1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Học tốt ngữ văn lớp 10 nâng cao

136 1,3K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 2,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG Nội dung phần KIẾN THỨC CƠ BẢN với nhiệm vụ củng cố và khắc sâu kiến thức sẽ giúp học sinh tiếp cận với những vấn đề thể loại, giới thiệu những điều nổi bật về tác giả,

Trang 2

AI QPHẠM AN MIÊN - NGUYỄN LÊ HUÂN

HỌC TỐT NGỮ VĂN 10

NÂNG CAO (TẬP HAI)

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Từ năm học 2006-2007, sách giáo khoa Trung học phổ thông môn Ngữ văn được triển khai dạy học bao

gồm: sách giáo khoa Ngữ văn (biên soạn theo chương trình chuẩn) và sách giáo khoa Ngữ văn nâng cao

theo nguyên tắc tích hợp (văn học, tiếng Việt và làm văn), nhằm phát huy vai trò chủ động, tích cực và sáng tạo của học sinh

Nhằm giúp các em học sinh có thêm tài liệu tham khảo để tăng cường khả năng tự học, chúng tôi biên

soạn bộ sách Học tốt Ngữ văn Trung học phổ thông Bộ sách sẽ được biên soạn tương ứng các lớp 10, 11 và

12, mỗi lớp hai cuốn Theo đó, cuốn Học tốt Ngữ văn 10 nâng cao – tập hai sẽ được trình bày theo thứ tự

II RÈN LUYỆN KĨ NĂNG

Nội dung phần KIẾN THỨC CƠ BẢN với nhiệm vụ củng cố và khắc sâu kiến thức sẽ giúp học sinh tiếp cận với những vấn đề thể loại, giới thiệu những điều nổi bật về tác giả, tác phẩm (với phần văn học); giới thiệu một số khái niệm, yêu cầu cần thiết mà học sinh cần nắm vững để có thể vận dụng được khi thực hành

Nội dung phần RÈN LUYỆN KĨ NĂNG đưa ra một số hướng dẫn về thao tác thực hành kiến thức

(chẳng hạn: Luyện tập vận dụng các hình thức kết cấu văn bản thuyết minh, Luyện tập đọc – hiểu văn bản văn học, Luyện tập về liên kết trong văn bản, Thực hành thao tác chứng minh, giải thích, quy nạp, diễn dịch, Luyện tập trình bày một vấn đề, ) Mỗi tình huống thực hành trong phần này đặt ra một yêu cầu học

sinh phải thông hiểu kiến thức cơ bản của bài học; ngược lại, qua công việc thực hành, kiến thức lí thuyết cũng có thêm một dịp được cũng cố Vì thế, giữa lí thuyết và thực hành có mối quan hệ vừa nhân quả vừa tương hỗ rất chặt chẽ

Ngoài các nhiệm vụ trên, ở một mức độ nhất định, nội dung cuốn sách còn hướng tới việc mở rộng và nâng cao kiến thức cho học sinh lớp 10 Điều này thể hiện qua cách tổ chức kiến thức trong từng bài, cách hướng dẫn thực hành cũng như giới thiệu các ví dụ, các bài viết tham khảo

Cuốn sách chắc sẽ còn những khiếm khuyết Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp để có thể nâng cao chất lượng trong những lần in sau

Xin chân thành cảm ơn

NHÓM BIÊN SOẠN

Trang 5

bi kí (Bài kí trên bia chùa Khai Nghiêm) và Cúc hoa bách vịnh,… Thơ văn Trương Hán Siêu thể hiện tình

cảm yêu nước, ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm đối với xã tắc của một người đề cao Nho học

2 Phú sông Bạch Đằng là loại phú cổ thể: mượn hình thức đối đáp chủ – khách để thể hiện nội dung, vận văn và tản văn xen nhau, kết thúc bằng một bài thơ Loại phú cổ thể (có trước đời Đường) được làm theo lối văn biền ngẫu hoặc lối văn xuôi có vần, khác với phú Đường luật (có từ đời Đường) có vần, có đối,

có luật bằng trắc chặt chẽ

3 Bài Phú sông Bạch Đằng thể hiện niềm hoài niệm về chiến công của các anh hùng dân tộc, nêu cao

vai trò của yếu tố con người với tinh thần ngoan cường, bất khuất trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước

II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG

1 Tìm hiểu xuất xứ bài phú

Gợi ý:

Phú sông Bạch Đằng có lẽ được Trương Hán Siêu sáng tác vào đời Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông, khi

nhà Trần suy thoái, có nguy cơ sụp đổ Khi có dịp du ngoạn trên sông Bạch Đằng, một nhánh sông Kinh Thầy đổ ra biển nằm giữa Quảng Ninh và Hải Phòng, nơi lưu dấu chiến tích lịch sử Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán và nhà Trần tiêu diệt quân Nguyên Mông, ông đã cảm khái mà làm thành bài phú này

2 Phân tích bố cục của bài phú

Gợi ý:

Bài phú này có có kết cấu ba phần theo như lối kết cấu thường thấy ở thể phú:

- Mở đầu: Giới thiệu nhân vật, nêu lí do sáng tác (từ đầu cho đến …dấu vết luống còn lưu.)

- Nội dung: Đối đáp (từ Bên sông các bô lão… cho đến Nhớ người xa chừ lệ chan.)

- Kết thúc: Lời từ biệt của khách (phần còn lại)

3 Cách miêu tả khái quát, ước lệ kết hợp với tả thực trong đoạn mở đầu:

- Ước lệ: Nguyên Tương, Vũ Huyệt, Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt, đầm Vân Mộng; sóng kình, muôn dặm, đuôi trĩ, ba thu,…

- Cảnh thực: cửa Đại Than, bến Đông Triều, sông Bạch Đằng, bờ lau san sát, bến lách đìu hiu,…

4 Thủ pháp liệt kê trùng điệp được sử hiệu quả

- Miêu tả không gian rộng lớn, thời gian liên hoàn: "giương buồm giong gió…, lướt bể chơi trăng…;

Trang 6

sớm gõ thuyền…, chiều lần thăm…"

- Làm nổi bật những kì tích: "Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã - Cũng là bãi đất

x-a thuở trước Ngô chúx-a phá Hoằng Thx-ao"; "Tất Liệt thế cường, Lưu Cung chước dối,…"

5 Các hình ảnh đối nhau diễn tả không khí bừng bừng chiến trận ("Thuyền bè muôn đội tinh kì phấp phới – Hùng hổ sáu quân, giáo gươm sáng chói"), hay để miêu tả thế giằng co quyết liệt ("ánh nhật nguyệt chừ phải mờ – Bầu trời đất chừ sắp đổi")

6 Về nghệ thuật chọn lọc hình ảnh, sử dụng điển tích

Tác giả đã lựa chọn hình ảnh, điển tích diễn tả nổi bật sự thất bại của quân giặc, khẳng định một cách trang trọng tài trí của vua tôi nhà Trần:

- "Trận Xích Bích quân Tào Tháo tan tác tro bay – Trận Hợp Phì, giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi."

-"Hội nào bằng hội Mạnh Tân, có lương sư họ Lã – Trận nào bằng trận Dục Thuỷ, có quốc sĩ họ Hàn."

7 Vần trong đoạn 1 và 2:

- Vần lưng: vơi – chơi, lâu - đâu

- Vần chân: Việt – biết – thiết

- Vần gián cách: nhiều – Triều – chiều, đối - đổi – dối – lối – nổi, Hàn – nhàn – chan

8 Nhân vật “khách” – cái tôi của tác giả:

Sông Bạch Đằng và những hoài niệm về chiến công trên dòng sông này đều xuất phát từ sự quan sát của nhân vật “khách” – tác giả Chính qua sự quan sát ấy, nhân vật khách hiện lên với vẻ đẹp phóng khoáng, mạnh mẽ của bậc tráng sĩ: "…chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều – Mà lòng tráng sĩ bốn phương vẫn còn tha thiết" “Khách” ấy cũng là người thích ngao du, thăm thú và tìm hiểu lịch sử dân tộc:"Học Tử Trường chừ thú tiêu dao"

9 Nhân vật “bô lão” – hình ảnh của tập thể, xuất hiện trong hình thức đối đáp ở đoạn hai như sự hô ứng, qua đó tái hiện lại kì tích xưa, bộc lộ niềm ngưỡng vọng, tự hào hùng tráng:

- Những chiến thắng vĩ đại trên sông Bạch Đằng: Chiến thắng gắn với tên tuổi Ngô Quyền và chiến thắng gắn với tên tuổi Trần Hưng Đạo Các chiến thắng vang dội này được đặc biệt tô đậm nhờ những hình ảnh, điển tích được chọn lựa hết sức đặc sắc: “tinh kì phấp phới, giáo gươm sáng chói”, “ánh nhật nguyệt phải mờ, bầu trời đất sắp đổi”, “tan tác tro bay, hoàn toàn chết trụi ; Xích Bích, Hợp Phì,…”

- Ngẫm lại xưa, thấy chiến thắng oanh liệt là bởi “trời đất cho nơi hiểm trở”, “nhân tài giữ cuộc điện an” và “bởi đại vương coi thế giặc nhàn”, nghĩ đến nay chỉ thêm hoài tiếc: "Đến bên sông chừ hổ mặt – Nhớ người xa chừ lệ chan"

10 Đoạn cuối bài, trong lời thơ, “bô lão” và “khách” như hiện thân hô ứng của xưa – nay ca lên niềm tự hào về non sông hùng vĩ, bình luận về chiến thắng sông Bạch Đằng bằng khúc anh hùng ca về tinh thần ngoan cường, bất khuất của con người:

- Lời ca của “bô lão” khẳng định sự hằng tồn của dòng sông Bạch Đằng lịch sử, cũng là khẳng định chân lí: “Những người bất nghĩa tiêu vong – Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh”

- Lời ca của “khách” tiếp nối âm hưởng tự hào, tôn vinh ở lời ca của “bô lão” đồng thời nhấn mạnh đến vai trò của con người trong chiến công xa, cũng là chân lí thấm đẫm tinh thần nhân văn cho muôn đời

Trang 7

đặc biệt trong thể thơ hát nói Bài phú Hàn nho phong vị phú cũng là một sáng tạo đặc sắc của ông “Thơ

văn Nguyễn Công Trứ nhất là ca trù ngân lên một giọng điệu mới, phản ánh một khuynh hướng tư tưởng khác với trước đó, tập trung vào một số chủ đề gắn bó với con người và cuộc đời tác giả.”

2 Phú có bốn loại chính: cổ phú, bài phú, luật phú và văn phú Hàn nho phong vị phú thuộc loại luật

suồng sã

3 Tác giả đã đặt vấn đề gì ở bốn vế đầu của đoạn trích?

Gợi ý: Ở bốn vế đầu, tác giả nói đến cái nghèo vừa như muốn vạch trần lại vừa như chữa “tội”, đùa

giỡn Thái độ trước cái nghèo thể hiện ở bốn vế đầu được cụ thể hoá bằng việc tả cảnh nghèo và bộc lộ bản lĩnh sống, thái độ trước cuộc sống nghèo khó của nhà nho ở 16 vế tiếp sau

4 Nhận xét về cái nhìn của tác giả đối với cảnh nghèo

Gợi ý: Nửa như ca thán, chán ngán cảnh nghèo, nửa như bông đùa, bất chấp cái khó khăn để tìm vui

thú, tác giả đã có cái nhìn vừa hết sức thực tế đối với cuộc sống, xót xa trước cảnh nghèo hèn vừa như bỡn cợt, “ngông” Tác giả đứng ở tư thế của người trong cảnh nghèo, nếm trải mọi điều đồng thời cũng là người vượt lên trên hoàn cảnh, tìm lẽ tự tại cho mình

Trang 8

CÁC HÌNH THỨC KẾT CẤU CỦA VĂN BẢN THUYẾT MINH

- Kết cấu theo trình tự thời gian: trình bày sự vật theo quá trình hình thành, vận động và phát triển

- Kết cấu theo trình tự không gian: trình bày sự vật theo tổ chức vốn có của nó (bên trên - bên dưới, bên trong - bên ngoài, hoặc theo trình tự quan sát,…)

- Kết cấu theo trình tự lôgic: trình bày sự vật theo các mối quan hệ khác nhau (nguyên nhân - kết quả, chung - riêng, liệt kê các mặt, các phương diện,…)

- Kết cấu theo trình tự hỗn hợp: trình bày sự vật với sự kết hợp nhiều trình tự khác nhau

II RÈN LUYỆN KĨ NĂNG

1 Văn bản Lịch sử vấn đề bảo vệ môi trường thuyết minh về đối tượng nào? Để thuyết minh về đối

tượng ấy, người viết đã sử dụng hình thức kết cấu nào?

- Văn bản thuyết minh về Lịch sử vấn đề bảo vệ môi trường

- Hình thức kết cấu của văn bản được tổ chức phối hợp giữa trình tự quan hệ nhân quả (Từ nguyên nhân

ô nhiễm môi trường đến sự nhận thức về tác hại của ô nhiễm môi trường do Ra-sen Ca-xơn đưa ra trong tác

phẩm Mùa xuân lặng lẽ và từ đó dấy lên phong trào bảo vệ môi trường) và trật tự quan hệ thời gian (Ngày

nay…  Sau Chiến tranh thế giới thứ hai…  Năm 1962…  khởi đầu từ thập kỉ sáu mươi…)

2 Văn bản Thành cổ Hà Nội thuyết minh về đối tượng nào? Để thuyết minh về đối tượng ấy, người viết

đã tổ chức hình thức kết cấu như thế nào?

- Văn bản giới thiệu về đặc điểm trật tự kết cấu của thành cổ Hà Nội

- Để giới thiệu đặc điểm trật tự kết cấu của thành cổ Hà Nội, bài văn đã được tổ chức theo trình tự không gian từ trong ra ngoài: Tử Cấm Thành  Hoàng Thành  Kinh Thành

3 Văn bản Học thuyết nhân ái của Nho gia thuyết minh về đối tượng nào? Để thuyết minh về đối tượng

ấy, người viết đã tổ chức hình thức kết cấu ra sao?

- Văn bản giới thiệu một số nội dung cơ bản của học thuyết nhân ái

- Người viết đã tổ chức kết cấu văn bản theo trình tự lô gích của đối tượng – tư tưởng nhân ái:

+ Giới thiệu chung về thuyết nhân ái;

+ Nội dung hai chữ nhân, ái;

+ Nội dung hai chữ trung, thứ

4 Tìm hiểu kết cấu của phần Tri thức đọc – hiểu về thể loại Phú:

Phú vốn là thể văn Trung Quốc thịnh hành vào thời Hán, dùng lối văn có nhịp điệu, nhằm miêu tả, trình

Trang 9

bày sự vật để biểu hiện tình cảm, ý chí của tác giả Phú có bốn loại chính: cổ phú, bài phú, luật phú và văn phú

Cổ phú thường dùng hình thức “chủ – khách đối đáp”, không đòi hỏi đối, cuối bài thường kết lại bằng thơ; bài phú là phú dùng hình thức biền văn, câu văn 4 chữ, 6 chữ, 8 chữ sóng đôi với nhau; luật phú là phú thời Đường, chú trọng đến đối, vần hạn chế, gò bó; văn phú là phú thời Tống, tương đối tự do, có dùng câu

Cổ phú ở Trung Quốc chủ yếu thể hiện đời sống cung đình, thích khoa trương hình thức Bài phú của

Trương Hán Siêu hoài niệm về chiến công của các anh hùng dân tộc, nêu cao vai trò của yếu tố con người trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước

a) Về đối tượng thuyết minh: Văn bản thuyết minh về thể loại phú

b) Các đoạn của văn bản được sắp xếp kết cấu theo trình lô gích của đối tượng – thể loại văn học:

- Khái niệm chung về thể loại phú;

- Đặc điểm của các thể phú;

- Đặc điểm thể loại của bài Phú sông Bạch Đằng;

- Sự sáng tạo thể loại của bài Phú Sông Bạch Đằng

Tuần 20

THƯ DỤ VƯƠNG THÔNG LẦN NỮA

(Tái dụ Vương Thông thư)

NGUYỄN TRÃI

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN

1.Nguyễn Trãi (1380 – 1442) hiệu là ức Trai, quê gốc tại làng Ngái (Chi Ngại), huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang (nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương) Ông mất ngày 19 – 9 – 1442, tức 16 tháng tám năm Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ ba, trong vụ án Lệ Chi Viên (tức vụ án Trại Vải, huyện Gia Lương, nay thuộc Bắc Ninh), vụ án tru di tam tộc oan khốc nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam Toàn bộ tác phẩm của

Nguyễn Trãi, mặc dù bị mất mát nhiều, song vẫn còn khá đồ sộ về số lượng và kiệt xuất về chất lượng: Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh tập, Lam Sơn thực lục, Vĩnh Lăng thần đạo bi, Chí Linh sơn phú, Dư địa chí, Băng Hồ di sự lục, ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập

2 Trong thời trung đại, thư ban đầu là tên chung của loại thư tín, viết để trao đổi thông tin công việc

hoặc tình cảm giữa người với người, hoặc gửi cho vua quan, bạn bè, người thân Về sau, thư gửi vua được

gọi là biểu, tấu còn thư chỉ là hình thức thông tin giữa những người ngang hàng Trong Quân trung từ mệnh,

thư là hình thức công văn, bàn việc nước, việc chiến, việc hoà nên mang đậm nét tính chính luận

Trang 10

3 Với một nghệ thuật nghị luận bậc thầy, thư lại dụ Vương Thông của Nguyễn Trãi cho thấy ý chí

quyết thắng và tinh thần yêu chuộng hoà bình của quân và dân ta

Thư lại dụ Vương Thông là thư số 35, một trong những bức thư gửi cho Vương Thông Bấy giờ thành

Đông Quan (Hà Nội nay) bị quân ta vây hãm, quân địch ở trong thành đang khốn đốn Bức thư này viết vào khoảng tháng 2 – 1427 thì đến tháng 10 năm ấy, sau khi Liễu Thăng bị giết ở gò Mã Yên, Vương Thông không đợi lệnh vua Minh đã “tự ý giảng hoà” với quân Lam Sơn rồi rút quân về nước

2 Đặt vào hoàn cảnh sáng tác cụ thể để phân tích mục đích của bức thư:

Mục đích viết thư của Nguyễn Trãi là dụ giặc ra hàng và rút quân về nước Mục đích này được nói rõ trong các câu: “Các ông là những người xét rõ sự cơ, hiểu sâu thời thế, vậy nên chém đầu Phương Chính,

Mã Kì đem đến cửa quân dâng nộp Như vậy, trong thành sẽ tránh được nạn cá thịt, trong nước sẽ khỏi vạ đau thương, hoà hiếu lại thông, can qua xếp bỏ ”

3 Tìm hiểu bố cục bức thư

Gợi ý:

Bức thư có bố cục 3 đoạn:

- Đoạn 1 (từ đầu cho đến Sao đủ để cùng nói việc binh được?): Nêu lên nguyên lí của người dùng binh

là phải hiểu biết thời thế

- Đoạn 2 (từ Trước đây các ông trong lòng… cho đến … bại vong đó là sáu !): Phân tích thời và thế của

đối phương ở thành Đông Quan

- Đoạn 3 (phần còn lại): Khuyên hàng, hứa hẹn những điều tốt đẹp, thách đấu và sỉ nhục tướng giặc

4 Phân tích mối quan hệ giữa các đoạn để thấy được mạch lập luận

Gợi ý:

Lôgic giữa các đoạn thể hiện mạch lập luận chặt chẽ, giàu sức thuyết phục: Người làm dùng binh không thể không hiểu biết thời thế à Nay ở vào thời thế chỉ chuốc lấy bại vong à Trong tình hình như vậy, nếu hiểu biết thời thế thì phải đầu hàng và rút quân về nước à Nếu không thì ra giao chiến phân tài hơn kém, không nên hèn nhát như thế

5 Phân tích tư tưởng được thể hiện trong đoạn mở đầu

Gợi ý: Ở đoạn mở đầu, tác giả nêu tư tưởng về thời thế đối với người dùng binh Đưa ra tư tưởng thời

thế như một nguyên lí căn bản trong việc dùng binh, tác giả đã mở đầu bằng chân lí sáng rõ, phàm là người làm tướng đều thấu hiểu, để từ đó sẽ đi đến phân tích thời thế cụ thể của đối phương nhằm mục đích thuyết phục, dụ hàng; đồng thời khẳng định kẻ địch không những không hiểu thời thế mà còn dối trá, che đậy nguy

cơ thảm bại Đây là đoạn văn có vai trò nêu chủ đề, mở ra hướng lập luận cho toàn bài

Trang 11

6 Lời lẽ thể hiện tư thế của người viết thư như thế nào?

Gợi ý:

Mặc dù tư thế của người nắm phần chủ động, hơn về sức mạnh quân sự cũng như thời thế, song thái độ của tác giả hết sức linh hoạt: đối với bọn Vương Chính, Mã Kì tàn ác, ngoan cố thì sỉ mắng, cương quyết tiêu diệt; đối với Vương Thông, Sơn Thọ và các tướng khác thì phân tích thời thế, cương nhu linh hoạt, chủ yếu dụ hàng Cuối cùng, vừa khuyên nhủ, hứa hẹn lại vừa sỉ mắng, “khích tướng”, thách đánh để chứng tỏ sức mạnh làm chủ tình thế của quân ta Tác giả khuyên hàng với lí lẽ vừa mềm mỏng, vừa cứng rắn: một là đầu hàng, sẽ được bảo toàn; hai là đem quân ra đọ sức, mà với thời thế như đã phân tích sáng rõ ở phần trên bức thư thì phương án này chỉ đem lại kết quả thảm bại Bức thư thể hiện địch vận “đánh vào lòng người” của Nguyễn Trãi, cho thấy sự kết hợp tài tình giữa tính chiến đấu mạnh mẽ với lòng yêu chuộng hoà bình thiết tha của tác giả

7 Thời và thế của quân Minh đã được tác giả phân tích trong đoạn 2 của bức thư như thế nào?

Gợi ý:

- Thế của quân Minh ở Trung Quốc: Ngô mạnh không bằng Tần, mà hà khắc lại quá, không đầy một năm tất sẽ theo nhau mà chết, ấy là mệnh trời…; Phía Bắc có giặc Nguyên, trong nước có nội loạn ở Tầm Châu

- Thế của quân Minh ở Đông Quan: kế cùng lực kiệt, lính tráng mỏi mệt, trong không lương thảo, ngoài không viện binh,…

- Sáu cớ bại vong tất yếu, không thể bác bỏ

8 Bức thư thể hiện niềm tin tất thắng và tinh thần yêu chuộng hoà bình của tác giả, cũng là của nhân dân ta:

- Chỉ rõ sự thất bại của địch, khẳng định thế tất thắng của ta (sáu cớ bại vong)

- Khuyên dụ đầu hàng, mở ra đường thoái lui cho đối phương: “sửa sang cầu cống, mua sắm tàu thuyền, thuỷ lục hai đường, tuỳ theo ý muốn; quân ra khỏi bờ cõi, muôn phần bảo đảm được yên ổn”

- Bộc lộ quan điểm hoà hữu, bang giao thân thiện, lâu dài: “nước tôi lại phụng cống xưng thần, theo như lệ trước”

Trang 12

PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT

2 Tính đa nghĩa

Nghĩa của văn bản nghệ thuật gồm nhiều thành phần: thành phần biểu thị thông tin khách quan, thành phần biểu thị tình cảm; thành phần nghĩa tường minh, thành phần nghĩa hàm ẩn Các thành phần nghĩa này thống nhất với nhau trong những hình tượng nghệ thuật vừa cụ thể, vừa sinh động Trong đó, thành phần nghĩa hàm ẩn có một vị trí đặc biệt quan trọng trong văn bản nghệ thuật, biểu thị những suy ngẫm, gợi liên tưởng, tưởng tượng,… tạo nên những tín hiệu thẩm mĩ, những thông điệp sâu sắc về cuộc sống và con người

3 Dấu ấn riêng của tác giả

Mỗi nhà văn, nhà thơ thường có sở thích, sở trường riêng trong diễn đạt Sở thích và sở trường ấy được bộc lộ ở những tác phẩm có giá trị và tạo thành nét độc đáo, dấu ấn riêng của tác giả

II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG

1 Những loại văn bản nào sử dụng phong cách ngôn ngữ nghệ thuật?

Gợi ý: Các loại văn bản văn chương (văn xuôi nghệ thuật, thơ, kịch) sử dụng phong cách ngôn ngữ

nghệ thuật

2 Nói đến phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, cần phải nhớ đến những đặc điểm cơ bản nào?

Gợi ý: Tính thẩm mĩ, tính đa nghĩa và dấu ấn riêng của tác giả là những đặc điểm cơ bản của phong

vế đầu miêu tả nơi ở, cách sống và ăn mặc của một nhà nho nghèo

+ Tính thẩm mĩ thể hiện ở các yếu tố ngôn ngữ, các biện pháp tu từ tập trung diễn tả nơi ở, cách sống và

ăn mặc của một nhà nho nghèo: sự lặp lại, sóng đôi, điệp âm (Chém cha… chém cha, rành rành – ấy ấy, bình bịch – kho kho, chát chát chua chua – nhai nhai nhổ nhổ,…; hiệp vần o, ô), đối (Bóng nắng rọi trứng

gà bên vách, thằng bé tri trô - Hạt mưa soi hang chuột trong nhà, con mèo ngấp ngó,…), lối nói “phô trương” (mọt tạc vẽ sao, nhện giăng màn gió, mối giũi quanh co, giun đùn lố nhố, lợn nằm gặm máng, chuột

Trang 13

cậy khua niêu, vỗ bụng rau bình bịch, an giấc ngáy kho kho, áo vải thô nặng trịch, khăn lau giắt đỏ lòm,…),…

- Về tính đa nghĩa của văn bản: Tác giả không dùng chữ nghèo nào mà vẫn miêu tả được cảnh nghèo

của hàn nho; Qua việc miêu tả khách quan cảnh sống nghèo (nơi ở, cách sống, ăn mặc), tác giả đã lột tả được cảnh sống nghèo đến cùng cực, đồng thời cho thấy quan niệm, thái độ sống lạc quan của một nhà nho chân chính

- Về dấu ấn riêng của tác giả: Dấu ấn riêng của tác giả thể hiện nổi bật qua giọng điệu mỉa mai, châm

biếm (đặc biệt là ở từ phong vị, hay việc sử dụng ngôn ngữ trong cách nói “phô trương”,…) Cũng qua

giọng điệu ấy mà hình tượng tác giả hiện ra với một tư thế vừa ngao ngán vừa ngạo nghễ, bất chấp, ngông,… Nguyễn Công Trứ thường để lại ấn tượng về một cá tính ngang tàng, đậm chất tài tử

4 Phân tích đoạn thơ sau đây để làm sáng tỏ đặc điểm chung của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song;

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả, Củi một cành khô lạc mấy dòng

(Huy Cận, Tràng giang) Gợi ý: Để phân tích những biểu hiện của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật trong đoạn thơ trên, hãy tham

khảo đoạn văn sau

“Ngay câu thơ đầu bài thơ không chỉ nói sông, mà nói buồn, nói về một nỗi buồn bất tận, bằng một hình ảnh ẩn dụ: sóng gợn tràng giang trùng trùng điệp điệp, như nỗi buồn trùng trùng điệp điệp Giữa tràng giang

mà điểm nhìn nhà thơ tụ vào con sóng nhỏ, tuy rất nhiều, nhưng hiện ra rồi tan, muôn thủa Con thuyền thường là hình ảnh tượng trưng cho cuộc đời lênh đênh, cô đơn, vô định ở đây con thuyền buông mái chèo xuôi dòng (xuôi mái) theo dòng nước, nhưng thuyền và nước chỉ “song song” với nhau chứ không gắn bó gì với nhau, bởi nước xuôi trăm ngả, thuyền theo ngả nào? Thuyền đi với dòng để rồi chia li với dòng Câu thứ

ba đã nói tới sự chia li: “Thuyền về nước lại sầu trăm ngả” Thuyền buồn vì phải rẽ dòng Nước buồn như không biết trôi về đâu Câu cuối đoạn này càng thể hiện tập trung cho kiếp người nhỏ nhoi, lạc lõng, vô

định: “Củi một cành khô lạc mấy dòng” Cái nhìn của nhà thơ vẫn tập trung vào các vật nhỏ: sóng, thuyền, củi khô

Tác giả lưu ý, không phải là cây gỗ, thân gỗ, mà chỉ là “củi một cành khô”, một mảnh rơi gẫy, khô xác của thân cây

Cả khổ thơ đầu đã vẽ lên một không gian sông nước bao la, vô định, rời rạc, hờ hững Những đường nét: nước song song, buồn điệp điệp, sầu trăm ngả, lạc mấy dòng không hứa hẹn gì về hội tụ, gặp gỡ mà chỉ

là chia tan, xa vời Trên con sông đó một con thuyền, một nhánh củi lênh đênh càng tỏ ra nhỏ nhoi bất lực ở đây không chỉ thuyền buồn, cành củi khô buồn, mà cả sóng gợn, sông nước đều buồn.”

(Trần Đình Sử, Đọc văn học văn,

NXB Giáo dục, Hà Nội, 2001, tr 234-235)

BÀI VIẾT SỐ 5

Trang 14

(Văn thuyết minh)

I – ĐỀ BÀI THAM KHẢO

1 Giới thiệu về ca dao Việt Nam

2 Trình bày một số đặc điểm cơ bản của văn bản văn học

3 Giới thiệu đặc điểm của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

4 Thuyết minh yêu cầu đọc – hiểu văn bản văn học

5 Thuyết minh về đặc điểm của thể loại phú

a) Huy động tư liệu, tìm hiểu tri thức về đối tượng thuyết minh (thể loại hoặc vấn đề văn học)

b) Lựa chọn nội dung thông tin chính xác, khách quan về đối tượng thuyết minh để trình bày trong bài văn

c) Lập dàn ý cho bài văn theo bố cục 3 phần:

- Mở bài: Giới thiệu chung về đối tượng cần thuyết minh

- Thân bài: Trình bày nội dung thông tin về đối tượng thuyết minh theo trình tự nhất định (trình tự lô gích của đối tượng hoặc trình tự nhận thức, quan hệ nhân – quả,…)

- Kết bài: Có thể đưa ra nhận định chung về đối tượng, ý nghĩa của việc tìm hiểu đối tượng đã thuyết minh

d) Viết bài văn thuyết minh với dàn ý đã lập

3 Định hướng về nội dung thông tin để giải quyết các đề cụ thể:

a) Giới thiệu về ca dao Việt Nam:

(không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi) Với nghĩa này, ca dao là thơ dân gian truyền thống

(Theo Nhiều tác giả, Từ điển Thuật ngữ Văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2004)

Trang 15

- Ca dao Việt Nam có đặc điểm gì về nội dung?

Ca dao là thơ trữ tình – trò chuyện diễn tả tình cảm, tâm trạng của một số kiểu nhân vật trữ tình: người

mẹ, người vợ, người con,… trong quan hệ gia đình; chàng trai, cô gái trong quan hệ tình bạn, tình yêu lứa đôi; người phụ nữ, người dân thường,… trong quan hệ xã hội Nó không mang dấu ấn tác giả như thơ trữ tình (của văn học viết) mà thể hiện tình cảm, tâm trạng của các kiểu nhân vật trữ tình và có cách thể hiện tình cảm, thế giới nội tâm mang tính chung, phù hợp với lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, địa phương,… của các kiểu nhân vật này Tuy nhiên, dù mang tính chất chung nhưng mỗi bài ca dao lại có nét riêng độc đáo, sáng tạo, thể hiện được sự phong phú, da dạng của sắc thái tình cảm (…)

- Ca dao Việt Nam có những nét đặc sắc gì về nghệ thuật?

Hơn 90% các bài ca dao đã sưu tầm được đều sử dụng thể thơ lục bát hoặc lục bát biến thể Ngoài ra, ca dao còn có các dạng hình thức khác như thơ song thất lục bát (câu thơ bảy tiếng kết hợp với câu thơ sáu – tám tiếng), vãn bốn (câu thơ bốn tiếng), vãn năm (câu thơ năm tiếng)

Ca dao rất giàu hình ảnh so sánh, ẩn dụ và biểu tượng mang tính truyền thống như hạt mưa, tấm lụa đào, cái giếng, cây đa, bến nước, con thuyền, con đò, chiếc khăn,… - những hình ảnh quen thuộc, gắn với cuộc sống của người bình dân

Các hình thức lặp lại cũng là đặc trưng nghệ thuật tiêu biểu của ca dao: lặp kết cấu, lặp hình ảnh, lặp hình thức mở đầu hoặc lặp từ, cụm từ,…

Được tổ chức dưới hình thức thơ ca nhưng ngôn ngữ của ca dao vẫn rất gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày, mang đậm chất địa phương và dân tộc

- Vai trò thẩm mĩ của ca dao?

Mỗi người, bất kể giàu nghèo, sang hèn,… đều có thể lấy ca dao là tiếng nói tâm tư, tình cảm của mình,

có thể soi lòng mình trong ca dao Cho nên, ca dao còn được coi là “thơ của vạn nhà”, là gương soi của tâm hồn và đời sống dân tộc; nơi lưu giữ vẻ đẹp tâm hồn dân tộc, nguồn mạch vô tận cho thơ ca,…

b) Về đặc điểm cơ bản của văn bản văn học:

- Văn bản văn học là gì?

Văn bản văn học (còn gọi là văn bản nghệ thuật, văn bản văn chương) có nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, văn bản văn học là tất cả các văn bản sử dụng ngôn từ một cách nghệ thuật Theo nghĩa hẹp, văn bản văn học chỉ bao gồm các sáng tác có hình tượng nghệ thuật được xây dựng bằng hư cấu (tức là tạo ra những hình tượng bằng tưởng tượng) Văn bản văn học theo nghĩa hẹp vừa có ngôn từ nghệ thuật vừa có hình tượng nghệ thuật

- Văn bản văn học có đặc điểm gì về ngôn từ?

+ Ngôn từ văn học được tổ chức đặc biệt, có tính nghệ thuật và thẩm mĩ

+ Ngôn từ văn học là chất liệu để sáng tạo hình tượng, xây dựng thế giới tưởng tượng

+ Do yêu cầu sáng tạo hình tượng, ngôn từ văn học có tính biểu tượng và đa nghĩa

- Văn bản văn họic có đặc điểm gì về hình tượng?

+ Hình tượng văn học là thế giới đời sống do ngôn từ gợi lên trong tâm trí người đọc

+ Hình tượng văn học là một phương tiện giao tiếp đặc biệt Đọc – hiểu văn bản văn học là thực hiện

Trang 16

quá trình giao tiếp giữa người đọc và tác giả

- Văn bản văn học có đặc điểm gì về ý nghĩa?

+ Ý nghĩa của hình tượng văn học chính là ý nghĩa của đời sống được nhà văn gợi lên qua hình tượng + Ý nghĩa của hình tượng văn học thể hiện qua nhân vật, sự kiện, cảnh vật, chi tiết, qua sự sắp xếp, kết cấu của các bộ phận văn bản và qua cách sử dụng ngôn từ

+ Có thể chia ý nghĩa của hình tượng thành các lớp: đề tài, chủ đề, cảm hứng, tính chất thẩm mĩ, triết lí nhân sinh

- Văn bản văn học có đặc điểm gì về cá tính sáng tạo của nhà văn?

+ Văn bản văn học nào cũng do tác giả viết ra và ít nhiều đều để lại dấu ấn của người sáng tạo ra văn bản

+ Đặc điểm về cá tính sáng tạo của tác giả vừa tạo nên sự phong phú, đa dạng vừa đem lại tính độc đáo cho văn bản văn học

- Những hiểu biết về đặc điểm của văn bản văn học có tác dụng gì?

+ Định hướng về thao tác đọc – hiểu văn bản văn học cụ thể

+ Định hướng về thao tác cảm thụ, đánh giá văn bản văn học cụ thể

c) Về đặc điểm của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật:

- Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là gì?

Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là loại phong cách ngôn ngữ dùng trong các văn bản thuộc lĩnh vực văn chương (văn xuôi nghệ thuật, thơ, kịch)

Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật có tính thẩm mĩ, tính đa nghĩa và dấu ấn riêng của tác giả

- Tính thẩm mĩ của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật:

Văn chương là nghệ thuật ngôn ngữ, là sự thể hiện giá trị thẩm mĩ của ngôn ngữ Ngôn ngữ trong văn bản nghệ thuật, với tư cách là chất liệu xây dựng hình tượng, có sự tổng hoà của ngữ âm và ngữ nghĩa, hoà phối để tạo nên hiệu quả thẩm mĩ

- Tính đa nghĩa của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật:

Nghĩa của văn bản nghệ thuật gồm nhiều thành phần: thành phần biểu thị thông tin khách quan, thành phần biểu thị tình cảm; thành phần nghĩa tường minh, thành phần nghĩa hàm ẩn Các thành phần nghĩa này thống nhất với nhau trong những hình tượng nghệ thuật vừa cụ thể, vừa sinh động Trong đó, thành phần nghĩa hàm ẩn có một vị trí đặc biệt quan trọng trong văn bản nghệ thuật, biểu thị những suy ngẫm, gợi liên tưởng, tưởng tượng,… tạo nên những tín hiệu thẩm mĩ, những thông điệp sâu sắc về cuộc sống và con người

- Đặc điểm về dấu ấn riêng của tác giả trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật: Mỗi nhà văn, nhà thơ thường có sở thích, sở trường riêng trong diễn đạt Sở thích và sở trường ấy được bộc lộ ở những tác phẩm

có giá trị và tạo thành nét độc đáo, dấu ấn riêng của tác giả

- Tác dụng của những hiểu biết về đặc điểm của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật:

+ Tác dụng đối với hoạt động đọc – hiểu văn bản văn học

Trang 17

+ Tác dụng đối với hoạt động sáng tạo văn bản văn học

d) Về yêu cầu đọc – hiểu văn bản văn học:

- Bản chất của hoạt động đọc văn bản văn học là gì?

Khi đọc văn bản văn học, dù với bất kì mục đích nào, người đọc đều thực hiện việc tiếp nhận các giá trị

tư tưởng, nghệ thuật; giao lưu tư tưởng, tình cảm với tác giả, với những người đã đọc trước; bày tỏ thái độ đồng cảm hay không đồng cảm với văn bản văn học

- Những yêu cầu chính của việc đọc – hiểu văn bản văn học:

Người đọc phải trải qua quá trình đọc – hiểu: từ hiểu văn bản ngôn từ, hiểu ý nghĩa của hình tượng, hiểu

tư tưởng, tình cảm của tác giả; từ đó hình thành sự đánh giá đối với văn bản và đạt đến mức độ thưởng thức các giá trị của văn bản

- Làm thế nào để hình thành được kĩ năng đọc – hiểu văn bản văn học?

Người đọc chẳng những phải thường xuyên đọc nhiều tác phẩm văn học mà còn phải biết tra cứu, học hỏi, biết tưởng tượng, suy ngẫm, tạo thành thói quen phân tích và thưởng thức văn học

e) Về đặc điểm của thể loại phú, xem bài Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh

Tuần 21

ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ

(Bình Ngô đại cáo)

NGUYỄN TRÃI

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN

1 Về tác giả, xem bài trước

2 Cáo là thể văn có nguồn gốc từ Trung Quốc xa Cáo được chuyên dùng để vua công bố việc lớn với

muôn dân Nguyễn Trãi dùng hai chữ đại cáo vốn là tên gọi một bài cáo cổ xưa nhất của Trung Quốc để

thay lời Lê Lợi công bố với thiên hạ Cáo thường hay dùng văn biền ngẫu Văn biền ngẫu hay còn gọi là

“biền văn”, “biền lệ văn” hoặc “văn tứ lục” (biền là ngựa đi sóng đôi; ngẫu là đôi, cặp) Văn biền ngẫu có

năm đặc điểm:

- Ngôn ngữ đối ngẫu: các vế đối nhau theo bằng trắc, từ loại;

- Kiểu câu chỉnh tề, câu 4 chữ đối với câu 4 chữ, câu 6 chữ đối với câu 6 chữ hoặc câu 4/4 và câu 6/6 đối nhau;

- Có vần điệu, bằng trắc hài hoà;

- Sử dụng điển cố;

- Sử dụng từ ngữ bóng bẩy có tính phô trương

Trong bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi còn có loại câu 5 chữ, 7 chữ, 10 chữ, 14 chữ rất đa dạng

3 Đại cáo bình Ngô là một bản anh hùng ca về sức mạnh của truyền thống yêu nước, tinh thần độc lập

tự cường, tư tưởng đại nghĩa, ý chí của quân và dân ta trong trong cuộc chiến đấu thắng lợi vang dội trước giặc ngoại xâm, đem lại cuộc sống hoà bình, hạnh phúc cho toàn dân tộc ở thế kỉ XV

Trang 18

II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG

1 Tìm hiểu xuất xứ bài cáo

Gợi ý:

Cuối năm 1427, sau khi chiến thắng giặc Minh, Lê Lợi giao cho Nguyễn Trãi viết Đại cáo bình Ngô

nhằm tổng kết toàn diện cuộc kháng chiến

2 Tìm hiểu bố cục bài cáo

Gợi ý:

Bài cáo gồm 5 đoạn:

- Đoạn 1 (từ Từng nghe đến Chứng cớ còn ghi): Nêu luận đề chính nghĩa

- Đoạn 2 (từ Vừa rồi đến Ai bảo thần dân chịu được?): Tố cáo tội ác của giặc

- Đoạn 3 (từ Ta đây đến …lấy ít địch nhiều.): Lãnh tụ và nghĩa quân trong buổi đầu dấy nghiệp

- Đoạn 4 (từ Trọn hay đến Cũng là cha thấy xưa nay): Quá trình kháng chiến đi đến thắng lợi

- Đoạn 5 (từ Xã tắc từ đây vững bền đến hết): Tuyên bố hoà bình, khẳng định ý nghĩa của cuộc khởi

nghĩa Lam Sơn

3 Tìm những từ ngữ, hình ảnh so sánh đặc sắc dùng để miêu tả thế chiến thắng của quân ta và sự thất bại của giặc

Gợi ý:

Khí thế chiến thắng của ta Sự thất bại nhục nhã của giặc

Đoạn từ Trọn hay đến …cho tất cả thế gian

Đoạn từ Bởi thế đến …chưa thấy xưa nay

thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau

Trang 19

4 Phân tích những thủ pháp nghệ thuật đã được sử dụng nhằm làm nổi bật chiến thắng của ta và thất bại của giặc

Gợi ý: Các thủ pháp: liệt kê trùng điệp (những chiến thắng của ta, những thất bại của giặc), đối lập (khí thế, tư thế của bên chủ động, chiến thắng – kẻ tan tác, thất bại nặng nề, thảm khốc), so sánh tương phản

(giữa chiến thắng của ta với thất bại của giặc),… Các thủ pháp này kết hợp với sự thay đổi linh hoạt hình thức câu văn ngắn - dài, tiết tấu nhanh – chậm tạo ra những sắc thái biểu cảm đa dạng: khi thể hiện khí thế,

sức mạnh của quân ta thì hào hùng, mạnh mẽ, với những câu văn ngắn gọn, đanh chắc (Gươm mài đá, đá núi cũng mòn – Voi uống nước, nước sông phải cạn - Đánh một trận sạch không kình ngạc - Đánh hai trận tan tác chim muông); khi miêu tả sự thất bại của giặc thì thảm hại, tơi bời, với những câu văn dài, như sự những thất bại liên tiếp, kéo dài vô kể (Bị ta chẹn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật ! – Thua quân ta ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân)

5 Những luận điểm chính của đoạn trích:

- Hình ảnh vị lãnh tụ nghĩa quân và những khó khăn trong buổi đầu dấy nghĩa

- Quá trình kháng chiến và thắng lợi vẻ vang

- Tuyên bố hoà bình và ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa

6 Về hình tượng người thủ lĩnh

Gợi ý: Làm nên sức mạnh chiến thắng, còn phải kể đến vai trò của người thủ lĩnh hết lòng vì sự nghiệp

chung, có tài trí, mưu lược: ý thức trách nhiệm cao đối với vận mệnh quốc gia, căm thù giặc sâu sắc, đặt nhiệm vụ cứu nước trở thành hoài bão, điều nung nấu của mình, trọng người hiền tài, thu phục được lòng người tạo thành sức mạnh đoàn kết, tinh thông binh pháp, chiến lược,…

7 Tìm hiểu tư tưởng đại nghĩa trong bài cáo

Đối với kẻ thù, đại nghĩa thể hiện ở chiến lược đánh bằng mưu lược, đánh vào lòng người: “Chẳng đánh

mà người chịu khuất – Ta đây mưu phạt tâm công” Hơn nữa, khi chiến thắng, chẳng những không giết mà còn cấp cho phương tiện để rút về nước: “Thần vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh – Mã

Kì, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền… - Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa…”

Trang 20

NGUYỄN TRÃI

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN

1 Nguyễn Trãi là bậc đại anh hùng dân tộc, một nhân vật toàn tài hiếm thấy; song cũng là người có số phận bi thương bậc nhất trong lịch sử Ông là danh nhân văn hoá, nhà thơ, nhà văn kiệt xuất có những đóng góp to lớn cho sự phát triển văn hoá, văn học dân tộc

2 Về nội dung, văn chương Nguyễn Trãi thể hiện nổi bật hai nguồn cảm hứng truyền thống của văn học dân tộc: yêu nước và nhân đạo Thơ văn ông thể hiện một lí tưởng cao cả: “Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược

– Có nhân, có trí, có anh hùng” (Bảo kính cảnh giới, bài 5) và đồng thời cho thấy tấm lòng yêu thương dân,

gắn bó thiết tha với thiên nhiên, đất nước

3 Về nghệ thuật, văn chương Nguyễn Trãi đạt đến giá trị kết tinh ở cả hai bình diện thể loại và ngôn ngữ Ông là cây bút chính luận kiệt xuất, người khơi dòng thơ Nôm, sáng tạo thể loại thất ngôn xen lục ngôn Tinh thần dân tộc, tình yêu đất nước là ngọn nguồn của vẻ đẹp ngôn ngữ tiếng Việt trong thơ văn Nguyễn Trãi

II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG

1 Phân tích những sự kiện quan trọng thể hiện con người và tầm vóc vĩ đại của Nguyễn Trãi

Gợi ý:

- Nguyễn Trãi tên hiệu là Ức Trai, sinh năm Xương Phù thứ 4 đời Trần Đế Phế (1380), tại dinh quan Tư

đồ Trần Nguyên Đán ở Thăng Long Ông mất ngày 19 tháng 9 năm 1442, tức 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3

Cha Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh, vốn là một học trò nghèo, thi đỗ thái học sinh (tức Tiến sĩ) đời Trần Mẹ ông là Trần Thị Thái, con gái quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, dòng dõi quý tộc Nguyễn Trãi quê ở làng Ngái (Chi Ngại) huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang (nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương), sau dời đến làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây

- Từ nhỏ, Nguyễn Trãi đã tỏ ra thông minh hơn người Năm 1400, ông đi thi lần đầu, đỗ ngay Thái học sinh Sau đó, ông được bổ làm quan Ngự sử đài chánh chưởng Khoảng cuối năm 1401 đầu 1402, cha ông cũng ra nhận chức quan Học sĩ Viện hàn lâm, sau thăng đến Tư nghiệp Quốc tử giám của triều Hồ Năm

1407, giặc Minh xâm lược Đại Việt, cha con Hồ Quý Li và các triều thần bị bắt đem về Trung Quốc, trong

đó có Nguyễn Phi Khanh Nguyễn Trãi muốn giữ tròn đạo hiếu, cùng em trai là Nguyễn Phi Hùng theo theo

xe tù của cha Đến ải Nam Quan, Nguyễn Phi Khanh khuyên Nguyễn Trãi quay trở về tìm cách “rửa nhục cho nước, trả thù cho cha, thì mới là đại hiếu” Nguyễn Trãi nghe lời cha quay trở về, nhưng vừa đến Đông Quan thì bị giặc Minh bắt giam Trong thời gian bị giam ở Đông Quan, Nguyễn Trãi đã suy nghĩ về con đường cứu nước phục thù

- Trốn khỏi Đông Quan, Nguyễn Trãi tìm theo Lê Lợi, dâng Bình Ngô sách (tức Kế sách đánh đuổi

quân Minh) và được Lê Lợi tin dùng và trở thành quân sư số một của lãnh tụ khởi nghĩa Lam Sơn Ông cùng Lê Lợi bàn mưu tính kế, giúp Lê Lợi soạn các loại văn thư, chiếu lệnh, góp công lớn vào sự nghiệp giải phóng đất nước

Đuổi xong giặc nước, một năm sau (1429), Lê Lợi nghi ngờ Trần Nguyên Hãn mưu phản, truy bức, khiến vị danh tướng này phải nhảy xuống sông tự vẫn Vì Trần Nguyên Hãn là cháu nội quan Tư đồ Trần

Trang 21

Nguyên Đán, Nguyễn Trãi cũng bị bắt, sau lại được tha nhưng không được tin dùng nữa Nguyễn Trãi xin cáo quan về Côn Sơn, mấy tháng sau vua Lê Thái Tông lại vời ông trở lại triều làm việc nước

Đang hi vọng vào một cơ hội mới được cống hiến cho đất nước thì chỉ ba năm sau; khi vua Lê Thái Tông đi tuần thú duyệt võ ở Chí Linh về ghé thăm Nguyễn Trãi ở Côn Sơn, lúc ra về đến Lệ Chi Viên (Trại Vải), huyện Gia Bình, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh, nửa đêm đột ngột qua đời; ông cùng vợ là Nguyễn Thị Lộ

bị vu cho mưu giết vua Nguyễn Trãi phải nhận án tru di tam tộc (bị giết cả ba họ) Năm 1464, Lê Thánh Tông minh oan cho Nguyễn Trãi

Năm 1980, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO) đã công nhận Nguyễn Trãi là danh nhân văn hoá thế giới

2 Nguyễn Trãi có những đóng góp quan trọng nào cho văn hoá dân tộc?

Gợi ý:

Với tài năng lỗi lạc, Nguyễn Trãi đã để lại cho nước nhà một di sản to lớn về các mặt quân sự, văn hoá

và văn học Các tác phẩm về quân sự, chính trị, Nguyễn Trãi có Quân trung từ mệnh tập và Đại cáo bình Ngô - một áng “thiên cổ hùng văn”, là những tác phẩm tiêu biểu Về thơ ca, ông có Ức Trai thi tập – tập thơ chữ Hán và Quốc âm thi tập – tập thơ Nôm đánh dấu sự hình thành nền thơ ca tiếng Việt Ngoài ra ông còn

có các tác phẩm về lịch sử như Lam Sơn thực lục, Văn bia Vĩnh Lăng và tác phẩm Dư địa chí – một tác

phẩm có giá trị cả về địa lí, lịch sử và dân tộc học

Trong văn học trung đại Việt Nam, Nguyễn Trãi là nhà văn chính luận kiệt xuất Với Quân trung từ mệnh tập và Đại cáo bình Ngô, Nguyễn Trãi đã thể hiện nổi bật tư tưởng nhân nghĩa mà thực chất là tư

tưởng yêu nước, thương dân Văn chính luận của Nguyễn Trãi đạt đến trình độ nghệ thuật mẫu mực

3 Tư tưởng yêu nước, thương dân, triết lí thế sự và tình yêu thiên nhiên của Nguyễn Trãi được biểu hiện như thế nào?

Gợi ý: Với tư cách là nhà thơ trữ tình tiêu biểu của thơ ca trung đại Việt Nam, thơ Nguyễn Trãi thể hiện triết lí thế sự sâu sắc, chan chứa tình yêu thiên nhiên và con người Hai tập thơ Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập cho thấy Nguyễn Trãi vừa là một người anh hùng vĩ đại vừa là con người trần thế Hình tượng người

anh hùng sáng lên vẻ đẹp hoà quyện giữa lí tưởng nhân nghĩa với yêu nước thương dân, vẻ đẹp ngay thẳng cứng cỏi, thanh tao của bậc quân tử Hình tượng con người trần tục hiện ra khi Nguyễn Trãi đau nỗi đau của con người, yêu tình yêu của con người Ông đau trước nghịch cảnh xã hội éo le, thói đời đen bạc Nỗi đau

ấy còn như một hệ quả tất yếu của một tấm lòng luôn trăn trở, khao khát sự hoàn thiện của con người và ước

mơ thái bình, yên ấm, thịnh trị cho xã hội

Nguyễn Trãi cũng dành tình yêu cho thiên nhiên, đất nước, con người, cuộc sống Vẻ đẹp thiên nhiên, đất nước được tái hiện sinh động trong thơ ông, khi thì trang trọng đầy tính ước lệ của Đường thi, lúc lại bình dị, dân dã, nguyên sơ Thơ Nguyễn Trãi cũng giàu tình người; viết về nghĩa vua tôi, về tình cha con hay lòng bạn, có khi là tình quê hương,… thơ ông toát lên vẻ tự nhiên, tha thiết, cảm động, thân thương

4 Ngyễn Trãi là người đặt nền móng cho thơ ca tiếng Việt

- Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi là tập thơ Nôm còn lại có thời gian ra đời sớm nhất, với số lượng bài lớn nhất, hay nhất Có thể nói, đến Nguyễn Trãi, với Quốc âm thi tập, thơ Nôm đã thành thục và văn học

chữ Nôm từ đây có vị trí như là một thành phần cấu thành nên nền văn học Việt Nam

- Nguyễn Trãi cũng là người đã sớm đưa tục ngữ vào tác phẩm, sử dụng từ láy độc đáo; lại cũng là

Trang 22

người đã sáng tạo ra hình thức thơ thất ngôn xen lục ngôn thể hiện tinh thần phá cách độc đáo, mạnh mẽ

Đọc thêm

HIỀN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ CỦA QUỐC GIA

THÂN NHÂN TRUNG

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN

1 Thân Nhân Trung (1418 – 1499), tên chữ là Hậu Phủ, người Yên Ninh, Yên Dũng, nay thuộc tỉnh Bắc Giang, đỗ tiến sĩ năm 1469 Thân Nhân Trung từng là Tao đàn Phó Nguyên suý trong Hội Tao Đàn do

Lê Thánh Tông sáng lập Ngoài bài văn bia này ông còn sáng tác thơ

2 Bài trích này nằm trong tác phẩm có tên là Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ ba, một trong 82 bài văn bia ở Văn Miếu Hà Nội

Văn bia là loại văn khắc trên mặt đá nhằm ghi chép những sự việc trọng đại, hoặc tên tuổi, cuộc đời của

những người có công đức lớn để lưu truyền cho đời sau Bia có ba loại chính: bia ghi công đức, bia ghi việc

xây dựng các công trình kiến trúc và bia lăng mộ Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ ba thuộc loại văn bia đề danh, ghi công đức Bia ghi công đức thường có phần tựa nêu lên lí do, quá trình làm bia; có phần ghi ngày tháng, họ tên người làm bia (viết bằng văn xuôi) và phần minh (viết bằng

văn vần) Dần dần, phần tựa hoặc kí trở thành nội dung quan trọng nhất, thể hiện tư tưởng, quan điểm của người dựng bia Bài văn bia này giữ vai trò như một lời tựa chung cho cả 82 tấm bia tiến sĩ ở Văn Miếu

3 Khẳng định Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, tác giả Thân Nhân Trung đã phân tích vai trò của

người hiền tài đối với vận mệnh của đất nước, đồng thời cũng chỉ rõ mục đích tốt đẹp của việc đề danh tiến

II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG

1 Tìm hiểu xuất xứ

Gợi ý: Bài văn bia này được Tiến sĩ Thân Nhân Trung viết năm 1484, thời Hồng Đức Trước phần trích

có một đoạn dài kể việc từ khi Lê Thái Tổ dựng nước (1428 – 1484), tuy các vua Lê thuở ấy đều chú ý bồi dưỡng hiền tài nhưng chưa có điều kiện dựng bia tiến sĩ Sau phần trích là danh sách 33 vị đỗ tiến sĩ khoa Nhâm Tuất

2 Tìm hiểu bố cục đoạn trích

Gợi ý:

- Đoạn 1 (từ Tôi dẫu nông cạn… cho đến …làm đến mức cao nhất): Nêu lên giá trị của hiền tài đối với

đất nước

- Đoạn 2 (phần còn lại): Nêu ý nghĩa của việc dựng bia, khắc tên người hiền tài

3 Nhận xét về kết cấu của đoạn trích

Gợi ý:

Mở đầu đoạn văn tác giả khẳng định vị trí “nguyên khí” của người hiền tài đối với quốc gia và kết thúc cũng khẳng định vai trò “củng cố mệnh mạch cho nhà nước” Đây là lối kết cấu đồng tâm, nhằm nhấn mạnh vai trò của người hiền tài đối với quốc gia và khẳng định mục đích của việc dựng bia đề danh

Trang 23

4 Cách diễn đạt đã làm nổi bật vai trò, mối quan hệ mật thiết của người hiền tài đối với quốc gia như thế nào?

còn và phát triển của đất nước, xã hội

Mối quan hệ giữa hiền tài đối với vận mệnh đất nước: người hiền tài có vai trò quyết định đến sự thịnh – suy của một đất nước, hiền tài dồi dào thì đất nước hưng thịnh, hiền tài cạn kiệt thì đất nước suy yếu Như vậy muốn cho nguyên khí thịnh, đất nước phát triển thì không thể không chăm chút, bồi dưỡng nhân tài

6 Dựa vào đoạn trích, để chứng minh: “Triều đình mừng được người tài, không có việc gì không làm đến mức cao nhất”

Gợi ý: Câu này nói lên sự quan tâm, đãi ngộ hiền tài của những người đứng đầu đất nước:

- Đã yêu mến cho khoa danh, lại đề cao bằng trước trật

- Nêu tên ở tháp Nhạn, ban cho danh hiệu Long hổ, bày tiệc Văn hỉ

- Dựng đá đề danh đặt ở cửa Hiền Quan

7 Việc dựng bia “đề danh tiến sĩ” ở Văn Miếu nhằm mục đích gì?

Gợi ý:

- Lưu danh hiền tài muôn đời, thể hiện sự coi trọng, đề cao hiền tài của “thánh minh”

- Để kẻ sĩ trông vào những gương hiền tài được lưu danh mà phấn chấn hâm mộ, rèn luyện danh tiết, gắng sức giúp vua Việc lưu danh bia đá không những để nêu gương mà còn để nhắc nhở và kêu gọi kẻ sĩ tự rèn đức luyện tài, cống hiến cho đất nước

- Việc lưu danh bia đá có thể khiến kẻ hiền tài lấy đó mà răn mình, tránh được hư hỏng, sa đoạ

Tóm lại, lập bia lưu danh tiến sĩ là việc làm hết sức có ý nghĩa: kẻ ác lấy đó mà răn, người thiện theo đó

mà gắng, dẫn việc dĩ vãng, chỉ lối tương lai, vừa để rèn giũa danh tiếng cho sĩ phu, vừa để củng cố mệnh mạch cho nhà nước

PHẨM BÌNH NHÂN VẬT LỊCH SỬ

(Trích Đại Việt sử kí toàn thư)

LÊ VĂN HƯU

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN

Trang 24

1 Lê Văn Hưu (1230–1322), người làng Phủ Lí, Đông Sơn (nay là thôn Phủ Lí Trung, xã Thiệu Trung, huyện Đông Sơn), tỉnh Thanh Hoá, đỗ Bảng nhãn năm 1247, là nhà sử học nổi tiếng đời Trần Lê Văn Hưu

hoàn thành Đại Việt sử kí năm 1272 gồm 72 quyển Công trình này là một trong những cơ sở để nhóm Ngô

Sĩ Liên biên soạn thành Đại Việt sử kí toàn thư Tác phẩm của Lê Văn Hưu hiện thất lạc, chỉ còn lại 31 đoạn dưới dạng bình sử do nhóm Ngô Sĩ Liên ghi lại trong Đại Việt sử kí toàn thư

2 Bình sử là một mục trong tác phẩm thời xưa, bắt đầu có từ đời Tống (Trung Quốc) ghi lại lời bình

luận, đánh giá của sử gia đối với các sự kiện và nhân vật lịch sử

3 Những lời bình sử của Lê Văn Hưu cho thấy một thái độ trân trọng, ý thức giữ gìn, tinh thần trách nhiệm cao đối với lịch sử, qua đó thể hiện lòng yêu nước sâu đậm

II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG

1 Những biện pháp nghệ thuật nào đã được tác giả sử dụng khi bàn về Trưng Trắc, Trưng Nhị?

Gợi ý:

- So sánh: “việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay”

- Hoán dụ: “bọn đàn ông chỉ cúi đầu bó tay”

2 Khi bình về Tiền Ngô Vương, tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nào?

Gợi ý: Hoán dụ: “một cơn giận mà yên được dân”

3 Nhận xét về bút pháp

Gợi ý: Trong các lời bình, tác giả đã kết hợp giữa bút pháp chính xác của sử học với nghệ thuật bình

luận, nghị luận sắc sảo, cô đúc mà tái hiện được nổi bật chân dung lịch sử cũng như thể hiện được quan điểm đánh giá của mình trước các sự kiện

4 Bàn về Trưng Trắc, Trưng Nhị, Lê Văn Hưu nhằm khẳng định tài năng và khí phách phi thường của các anh hùng liệt nữ, khen ngợi đồng thời đem đến bài học và lời nhắn nhủ đối với các bậc nam nhi, quân

tử

5 Trong lời bàn của Lê Văn Hưu, vai trò lịch sử của Tiền Ngô Vương và Đinh Tiên Hoàng được nhấn mạnh Đối với Tiền Ngô Vương, là vai trò của người nối lại chính thống của nước Việt sau nghìn năm Bắc thuộc Đối với Đinh Tiên Hoàng, vai trò nổi bật là dẹp loạn, yên ổn xã tắc, xưng hoàng đế, khẳng định nền độc lập chính thống

6 Bình luận về tư tưởng, nhân cách của nhà bình sử

Gợi ý:

Cái nhìn chân thực, xuất phát từ tinh thần dân tộc, lòng yêu nước, ý thức gìn giữ, trân trọng truyền thống được thể hiện qua các lời bình sử của Lê Văn Hưu Cũng trong những lời bàn về lịch sử ấy, chúng ta còn thấy một tấm lòng ngay thẳng, cương trực, một quan điểm lịch sử chân thực, có phê phán Điều này thể hiện ở lời bàn của tác giả về việc ban thưởng Khi quan niệm điềm lành không có nghĩa là đem những thứ quý giá để làm vừa lòng người trên, tác giả đã phê phán thẳng thắn những lề thói, tật xấu của con người trong xã hội mọi thời Thuở xưa là cung tiến, ngày nay là đút lót, hối lộ, nịnh nọt, thực ra chỉ khác nhau về cách gọi tên mà thôi Bàn về lịch sử, như thế không chỉ có ích đối với việc nhìn nhận quá khứ mà còn có ích đối với cuộc sống hiện tại và cả với tương lai

Trang 25

PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT

(Tiếp theo)

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN

Không những cần phải hiểu về đặc điểm chung của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật mà còn phải biết cách sử dụng phương tiện ngôn ngữ trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

1 Trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, các yếu tố ngữ âm được khai thác tối đa để xây dựng hình

tượng; các hình thức khác nhau của chữ viết cũng được tận dụng để gia tăng giá trị biểu hiện của văn bản:

viết hoa, xuống dòng, các loại dấu câu, khoảng trống,…

2 Một mặt, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật sử dụng có chọn lọc những yếu tố của tất cả các lớp từ

ngữ khác nhau để biểu hiện hình tượng; mặt khác (nhất là trong văn học cổ, văn học lãng mạn) phong cách ngôn ngữ này còn có lớp từ riêng, đó là lớp từ thi ca: giang sơn, hải hà, thiên thu, lệ, nguyệt, chàng, nàng,…

3 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật sử dụng rộng rãi mọi kiểu câu, đồng thời còn có cách vận dụng đặc

thù các kiểu câu, tạo nên kiểu cú pháp thi ca

4 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật sử dụng tối đa mọi biện pháp tu từ (ngữ âm, từ ngữ, ngữ pháp,…)

để xây dựng hình tượng, tổ chức tác phẩm văn chương

5 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật hết sức coi trọng vẻ đẹp cân đối, hài hoà trong chiều sâu bố cục,

trình bày của tác phẩm

II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG

1 Ở tất cả các phương diện (ngữ âm, chữ viết, từ ngữ, ngữ pháp, tu từ, bố cục, trình bày), phong cách ngôn ngữ nghệ thuật có đặc điểm gì nổi bật?

Gợi ý: Các phương tiện ngôn ngữ trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật không chỉ có chức năng biểu

đạt thông thường Gắn với đặc thù của hoạt động sáng tạo nghệ thuật, các phương tiện ngôn ngữ trong phong cách ngôn ngữ này đều được sử dụng vào việc biểu hiện thẩm mĩ, truyền tải tư tưởng nghệ thuật của tác giả Mọi khả năng biểu hiện của ngôn ngữ được tận dụng vào mục đích nghệ thuật, nhằm tạo ra hiệu quả tác động thẩm mĩ cao nhất

2 Phân tích các trích dẫn để thấy được cách sử dụng phương tiện ngôn ngữ trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật:

- Tự bén hơi xuân tốt lại thêm, Đầy buồng lạ màu thâu đêm;

Tình thư một bức phong còn kín, Gió nơi đâu gượng mở xem

(Nguyễn Trãi – Cây chuối)

- Cối xay tre, nặng nề quay, từ nghìn đời nay, xay nắm thóc

Trang 26

(Thép Mới – Cây tre Việt Nam)

- Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

(Quang Dũng, Tây Tiến) Gợi ý:

- Về ngữ âm:

+ Chú ý hình thức tổ chức câu văn với dấu phảy ngắt nhịp đều đều, âm ay được điệp lại (xay, quay, nay) có tác dụng gợi tả vòng quay của chiếc cối xay lúa, hàm ý về sự tuần hoàn trì trệ, không biến đổi của

xã hội nông nghiệp Việt Nam thủa trước

+ Sự cộng hưởng âm thanh ở đoạn thơ của Quang Dũng: Năm tiếng vần trắc trong câu đầu (Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm) và các tiếng vần bằng trong câu cuối (Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi) có tác

dụng gợi tả, khắc hoạ địa thế hiểm trở của Tây Bắc cùng những cảm nhận của người lính Tây Tiến trên đường hành quân

+ Hiệp vần trong đoạn thơ của Nguyễn Trãi (thêm, đêm, xem) và đoạn thơ của Quang Dũng (trời, khơi)

- Về từ ngữ: Các từ bén, gượng,… trong bài thơ Cây chuối của Nguyễn Trãi gợi tả sức xuân và những cảm nhận tinh tế của tác giả; các từ láy (khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút) được sử dụng rất có hiệu quả gợi

tả hình ảnh và cảm xúc trong những câu thơ của Quang Dũng

- Về biện pháp tu từ: biện pháp ẩn dụ (tình thư), nhân hoá (gió gượng mở, súng ngửi trời),…

1 Hoàng Đức Lương người làng Cửu Cao, huyện Văn Giang, nay thuộc tỉnh Hưng Yên, sau chuyển

đến ở làng Ngọ Kiều, Gia Lâm, Hà Nội Ông đỗ tiến sĩ năm năm 1478 Ông để lại: Trích diễm thi tập, đề tựa năm 1479, thơ chữ Hán còn lại 25 bài chép trong Trích diễm thi tập, sau này được Lê Quý Đôn đưa vào Toàn Việt thi lục

2 Tựa là bài văn đặt ở đầu tác phẩm văn học hoặc sử học, địa lí, hội hoạ, âm nhạc,… nhằm giới thiệu

mục đích, nội dung, quá trình hình thành và kết cấu của tác phẩm ấy Bài tựa có thể do tác giả tự viết hoặc

do một ai đó thích thú tác phẩm mà viết Cuối bài tựa thường có phần lạc khoản: ghi rõ họ tên, chức tước

của người viết và ngày tháng, địa điểm làm bài tựa Bài tựa cũng thể hiện những quan điểm mang tính thời đại và của chủ quan người viết Văn của thể tựa có tính chất thuyết minh, thường được kết hợp với nghị luận

và tự sự, có khi mang sắc thái trữ tình

Trang 27

3 Trong công việc biên soạn cũng như sáng tác, Trần Đức Lương bộc lộ một quan niệm thẩm mĩ tiến

bộ Đó là sự chú ý đến tính thẩm mĩ của văn chương Tấm lòng yêu nước của ông được thể hiện qua tinh thần trách nhiệm, ý thức trân trọng, giữ gìn di sản văn hoá dân tộc

II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG

1 Tìm hiểu xuất xứ

Gợi ý:

Bài tựa này nằm trong Trích diễm thi tập (1497), một tập thơ gồm sáu quyển do Hoàng Đức Lương sưu

tầm, tuyển chọn tác phẩm của các tác giả từ thời Trần đến thời Tiền Lê

2 Tìm hiểu bố cục

Gợi ý:

- Đoạn 1: Lí do làm sách Trích diễm thi tập

- Đoạn 2: Quá trình hoàn thành Trích diễm thi tập

Ngoài ra còn phải kể đến phần Lạc khoản

3 Phân tích mạch lập luận của bài tựa

Gợi ý: Mạch lập luận sáng rõ: Những lí do khiến thơ văn không lưu truyền được à Ý thức gìn giữ, tinh

thần trân trọng di sản văn hoá dân tộc à Công việc biên soạn sách

4 Những phân tích và trình bày lí lẽ được kết hợp với yếu tố biểu cảm làm tăng thêm sức thuyết phục cho những điều tác giả muốn diễn đạt:

- Thái độ đối với thực trạng thất truyền của thơ văn, sách vở: Lòng tha thiết đối với vẻ đẹp của thơ văn; Những câu hỏi đầy day dứt, thể hiện sự xót xa trước thực trạng thơ văn không được lưu truyền và với những mặt trái của đời sống xã hội

- Tinh thần tự trọng, ý thức dân tộc và niềm đau xót được bộc lộ trực tiếp: “Than ôi ! Một nước văn hiến, xây dựng đã mấy trăm năm, chẳng lẽ không có quyển sách nào có thể làm căn bản, mà phải tìm xa xôi

để học thơ văn đời nhà Đường như thế chả đáng thương xót lắm sao !”

5 Những lời lẽ nào thể hiện thái độ nghiêm túc, thận trọng, khiêm tốn trước công việc biên soạn sách?

Gợi ý: “Tôi không tự lượng sức mình… chẳng khác gì hiện nay ta chê trách người xa vậy”

6 Theo tác giả, có những lí do nào khiến thơ văn không lưu truyền hết ở đời?

Gợi ý:

Theo Hoàng Đức Lương, thơ văn không lưu truyền được ở đời vì:

Thứ nhất, chỉ thi nhân mới thấy được cái hay, cái đẹp của thơ ca

Thứ hai, người có học thì ít quan tâm đến thơ ca

Thứ ba, người quan tâm đến thơ ca thì năng lực kém, không đủ kiên trì

Thứ tư, chính sách phát hành của nhà nước còn nhiều hạn chế

Có thể xem đây là các lí do chủ quan

Thơ văn không lưu truyền được ở đời còn vì những lí do khách quan Lí do này được tác giả phân tích

Trang 28

trong đoạn từ “Vì bốn lí do kể trên…” đến “… mà không rách nát tan tành ”, cụ thể là:

- Thời gian làm hư nát sách vở

- Binh lửa chiến tranh tiêu huỷ

7 Động cơ nào thôi thúc tác giả biên soạn Trích diễm thi tập?

Gợi ý:

Tác giả trình bày rõ động cơ biên soạn Trích diễm thi tập:

- Xuất phát từ những bức xúc trong tình hình biên soạn sách về thơ ca Việt Nam ở thời của tác giả (các

lí do khiến thơ văn không được lưu truyền)

- Trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn những giá trị văn hiến dân tộc

8 Tác giả trình bày quá trình biên soạn Trích diễm thi tập như thế nào?

- Sưu tầm, biên soạn sách thơ văn có nhiều khó khăn, tác giả đã có cái nhìn rất thực tiễn, đồng thời thể hiện thái độ thận trọng, khiêm tốn

- Thu lượm, chọn lấy những bài tiêu biểu, phân loại

- Biên soạn thành sáu quyển, ở cuối mỗi quyển có tác phẩm do chính tác giả viết

9 Có thể so sánh bài tựa này với các lời nói đầu trong sách vở ngày nay?

Gợi ý:

Cùng với sự đa dạng, phong phú của sách vở hiện nay, những lời nói đầu cũng có nhiều dạng, nhiều phong cách Nhìn chung, ở các lời nói đầu, giống với tính chất của bài tựa, đều có những nhận định khái quát về giá trị của tác phẩm, cũng như thâu tóm những nội dung chính của cuốn sách Tuy nhiên, chức năng, đặc điểm của lời nói đầu ở những quyển sách sưu tầm, biên soạn gần hơn cả với chức năng, đặc điểm của bài tựa theo kiểu bài tựa của Hoàng Đức Lương: Trình bày kết cấu sách; quan điểm tập hợp, tuyển chọn; tên người viết, nơi viết, thời gian viết,…

THÁI PHÓ TÔ HIẾN THÀNH

(Trích Đại Việt sử lược)

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN

1 Hiện chưa xác định được tác giả của Đại Việt sử lược

2 Sử là tác phẩm viết về các sự kiện lịch sử Mục đích của sử là ghi chép sự thật, nhằm cung cấp những

sự kiện lịch sử của dân tộc và thể hiện quan điểm, thái độ của sử gia đối với các sự kiện, nhân vật lịch sử để đời sau học tập, suy ngẫm Trong văn học trung đạiViệt Nam, các tác sử thuộc loại hình văn học chức năng

hành chính Tác phẩm sử xưa có hai thể: biên niên và kỉ sự Đại Việt sử lược thuộc viết theo lối biên niên

Biên niên là lối viết sử theo trình tự thời gian, khác với kỉ sự là lối viết sử theo các sự kiện hoặc từng sự việc của nhân vật lịch sử

Đại Việt sử lược có kết hợp với lối viết của kỉ sự

Viết sử theo lối biên niên nhưng đồng thời chú ý đến việc khắc hoạ tính cách nhân vật lịch sử, tác giả

Đại Việt sử lược đã tái hiện được chân dung Tô Hiến Thành với một nhân cách đáng kính

Trang 29

3 Năm 1175, Lí Cao Tông huý là Long Cán, con thứ sáu của Lí Anh Tông, mẹ là Vương hậu Đỗ Thuỵ Châu, lên ngôi lúc mới hai tuổi, theo di chúc của vua cha Vương đương ấu thơ, mọi việc lớn nhỏ đều giao cho Thái Phó Tô Hiến Thành Thái hậu có ý phế Long Cán lập Long Sưởng, bèn hối lộ Lã Thị, vợ của Tô Hiến Thành, nhờ tác động để ông thuận theo ý mình, rồi lại trực tiếp gặp Tô Hiến Thành lấy danh lợi phú quý hòng mua chuộc Tô Hiến Thành một lòng trung thành với cố thác của Tiên Vương, phò ấu chúa, nhất định không nghe theo Thái hậu bất chấp pháp luật, triệu Bảo Quốc Vương Long Sưởng vào để tự lập làm vua nhưng Tô Hiến Thành đã cùng với triều thần kiên quyết dùng pháp luật để Thái hậu không thực hiện được mưu đồ

Khi Tô Hiến Thành ngã bệnh, chỉ có Tham tri chính sự Vũ Tán Đường ngày đêm hầu hạ bên cạnh; quan Gián nghị đại phu Trần Trung Tá bận bịu nhiều việc, không lúc nào rảnh rang để đến thăm Lúc bệnh của Hiến Thành đã nguy kịch, Thái hậu đến thăm và hỏi rằng khi ông mất, ai sẽ thay chức Tể tướng Hiến Thành không vì tình riêng, tiến cử Trần Trung Tá vì đó mới là “ngay thần” Thái hậu tuy khen Hiến Thành nhưng không nghe lời ông mà lấy Đỗ An Thuận coi việc triều chính

II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG

1 Tìm hiểu xuất xứ

Bài Thái phó Tô Hiến Thành được trích từ tác phẩm lịch sử Đại Việt sử lược của một sử gia sống vào

khoảng nửa cuối thế kỉ XIV Ở Việt Nam, tác phẩm này đã thất truyền từ lâu Tác phẩm được in lần đầu tiên

ở Trung Hoa, thời Càn Long thế kỉ XVIII do Tuần phủ Sơn Đông dâng lên và Tiền Hi Tộ hiệu đính

2 Tìm hiểu nghĩa của các từ ngữ: lời cố thác, tuổi đã xế chiều, phụng mệnh,…

Gợi ý:

- lời cố thác: lời dặn dò, gửi gắm của nhà vua trước khi mất

- tuổi đã xế chiều: tuổi đã cao, ý nói đã đến tuổi sắp chết

- Cuộc đối thoại giữa Thái hậu và Tô Hiến Thành:

+ Khi Thái hậu hỏi “Nếu có mệnh hệ nào, ai thay ông?”, từ chuyện đã kể ở trước, theo lôgic thông thường, ai cũng nghĩ rằng Hiến Thành sẽ tiến cử Vũ Tán Đường Nhưng bất ngờ Hiến Thành lại trả lời “chỉ

có Trung Tá mà thôi”

+ Kịch tính lên đến cao điểm: Khi Thái hậu nhắc đến ân tình của Tán Đường đối với Hiến Thành, ai cũng nghĩ rằng hoặc là Hiến Thành sẽ thuận theo Thái hậu, hoặc là giải thích rằng Tán Đường không đủ khả năng để làm Tể tướng,… Nhưng bất ngờ Hiến Thành đáp: “Thái hậu hỏi người thay thần, nên thần nói tới Trung Tá; nếu hỏi người hầu hạ phụng dưỡng thần thì phi Tán Đường còn ai nữa?”

Trang 30

Ở thời điểm kịch tính lên cao này, từ câu trả lời của Hiến Thành, bật ra ý nghĩa mỉa mai trước nghịch lí: Chọn người thay chức Tể tướng kiêm Thái phó hay chọn người hầu hạ, phụng dưỡng Tể tướng kiêm Thái phó?

Người viết đã chọn lựa đưa ra một cảnh huống có thật nhưng trái với suy đoán thông thường của người đời để khắc hoạ nổi bật tính cách nhân vật và ngụ ý những điều sâu xa về thời thế, nhân sinh

4 Nhận xét về cách viết sử của tác giả Đại Việt sử lược

Gợi ý:

- Viết theo lối biên niên, tác giả vừa đảm bảo tôn trọng tính chân thực của sự kiện, nhân vật, vừa tuân thủ trình tự diễn biến thời gian Viết sử biên niên tóm lược, tập trung vào việc khắc hoạ nhân vật Tô Hiến Thành, tác giả đã chọn hai thời điểm (1175 và 1179) cách nhau bốn năm, một mặt vẫn đảm bảo trình tự tr-ước sau, mặt khác đó là những thời điểm diễn ra những sự kiện mà qua đó chân dung tinh thần nhân vật bộc

- Thái hậu Đỗ Thuỵ Châu muốn phế Long Cán, lập Long Sưởng – anh của Long Cán, lên ngôi

- Long Cán và Long Sưởng đều là con đẻ của Thái hậu Thuỵ Châu Long Sưởng trước đây đã từng được lập làm Thái tử, nhưng do mắc lỗi nên bị giáng xuống làm Bảo Quốc Vương

6 Phân tích hành vi của thái hậu trong việc ép Tô Hiến Thành phế Lí Long Cán

Gợi ý:

- Thái hậu tiến hành từng bước lôi kéo Thái phó Tô Hiến Thành – người phù Long Cán và có vai trò rất lớn trong triều đình

+ Thái hậu hối lộ vợ Hiến Thành

+ Đánh vào tâm lí người nhiều tuổi, Thái hậu trực tiếp mua chuộc Tô Hiến Thành bằng việc đưa ra mồi danh vọng, phú quý

+ Thái hậu bất chấp pháp luật, triệu Bảo Quốc Vương Long Sưởng vào để tự lập làm vua

- Như vậy, mặc dù hành động từng bước, từ tính toán xảo quyệt cho đến liều lĩnh, nhưng Thái hậu vẫn không đạt được âm mưu của mình

7 Đánh giá về nhân vật Tô Hiến Thành

Gợi ý:

- Tô Hiến Thành trước mưu đồ phế lập của Thái hậu:

Tô Hiến Thành đã từng bước đánh bại âm mưu phế lập của Thái hậu Khi Thái hậu mua chuộc vợ ông,

Trang 31

Hiến Thành đã dùng đạo lí làm người, nhấn mạnh đến vai trò Tể tướng của mình và viện cả đến tín ngưỡng

để thuyết phục vợ (“…ta biết lấy lời nào để trả lời Tiên Vương ở suối vàng?”) Khi Thái hậu trực tiếp dùng mồi danh vọng, phú quý để dụ Hiến Thành, ông đã dùng lời lẽ của Khổng Tử về cách làm người (“Bất nghĩa

mà được phú và quý, đó không phải là điều người trung thần nghĩa sĩ vui làm.”) và cách đối xử với người quá cố trong văn hoá ứng xử truyền thống (lời di chúc của Tiên Vương còn ở bên tai) để từ chối Thái hậu Trước sự liều lĩnh, bất chấp của Thái hậu, Hiến Thành kiên quyết dùng luật pháp để giữ vững kỉ cương, không cho Thái hậu thực hiện mưu đồ tự phế lập

- Tô Hiến Thành với việc chọn người thay thế mình:

Chức Tể tướng và chức Thái uý là những trọng trách lớn nhất trong triều đình Việc chọn người thay thế các vị trí ấy là rất hệ trọng Nếu như ở sự kiện trước, Tô Hiến Thành đã chứng tỏ đức chính trực, cương trung, “Phú quý bất năng dâm, uy vũ bất năng khuất ” thì ở sự kiện chọn người thay thế mình ta càng thấy được sự sáng suốt, tinh thần trách nhiệm vì đất nước của ông

Lựa chọn của Tô Hiến Thành không hề theo suy đoán thông thường Về lí, chức Tham tri chính sự của

Vũ Tán Đường to hơn chức Gián nghị đại phu của Trần Trung Tá Về tình, Vũ Tán Đường luôn gần gũi, phụng dưỡng Hiến Thành; trong khi, vì bận bịu, khi Hiến Thành ốm, Trần Trung Tá không lúc nào đến thăm được Những điều này cho thấy, hành xử của Hiến Thành một mực chỉ vì xã tắc, tuyệt đối vô tư, xuất phát từ tâm huyết của người có trách nhiệm đối với đất nước; đồng thời cũng chứng tỏ ông có cái nhìn tỉnh táo, sáng suốt ngay cả khi bệnh tình đã rất nguy kịch

- Tô Hiến Thành vừa phải chịu áp lực lớn từ phía Thái hậu, vừa phải chịu áp lực từ chính chức trách Thái phó của mình Trong triều, vua là trên hết; nhưng trong gia đình, Thái hậu lại là mẹ vua, mà con phải vâng lời cha mẹ là đạo lí ở thời điểm câu chuyện diễn ra, vua còn quá nhỏ, Thái hậu nắm mọi quyền hành như vậy, vai trò và trách nhiệm của Tô Hiến Thành càng trở nên nặng nề Vậy mà, như đã thấy, ông đã không chịu khuất phục trước quyền uy, cám dỗ, nhất mực trung thành với sự nghiệp chung, trung trinh, liêm khiết, một lòng vì đất nước mà hành xử mà không chịu lệ thuộc vào bất cứ điều gì Tô Hiến Thành quả là tấm gương sáng trong lịch sử, để người sau soi mình

LUYỆN TẬP VẬN DỤNG

CÁC HÌNH THỨC KẾT CẤU VĂN BẢN THUYẾT MINH

1 Phân tích hình thức kết cấu của văn bản Chu Văn An – nhà sư phạm mẫu mực:

- Đối tượng thuyết minh của bài văn là gì?

- Bài văn được kết cấu như thế nào?

- Hình thức kết cấu của bài văn có phù hợp với đối tượng không?

Gợi ý:

- Đối tượng thuyết minh: Nhân vật lịch sử – Chu Văn An

- Hình thức kết cấu: Bài văn có bố cục 3 phần Phần 1 (từ Chu Văn An tên tự là… đến …Canh Tuất (1370)) giới thiệu tên tuổi, quê quán của Chu Văn An Phần 2 (từ Chu Văn An từ hồi còn trẻ… cho đến Sau ông mất tại đó) giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp của Chu Văn An Phần 3 (từ Theo thư tịch cũ… cho đến

hết) giới thiệu về ảnh hưởng, vị trí lịch sử của Chu Văn An sau khi chết

Trang 32

- Kết cấu của văn bản được sắp xếp theo trình tự thời gian Đây cũng là hình thức kết cấu điển hình cho bài văn thuyết minh về một nhân vật lịch sử (hay nhà chính trị, nhà văn hoá, nhà văn,…)

2 Phân tích hình thức kết cấu của văn bản Ra-ma-ya-na:

- Đối tượng thuyết minh của bài văn là gì?

- Bài văn được kết cấu như thế nào?

Gợi ý:

- Đối tượng thuyết minh: Tác phẩm văn học – sử thi Ấn Độ Ra-ma-ya-na

- Hình thức kết cấu: Văn bản có bố cục 3 phần Phần 1 (từ đầu cho đến …gây xúc động cho người đọc) giới thiệu về lai lịch, quy mô của tác phẩm Phần 2 (từ Truyện kể rằng… cho đến …là Vi-snu – Thần Bảo vệ của vũ trụ) giới thiệu tóm tắt nội dung truyện Phần 3 (phần còn lại) giới thiệu về giá trị và sức ảnh hưởng

của tác phẩm Bài văn này được kết cấu theo trình tự thời gian và trình tự lô gích

3 Khi thuyết minh về một tác gia văn học, có thể tổ chức bài văn theo hình thức kết cấu nào?

Gợi ý: Có thể tổ chức bài văn theo bố cục 3 phần với hình thức kết cấu sau:

- Mở bài: Giới thiệu tác gia văn học và nêu nhận định chung về vị trí, thành tựu văn học của tác gia đó

- Thân bài:

+ Giới thiệu sơ lược về tiểu sử (năm sinh, quê quán, gia đình, những dấu mốc nổi bật trong cuộc đời,…);

+ Giới thiệu sự nghiệp sáng tác (các tác phẩm chính, đánh giá khái quát,…);

+ Giới thiệu vị trí, ảnh hưởng, những đóng góp chủ yếu của tác gia đối với văn hoá, văn học dân tộc

- Kết bài: Khẳng định về đóng góp, vị trí của tác gia trong lịch sử văn học

4 Khi thuyết minh về một tác phẩm văn học, có thể tổ chức bài văn theo hình thức kết cấu như thế nào?

Gợi ý:

Có thể tổ chức bài văn thuyết minh về một tác phẩm văn học theo hình thức kết cấu như sau:

- Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác phẩm (nhan đề, tên tác giả, xuất xứ,…)

- Thân bài:

+ Giới thiệu về vị trí của tác phẩm trong sự nghiệp văn học của nhà văn (nhà thơ);

+ Giới thiệu những nét nổi bật về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm;

- Kết bài: Đánh giá chung về giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

Trang 33

1 Ngô Sĩ Liên người làng Chúc Lí huyện Chương Đức, nay là Chương Mĩ, tỉnh Hà Tây; ông đỗ tiến sĩ năm 1442, hiện chưa rõ năm sinh và năm mất Ngô Sĩ Liên giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành bộ

Đại Việt sử kí toàn thư cả về phương pháp biên soạn và nội dung tác phẩm

2 Có người hặc tội Trần Thủ Độ quyền hơn cả vua Trước mặt vua, Trần Thủ Độ xác nhận người hặc tội nói đúng và còn ban thưởng

Có người quân hiệu ngăn kiệu Linh Từ Quốc Mẫu, vợ Thủ Độ, không cho đi qua thềm cấm Trần Thủ

Độ khen người lính đó là biết giữ nghiêm phép tắc và ban thưởng cho

Quốc Mẫu, vợ Thủ Độ xin riêng cho một người làm chức quan nhỏ Ông ra điều kiện người đó phải chặt ngón chân để phân biệt với các quan khác Người kia kêu van xin thôi Từ đấy không ai dám đến nhờ cậy, xin xỏ chức tước nữa

Thái Tông muốn phong cho An Quốc – anh của Thủ Độ làm tướng Thủ Độ phản đối việc anh em trong gia đình cùng làm tướng, vì cho rằng như thế sẽ dễ kết bè đảng, bất lợi cho triều đình

3 Kết hợp giữa biên niên với tự sự, bằng những tình huống bất ngờ, giàu kịch tính, những tình tiết ngắn gọn, cô đúc, sử gia đã khắc hoạ nổi bật chân dung nhân cách chính trực, chí công vô tư của Trần Thủ Độ

quyển, tổng là 20 quyển

Bài Thái sư Trần Thủ Độ được trích từ quyển V, phần Bản kỉ

2 Tìm hiểu bố cục đoạn trích

Gợi ý:

- Đoạn 1 (từ đầu đoạn trích đến …phải nhờ cậy, quyền hơn cả vua.): Thông báo sự kiện Trần Thủ Độ

chết và giới thiệu khái quát về nhân vật này

- Đoạn 2 (từ Bấy giờ có người hặc… đến Vua bèn thôi.): Thuật lại bốn sự kiện lịch sử xảy ra trong cuộc

đời hoạt động chính trị – xã hội của Trần Thủ Độ

- Đoạn 3 (từ Thủ Độ tuy làm Tể tướng… đến hết): Khẳng định phẩm chất và vai trò lịch sử của Trần

Thủ Độ

3 Giải thích nghĩa của các từ chủ chốt, biểu hiện nội dung bài sử và thái độ đánh giá của sử gia đối với

sự kiện và nhân vật lịch sử: người hặc, người hiền, quốc mẫu, công chúa, sinh từ,…

Gợi ý:

- người hặc: người vạch hỏi về lỗi lầm hoặc tội trạng của vị quan nào đó trong triều đình

Trang 34

- người hiền: người có đức hạnh và tài năng hơn người

- quốc mẫu, công chúa: Năm 1226, sau khi Lí Huệ Tông bị bức tử, hoàng hậu bị giáng xuống làm công

chúa và gả cho Trần Thủ Độ Thái Tông Trần Cảnh thấy bà vốn là hoàng hậu cũ của Huệ Tông, đồng thời là

mẹ vợ mình nên phong cho bà làm Linh Từ Quốc Mẫu (gọi tắt là Quốc Mẫu) Trong bài trích, các danh xưng Quốc Mẫu, Linh từ Quốc Mẫu, Công chúa đều chỉ một người: vợ của Trần Thủ Độ Không phải ngẫu nhiên mà sử gia sử dụng những cách gọi nhân vật với những tên khác nhau Khi gọi là Linh Từ Quốc Mẫu hoặc Quốc Mẫu là với thái độ tôn trọng, phù hợp với chức phận của bà Công chúa là cách gọi của Trần Thủ

Độ thể hiện thái độ khiêm nhường, đúng với danh phận của vợ mình

- sinh từ: đền thờ người còn sống; thời xưa, ai có công lao, đức hạnh lớn, giúp dân cứu đời, mặc dù

đang còn sống vẫn được lập đền thờ

4 Nhận xét về lối viết sử của tác giả

Gợi ý:

- Tính bất ngờ: Cả bốn sự kiện được kể, ở sự kiện nào diễn biến kết cục cũng đều bất ngờ, nằm ngoài

dự đoán của người đọc (đối xử với người hặc tội mình; đối xử với người chặn kiệu vợ mình; răn đe người xin chức câu đương; lập luận phản đối việc cử anh trai làm tướng)

- Kịch tính cao nhưng lại kiệm lời: Tác giả đưa người đọc vào tình huống có vấn đề, để người đọc suy đoán, rồi bất ngờ mở nút theo kiểu “gói kĩ, mở nhanh”

Những diễn biến bất ngờ, cách tái hiện sự việc giàu kịch tính, ngắn gọn ấy đều hướng tới mục đích khắc hoạ chân dung nhân cách nhân vật Trần Thủ Độ Mặc dù viết theo lối biên niên, nhưng khi cần khắc hoạ chân dung tính cách nhân vật, sử gia cũng đã chọn lọc những chi tiết hết sức tiêu biểu, cô đúc để tô đậm

Sử gia tỏ ra khâm phục, ngợi ca tài đức của Trần Thủ Độ Tuy nhiên, thái độ ấy được bộc lộ kín đáo, chủ yếu qua sự việc và cách trình bày sự việc

5 Chỉ ra nội dung thông báo trong phần từ Giáp Tí… đến …Trung Vũ đại vương

Gợi ý:

- Thái sư Trần Thủ Độ chết;

- Sau khi chết được truy tặng

Thông báo sự kiện Trần Thủ Độ chết, sử gia kèm theo thông báo về thời gian cụ thể (Giáp Tí, năm thứ 7; Mùa xuân, tháng giêng) Đây cũng là yêu cầu đối với một tác phẩm lịch sử

6 Nhân cách Trần Thủ Độ được bộc lộ qua các sự kiện nào?

Gợi ý:

(1) Có người hặc tội Trần Thủ Độ quyền hơn cả vua Trước mặt vua, Trần Thủ Độ xác nhận người hặc tội nói đúng và còn ban thưởng Sự kiện này chứng tỏ Thủ Độ là người thẳng thắn, nghiêm khắc với bản thân; trọng người trung trực, can đảm, dám vạch tội lỗi hoặc sai lầm của người khác, nhất lại là đối với người bề trên, có quyền lực

(2) Có người quân hiệu ngăn kiệu Linh Từ Quốc Mẫu, vợ Thủ Độ, không cho đi qua thềm cấm Trần Thủ Độ khen người lính đó là biết giữ nghiêm phép tắc và ban thưởng cho Sự kiện này cho thấy Thủ Độ là người chí công vô tư, trọng phép tắc, khích lệ những người giữ nghiêm phép tắc, không kể thân sơ

Trang 35

(3) Quốc Mẫu, vợ Thủ Độ xin riêng cho một người làm chức quan nhỏ Ông ra điều kiện người đó phải chặt ngón chân để phân biệt với các quan khác Người kia kêu van xin thôi Từ đấy không ai dám đến nhờ cậy, xin xỏ chức tước nữa Sự kiện này chứng tỏ Thủ Độ là người khéo léo, tế nhị trong xử sự (vừa không làm mất lòng vợ, vừa răn đe được những kẻ xin xỏ chức tước và những kẻ cậy quyền thế ban phát chức t-ước)

(4) Thái Tông muốn cho anh Thủ Độ làm tướng Thủ Độ phản đối việc anh em trong gia đình cùng làm tướng, vì cho rằng như thế sẽ dễ kết bè đảng, bất lợi cho triều đình Sự kiện này cho thấy Trần Thủ Độ là người có tầm nhìn, lo lắng cho sự ổn định của triều đình, không đồng tình với tư tưởng gia đình trị

sử gia Việt Nam đề cao

Tô Hiến Thành và Trần Thủ Độ sống cách nhau khoảng một trăm năm, trong những bối cảnh lịch sử không giống nhau Nhưng cả hai nhân vật lịch sử này đều được khắc hoạ với nhân cách lớn, luôn đặt sự nghiệp của đất nước lên trên hết, chí công vô tư, trung trực, không nao núng trước cám dỗ danh lợi,…

HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN

(Trích Đại Việt sử kí toàn thư)

NGÔ SĨ LIÊN

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN

1 Về tác giả, xem bài Thái sư Trần Thủ Độ

2 Vua hỏi Hưng Đạo Đại Vương về kế sách giữ nước; Hưng Đạo Đại Vương nhấn mạnh “trên dưới một dạ, lòng dân không lìa”, “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách”

Mặc dù cha muốn Quốc Tuấn lấy được thiên hạ nhưng đến khi vận nước ở trong tay, quyền quân quyền nước đều do ở mình, ông kính cẩn giữ tiết làm tôi, cảm phục trước Dã Tượng, Yết Kiêu khi hai người can nên trung hiếu, hài lòng khi con ông là Hưng Vũ Vương cho rằng không nên tranh giành, nổi giận định trừng trị khi người con thứ Hưng Nhượng Vương Quốc Tảng khuyên “thừa cơ dấy vận” hòng chiếm lấy thiên hạ; được phong là Thượng quốc công có quyền phong tước song chưa bao giờ phong tước cho một người nào Khi sắp mất, Quốc Tuấn dặn lại con sau khi ông qua đời phải hoả táng, bí mật chôn trong vườn

để người đời không biết ở chỗ nào, lại làm sao cho mau mục

Quốc Tuấn tiến cử người tài giỏi cho đất nước

Quốc Tuấn có tài mưu lược, anh hùng, lại một lòng giữ gìn trung nghĩa, danh tiếng vang dội; đến nay mỗi khi đất nước có giặc, đến lễ ở đền ông, hễ tráp đựng kiếm có tiếng kêu thì thế nào cũng thắng lớn

Quốc Tuấn soạn sách Binh gia diệu lí yếu lược, Vạn Kiếp tông bí truyền thư

Trang 36

3 Với nghệ thuật lựa chọn sự kiện, tình tiết đặc sắc, kết hợp giữa lối viết sử biên niên và tái hiện chân dung nhân cách nhân vật lịch sử, đoạn trích khắc hoạ đậm nét hình ảnh Trần Quốc Tuấn, một nhân cách vĩ đại, bất tử trong lòng dân tộc

Có thể chia đoạn trích thành bốn đoạn nhỏ:

- Đoạn một (từ đầu cho đến …đó là thượng sách giữ nước vậy.): Quốc Tuấn trả lời vua về kế sách giữ

- Đoạn bốn (phần còn lại): Quốc Tuấn tiến cử người tài giỏi giúp nước và uy lực của ông sau khi chết

3 Nghệ thuật kết hợp giữa lối viết sử biên niên, ghi chép các sự việc theo diễn tiến thời gian với việc dựng chân dung nhân cách nhân vật lịch sử bằng những sự kiện, chi tiết, việc làm, lời nói cụ thể Tác giả

đưa ra hai mốc thời gian: Tháng 6, ngày 24, sao sa – thời điểm Quốc Tuấn ốm và Mùa thu, tháng 8, ngày

20 – ngày Quốc Tuấn mất Tuy nhiên, các sự kiện, chi tiết, việc làm hay lời nói của nhân vật lại được tái

hiện không theo trình tự thời gian mà xuất hiện linh hoạt, tuỳ theo dụng ý khắc hoạ chân dung nhân cách nhân vật lịch sử của sử gia

4 Nhận xét về nghệ thuật lựa chọn chi tiết, sự việc

Gợi ý: Sử gia đã rất khéo léo khi lựa chọn chi tiết, sự việc để làm nổi bật đặc điểm nhân cách của nhân

vật

Ví dụ:

- Để chứng tỏ Quốc Tuấn là một người mưu lược, tinh thông thời thế, có tư tưởng đúng đắn, sáng suốt,

sử gia đã tái hiện kĩ lưỡng lời nói của ông khi trả lời vua về kế sách giữ nước

- Để chứng tỏ Quốc Tuấn một lòng trung nghĩa, sử gia thuật lại lời căn dặn của An Sinh Vương và việc Quốc Tuấn đem lời cha dặn ra hỏi ý kiến hai người gia nô cùng hai người con và nhất là miêu tả những phản ứng của ông khi nghe câu trả lời của họ; trong đó đặc biệt là thái độ, hành động, lời nói của ông trước câu

trả lời của con thứ Hưng Nhượng Vương Quốc Tảng (Quốc Tuấn rút gươm kể tội…; Định giết Quốc Tảng,…)

- Để nhấn mạnh lòng cảm phục và ngưỡng mộ của nhân dân sâu sắc đến mức thần thánh hoá Hưng Đạo Vương, sử gia đã đưa vào chi tiết về lòng tin của dân chúng vào sự hiển linh của ông, nhất là chi tiết “tráp

Trang 37

đựng kiếm có tiếng kêu”

- Quốc Tuấn giữ Lạng Giang, người Nguyên hai lần vào cướp, ông liên tiếp đánh bại chúng

- Quốc Tuấn được Thánh Tông cho phép được phong quyền phong tước cho người khác, từ Minh tự trở xuống, chỉ có tước Hầu thì phong trước rồi râu sau; nhưng ông chưa bao giờ phong tước cho một người nào

- Ngày 24, tháng 6, năm 1300, Hưng Đạo Đại Vương ốm, vua ngự tới thăm và hỏi về kế sách giữ nước

- Ngày 20, tháng 8, năm 1300, Hưng Đạo Đại Vương mất ở phủ đệ Vạn Kiếp, được tặng Thái sư Thượng phụ Thượng quốc công Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương

6 Bình luận về nhân cách Hưng Đạo Đại Vương được thể hiện trong đoạn trích

Gợi ý:

Đoạn trích ngợi ca công đức và nhân cách của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn: hai lần tham gia đánh bại quân Nguyên - Mông; có kế sách giữ nước “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”; kính cẩn giữ tiết làm tôi trung, không tranh giành quyền lực, không lạm dụng quyền bính; khéo léo tiến cử người tài giỏi cho đất nước; có tài mưu lược, anh hùng, lại một lòng giữ gìn trung nghĩa,… Đặt nhân vật trong các mối quan hệ với vua, với nước, với cha, với con, với bề dưới,… sử gia khẳng định lòng cảm phục và ngưỡng mộ

đối với Hưng Đạo Vương với đủ các đức nhân, trí, nghĩa, dũng

Đoạn trích phản ánh được thái độ của nhân dân với anh hùng dân tộc, cho thấy tư tưởng và khí phách của Hưng Đạo Vương đã trở thành bất tử trong lòng người

LUYỆN TẬP ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC

1 Luyện tập đọc – hiểu nghĩa của từ và ý nghĩa của câu, đoạn trong văn bản văn học

a) Hai câu thơ dưới đây mang ý nghĩa gì? Hãy giải thích tại sao lại hiểu như vậy

Công danh nam tử còn vương nợ, Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu

(Tỏ lòng) Gợi ý:

Hai câu thơ này thể hiện chí khí của vị tướng muốn noi gương Vũ Hầu Không thể hiểu đây là nỗi hổ thẹn của Phạm Ngũ Lão khi nghe chuyện Vũ Hầu; bởi vì không có liên hệ nào để hiểu Phạm Ngũ Lão có điều gì đó phải hổ thẹn khi “nghe chuyện Vũ Hầu” Không thể hiểu hai câu thơ này hàm chứa giả thiết rằng nếu chưa xong nợ công danh thì sẽ thẹn với Vũ Hầu; bởi vì từ ý nghĩa của từ, câu, đoạn,… không thể hiện

Trang 38

một giả thiết nào

b) Ý nghĩa của đoạn trích sau là gì?

Gươm mài đá, đá núi cũng mòn, Voi uống nước, nước sông phải cạn

Đánh một trận sạch không kình ngạc, Đánh hai trận tan tác chim muông

Nổi gió to trút sạch lá khô, Thông tổ kiến phá toang đê vỡ

(Đại cáo bình Ngô) Gợi ý:

Đoạn trích thể hiện uy lực phi thường của nghĩa quân Lam Sơn Các ý quân đông, voi nhiều, đánh nhanh, đánh mạnh hay sự sụp đổ không thể cứu vãn được của quân Minh là những biểu hiện, chứng tỏ uy lực ấy

c) Hiểu thế nào là “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời) của thơ văn?

Gợi ý: Từ việc tìm hiểu nghĩa của ví dụ trên, có thể thấy ý chính của thơ văn nhiều khi không chỉ thể

hiện ở bề mặt con chữ, từ ngữ mà còn là nghĩa ở ngoài lời, ở khoảng trống giữa các từ, các câu

2 Luyện tập đọc – hiểu mạch ý của đoạn văn

a) Chỉ ra các ý và liên hệ giữa các ý trong đoạn văn sau:

“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp Vì vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên”

(Hiền tài là nguyên khí của quốc gia) Gợi ý:

Đoạn văn này gồm hai ý, trong hai câu nối tiếp nhau, liên hệ với nhau Ý thứ nhất được thể hiện trong

câu đầu: hiền tài là nguyên khí quốc gia Trong câu tiếp theo, ý thứ hai là hệ quả của ý được khẳng định

trong câu trước: Nhận thức được tầm quan trọng của hiền tài với thịnh suy của đất nước, nên các thánh đế minh vương đều phải ra sức vun trồng hiền tài

b) Trong bài Tựa “Trích diễm thi tập” (Hoàng Đức Lương) có những đoạn văn nào? Ý chính của từng

đoạn là gì? Các ý đó liên hệ với nhau như thế nào?

Gợi ý:

- Bài văn này có hai phần: phần một nêu các lí do khiến cho thơ văn không lưu truyền hết ở đời; phần hai nêu động cơ và quá trình biên soạn sách

- Phần một gồm các đoạn:

+ Chỉ thi nhân mới thấy được cái hay, cái đẹp của thơ ca

+ Người có học thì ít quan tâm đến thơ ca

Trang 39

+ Người quan tâm đến thơ ca thì năng lực kém, không đủ kiên trì

+ Chính sách phát hành của nhà nước còn nhiều hạn chế

+ Thời gian, binh lửa làm hư nát, tiêu huỷ sách vở

Liên hệ giữa các đoạn văn thể hiện liên hệ giữa các lí do: từ những lí do chủ quan đến những lí do khách quan

- Phần hai gồm hai đoạn:

+ Những bức xúc trong tình hình biên soạn sách về thơ ca Việt Nam ở thời của tác giả và trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn những giá trị văn hiến dân tộc

+ Quan điểm và cách thức biên soạn

- Quan hệ giữa hai phần trong bài Tựa “Trích diễm thi tập” là mối quan hệ giữa thực trạng và giải pháp

c) Hai bài Thái phó Tô Hiến Thành và Thái sư Trần Thủ Độ đều nêu ngày tháng nhân vật mất trước, rồi sau đó kể lại một số sự kiện lúc họ sống Đây là cách bố cục theo bút pháp “cái quan định luận”

3 Luyện tập cảm nhận hình tượng văn học

a) Trong truyện Chử Đồng Tử có những tình tiết nào hay và độc đáo?

Gợi ý:

Có thể kể ra các tình tiết như: hai cha con chỉ có một cái khố (tình cảnh khốn cùng); cuộc kì ngộ của Đồng Tử và Tiên Dung; Tiên Dung quyết định kết duyên và ở lại sống cùng Chử Đồng Tử; Đồng Tử được Phật Quang cho một cây gậy và chiếc nón có phép lạ, nhờ đó họ có được một cung điện lộng lẫy, với cả binh lính,…

b) Dựa vào những tình tiết tiêu biểu, hãy mô tả lại hình tượng người ở ẩn trong bài Nhàn của Nguyễn

Bỉnh Khiêm

Gợi ý:

Nổi bật trong bài thơ là hình ảnh người trí sĩ ẩn cư nhàn dật Nhân vật trữ tình này xuất hiện trong lời thơ với những chi tiết về cách sống, cách sinh hoạt và quan niệm sống: tự cuốc đất trồng cây, đào củ, câu cá; chọn nơi vắng vẻ, không thích nơi ồn ã; ăn uống, tắm táp thoải mái, tự nhiên; coi phú quý tựa giấc mộng

4 Luyện tập khái quát tư tưởng, quan điểm của tác phẩm và đoạn trích

a) Phát biểu khái quát tư tưởng bài Tựa “Trích diễm thi tập” của Hoàng Đức Lương

Gợi ý: Trong bài Tựa “Trích diễm thi tập”, tấm lòng yêu nước của tác giả được thể hiện qua tinh thần

trách nhiệm, ý thức trân trọng, giữ gìn di sản văn hoá dân tộc

b) Động cơ nào khiến tác giả không ngại “vụng về” soạn ra Trích diễm thi tập?

Gợi ý:

Hiểu rõ bốn nguyên nhân làm cho sách vở nước ta thất truyền, xót xa trước nguy cơ sáng tác thi ca bị

mai một, tác giả Hoàng Đức Lương đã không ngại “vụng về” soạn ra Trích diễm thi tập

5 Quá trình đọc – hiểu văn bản văn học có những bước nào? Ở mỗi bước ấy, phải đảm bảo những yêu cầu gì?

Trang 40

Gợi ý:

- Đọc – hiểu ngôn từ:

+ Đọc thông suốt toàn văn bản, hiểu được các từ khó, từ lạ, các điển cố, phép tu từ,…

+ Hiểu được cách diễn đạt, nắm bắt mạch văn xuyên suốt từ câu trước đến câu sau, từ ý này chuyển sang ý khác,…

- Đọc – hiểu hình tượng nghệ thuật:

+ Tưởng tượng, “cụ thể hoá” các tình cảnh để hiểu những điều mà ngôn từ chỉ có thể biểu đạt khái quát; + Phát hiện các mâu thuẫn tiềm ẩn trong hình tượng và tìm hiểu lô gích bên trong của chúng

- Đọc – hiểu tư tưởng, tình cảm của tác giả trong văn bản: Đọc cho ra cái linh hồn của nhà văn ẩn chứa

trong văn bản – cái thường được thể hiện ở giữa lời, ngoài lời,…

- Đọc – hiểu và thưởng thức văn học: Người đọc tự phát hiện, tự khẳng định về thế giới nghệ thuật của

tác phẩm; vừa rung động với sự biểu hiện tài nghệ của tác giả vừa giữ lại ấn tượng sâu đậm của mình đối với các chi tiết đặc sắc của tác phẩm

6 Tưởng tượng, liên tưởng có tác dụng như thế nào đối với việc đọc – hiểu văn bản văn học?

Gợi ý: Trong sáng tạo văn bản nghệ thuật, tác giả sử dụng liên tưởng, tưởng tượng để tạo ra hình tượng

hàm chứa những nội dung ý nghĩa sâu sắc thông qua so sánh, ẩn dụ, hoán dụ,… Đến lượt người đọc, nhờ liên tưởng, tưởng tượng mà tái tạo, thâm nhập, cắt nghĩa, lí giải,… nghĩa là làm sống lại thế giới hình tượng

đã được nhà văn mã hoá và thưởng thức nó bằng chính vốn sống, sở trường của mình

TRẢ BÀI VIẾT SỐ 5

I CHUẨN BỊ Ở NHÀ

1 Chép lại đề bài đã làm trên lớp

2 Đọc kĩ lại đề bài và tự kiểm tra lại yêu cầu của đề bài:

- Đề bài yêu cầu viết kiểu văn bản nào? Viết về đề tài gì? Mục đích của bài văn là gì?

- Để thực hiện yêu cầu của đề bài, cần có những tri thức gì về đề tài và về phương thức biểu đạt?

- Nhớ lại bài làm của mình và tự đánh giá kết quả dựa theo yêu cầu về kiến thức văn bản và kĩ năng tạo lập văn bản

II CÔNG VIỆC TRÊN LỚP

1 Chú ý lắng nghe và ghi chép lại những nhận xét, đánh giá của thầy, cô giáo về kết quả viết bài chung của cả lớp

2 Chú ý tham khảo những bài viết được đánh giá tốt; tham gia chữa lỗi, kiểm tra lại bài viết theo yêu cầu của thầy, cô giáo

3 Tự kiểm tra lại bài viết của mình theo gợi ý sau:

- Đọc kĩ lại lời phê của thầy, cô giáo; chú ý những phần nhận xét cụ thể hoặc những điểm được đánh dấu, lưu ý sửa chữa

Ngày đăng: 13/07/2015, 10:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w