và áp dụng
các kĩ thuật phân cụm như k người láng giềng gần nhất
Trang 211.4 Các thuật toán phân lớp văn bản
Phân lớp văn bản là quá trình gán nhãn các văn bản ngôn ngữ tự nhiên vào môt
hoặc nhiều lớp từ tập các lớp hữu hạn cho trước Hiện nay tồn tại rất nhiều thuật toán
phân lớp văn bản như : thuật toán K người láng giềng gần nhất, thuật toán học cây
quyết định, thuật toán Naive Bayes, thuật toán máy vector hỗ trợ, thuật toán
Boosting Phần này giới thiệu một số thuật toán điển hình, trong đó tập trung vào
thuật toán máy vector hỗ trợ
1.4.1 Thuật toán K người láng giềng gần nhất
Bộ phân lớp dựa trên thuật toán K người láng giềng gần nhất là một bộ phân
lớp dựa trên bộ nhớ, đơn giản vì nó được xây dựng bằng cách lưu trữ tất cả các đối
tượng trong tập huấn luyện Để phân lớp cho một điểm dữ liệu mới x, trước hết bộ
phân lớp sẽ tính khoảng cách từ điểm x đến tất cả các điểm dữ liệu trong tập huấn
luyện Qua đó tìm được tập N(x, D, k) gồm k điểm dữ liệu mẫu có khoảng cách đến x
là gần nhất Ví dụ nếu các dữ liệu mẫu được biểu diễn bởi không gian vector thì chúng
ta có thể sử dụng khoảng cách Euclian để tính khoảng cách giữa các điểm dữ liệu với
nhau Sau khi xác định được tập N(x, D, k), bộ phân lớp sẽ gán nhãn cho điểm dữ liệu
x bằng lớp chiếm đại đa số trong tập N(x, D, k) Mặc dù rất đơn giản, nhưng thuật toán
K người láng giềng gần nhất đã cho kết quả tốt trong nhiều ứng dụng thực tế
Để áp dụng thuật toán k-NN vào tài liệu văn bản, chúng ta sử dụng hàm tính
trọng số cho mỗi lớp theo biểu thức (1.1) Trong đó N c(x,D,k)là tập con chỉ chứa các
đối tượng thuộc lớp c của tập N(x,D,k)
o c
1.4.2 Thuật toán phân lớp AdaBoost
Boosting là một phần đặc biệt của các "Bộ phân lớp ủy ban" (classifier
committees) Ý tưởng của bộ phân lớp ủy ban là kết hợp k bộ phân lớp độc lập để xây
dựng một bộ phân lớp mới Với bộ phân lớp ủy ban, các nhà nghiên cứu thường sử
Trang 22dựa vào xác suất, bộ phân lớp tuyến tính Boosting điển hình chỉ sử dụng một bộ
phân lớp gọi là bộ phân lớp yếu (weak classifier) hoặc bộ phân lớp cơ sở (base
classifier) Ngược lại với bộ phân lớp ủy ban, Boosting không kết hợp các bộ phân lớp
độc lập Thay vào đó, Boosting kết hợp các giả thuyết phân lớp được xây dựng từ cùng
một thuật toán trên các tập dữ liệu học khác nhau Tại mỗi vòng lặp tính bộ phân lớp
yếu, một tập dữ liệu học phù hợp được chọn và cuối cùng tất cả các giả thuyết phân
lớp yếu được kết hợp với nhau
Hiện nay, AdaBoost là phương pháp phổ biến nhất của Boosting, được phát
triển dựa trên lý thuyết thống kê AdaBoost được phát triển vào năm 1994 bởi Freund
và Schapire [12] Theo các nghiên cứu, AdaBoost là bộ phân lớp nhanh và hiệu quả
trong nhiều ứng dụng khác nhau AdaBoost cũng đã được áp dụng với bài toán phân
lớp văn bản và khá thành công Hiện nay, nó được xem là một trong những thuật toán
phân lớp nhanh và hiệu quả nhất
Cho S={ d yri, 1 d yrm, m }, dri
là dữ liệu học và y i là nhãn tương ứng của dữ liệu dri
từ tập nhãn hữu hạn Y Trong trường hợp đơn giản Y = −{ }1,1 là bài toán phân
lớp nhị phân và có thể dễ dàng mở rộng thành bài toán phân lớp nhiều lớp
Tập dữ liệu học S và phân phối B là đầu vào của thuật toán học yếu (weak
learning algorithm) hoặc thuật toán học cơ sở (base learning algorithm) Φ(S B, ) để
tính toán bộ phân lớp yếu h I: → ℜ Dấu của h d( )r
, tức sgn h d( ) ( )r
thể hiện nhãn dữ đoán của văn bản dr
và h d( )r
thể hiện độ tin cậy của dữ đoán Mặc dù h d( )r
có thể nhận giá trị thực nhưng ta thừa nhận ràng buộc h d( )r
thuộc đoạn [− 1,1] mà không mất tính tổng quát Phân phối B của tập dữ liệu học được biểu diễn thông qua trọng số
( ) [ ]0,1
B i ∈ cho mỗi văn bản
Tại mỗi vòng lặp, giả thuyết phân lớp yếu h t = Φ(S B, t) được tính toán dựa vào
phân phối hiện tại của tập dữ liệu học Sau đó, phân phối B t được cập nhật:
1
exp - i t i
t t
=
=∑
Trang 23Là trọng số của hàm phân lớp yếu h t Hàm phân lớp cuối cùng H d( )r
được tính như sau: H d( )r = sgn( )f d( )r
Thuật toán:
Input: S ={ d yri, 1 d yrm, m }, dri∈D, y i∈ = −Y { }1,1
với S Tập dữ liệu học với nhãn tương ứng
Y Nhãn của dữ liệu học, có giá trị 1 nếu là dữ liệu dương, -1 nếu dữ liệu âm
B Phân phối của tập dữ liệu học với B i t( ) là trọng số của dri
tại thời điểm t
Φ Hàm phân lớp yếu nhận S, B là đầu vào, đầu ra h t
t
h : D→ −{ }1,1 được tính bởi Φvới B t
Funtion AdaBoost Begin
1.4.3 Thuật toán máy vector hỗ trợ
Theo [16], thuật toán máy vector hỗ trợ (Support Vector Machines - SVM)
được Corters và Vapnik giới thiệu vào năm 1995 SVM rất hiệu quả để giải quyết các
bài toán với dữ liệu có số chiều lớn như các vector biểu diễn văn bản Thuật toán SVM
ban đầu chỉ được thiết kế để giải quyết bài toán phân lớp nhị phân tức là số lớp hạn
chế là hai lớp Hiện nay, SVM được đánh giá là bộ phân lớp chính xác nhất cho bài
Trang 24knowledge from Hypertext Data] [18] bởi vì đó là bộ phân lớp tốc độ rất nhanh và
hiệu quả đối với bài toán phân lớp văn bản
Cho tập dữ liệu học D={( , ),x y i i i = 1, ,n} với m
i
x∈R và y i∈ −{ }1,1 là một số nguyên xác định x i là dữ liệu dương hay âm Một tài liệu x i được gọi là dữ liệu dương
nếu nó thuộc lớp c i; x i được gọi là dữ liệu âm nếu nó không thuộc lớp c i Bộ phân lớp
tuyến tính được xác định bằng siêu phẳng:
{x f x: ( ) =w T+w0 = 0}
Trong đó w R∈ m và w0∈R đóng vai trò là tham số của mô hình Hàm phân lớp
nhị phân h R: m →{ }0,1 có thể thu được bằng cách xác định dấu của f(x) :
Học bộ phân lớp của mô hình bao gồm việc xác định w và w0 từ dữ liệu Với
thuật toán này, mỗi dữ liệu được xem là một điểm trong mặt phẳng Dữ liệu học là
tách rời tuyến tính (linearly separable) nếu tồn tại một siêu phẳng sao cho hàm phân
lớp phù hợp với tất cả các nhãn; tức là y f x i ( ) 0i > với mọi i = 1, ,n Với giả thuyết
này, Rosenblatt đã đưa ra một thuật toán đơn giản để xác định siêu phẳng :
1 ( ) 0
Trang 25Điều kiện cần để D tách rời tuyến tính là số dữ liệu học n = |D| nhỏ hơn hoặc
bằng m+1 Điều này là thường đúng với bài toán phân lớp văn bản, bởi vì số lượng từ
mục có thể lên tới hàng nghìn và lớn hơn nhiều lần so với số lượng dữ liệu học
Trong hình 1.4, giả sử rằng các dữ liệu mẫu thuộc lớp âm và lớp dương đều
tuân theo luật phân bố chuẩn Gaussian , và được tạo ra với cùng một xác suất Khi đó
một siêu phẳng phân cách được gọi là lý tưởng nếu nó làm cực tiểu xác suất phân lớp
sai cho một điểm dữ liệu mới Với giả thuyết ở trên thì siêu phẳng phân cách lý tưởng
sẽ trực giao với đoạn thẳng nối tâm của hai vùng có mật độ xác suất lớn nhất
Rõ ràng các siêu phẳng mà chúng ta xây dựng nhằm phân cách các điểm dữ liệu
mẫu có thể lệch đi rất nhiều so với siêu phẳng lý tưởng, do đó sẽ dẫn tới việc phân lớp
không tốt trên dữ liệu mới sau này Độ phức tạp của quá trình xác định siêu phẳng lý
tưởng sẽ tăng theo số chiều của không gian đầu vào m, vì với một số lượng các dữ liệu
mẫu cố định, tập hợp các siêu phẳng thực tế sẽ tăng theo hàm mũ với lũy thừa m Với
bài toán phân lớp trang văn bản, m thường rất lớn, khoảng vài ngàn hay thậm chí là
hàng triệu từ
Siêu phẳng lý tưởng Siêu phẳng thực tế
Hình 1.4 Mối quan hệ giữa các siêu phẳng phân cách
Trang 26Theo lý thuyết thống kê được phát triển bởi Vapnik năm 1998 chỉ ra rằng :
chúng ta có thể xác định một siêu phẳng tối ưu thoả mãn hai tính chất quan trong : nó
là duy nhất với mỗi tập dữ liệu học tách rời tuyến tính; và khả năng overfitting là nhỏ
hơn so với các siêu phẳng khác [16] Định nghĩa biên M của bộ phân lớp là khoảng
cách giữa các siêu phẳng và các dữ liệu học gần nhất Siêu phẳng tối ưu nhất là siêu
phẳng có biên lớn nhất, điều đó có nghĩa là chúng ta cần tìm siêu phẳng sao cho
khoảng cách từ siêu phẳng đến những điểm gần nhất là lớn nhất (Hình 1.5) Vapnik
cũng chứng minh rằng khả năng overfitting với siêu phẳng tối ưu nhỏ hơn so với các
Trang 27Trong đó ràng buộc yêu cầu mỗi tài liệu học (tương đương với các điểm) phải
nằm trên nửa mặt phẳng của nó và khoảng cách từ điểm tới siêu phẳng lớn hơn hoặc
n T
i i
α = Đây là bài toán bậc hai, theo lý
thuyết có thể giải được bằng phương pháp chuẩn tối ưu Với mỗi dữ liệu học i, cách
giải phải thoả mãn điều kiện:
Các điểm thoả mãn αi > 0 được gọi là các vector hỗ trợ Hàm quyết định h(x)
có thể được tính qua công thức dấu của f(x) hoặc tương đương với dạng sau:
1
i i i i
Trang 281 max 2
n T
i i
Trang 29Chương II PHÂN LỚP VĂN BẢN WEB SỬ DỤNG CẤU
TRÚC PHÂN CẤP TAXONOMY
2.1 Hai phương pháp phân lớp phân cấp
Phân lớp phân cấp văn bản hướng tới việc gán tài liệu vào một hoặc nhiều lớp
phù hợp của cây phân cấp Các phương pháp giải quyết bài toán phân lớp phân cấp
văn bản có thể được chia thành hai hướng [Sun and Lim, 2001][3]:
– Phương pháp toàn cục (hoặc big-bang)
– Phương pháp cục bộ (hoặc top down)
Trong phương pháp big-bang, chỉ một bộ phân lớp được sử dụng trong quá
trình phân lớp Cho một tài liệu, bộ phân lớp sẽ gán nó vào một hoặc nhiều lớp trong
hệ phân cấp Các lớp được gán có thể là lá hoặc các nút trong của hệ phân cấp phụ
thuộc vào cấu trúc của hệ phân cấp và từng bài toán khác nhau Phương pháp big-bang
có thể thu được với bộ phân lớp Rocchio, bộ phân lớp dựa vào luật và các phương
pháp được xây dựng trên khai phá các luật kết hợp Đánh giá kết quả được sử dụng
trong những thực nghiệm này dựa trên số tài liệu được phân lớp đúng hoặc phần trăm
tài liệu bị phân lớp sai
Trong phương pháp top-down, một hoặc nhiều bộ phân lớp được xây dựng tại
mỗi nút của cây phân cấp và mỗi bộ phân lớp làm việc như một bộ phân lớp phẳng ở
mức đó Một tài liệu đầu tiên sẽ được phân lớp bởi bộ phân lớp ở mức gốc vào một
hoặc nhiều lớp ở mức thấp hơn Nó sẽ tiếp tục được phân lớp xa hơn ở các mức tiếp
theo cho đến khi nó đạt được lớp cuối cùng có thể là lá hoặc nút trong của cây Phương
pháp top-down được thực hiện với các thuật toán như Bayesian, SVM Ba độ đo:
precision, recall, độ đo F được sử dụng trong phương pháp này Phương pháp cục bộ
có vẻ tự nhiên hơn cho phân lớp phân cấp bởi vì nó phản ánh cách mà con người
thường thực hiện đối với những bài toán như vậy Phân biệt giữa ít lớp đơn giản hơn
so với phân biệt giữa hàng trăm lớp Điều này là đúng với các hệ thống tự động Trong
học máy, nói chung theo kinh nghiệm, càng nhiều lớp thì bài toán càng khó hơn Phân
lớp vào các mức cao đơn giản hơn so với phân lớp vào tất cả các lớp không phải chỉ vì
số lượng lớp ít hơn mà bởi vì chúng được phân biệt với nhau rõ hơn Do đó, sau khi
Trang 30phân lớp ở mức cao, khả năng phân lớp ở mức thấp ít hơn bởi vì chúng ta chỉ xem xét
lớp được lựa chọn
Dễ nhận thấy phương pháp toàn cục có những nhược điểm sau:
– Nặng về tính toán
– Rất khó để biểu diễn tập thuộc tính khác nhau tại các mức khác nhau
– Không đủ mềm dẻo, linh hoạt vì mỗi khi cấu trúc taxonomy thay đổi thì bộ
phân lớp phải được học lại
Do đó, trong khóa luận này, chúng tôi tập trung vào bài toán phân lớp phân cấp
văn bản theo hướng tiếp cận top-down
2.2 Phân lớp phân cấp văn bản theo hướng top-down
Phân lớp phân cấp văn bản theo chiến lược top-down định hướng vào bài toán
phân lớp lớn ban đầu theo phương pháp chia nhỏ và đệ quy Với phương pháp này, ta
cần xây dựng nhiều bộ phân lớp và phân lớp một tài liệu mới được thực hiện bằng
cách bắt đầu từ gốc và duyệt qua cây phân cấp cho đến khi tìm được các lớp phù hợp
Đệ quy tại mỗi nút, và các bộ phân lớp tại các nút trong sẽ quyết định nhánh nào, cạnh
nào của cây phân cấp sẽ được đi xuống sâu hơn
2.2.1 Mô hình phân lớp
Phương pháp phân lớp trong mô hình này là tính toán bộ phân lớp tại mỗi nút
Cho một tài liệu với đầu vào là một vector, bộ phân lớp sẽ xác định đường đi từ nút
gốc của cây phân cấp Phân lớp một tài liệu sẽ dừng lại nếu như không có lớp nào
được chọn bởi bất kì bộ phân lớp nào Như đã giới thiệu ở phần 2.1, đây là phương
pháp top-down
Trong bài toán phân lớp với hệ phân cấp dạng taxonomy, mục tiêu cuối cùng là
thu được độ chính xác cao nhất tại các bộ phân lớp lá Thông thường, các bộ phân lớp
nhánh đóng vai trò bổ trợ, làm tăng độ chính xác cho các nút lá Tuy vậy, kết quả phân
lớp của các nút lá trong taxonomy lại phụ thuộc vào các bộ phân lớp nhánh Do đó, các
các bộ phân lớp nhánh đóng vai trò rất quan trọng trong kết quả của hệ thống phân lớp