1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc trưng tiểu thuyết thế sự Ma Văn Kháng

112 668 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Trưng Tiểu Thuyết Thế Sự Của Ma Văn Kháng
Tác giả Trần Thị Phi Nga
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Xuân
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài về : Đặc trưng tiểu thuyết thế sự Ma Văn Kháng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Người Hướng Dẫn Khoa Học:

PGS.TS NGUYỄN THỊ THANH XUÂN

Thành phố Hồ Chí Minh – 2008

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, cho tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy PGS.TS

hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin gởi lời cảm ơn đến các quí Thầy Cô trong Hội đồng chấm luận văn đã dành thời gian đọc và đóng góp ý kiến giúp cho bài luận văn được hoàn chỉnh hơn

Cho tôi gởi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu Trường Đại học Sư Phạm TP.Hồ Chí Minh Quí thầy cô đã tham gia giảng dạy tôi trong suốt khóa học qua

Cuối cùng tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ tận tình cũng như những lời động viên của Ban giám hiệu và đồng nghiệp đã dành cho tôi trong suốt thời gian tôi tham gia khóa học này

Trong quá trình viết luận văn này, khó tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của bạn đọc

Tôi xin chân thành cảm ơn

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2008

Trần Thị Phi Nga

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 - Lí do chọn đề tài:

Vào những năm 60, Ma Văn Kháng, một bút danh lạ, đã gây cho người đọc sự chú ý đặc biệt Trong số các nhà văn hiện đại Việt Nam, ông là người có thời gian gắn bó với miền đất vùng biên ải khá dài (22 năm (1954 - 1976) ông sống và làm việc ở vùng miền núi Lào Cai - mảnh đất mà ông xem như quê hương thứ hai của mình) Văn nghiệp của ông chủ yếu tập trung vào hai mảng đề tài chính là: cuộc sống của người dân vùng biên ải phía Bắc và cuộc sống

thành thị đầy rẫy sự phức tạp của miền xuôi sau những năm 1975 Từ tác phẩm đầu tay Phố cụt

- truyện ngắn mở đầu văn nghiệp của Ma Văn Kháng in trên tuần báo Văn Nghệ số 136 ngày 3/3/1961 đến nay, ông đã đóng góp cho văn học hiện đại Việt Nam hơn một trăm truyện ngắn

(khảo sát trong 4 tập “Truyện ngắn Ma Văn Kháng” của nhà xuất bản Công An nhân dân -

2003), 12 cuốn tiểu thuyết và một số tác phẩm viết cho thiếu nhi…

Cùng với các nhà văn hiện đại, các sáng tác của Ma Văn Kháng vừa khẳng định sự thành công trong văn nghiệp của ông, vừa khẳng định vai trò của ông trong việc góp phần vào sự đổi mới của văn xuôi nghệ thuật nước ta Với số lượng tác phẩm khá nhiều, đề cập đến nhiều vấn

đề của cuộc sống người dân miền núi và cuộc sống thành thị miền Bắc sau những năm 1975, tác phẩm của Ma Văn Kháng đã thu hút được sự quan tâm của giới phê bình và bạn đọc Phong phú về vốn sống, cũng như ngôn ngữ, trong các tác phẩm của mình, Ma Văn Kháng luôn xen cài vào những dòng triết lí sâu xa về con người, về lẽ sống ở đời

Để hiểu một cách sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về Ma Văn Kháng, thiết nghĩ cần tìm hiểu những đặc sắc nghệ thuật trong các tác phẩm của ông một cách toàn diện và có hệ thống Ở đây chúng tôi chọn khảo sát mảng tiểu thuyết của ông cũng nhằm mục đích đó

2 - Lịch sử vấn đề:

Về mảng tiểu thuyết, Ma Văn Kháng cũng đã gặt hái được khá nhiều thành công Ông đã

đạt được một số giải thưởng danh dự Với tiểu thuyết “Mùa lá rụng trong vườn”, Ma Văn

Kháng đã đạt giải thưởng văn học ASEAN năm 1998, giải thưởng Nhà nước về văn học và đã được dựng thành phim Và ông đã nói về tác phẩm của mình khi nó bước vào lĩnh vực điện ảnh

rằng: “Cái mừng lớn là dù “Mùa là rụng trong vườn” đã qua 16 năm, nhưng các vấn đề đề cập trong tác phẩm vẫn không phải là cũ đối với cuộc sống hiện nay” [34]

Một số tiểu thuyết của Ma Văn Kháng cũng tạo được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu,

phê bình Khi nói về tiểu thuyết “Đồng bạc trắng hoa xòe”, tác giả Trần Đăng Suyền cho rằng

“Ma Văn Kháng, bằng hình tượng nghệ thuật, đã chứng minh rằng đồng bào các dân tộc ít

Trang 4

người, mặc dù bị chìm đắm trong đau khổ, tăm tối nhưng đều có mầm sống, khả năng cách mạng” [65, tr.13] Nhưng khi nhận xét về mặt hạn chế của tiểu thuyết này tác giả cũng đưa ra những nhận xét rõ ràng Ông cho rằng “Đọc Đồng bạc trắng hoa xòe, tôi nghĩ, với những tư liệu phong phú như vậy, Ma Văn Kháng có thể viết hay hơn Đáng tiếc, tác phẩm của anh còn bộc lộ một số thiếu sót” [65, tr.14] Và Trần Đăng Suyền cũng chỉ ra những thiếu sót cụ thể là

“chúng ta có thể nhận ra cái lúng túng của Ma Văn Kháng ngay ở một trăm trang đầu tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe Nó không ăn nhập lắm với những chương sau” [65, tr.14] Hơn

nửa, về khả năng xây dựng nhận vật – một vấn đề sống còn của tiểu thuyết, thì Ma Văn Kháng

vẫn chưa thực sự nổi trội, bởi “nhiều nhân vật trong Đồng bạc trắng hoa xòe có hiện tượng hành động lấn át tâm lý Cái mà ai đó gọi là khám phá con người trong con người, là phép biện chứng tâm hồn, anh chưa làm được bao nhiêu” [65, tr 16]

Về cách xây dựng nhân vật trong Đồng bạc trắng hoa xòe, Trần Đăng Suyền nhận xét: “có những nhân vật được Ma Văn Kháng xây dựng khá công phu” [65, tr 12] Còn khi nói về cách xây dựng nhân vật nói chung, thì Lã Nguyên đã nhấn mạnh: “…nhân vật của Ma Văn Kháng

dù phức tạp đến đâu, có những biểu hiện phong phú như thế nào, sau khi tiếp xúc, ta có thể nhận diện được ngay nhân vật ấy thuộc hạng người nào, cao thượng hay đê tiện, độc ác hay nhân từ, ích kỉ hay hảo tâm…” [35, tr.5] Về những nhân vật trí thức trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng, tác giả Lý Hoàn Thục Trâm nhận xét rằng: “Qủa thật, Ma Văn Kháng là một trong số ít những nhà văn đương đại rất tâm đắc với nhân vật người trí thức khi người đọc bắt đầu có phần hoa mắt với chân dung đặc tả của người chiến sĩ trong đời sống hậu chiến hay người nông dân trong giai đoạn đô thị mới nông thôn nhan nhãn trong hàng loạt tiểu thuyết; thì người trí thức của Ma Văn Kháng tuy đôi khi chỉ mới ở mức những bức kí họa sơ sài nhưng đã đem lại một hứng thú nhất định” [79] Và khi “gặp gỡ người trí thức trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng, người đọc không tránh khỏi những xúc cảm bâng khuâng nhẹ nhàng của sự thanh lọc tâm hồn” [79 ]

Người phụ nữ đời nào cũng vậy, là tặng phẩm tuyệt diệu của tạo hóa, nhưng sự phản ánh

họ trong văn học - cái nhìn nghệ thuật của nhà văn thì mỗi thời mỗi khác, mỗi người mỗi khác Trong sáng tác của Ma Văn Kháng nói chung, nhân vật nữ xuất hiện khá nhiều và chiếm được cảm tình của không ít độc giả Trong tiểu thuyết của ông, nhân vật nữ cũng được xây dựng khá

công phu Đúng như tác giả Nguyễn Nguyên Thanh nhận xét: “Viết về người phụ nữ nhan sắc,

Ma Văn Kháng có khả năng khám phá tinh tế và sắc sảo” Đào Đồng Điện cho rằng: “nhà văn

Trang 5

Ma Văn Kháng khi làm một cuộc đột phá vào mảng đề tài gia đình, ông gần như giao phó hoàn toàn chủ đề cho các nhân vật nữ”

Nhận xét về nhóm tiểu thuyết viết về đề tài miền núi, tác giả Nguyễn Ngọc Thiện cho

rằng: “Cuốn tiểu thuyết Gió rừng (1977), Đồng bạc trắng hoa xòe (1980), Vùng biên ải (1983) viết sau các tập truyện ngắn về miền núi, là một sự hội tụ, kết tinh cao độ vốn sống về con người và cuộc sống miền núi, mà ông tích lũy suốt hơn 20 năm gắn bó với nó Người đọc có thể tìm thấy những bức tranh sinh động, những chuyện, những con người và con đường của người dân tộc thiểu số đã tìm tòi để hòa nhập vào cộng đồng các dân tộc ở Việt nam như thế nào Khát vọng sống trong độc lập và tự do, lịch sử đấu tranh đau thương mà anh dũng, quả cảm, đời sống thường nhật, bản sắc văn hóa, phong tục tập quán, nếp sống, nếp nghĩ của các dân tộc anh em trên dải đất Tây Bắc liền kề biên giới phía Bắc được miêu tả khá đậm đà” Không chỉ

thành công ở mảng tiểu thuyết viết về đề tài miền núi, sau những năm 80, khi bước vào thời kì

đổi mới, Ma Văn Kháng lại cho ra đời hàng loạt tiểu thuyết đời tư - thế sự như Mưa mùa hạ (1982), Mùa lá rụng trong vườn (1985), Đám cưới không có giấy giá thú (1989)… “Với nhãn

quan tinh tế, thái độ bao dung và tấm lòng nhân ái, ông chăm chú đến những cảnh sinh hoạt đời thường, những quan hệ, những cách ưng xử phô bày sự lựa chọn theo lợi ích cá nhân của đời sống bị chi phối bởi kinh tế thị trường”[ 79 ]

Tóm lại, có khá nhiều ý kiến về tiểu thuyết của Ma Văn Kháng, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một công trình tập trung đánh giá chuyên sâu và khái quát về đặc trưng tiểu thuyết thế

sự của Ma Văn Kháng Luận văn của chúng tôi sẽ cố gắng để góp một phần nhỏ vào việc khắc phục khoảng trống này

3 - Giới hạn phạm vi nghiên cứu:

Vận dụng lý thuyết về thể loại, luận văn của chúng tôi sẽ khảo sát sâu về những đặc

trưng của tiểu thuyết thế sự của Ma Văn Kháng, tập trung vào những tác phẩm: Mưa mùa hạ (1982), Mùa lá rụng trong vườn (1985), Đám cưới không có giấy giá thú (1989), Ngược dòng nước lũ (1998), Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (1999) qua hai phương diện nội dung và nghệ thuật, từ đó xác định phong cách sáng tác của nhà văn và sự đóng góp của ông đối với tiểu thuyết nói riêng và văn xuôi hiện đại Việt Nam nói chung

Về mặt tư liệu, chúng tôi chọn khảo sát toàn bộ tiểu thuyết Ma Văn Kháng, trong đó phân tích tập trung những tác phẩm về đề tài thế sự mà chúng tôi cho là tiêu biểu, có so sánh với một số truyện ngắn của ông Bên cạnh đó, khi khảo sát về hệ thống đề tài, chúng tôi cũng

Trang 6

liên hệ tới những tác phẩm khác của một số tác giả khác cùng nằm trong hệ đề tài đó để tìm ra nét riêng trong thể hiện của Ma Văn Kháng

4 - Phương pháp nghiên cứu:

Xuất phát từ yêu cầu của đối tượng và mục đích nghiên cứu, luận văn vận dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu lịch sử - phát sinh được sử dụng để làm rõ sự ra đời và phát triển của tiểu thuyết Ma Văn Kháng trong tương quan với hoàn cảnh xã hội, văn học

- Phương pháp so sánh để khu biệt những đặc trưng của tiểu thuyết Ma Văn Kháng bên cạnh tiểu thuyết của những nhà văn cùng thời

- Vận dụng những hiểu biết về thi pháp học hiện đại kết hợp với cảm thụ truyền thống để khảo sát và nhận định tác phẩm theo quan niệm, hiểu biết của mình Dựa vào những nhận xét, nghiên cứu của những người đi trước để có cái nhìn toàn diện hơn về tác phẩm

- Ngoài ra các thao tác thống kê, phân tích, tổng hợp, giải thích được vận dụng trong toàn văn bản

5 - Đóng góp của luận văn:

Tập trung nghiên cứu nghệ thuật tiểu thuyết của Ma Văn Kháng, luận văn nhằm:

- Tìm hiểu đặc trưng tiểu thuyết Ma Văn Kháng, tập trung ở mảng đề tài thế sự

- Đánh giá những đóng góp của Ma Văn Kháng trong quá trình phát triển, đổi mới của văn xuôi Việt Nam

6 - Cấu trúc của luận văn:

Ngoài phần Mở đầu (6 trang) và phần Kết luận (3 trang), luận văn được tổ chức thành 3

chương như sau:

- Chương 1: Tiểu thuyết và khái quát về tiểu thuyết Ma Văn Kháng (42 trang)

- Chương 2: Tiểu thuyết thế sự của Ma Văn Kháng: Cảm hứng nghệ thuật và loại hình nhân vật (49 trang)

- Chương 3: Tiểu thuyết thế sự của Ma Văn Kháng: Các đặc trưng nghệ thuật (54 trang) Tài liệu tham khảo (6 trang)

Trang 7

Chương 1 TIỂU THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT VỀ TIỂU THUYẾT

MA VĂN KHÁNG 1.1 Tiểu thuyết:

1.1.1 Khái niệm:

Vào nửa sau thế kỉ XVIII, đặc biệt là trong thế kỉ XIX, ở Phương Tây, tiểu thuyết đã xuất hiện như một thể loại văn học chủ đạo, như chiếc máy cái của mọi nền văn học phát triển Sự tác động của tiểu thuyết vào đời sống tinh thần của toàn xã hội rất mạnh mẽ Điều đó không phải ngẫu nhiên mà bởi so với các thể loại khác, tiểu thuyết có khả năng phản ánh rộng lớn trong việc phản ánh hiện thực cuộc sống và đi sâu vào những diễn biến phức tạp của tâm hồn con người Hơn thế, tiểu thuyết còn là thể văn cho phép nhà văn bộc lộ hết khả năng sáng tạo của mình một cách tự do và thoải mái

Vậy “Tiểu thuyết là gì?” Về điều này, chúng ta có thể trả lời bằng vô số những định

nghĩa khác nhau Phần lớn các định nghĩa đều chịu ảnh hưởng của quan niệm về tiểu thuyết

giống cuộc đời, nghĩa là giống sự thực, nhưng cũng có người cho rằng “tiểu thuyết phải tạo ra những cái gì không có thực Có văn phái cho rằng tiểu thuyết trước hết phải là một câu chuyện tưởng tượng có đầu, có đuôi hẳn hoi (tất nhiên phải có cả khúc giữa) Văn phái khác lại không câu nệ trong lề lối như thế; với họ, đã đành tiểu thuyết là một câu chuyện tưởng tượng xếp đặt rồi, nhưng cần phải linh hoạt và phức tạp như cuộc đời, như sự sống mà sự sống thì không có khuôn phép gì nhất định cả” [56, tr.85]

Định nghĩa ngày nay về tiểu thuyết là: “Tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt

Tuy nhiên, tiểu thuyết là một “phạm trù lịch sử’, nó luôn luôn biến động và chưa định hình Vì vậy mà nhà văn Tô Hoài cho rằng: “Không thể cho tiểu thuyết một định nghĩa cố định, tiểu thuyết lúc nào cũng phát triển và biến đổi Tiểu thuyết có một khả năng tung hoành không bờ” Nội dung mà tiểu thuyết miêu tả, phản ánh rất đa dạng Có khi là một vấn đề lớn, mang tính thời đại; có khi đó chỉ là những vấn đề rất đơn giản của cuộc sống thường nhật Nhưng dù lớn, dù nhỏ, dù rộng, dù hẹp thì cái đích cuối cùng mà nhà văn muốn vươn đến là thể hiện quan điểm của mình về thế giới quan, nhân sinh quan

Trang 8

Tiểu thuyết có thể xây dựng những bức tranh cuộc sống rộng lớn, qui mô, về những số phận lắt léo phức tạp của con người Bức tranh đó cho phép người nghệ sĩ có được sự tự do cả

về thời gian lẫn không gian Ví dụ như: thời gian của Tây Du kí có thể là hơn 515 năm; còn thời gian của Tam Quốc chí là hơn 80 năm… Hồng Lâu Mộng kể về mọi chuyện xảy ra trong gia đình họ Giả - không gian là một lâu đài; Chiến tranh và hòa bình kể về câu chuyện của một nửa Châu Âu; không gian của Tắt đèn lại là một làng quê; không gian Sống mòn lại là một vùng

ngoại ô nhỏ… Mặt khác trong tiểu thuyết, nhà văn có thể mặc sức phóng đi sự tưởng tượng của mình nhằm tạo được sự lôi cuốn về phía độc giả

Vốn là một thể loại uyển chuyển, mềm dẻo nên dường như tiểu thuyết không bị đóng khung trong những quy phạm chật hẹp như một số thể loại khác Theo giáo sư Phan Cự Đệ, tiểu thuyết “tự bản chất nó vốn không có tính quy phạm Đó chính là hiện thân của sự uyển chuyển

Đó là một thể loại luôn luôn đi tìm, luôn luôn nghiên cứu bản thân và luôn luôn soát lại tất cả những hình thức đã hình thành của mình Một thể loại như thế chỉ có thể là một thể loại được xây dựng trong khu vực tiếp xúc trực tiếp với hiện thực đang tiến triển” [12, tr.500] Nhưng để

có một tiểu thuyết hay, những nhà viết tiểu thuyết đã phải vất vả, lăn lộn, trải nghiệm cùng cuộc sống để góp nhặt thông tin và tích lũy kinh nghiệm Tất cả sẽ được phản ánh trung thực và đem đến cho người đọc những nhận thức sâu xa về cuộc sống hiện tại, về tương lai

Tuy nhiên, để được xem là một tác phẩm thực sự thành công thì nghệ thuật viết tiểu

thuyết đóng vai trò là một điều kiện đủ Trong cuốn Khảo về tiểu thuyết, nhà nghiên cứu

Vương Trí Nhàn cho rằng: “… viết để làm gì, viết về thứ gì, cái đó không quan trọng Cái quan trọng nhất là viết có hay không, tức là nghệ thuật có cao không” Như vậy, ngoài một nội dung

mới lạ, hấp dẫn thì phải có sự hoàn chỉnh về mặt nghệ thuật mới thực sự là một tiểu thuyết hay Cũng chính nghệ thuật xây dựng tác phẩm sẽ góp phần tạo một dấu ấn riêng, một phong cách riêng cho mỗi nhà văn

thần, vận mệnh của dân tộc và nhân dân “Vì vậy, đặc trưng chủ yếu của anh hùng ca là biểu hiện ý thức cộng đồng của nhân dân, dân tộc đối với quá khứ vẻ vang của mình” [52, tr 380]

Trang 9

Còn đặc trưng đầu tiên tiêu biểu nhất của tiểu thuyết là có cái nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư

Đời tư là “tiêu điểm để miêu tả cuộc sống một cách tiểu thuyết” [52, tr.390] Tiểu thuyết tuy là

giả tưởng nhưng lại tạo dựng một bầu không khí xác thực, bởi chất liệu của tiểu thuyết là đề tài,

là biến cố, là nhân vật đều gần gũi với cuộc sống thực Đặc trưng này là một đặc trưng có tính chất thẩm mĩ và là cơ bản của tiểu thuyết và đã được hình thành ngay trong tiểu thuyết cổ đại

Về sau, cái nhìn đời tư của tiểu thuyết khá linh hoạt theo những biến động lịch sử Khi yếu tố đời tư càng phát triển thì chất tiểu thuyết càng tăng

Khác với chất thi vị, lãng mạn của các thể loại trữ tình, dung lượng lớn và bản chất tổng

hợp của tiểu thuyết đã khiến cho thể loại văn học này mang đậm chất văn xuôi Chất văn xuôi

trong tiểu thuyết là phương tiện để nhà văn đi sâu vào mô tả mọi cảm xúc, mọi khía cạnh phức tạp nhất trong tâm hồn con người Tiểu thuyết tái hiện cuộc sống một cách khách quan, không thi vị hóa, lãng mạn hóa, lí tưởng hóa và tất cả những gì có thể xảy ra trong cuộc sống thì đều

có thể xảy ra trong tiểu thuyết Khi miêu tả cuộc sống, tiểu thuyết có thể khai thác tất cả mọi mặt của cuộc sống: cái cao cả lẫn cái phàm tục, cái nghiêm túc và cái buồn cười, cái bi và cái hài, cái lớn lẫn cái nhỏ, những cái đơn giản và những cái lắt léo, cả ánh sáng và bóng tối… Đó

là thế giới mà con người đang sống, và nhà văn một lần nữa giúp ta hiểu sâu hơn về nó

Tính văn xuôi của tiểu thuyết được thể hiện ngay trong ngôn ngữ nghệ thuật Để phản ánh cuộc sống bình thường hằng ngày, ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết phải mang tính chính xác, khách quan Đó là thứ ngôn ngữ rất gần với ngôn ngữ miêu tả sự việc trong hồi ký, nhật ký, thứ ngôn ngữ kể chuyện chính xác, rất thật và không cần tô điểm Chính thứ ngôn ngữ này đã tạo ra sức hấp dẫn đặc biệt của nghệ thuật tiểu thuyết

Trong cuộc sống đời thường, có khi ta bắt gặp những xung đột nội tâm rất tế nhị, nhưng cũng rất dữ dội Và nếu không có sự khai thác sâu sắc của tiểu thuyết chắc hẳn chúng ta không thể nào khám phá hết được những cung bậc tình cảm của con người

Trong tiểu thuyết, tình tiết thường là éo le Chính những tình tiết đó sẽ giúp cho tiểu

thuyết có một sắc thái riêng biệt, chúng cho phép phân biệt tiểu thuyết với những thể loại khác Bởi vì những tình tiết trong tiểu thuyết là những tình tiết được kết cấu ở một mức độ cao hơn, tinh vi hơn Chúng không chỉ thuật lại sự việc một cách đơn thuần theo đúng thứ tự thời gian

mà nó xảy ra, mà điều quan trọng là đó là những tình tiết được phối hợp theo một hệ thống nhân quả khăng khít

Và để thực sự gây được hứng thú cho người đọc, bên cạnh lựa chọn những tình tiết éo le,

tiểu thuyết còn phải xây dựng được những nhân vật là những con người có cá tính Bởi theo

Trang 10

như nhận định của các nhà nghiên cứu thì họ cho rằng: “Nhân vật là gì nếu không do biến cố tình tiết tạo thành? Biến cố tình tiết là gì nếu không do nhân vật biểu trưng?” [68, tr.136] Và

đó phải là con người nếm trải, tư duy, chịu nhiều khổ đau, dằn vặt Là con người đang biến đổi, đang trưởng thành cùng với cuộc đời Mặt khác, ngoài những thành phần chính như hệ thống sự kiện, biến cố, những chi tiết tính cách… tiểu thuyết còn miêu tả và giúp cho người đọc hiểu được sự suy tư về thế giới, về đời người của nhân vật; phân tích cặn kẽ các diễn biến tình cảm, tâm lí của con người lắm lúc ngoắt nghéo, bất ngờ; trình bày tường tận tiểu sử của nhân vật, mọi chi tiết về quan hệ giữa người và người, môi trường…

Tiểu thuyết cho phép xóa bỏ khoảng cách về giá trị giữa người trần thuật và nội dung trần thuật, để miêu tả hiện thực như cái hiện tại đương thời của người trần thuật Đó chính là

tính dân chủ của thể loại văn học này Tức là khi viết tiểu thuyết, tác giả có thể có một thái độ hết sức đa dạng: nghiêm trang, thân mật, suồng sã… Giọng điệu nghệ thuật biến hóa vô cùng

Có khi lạnh lùng mổ xẻ, nhưng cũng có khi tạo cho người đọc những tràng cười khoái trá bằng

lối nói dí dỏm, hài hước “Nói chung thì những cuốn tiểu thuyết lớn bao giờ cũng vừa là bi kịch, vừa là hài kịch, vừa nghiêm trang vừa hài hước, vừa là chính trị xã hội, vừa là sinh hoạt phong tục, vừa căng thẳng dồn dập, vừa ung dung thoải mái (trong nhịp điệu)… nghĩa là nó phong phú, phức tạp, sinh động và tự nhiên như cuộc đời bình thường hằng ngày vậy” [12, tr.527]

Chính đặc trưng này khiến cho tiểu thuyết trở thành một thể loại văn học rất gần gũi với cuộc sống

Một đặc trưng nữa của tiểu thuyết là tính tổng hợp “Tiểu thuyết có khả năng mô tả một

cách quy mô, toàn diện thế giới khách quan rộng lớn, có thể tái hiện những xung đột căng thẳng đầy kịch tính trong hành động và ngôn ngữ của con người; mặt khác, lại có thể đi sâu vào khám phá những biểu hiện rất nhỏ, rất tinh tế của đời sống tâm lý bên trong Tính chất kịch

và tính chất trữ tình không làm giảm mất tính chất khách quan và qui mô rộng lớn, sử thi, nó là cái nền chủ yếu của tiểu thuyết” [10, trang 44-46] Nói như thế có nghĩa là, trong một tiểu

thuyết, nhà văn có thể vừa thể hiện tính hoành tráng của lịch sử và tính anh hùng lãng mạn của chất sử thi, vừa thể hiện những diễn biến tình cảm, vẻ đẹp hình thức và tâm hồn của con người Qua những trang văn tiểu thuyết, chúng ta cũng có thể chiêm ngưỡng những bức tranh thiên nhiên, con người, xã hội rất đỗi sinh động, thi vị không khác gì trong hội họa Hơn thế, tiểu thuyết còn có thể sử dụng cả hồi kí, nhật kí, bút kí, phóng sự, thư từ… để làm chất liệu Chính

vì thế đã hình thành nên nhiều loại tiểu thuyết khác nhau Tiểu thuyết – sử thi (kiểu Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi, Cửa biển của Nguyên Hồng, Vùng trời của Hữu Mai…), tiểu thuyết phóng

Trang 11

sự (kiểu Lều chõng của Ngô Tất Tố, Bút nghiên của Chu Thiên…), tiểu thuyết hoạt kê, trong

đó có ảnh hưởng của hài kịch, biếm họa (kiểu Số đỏ của Vũ Trọng Phụng…), tiểu thuyết tự truyện (kiểu Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Thời thơ ấu của M.Goócki, Những lời tự thú của J.J Rousseau…)

Tính tổng hợp đó đã đem lại cho tiểu thuyết một mảnh đất rộng rãi Ở đó, nhà văn tự do khai thác thế giới xung quanh và vận dụng tối đa tài năng của mình Với tiểu thuyết, cái bao la,

vĩ đại của cuộc sống ngoài kia hay những ngõ sâu của tâm hồn con người đều được miêu tả, khám phá

Trên đây là những đặc trưng tiêu biểu của tiểu thuyết Song trên con đường hình thành, tiểu thuyết hiện đại Việt Nam vẫn còn cónhững đặc điểm khác, đánh dấu giai đoạn phát triển từ truyện kể dân gian, truyện ngụ ngôn sang truyện Nôm, từ những tiểu thuyết chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết cổ Trung Quốc sang tiểu thuyết hiện đại

Mầm mống ban đầu là hệ thống thần thoại Hy La, những bản anh hùng ca như Iliad, Odyssey của Homer Sau đó là những tác phẩm bằng văn xuôi và văn vần viết bằng ngôn ngữ

gốc La Tinh Từ đó hình thành nên một loại tiểu thuyết gọi là tiểu thuyết kỵ sĩ, có đặc điểm là

đề cập đến những biến cố phi thường, những sự kiện siêu tự nhiên, những chuyện phiêu lưu và

ái tình

Thời Phục Hưng (XIV - XVI), xét về mặt chính trị thì đây là thời kì hết sức đen tối khi chế độ phong kiến sụp đổ, nhưng văn hóa và khoa học thì lại phát triển mạnh mẽ, là thời kì của những phát kiến vĩ đại Những đại biểu tiêu biểu của văn học thời kì này là Rabelais – người

mà Bêlinxki đã gọi là một thiên tài, “một Voltaire của thế kỷ XVI”; Miguel De Cervantes với tác phẩm Don Quixote… đã xây dựng hình ảnh con người tư sản khẳng định mình với lý tưởng

nhân văn cao quý

Trang 12

Vào thế kỉ XVIII - XIX, là mùa gặt bội thu của tiểu thuyết phương Tây với những nguồn tiểu thuyết như Anh, Pháp, Nga… Với sự xuất hiện của những tên tuổi bậc thầy như Victor Hugo, Honoré De Balzac, Stendhal (Pháp), Emily Brontë, William Makepeace Thackeray (Anh), Gogol, L.Tolstoi, Fedor Dostoievski (Nga)… tiểu thuyết phương Tây đã đạt tới sự nảy

nở trọn vẹn, theo hai khuynh hướng lãng mạn và hiện thực

Bước sang thế kỷ XX, bên cạnh những khuynh hướng hiện đại và hậu hiện đại ở châu

Âu, ở châu Mỹ La tinh xuất hiện trào lưu tiểu thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa, tiểu thuyết hiện thực huyền ảo… Và đến đây thì bức tranh tiểu thuyết thế giới đã đầy đủ những màu sắc, mảng khối hết sức đa dạng, tới mức phức tạp

Khi nói đến tiểu thuyết phương Đông – danh từ tiểu thuyết đã có mặt trong bộ Hán Thư,

ở mục Nghệ văn chí Ở đây họ cho rằng, tiểu thuyết là những chuyện vụn vặt nơi tôn giáo, phố

phường Những viên quan lại có nhiệm vụ thu nhặt, tổng hợp, nhằm khảo sát tư tưởng chính trị, phong tục tập quán của nhân dân, từ đó có thể khái quát lên được những nguyện vọng của nhân dân để báo cáo với triều đình

Thời cổ đại, ở Trung Quốc, dần dần hình thành một loạt các thể tự sự như: thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, tiếu thoại… Và chính những thể loại tự sự này là mầm mống của tiểu thuyết Trung Hoa Đến đời Tống, ở Trung Hoa, có hình thức thoại bản – một hình thức văn học diễn xướng (giảng xướng) Hình thức văn học này xuất phát từ nhu cầu phiêu lưu, kiếm sống của một nhóm nghệ nhân Họ đã tập hợp lại và cùng nhau đi đến mọi nơi, dừng lại biểu diễn võ nghệ, kết hợp diễn xướng, đóng trò có cốt truyện, có kịch tính, có cao trào Khi đến cao trào thì

họ dừng lại, vì thế đã gây nên sự tò mò ở người xem và hôm sau họ sẽ phải đến để xem tiếp Đây chính là mầm mống của thể loại tiểu thuyết chương hồi

Ở Trung Hoa, đời Minh – Thanh chính là thời kì hoàng kim của tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc Giai đoạn này có những cuốn tiểu thuyết đặc sắc bậc nhất được gọi là “Tứ đại kì

thư” như: Tam Quốc chí, Hồng Lâu Mộng, Thủy Hử, Tây Du kí Sau này, các nhà nghiên cứu đã

mở rộng ra với những tác phẩm như: Nho Lâm ngoại sử, Đông Chu liệt quốc, Liêu Trai chí dị, Kim Bình Mai

Về tên gọi, nếu xét về triều đại thì nó có tên gọi là tiểu thuyết Minh Thanh, nếu xét về mặt lịch sử thì gọi là tiểu thuyết cổ điển, còn xét về đặc điểm cấu trúc thì người ta gọi đó là tiểu thuyết chương hồi Cảm hứng chủ yếu của tiểu thuyết đời Minh là cảm hứng sử thi Nội dung tiểu thuyết là dựng lên những bức tranh hoành tráng, qui mô, trong đó có những nhân vật phi thường Còn tiểu thuyết đời Thanh lại nghiêng về cảm hứng thế sự, chuyển cái nhìn vào số

Trang 13

phận riêng tư, luân lý và thế thái nhân tình (Hồng Lâu Mộng, Chuyện làng Nho…) Tuy nhiên,

giữa hai giai đoạn tiểu thuyết này có sự chuyển tiếp, có những tác phẩm với vai trò là cầu nối

Một trong những cầu nối tiêu biểu là tác phẩm Tây Du kí Ở tiểu thuyết này, vừa có cảm hứng

sử thi và con người phi thường, vừa có cảm hứng thế sự và nhân vật đời thường (nhân vật Trư Bát Giới: ham ăn, mê gái, trung thành với thầy nhưng lười biếng…)

Gọi là tiểu thuyết chương hồi bởi vì tác phẩm bao gồm nhiều chương đoạn Tư tưởng cốt lõi của tiểu thuyết chương hồi đó là những quan niệm mang tính chất tôn giáo: Trung - Hiếu - Tiết -Nghĩa, Tam cương ngũ thường… Chính thể loại tiểu thuyết này đã ảnh hưởng rất lớn đến tiểu thuyết Việt Nam Dấu ấn của tiểu thuyết chương hồi đến Việt Nam có ở cả hai thời kì: văn học trung đại và văn học hiện đại

Ở Việt Nam, tiểu thuyết văn xuôi ra đời rất muộn Và khi nói đến tiểu thuyết thì không thể không nhắc đến những thể loại văn học dân gian như: cổ tích, thần thoại, truyền thuyết, sử thi…Bởi theo nhiều nhà nghiên cứu thì xét đến cùng, một nền văn học dân tộc phát triển, vững mạnh là một nền văn học có nguồn gốc từ nền văn học dân gian phát triển và đa dạng Ví dụ

như tác phẩm Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật có nguồn gốc từ truyền thuyết Mai An Tiêm, truyện nôm bác học Hoa Tiên lại chịu ảnh hưởng của truyện nôm dân gian Phạm Trân Cúc Hoa

Vào đầu thế kỉ XIX, sự xuất hiện của những tiểu thuyết văn xuôi viết bằng chữ Hán như:

Nam triều công nghiệp diễn chí, Hoàng Việt long hương Chí, Việt Lam xuân thu, và Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái Với 17 hồi, gồm hơn 300 nhân vật, bao quát một khoảng thời gian dài (từ 1767 - 1802), Hoàng Lê nhất thống chí là một tác phẩm rất có giá trị, được xem

như một tiểu thuyết cổ điển được viết theo phương pháp hiện thực chủ nghĩa Bằng việc phản ánh

lịch sử chân thật, chính xác và thái độ trung thực tri thức của người viết, các tác giả Hoàng Lê nhất thống chí không chỉ cung cấp cho chúng ta những bức tranh hiện thực của đời sống với những chi tiết chính xác và cụ thể, mà bước đầu còn xây dựng được “những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình” Về mặt nghệ thuật, có những ảnh hưởng của tiểu thuyết chương hồi nhưng được thể hiện một cách nhuần nhuyễn, thuyết phục Bên cạnh đó, Truyện Kiều - đỉnh cao của nền văn học thời kì Lê mạt – Nguyễn sơ, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu cũng được xem như là

cái mốc quan trọng đánh dấu hình thành bước đầu của chủ nghĩa hiện thực Việt Nam

Đến cuối thế kỉ XIX, khi nhìn lại văn xuôi Quốc ngữ, chúng ta không thể không nhắc đến

tiểu thuyết Truyện Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản (1887) Đây là cuốn tiểu thuyết

viết bằng chữ Quốc ngữ xuất hiện đầu tiên ở Nam Kỳ và cũng là tác phẩm đầu tiên viết theo

Trang 14

kiểu tiểu thuyết phương Tây Trong bối cảnh văn học Nam Bộ lúc ấy, Truyện Thầy Lazarô Phiền được xem như là một sự cách tân về cảm hứng sáng tạo, giọng điệu và lối viết tiểu

thuyết Trong tiểu thuyết truyền thống, lối tự sự theo dòng thời gian một chiều mà ta thường bắt gặp là: hội ngộ - lưu lạc - đoàn viên Nguyễn Trọng Quản đã không đi theo trật tự ấy mà lấy trạng thái tâm lí làm đối tượng miêu tả và sự ăn năn, day dứt làm chủ đề

Vào những năm đầu thế kỉ XX, tiểu thuyết bắt đầu thu hút được sự chú ý của đông đảo quần chúng Trong giai đoạn này, tiểu thuyết được hình thành qua ba chặng: dịch thuật, phóng tác và sáng tác Bước đầu là dịch thuật những tiểu thuyết của Trung Quốc và phương Tây để làm quen, học hỏi Chặng thứ hai là phóng tác, dựa vào cốt truyện rồi tổ chức lại kết cấu, họa lại các tình tiết và quan trọng là Việt hóa các yếu tố: không gian, thời gian và nhân vật…Và đã

có những tiểu thuyết mô phỏng theo cốt truyện Tàu của Nguyễn Tử Siêu, Tân Dân Tử…, và

không ít tiểu thuyết mô phỏng tiểu thuyết Pháp của Hồ Biểu Chánh như Chúa tàu Kim Quy, Cay đắng mùi đời… Những tiểu thuyết đó đã được Việt hóa, và ít nhiều mang tính cách An

Nam Sự mô phỏng đó không tránh khỏi những bất cập, nhưng theo như Vương Trí Nhàn nhận

xét thì nó cũng đã “cướp được một số đông độc giả của các tiểu thuyết Tàu mà bắt đầu biến đổi được chút ít cái sở kiến của quần chúng An Nam” [56, tr 62]

Đi qua giai đoạn phóng tác, các tác giả chuyển sang sáng tác Từ 1920 đến 1930 được xem là những năm chuẩn bị và hình thành của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại với những cuốn

tiểu thuyết quốc ngữ như: Kim Anh lệ sử (1924) của Trọng Khiêm, Tố Tâm (1925) của Hoàng Ngọc Phách, Quả dưa đỏ (1925) của Nguyễn Trọng Thuật, Tiền bạc, bạc tiền (viết 1925, in

1926) của Hồ Biểu Chánh… Nhìn chung, trong giai đoạn này, tiểu thuyết Nam Bộ ra đời sớm hơn và phát triển hơn Nghệ thuật tiểu thuyết Nam Bộ đơn giản, dễ hiểu, sử dụng nhiều phương ngữ, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tiểu thuyết chương hồi và đối tượng phục vụ chủ yếu là người lao động bình dân Còn ở miền Bắc, đối tượng tiếp nhận là những thành phần trí thức trung lưu, trình độ nhận thức cao hơn, nên nó đòi hỏi hình thức và nghệ thuật tác phẩm khác hơn so với tiểu thuyết Nam Bộ Qua đó ta thấy, tiểu thuyết trước 1945 rất đa dạng về cảm hứng, trào lưu và phong cách

Đến thời kỳ 1930 - 1945, tiểu thuyết phát triển rực rỡ và đa dạng, gồm nhiều khuynh hướng: tiểu thuyết lãng mạn của Tự lực văn đoàn (Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo…), tiểu thuyết hiện thực phê phán của Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao, Tô Hoài…

Trang 15

Trong tôn chỉ của nhóm, Tự lực văn đoàn đã ghi: “Soạn hay dịch những cuốn sách có tư tưởng xã hội, chú ý làm cho con người và xã hội ngày một hay hơn lên” (Dẫn theo Phan cự đệ,

Tuyển tập, tập 2, tr.9) Thế nhưng, thời kì đầu (1932 - 1935) đã có một số tiểu thuyết Tự lực văn đoàn khiến cho nhiều nhà nghiên cứu phải xếp nó vào dòng văn học lãng mạn và khẳng

định tính chất thoát ly thực tế cuộc sống như Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Đôi bạn, Đoạn tuyệt, Gánh hàng hoa, Tiêu Sơn tráng sĩ…

Song không phải tất cả các tác phẩm của Tự lực văn đoàn đều là tiểu thuyết lãng mạn Đến giai đoạn phát triển thứ hai (những năm 1936 – 1939), thì không khí của thời kì Mặt trận Dân chủ đã đi vào những sáng tác của Tự lực văn đoàn Ở giai đoạn này, với sự ra đời của các

tác phẩm như Gia đình, Thoát ly, Băn khoăn…của Khái Hưng, Lạnh lùng của Nhất Linh, Con đường sáng của Hoàng Đạo…thì tính chất lãng mạn đã mờ nhạt đi rất nhiều Trong những tác phẩm đó, “các tác giả đã đặt ra những vấn đề xã hội sâu sắc với nhiều chi tiết sinh động và chân thực” [2] Về nhân vật trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, Phan Cự Đệ có nhận xét rằng

“cũng có những nhân vật được xây dựng bằng bút pháp hiện thực (bà Án, Hàn Thanh trong Nửa chừng xuân; bà Ba, sư Cụ trong Thừa tự; bà Tuần trong Gia đình; bà Phán trong Thoát ly; Nghị Đá trong Những ngày vui và đặc biệt là Thanh Đức trong Băn khoăn)” [12 , tr 82]

Những mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp trong xã hội Việt Nam thời kỳ 1930 –

1945, thực tiễn đấu tranh của phong trào cách mạng cũng như ánh sáng của chủ nghĩa xã hội khoa học đã giúp các nhà văn hiện thực phê phán thấy rõ hơn vấn đề giai cấp và cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội Lúc này, các nhà tiểu thuyết hiện thực phê phán thông qua những tác phẩm của mình, đã lên án một cách gay gắt cái xã hội thực dân nửa phong kiến ở chặng đường tan rã của nó Thời kỳ này, nội dung chủ yếu của tiểu thuyết hiện thực là tập trung vào những

vấn đề xã hội: cuộc đời cùng khổ của tầng lớp nông dân (Tắt đèn, Bước đường cùng, Vỡ đê), công nhân (Lầm than), những thủ đoạn áp bức, bóc lột của bọn cường hào (Giông tố, Cái thủ lợn)

Thời kỳ 1936 – 1939, tuy có những hạn chế về điều kiện sáng tác, gặp phải sự kiểm duyệt gay gắt của bọn thực dân Pháp, nhưng ít nhiều, các nhà tiểu thuyết cũng cố gắng hoàn thành nhiệm vụ “người thư kí trung thành của thời đại” Họ đả kích bọn kẻ thù của cách mạng bằng cách lên án những thối nát, tàn nhẫn, thói dâm ô của chúng

Trong Giông tố, Vỡ đê, Số đỏ, Vũ Trọng Phụng đã phát hiện và vạch trần được một số

mặt của cái xã hội thực dân phong kiến thời thuộc Pháp: những tên công sứ nguy hiểm, những

Trang 16

tên thực dân cáo già, các chính sách đàn áp, lừa phỉnh, chủ trương “chấn hưng Phật giáo”, cái

sa đọa của phong trào Âu hóa…

Với Bước đường cùng, Lá ngọc cành vàng…, ngòi bút của Nguyễn Công Hoan lại

nhằm vào bọn quan lại với một bút pháp phóng đại sinh động Có thể nói không quá lời rằng, tiểu thuyết của ông như là “những bức tranh triển lãm các kiểu quan”

Bọn địa chủ, cường hào ở nông thôn lại bị đả kích mạnh mẽ trong những tác phẩm của

Ngô Tất Tố Với Tắt đèn, Ngô Tất Tố đã góp “một tiếng nói đanh thép đòi hủy bỏ chế độ thuế thân và gấp rút cải thiện đời sống lam lũ, cực khổ của nông dân ở thôn quê”, vì thế mà Tắt đèn

được xem là “một tác phẩm lớn có tính nhân dân sâu sắc nhất trong tiểu thuyết hiện thực phê phán Việt Nam” [12, tr.108]

Cách mạng tháng Tám đã xóa bỏ xiềng xích nô lệ cho dân tộc Việt Nam bước qua một giai đoạn mới Mốc son lịch sử này cũng đã “cứu sống một thế hệ nhà văn” và mở ra những triển vọng tốt đẹp cho tiểu thuyết Bước sang giai đoạn mới, từ 1945 - 1975, tiểu thuyết Việt Nam tập trung vào khuynh hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa và cảm hứng sử thi với mục tiêu:

“không từ bỏ nhiệm vụ tấn công vào những giai cấp thù địch, phê phán những tàn tích xấu xa của xã hội cũ nhưng nhiệm vụ hàng đầu của nó là phải khẳng định, ca ngợi những anh hùng mới trong quần chúng lao động, những người chủ nhân mới của xã hội” [12, tr.136] Tiểu

thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa đã thể hiện được “tấm lòng quyết tâm phục vụ sự nghiệp kháng chiến kiến quốc của anh em văn nghệ sĩ” Lần đầu tiên, người đọc được chứng kiến những nhân vật chiếm vị trí trung tâm là đông đảo quần chúng công nông binh với những tác

phẩm như: Vùng mỏ, Xung kích, Nhân dân tiến lên, Con trâu, Truyện Tây Bắc…)

Trong khoảng thời gian từ 1945 – 1975, qúa trình phát tiển của tiểu thuyết được chia thành nhiều giai đoạn nhỏ, nhưng tựu trung lại thì chủ yếu là tập trung vào hai cuộc kháng chiến của dân tộc, đó là kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống Mỹ Cho nên tiểu thuyết giai đoạn này trổi lên cảm hứng sử thi Những hình thái khác nhau của cuộc kháng kháng chiến chống Pháp đã được tiểu thuyết giai đoạn này phản ánh rõ nét Nổi bật lên là các

tác phẩm như: Đất nước đứng lên (giải nhất Giải thưởng văn học Hội văn nghệ Việt Nam 1954 -1955), Một truyện chép ở bệnh viện (1959), Trước giờ nổ súng (1960), Sống mãi với thủ đô (1961), Cao điểm cuối cùng (1961), Những người cùng làng (1961), Một chặng đường (1962), Phá vây (1963)… Tiểu thuyết kháng chiến chống thực dân Pháp đã “dám xông vào

những đề tài gay cấn, phức tạp, đi sâu vào những mâu thuẫn đối kháng về mặt giai cấp và phát hiện ra những cuộc đấu tranh tư tưởng trong nội bộ nhân dân, nội bộ quân đội ta” [12, tr.162 -

Trang 17

163] Tuy nhiên trong một vài tác phẩm vẫn còn những thiếu sót do những hạn chế về thế giới quan và vốn sống của tác giả, họ chưa thực sự hiểu người dân, nên đôi lúc chưa phản ánh đúng đắn con người bình thường mà thường chỉ nhấn mạnh mặt tầm thường bản năng của con người

(Phá vây, trên mảnh đất này, Mở hầm…)

Và những hạn chế đó đã được khắc phục nhanh chóng trong các tiểu thuyết chống Mỹ cứu nước

Tiểu thuyết chống Mỹ chủ yếu tập trung vào các chủ đề chính như: Tổ quốc và chủ nghĩa

xã hội, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quần chúng Trong khói lửa chiến tranh, một loạt những tiểu thuyết đã ra đời, kịp thời phản ánh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân

tộc ta Tiêu biểu như: Vào lửa (1966), Mặt trận trên cao (1967) của Nguyễn Đình Thi, Cửa sông (1967) của Nguyễn Minh Châu, Sao băng (1968) của Nguyễn Gia Nùng, Đường trong mây, Ra đảo (1970) của Nguyễn Khải, Vùng trời (1971) của Hữu Mai, Dấu chân người lính (1972) của Nguyễn Minh Châu, Thôn ven đường (1973) của Xuân Thiều… Nhìn chung, tiểu

thuyết chống Mỹ cứu nước đã “đi sâu vào các mũi nhọn của cuộc sống và trực tiếp miêu tả cái hiện thực nóng bỏng tính chất thời sự” Khi miêu tả con người, tiểu thuyết chống Mỹ cứu nước

đã phản ánh được sự lớn mạnh và phát triển không ngừng của họ qua những thử thách của chiến tranh cách mạng

Cũng như ở miền Bắc, tiểu thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa ở miền Nam cũng gặt hái được những thành tựu rất đáng kể, cùng góp phần “xây dựng một nền tiểu thuyết Việt Nam

mang tính chất dân tộc và hiện đại” Sự có mặt của những cuốn tiểu thuyết như: Hòn đất (1966) của Anh Đức, Gia đình má Bảy (1968) của Phan Tứ, Ở xã Trung Nghĩa (1969) của Nguyễn Thi, Rừng U Minh (1970) của Trần Hiếu Minh, Đất Quảng (1971) của Nguyễn Trung Thành, Mẫn và tôi (1972) của Phan Tứ… đã cho thấy tiểu thuyết đang có những bước phát triển mạnh

mẽ

Đến những năm 80, do có độ lùi về thời gian, cộng thêm độ chín của tài năng khiến cho các tác gia tiểu thuyết một lần nữa có thể nhìn bao quát toàn cảnh hai cuộc kháng chiến, “miêu

tả chiến tranh một cách toàn diện và sâu sắc hơn, không chỉ tập trung vào những thắng lợi vĩ đại

mà cả những mất mát hy sinh, không phải chỉ ở phía ta mà cả ở phía địch…” Từ đây, tiểu

thuyết Việt Nam có thêm một mùa tiểu thuyết sử thi với hàng loạt tác phẩm như: Đất trắng (2 tập, 1979, 1984), Đất nước (1984), Đất miền Đông (1984 - 1985), Người cùng quê (1985 –

1995 - 1997), Đường thời đại (4 tập, 1985 - 1991), Quãng đời xưa in bóng (1990)… Tuy

Trang 18

nhiên, so với tiểu thuyết những năm 70, 80, như Vỡ bờ, Cửa biển, Dấu chân người lính, Mẫn

và tôi, Vùng trời… thì những bộ tiểu thuyết này còn có nhiều hạn chế

Thời kì đổi mới, tiểu thuyết đề cập nhiều đến vấn đề hoàn thiện nhân cách “Các nhà văn xuôi đã đi sâu vào tâm lí bên trong, để cho các nhân vật soi bóng vào nhau hoặc tự khám phá mình, như là một sự lắng lại, suy ngẫm về cuộc đời đã qua, hồi tưởng những kỉ niệm đáng ghi nhớ nhất trong hai cuộc chiến tranh, những kỷ niệm đẹp đẽ đó dường như luôn tỏa sáng lấp lánh, trở thành điểm tựa tinh thần cho những năm về sau…” [12, tr.271] Bên cạnh đó, những

tiểu thuyết viết về số phận cá nhân, bi kịch cá nhân, hạnh phúc cá nhân cũng xuất hiện khá

nhiều (Sao đổi ngôi của Chu Văn, Đám cưới không có giấy giá thú của Ma Văn Kháng, Bến không chồng của Dương Hướng, Chim én bay của Nguyễn Trí Huân…). Đặc điểm của tiểu thuyết giai đoạn từ 1986 đến nay đó là tinh thần tự vấn, phản tỉnh; cả nhà văn và nhân vật đều hướng về người đọc; dấu ấn của chủ thể nhà văn thể hiện rõ qua từng trang sách Nhân vật của tiểu thuyết nhìn lại bản thân một cách trầm tĩnh, tự mình đối diện với mình như một sự phán xét Đa dạng cả về phương pháp sáng tác và phương thức tiếp cận hiện thực (lịch sử - cụ thể, trữ tình lãng mạn, tương trưng, huyền thoại, viễn tưởng…), tiểu thuyết thời kỳ đổi mới đã có khả năng phản ánh chân lý cuộc sống và tạo nên những cảm hứng thẫm mĩ lành mạnh với

người đọc Ý nghĩa quan trọng của tiểu thuyết thời kỳ đổi mới là “góp phần giải quyết những vấn đề sống còn của đất nước, của chủ nghĩa xã hội, đồng thời cũng quan tâm đến số phận

tr.276]

Trên đây là đôi nét về lịch sử hình thành và phát triển của thể loại tiểu thuyết nhìn một cách khái quát nhất Trong quá trình đó, tiểu thuyết Việt Nam không tránh khỏi những hạn chế nhất định Nhưng với những thành tựu đã đạt được rất đáng phấn khởi, nó góp phần đẩy mạnh

sự phát triển không ngừng của văn xuôi Việt Nam, góp phần hiện đại hóa nền văn học và hội nhập với văn học thế giới

Tiểu thuyết hôm nay có được những thành tựu đó là nhờ vào đội ngũ những nhà văn tài năng, tâm huyết Mặt khác, họ phải luôn ý thức được rằng tiểu thuyết là vì con người, tức là yếu

tố con người phải có trong tiểu thuyết, tiểu thuyết phải là những cảm giác, suy nghĩ của con người và viết tiểu thuyết không bao giờ là chỉ để vui vẻ vì như thế người viết sẽ không tìm cho mình được một cách viết riêng Nhìn vào những thành công mà tiểu thuyết của Ma Văn Kháng

có được, chắc hẳn ông đã nắm rất rõ những yếu tố cơ bản này của tiểu thuyết

1.2 Khái quát về tiểu thuyết Ma Văn Kháng

Trang 19

1.2.1 Hoàn cảnh xã hội, văn học và sự xuất hiện của Ma Văn Kháng

Ma Văn Kháng tên thật là Đinh Trọng Đoàn, sinh ngày 1 tháng 12 năm 1936, tại làng Kim Liên, thuộc Kẻ Chợ (nay thuộc phường Phương Liên, quận Đống Đa, Hà Nội) Vùng quê

ấy gọi là “Ô Đồng Lầm” – một cái tên gợi lên khá rõ cái lam lũ cực nhọc

Ở tuổi thiếu niên, Đinh Trọng Đoàn tham gia quân đội, sau đó được đi học ở khu học xá Nam Ninh (Trung Quốc) Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, ông đã xung phong lên vùng đất Tây Bắc, khai hoang, mở trí Đây là một bước ngoặt rất quan trọng trong cuộc đời

ông Ông từng tâm sự rằng: “Tôi ra đi theo biến cố của mốc lịch sử hào hùng năm 1954, mở đầu thời kỳ hòa bình lập lại, thế hệ thanh niên miền Bắc theo tiếng gọi của những Đan cô, Paven Cooxaghin mang sứ mệnh cao đẹp đi đến những vùng khó khăn nhất của đất nước Sống nhiệt thành, lửa dân tộc bùng lên, đi như viên đạn thẳng đầu, ấy là tâm thế của cả một thế hệ…” [ 80, tr.41]

Năm 1960, Đinh Trọng Đoàn được cử về học tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội Lúc

đó, ông đang là hiệu trưởng trường cấp II Lào Cai, vốn viết lách cũng đang phát triển Về Hà Nội, ông được gặp gỡ nhiều thầy cô, bạn bè, tiếp xúc với nhiều trí thức và ông đã không ngừng học hỏi, trau dồi kinh nghiệm Kết thúc khóa học, Đinh Trọng Đoàn lại trở về Lào Cai tiếp tục công tác với cương vị mới là phó tổng biên tập báo Đảng bộ Lào Cai Sau đó là làm thư ký cho ban Bí thư Tỉnh uỷ Lào Cai Đến năm 1974, ông trở thành hội viên Hội nhà văn Việt Nam, đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam

Trong một lần đi công tác ở vùng nông thôn, Đinh Trọng Đoàn làm quen với ông Ma

Văn Nho Mối quan hệ thân thiết giữa hai người được nhà văn kể lại như sau: “Có những lần tôi bị ốm nặng, anh Nho tiêm thuốc, trèo đèo lội suối cõng tôi đi Rồi chúng tôi kết nghĩa anh

em và tôi lấy họ Ma của anh ghép vào với tên mình thành Ma Văn Kháng” [70, tr 95]

Với một thời gian gắn bó với mảnh đất Lào Cai khá dài, Ma Văn Kháng đã cảm nhận một cách tinh tế cuộc sống của người dân nơi đây Dần dần nhà văn càng khám phá ra những vẻ đẹp riêng rất độc đáo của con người và thiên nhiên ở miền sơn cước này Những vẻ đẹp hồn nhiên, thơ mộng dường như lúc nào cũng hiện lên lung linh trước mắt ông, khiến ông không thể không cầm bút Và những trang văn đầu tiên về mảnh đất mà ông xem như quê hương thứ hai của mình đã đến với độc giả Sự thành công của ông là kết quả của quá trình lao động cần cù, chịu khó trong cuộc sống cũng như trong lao động nghệ thuật Ma Văn Kháng đã luôn muốn mình phải vận động, vật lộn với cuộc sống để cắt nghĩa hiện tượng và tìm ra chân lý Những gì

Trang 20

ông từng trải, từng thấy, từng cảm nhận, khi đi vào trang văn cũng sôi động như chính cuộc đời thực của nó vậy

Năm 1976, sau khi nước nhà thống nhất, Ma Văn Kháng rời Lào Cai để trở về Hà Nội và hoạt động như một nhà văn chuyên nghiệp Từ đây, sáng tác của Ma Văn Kháng nở rộ, những

gì ông nung nấu, ấp ủ bấy lâu nay được trải dài trên những trang văn, các tác phẩm ra đời nhanh chóng như một tất yếu của cuộc sống Tuy nhiên, những năm đầu sau khi trở về Hà Nội, đề tài

Ma Văn Kháng phản ánh vào trong tác phẩm vẫn là cuộc sống và con người miền núi Có thể nói, đây là giai đoạn chiêm nghiệm, là sự hồi tỉnh của tiềm thức, nó thôi thúc nhà văn phải viết

và viết bằng tất cả sự trải nghiệm về cuộc đời

Viết nhiều, viết khỏe và được bạn đọc đón nhận ở cả hai thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn Từ khi bước vào nghề văn cho đến nay, Ma Văn Kháng đã có gần năm mươi năm cầm bút Cùng với thời gian, các tác phẩm của ông ra đời đã để lại cho độc giả những ấn tượng thật

khó quên Sự nghiệp văn chương của ông được đánh dấu bằng truyện ngắn đầu tay mang tên Phố cụt (1961) và tiểu thuyết đầu tay in năm 1976, nhưng ông bộc bạch rằng: “tự coi là qua được kỳ tập dượt là từ những năm 80” [63, tr 206] Bởi vậy, sau những năm 80, nhiều tác phẩm có giá trị

lần lượt ra đời và Ma Văn Kháng đã dần khẳng định được vị trí của mình trên văn đàn cũng như trong lòng người đọc

Trong thể tài tiểu thuyết, một thể tài văn xuôi được Ma Văn Kháng đặc biệt lưu tâm tích

lũy, được đánh dấu với “đứa con tinh thần đầu lòng” là Gió rừng Nhìn một cách bao quát, sự

nghiệp sáng tác của Ma Văn Kháng có thể chia thành hai giai đoạn, trước và sau những năm đầu của thập niên 80 Tuy nhiên, mọi sự phân chia ở đây cũng chỉ mang tính tương đối Và ở mỗi giai đoạn, ông đều có những đóng góp nhất định cho văn học nước nhà và để lại dấu ấn khó quên trong lòng người đọc

Trong giai đoạn đầu, tiểu thuyết của Ma Văn Kháng tập trung viết về đề tài miền núi Nhìn chung, ở giai đoạn này, tiểu thuyết của ông còn mang khuynh hướng sử thi rất rõ, nhưng ông đã có đóng góp thực sự cho mảng văn học viết về miền núi

Giai đoạn sau, có thể xem Mưa mùa hạ (1982) như là một dấu mốc đánh dấu bước

chuyển trong đời văn Ma Văn Kháng Lúc này, tiểu thuyết của ông đã có sự thay đổi rõ rệt về

đề tài, tư duy nghệ thuật, đó là những tiểu thuyết hướng về đời sống của người dân thành thị đương thời với những mặt tích cực, tiêu cực của nó

Qua từng chặng đường sáng tác, chúng ta có thể thấy rõ sự vận động của tiểu thuyết Ma Văn Kháng về quan niệm, cảm hứng nghệ thuật và bút pháp nghệ thuật Viết về cuộc sống của

Trang 21

đồng bào dân tộc vùng cao trong suối nguồn cảm hứng sử thi còn kéo dài sau chiến tranh, ngòi bút tiểu thuyết Ma Văn Kháng đã đạt được thành tựu trên nhiều phương diện Do chịu ảnh hưởng của khuynh hướng văn học sử thi, phần lớn nhân vật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng được soi chiếu từ góc nhìn chính trị - xã hội, cái nhìn con người thiên về lối tư duy nhị phân rạch ròi Cũng có những dấu hiệu của sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người, đó là việc tác giả đem tình yêu gắn với cảm xúc nhục thể vào trang viết, song chứng kiến

sự đổi thay thực sự trong tư duy nghệ thuật của Ma Văn Kháng thì phải đợi đến chặng thứ hai trong quá trình sáng tác của ông

1.2.2 Hệ đề tài trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng:

1.2.2.1 Đề tài dân tộc và miền núi

Nhìn vào thực tế hoạt động văn chương cho thấy, thường thì mỗi một nhà văn đều chọn cho mình một vùng đất thích hợp với sở trường để làm nơi “gieo mầm” văn chương, phát triển

sự nghiệp Nguyễn Quang Sáng thì có duyên với vùng sông nước Nam Bộ, nét hùng vĩ của núi rừng Tây Nguyên đã là đặc điểm quen thuộc trong những tác phẩm của Nguyên Ngọc, Tô Hoài lại lên Tây Bắc… Còn Ma Văn Kháng, đến với văn chương, ông chọn cho mình vùng miền núi cao, cụ thể là mảnh đất Lào Cai, mảnh đất có nhiều dân tộc anh em sinh sống làm nơi gieo mầm sáng tạo

Ma Văn Kháng không phải là người đầu tiên khai thác các sự kiện lịch sử nơi biên giới, bởi trước đó đã có Tô Hoài, Thế Lữ, Lan Khai Chấp nhận thực tế ấy và nhận ra sẽ có không ít khó khăn, nhưng bản chất của văn chương là sáng tạo, không thể giẫm lên dấu chân của người

đi trước Gắn bó với vùng đất ấy khá dài nên “Ma Văn Kháng không dừng ở cái nhìn quen thuộc gói gọn trong quan điểm giai cấp”, mà ông chú ý nhiều đến “đời sống con người và xã hội vùng biên ải gắn chặt với một trình độ văn hóa, một giới hạn văn minh”, bởi một lẽ “Thế giới ở thời mới khai thiên là nơi ngự trị của cái hoang sơ rừng rú Vô khối con người ở đây không ý thức được hành vi của mình” [35, tr.12] Và với hơn hai mươi năm cần cù tích lũy tư

liệu, vốn sống, Ma Văn Kháng đã có những tác phẩm tiêu biểu như: Gió rừng (1976), Đồng bạc trắng hoa xòe (1979), Vùng biên ải (1983), Trăng non (1984) và Gặp gỡ ở La Pan Tẩn

(2001) Tuy chưa phải là nhà văn viết về miền núi hay nhất, nhưng những tác phẩm của ông đã

“làm sống lại bức tranh đời sống hiện thực mang tính chất sử thi về con đường của các dân tộc miền núi phía bắc làm cuộc đổi đời, đi theo cách mạng mà từng người lao động lương thiện giữ gìn và phát huy được phẩm cách của mình, mỗi cộng đồng dân tộc từng bước tiến đến ấm no, hạnh phúc và văn minh” [35, tr.10]

Trang 22

Gió rừng là nét phác thảo về cuộc sống của đồng bào Dao đỏ, ở xã Chin San đang trong

thời kì thực hiện chủ trương hợp tác hóa nông nghiệp, kết hợp với hoàn thành cải cách dân chủ

Còn Trăng non, như chính tác giả đã thú nhận, nó là “một vòm trời cổ tích” Miêu tả công cuộc

xây dựng một vùng kinh tế mới lên sản xuất lớn, một cuộc sống đầy gian lao, vất vả nhưng có sức hút mãnh liệt đối với những khát khao của bao kiếp người bao đời khốn khó, có sức lay động những tâm hồn u mê và thức tỉnh cả những kẻ lầm đường lạc lối của người dân Xã Hồ Trong cuộc chiến tranh bảo vệ nền độc lập của Tổ Quốc, trong gian khổ của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền núi và miền xuôi đã sát cánh cùng nhau, kiên trì thực hiện lí tưởng độc lập, tự do, bình đẳng, bác ái và nhân văn Những tác phẩm của Ma Văn Kháng ra đời nối

tiếp nhau như để “làm sáng lên bức tranh lịch sử - xã hội hào hùng, bi tráng của một vùng miền núi phía Tây Bắc nước ta trọn một nửa thế kỷ, từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống

Pháp đến thời kì xây dựng trong hòa bình và chống Mỹ cứu nước” [35, tr.11] Đồng bạc trắng hoa xòe và Vùng biên ải có thể xem như một bộ tiểu thuyết liên hoàn hai tập, phản ánh một

cách sinh động hiện thực lịch sử đời sống của đồng bào dân tộc Lào Cai trong bối cảnh đêm

trước cách mạng và trong những năm kháng chiến Đến Gặp gỡ ở La Pan Tẩn một câu chuyện

về người thầy giáo Thiêm tận tụy, hết lòng cho sự nghiệp khai sáng bộ tộc Mèo La Pa Tẩn thì bối cảnh câu chuyện chủ yếu vẫn là cuộc sống miền núi Thế mới biết, miền núi với Ma Văn Kháng như một duyên nợ vậy

Tô Hoài cũng là một trong những nhà văn viết về chế độ lang đạo thổ ty miền núi, và đã tạo nên được sắc thái riêng cho những tác phẩm của mình Ma Văn Kháng, Tô Hoài và các nhà văn viết về miền núi khác đều gặp nhau ở chỗ là cùng tái hiện cái ác, cái tàn bạo của chế độ lang đạo thổ ty ở đó Tuy nhiên, cái đặc sắc trong những tác phẩm của Tô Hoài là ông còn cho người đọc thấy được cái đẹp say người của tinh hoa văn hóa miền núi, và không phải nhà lang

nào cũng như nhau Hình ảnh nhà lang Đinh Công Diêu trong Đà Bắc, Mai Châu ngày ấy, một

nhà lang được cách mạng giác ngộ và đi theo cách mạng, mang một vẻ đẹp giàu bản sắc văn hóa dân tộc Có thể xem đó là một hình ảnh hiếm hoi về một nhà lang Tuy vậy, có thể nói rằng, bằng tài năng, cảm quan nghệ thuật riêng của mình, mỗi nghệ sĩ khi viết về miền núi đã tái hiện rất sinh động những đặc trưng của văn hóa miền núi với ít nhiều dấu ấn riêng Đấy cũng là những thành công đáng ghi nhận, trong đó có Ma Văn Kháng

Viết về miền núi, cũng như một số nhà văn khác, Ma Văn Kháng cũng viết về thổ phỉ, chế độ lang đạo thổ ty, nhưng cái riêng trong những tác phẩm của ông là: ông thường nhìn nhận

vấn đề một cách toàn diện, tỉ mỉ và tìm cách giải quyết nó một cách toàn vẹn, triệt để Ngoài

Trang 23

việc quan tâm xây dựng hình tượng như một số nhà văn khác, Ma Văn Kháng còn hướng đến giải thích bản chất, cội nguồn lịch sử của các hiện tượng, vấn đề Đây là một đặc điểm riêng của ông, và chính đặc điểm này khiến cho tiểu thuyết Ma Văn Kháng đầy ắp thông tin, dồi dào tư liệu… Và Ma Văn Kháng đã thành công trong việc xử lý, kết hợp hai yếu tố tư liệu và chất văn thật nhuần nhuyễn, cho nên tác phẩm có sức lôi cuốn người đọc

Viết chế độ phong kiến thế tập phiên thần, Ma Văn Kháng đã viết về những tên thổ ty, những lãnh chúa khét tiếng một cách rất sinh động Mỗi tên trấn giữ một vùng với luật pháp và quân đội riêng của mình Không ai giống ai, mỗi người một vẻ, uy quyền của mỗi thổ ty được thể hiện rõ nét qua kiểu kiến trúc nhà ở và luật lệ riêng Thổ ty Hoàng Văn Chao, có tòa nhà nhìn từ bên ngoài qủa thực rất kỳ dị, không thể gọi tên, bởi sự pha tạp của nhiều kiểu kiến trúc

Luật pháp trong tay Chao, được văn bản hóa với các điều luật chi tiết, lạ lùng như: “Chó cắn seo phái chủ chó bị phạt một đồng, cắn binh thầu tăng lên hai đồng Ngựa vào ruộng nhà quan, bất kể đã vặt ngọn thuốc phiện nào chưa, cứ theo lệ, phạt hai lạng thuốc và năm đồng bạc Mỗi năm, mỗi nhà dân trong châu phải góp cho nhà quan một cân thóc, một cân gà, gọi là thóc khách, gà khách; ai chậm nộp, phạt gấp đôi …” [35, tr.175] Cái hà khắc, tàn bạo của chế độ

thổ ty thể hiện ngay trong những luật lệ ấy Chỉ chừng ấy thôi, người đọc cũng có thể hình dung

về cuộc sống của đồng bào dân tộc trong xã hội cũ Và chính những trang viết như thế về

những thổ ty như La Văn Đờ, Nông Vĩnh Yêng trong Đồng bạc trắng hoa xòe đã đưa chúng ta

trở về với chế độ phong kiến thế tập phiên thần một thời

Sức lôi cuốn trong tiểu thuyết viết về miền núi của Ma Văn Kháng, không chỉ là ở những

tư liệu, những thông tin mà tác giả đã dày công tìm hiểu, góp nhặt… mà nó còn nằm ở những trang viết đặc sắc về thiên nhiên, lối sống, phong tục tập quán mang dấu ấn xứ sở của vùng đất rẻo cao

Với ngòi bút trữ tình, thiên nhiên vùng cao đã đi vào những trang tiểu thuyết của Ma Văn Kháng đầy tính nguyên sơ và thơ mộng Chúng ta như đi vào một thế giới xa lạ khi đọc những

câu văn tác giả viết về xứ Hmông: “Xứ lạ này, trâu trông thấy người mặc áo trắng, tưởng con vật lạ, xông tới giương sừng đòi tỷ thí” Khi đến tận nơi lại “có cảm giác đã được đặt chân tới cái ngõ hẻm tận cùng trời bị lãng quên của vũ trụ” Ngọn gió xứ này cũng làm ngất ngây hồn người, “gió xuân hây hẩy mùi men rượu, gió hè nồng đậm hương trà, gió thu mang mùi cây lá thơm và mùa đông gió chở múi tuyết băng” Trên bản làng có những đêm trăng rất đỗi mộng mơ: “Trăng tãi sáng Dưới làng mờ mờ bóng nhà Nước ở các mảnh ruộng bậc thang hất lên long lanh ánh gương soi” Xứ này còn đẹp ở trong những câu chuyện cổ, trong những câu hát

Trang 24

trữ tình, hồn nhiên: “Đêm qua đêm tàn Ta lê bước về nhà Hồn ta còn ngủ ở thắt lưng em”, hay

“Nếu ta là hạt sương, ta xin tan trên tay nàng Nếu ta là hạt mưa, ta xin tan trên chân nàng”…

Đời sống của những người dân miền núi còn nhiều lắm những nỗi nhọc nhằn, nhưng không vì thế mà buồn, mà ít thi vị Trái lại, cứ mỗi độ xuân về, cuộc sống nơi đây lại như những ngày hội Nào là “hội ăn ước” – bàn bạc về những dự định của công việc trong năm, “hội gầu tào” (hội leo núi mùa xuân) với đủ các trò chơi như thi ngựa, đánh én, chọi chim, ném pao… Và từ khi có bộ đội về làng, miền đất ấy còn có thêm những đêm “lửa trại công đồn”,

“lửa trại đêm đông” với không khí rộn ràng, ấm áp tình quân dân

Hình ảnh những phiên chợ vùng cao với nhiều nét đặc trưng riêng cũng làm cho người đọc phải nhớ mãi Đàn ông thì có khu chợ súng dành riêng cho mình, với đầy đủ những mặt hàng là sản phẩm của kỹ nghệ chiến tranh Những sản phẩm ấy được “bày trên chõng con, trên mẹt, trên nón sơn để ngửa dưới đất, trên mảnh vải bạt vải dù như một thứ hàng thông thường quen thuộc” Vui nhộn nhất vẫn là phiên chợ chính bởi “người mua đi lại như nước chảy”, có

“các cô gái Mèo diện váy sặc sỡ, xanh đỏ, vòng bạc sáng trắng như thủy ngân” Trong phiên chợ chính ấy, đặc sắc nhất có lẽ là các hàng ăn với những chảo thắng cố nhiều loại: thắng cố ngựa, thắng cố chó, thắng cố dê, những chảo thịt đang sôi ình ịch, bốc khói không cạn Khách quen có thể uống chịu, thiếu tiền mặt thì đổi thuốc phiện, củ thuốc Có một cảnh mà có lẽ ở bất

cứ một vùng miền nào ở xuôi cũng không thể có, đó là cảnh “cả chợ say” Đàn ông uống rượu say lăn ra mà ngủ ở các quán lều, bên cạnh là những bà vợ ngồi canh giấc cho họ, chờ khi họ tỉnh dậy thì đỡ họ lên ngựa và về nhà Cảnh này không phải lần đầu được nhắc đến trong tiểu

thuyết Ma Văn Kháng, mà ở những tác phẩm Họ Giàng ở Phìn Sa, Miền Tây của Tô Hoài ta

đã hơn một lần được chứng kiến Ở đó cũng có hình ảnh các ông chồng uống rượu say, trên đường về khi gặp người đi qua, các bà vợ thường nhấc cao ô chào hỏi như muốn khoe rằng chồng mình có nhiều bạn nên mới được uống say như thế Nhưng Tô Hoài chỉ miêu tả cảnh ấy một cách rất khái quát, còn Ma Văn Kháng ông dừng lại lâu hơn, miêu tả tỉ mỉ hơn Chính vì thế, khi đọc những tác phẩm của ông, người đọc tìm thấy những cảm xúc thẩm mĩ tốt đẹp, những chi tiết thân quen ấy còn góp phần khơi dậy tình yêu mến quê hương xứ sở

Cuộc sống khốn khó của đồng bào vùng cao đi vào tác phẩm của Ma Văn Kháng một cách rất bình dị Ông không hề thi vị hóa, lý tưởng hóa cuộc sống ấy Nơi ấy, lịch sử luôn có những biến động thăng trầm Hình ảnh khu chợ súng - một biểu trưng sinh động của sự loạn lạc

đã thể hiện rất rõ điều đó Từ những phong tục, tập quán cổ hủ, lạc hậu: thờ ma, cúng ma chữa bệnh, tục nối dây, tục cướp vợ…, bức tranh đời sống tăm tối, đau thương của đồng bào rẻo cao

Trang 25

đã được tác giả tái hiện một cách sống động, khiến người đọc cứ ám ảnh mãi về miền đất ấy Sự tối tăm của đời sống nơi đây còn thể hiện ở những niềm tin thơ ngây vào một đấng tối cao nào đấy ngoài con người, mà với họ là rất đỗi thiêng liêng Họ thờ “Vua Mèo” vì họ cho rằng một đấng tối cao có nhiều phép lạ như thần thánh, chỉ cần “phất tay thì lau thành mía”, “lá chuối thành vải”, “giậm chân là cỏ thành ngô” Thế mới hiểu được rằng, cái nghèo đói cơ cực luôn vây bủa, bám chặt vào từng cuộc đời, từng thành viên của bộ tộc Những con người tội nghiệp

ấy chỉ có thể tìm được cơm no, áo ấm trong niềm tin mù quáng, trong trí tưởng tượng hư ảo mà thôi

Nam Cao từng nói: “Sống đã rồi hãy viết” Câu nói này rất đúng với trường hợp của Ma Văn Kháng Ông gắn bó với dân tộc Mèo, ăn ở, sinh hoạt cùng họ, nên khi ông viết về họ, người đọc cứ ngỡ ông là người Mèo chính gốc Ông đến với vùng rừng núi xa xôi, hiểm trở ấy bằng cả trái tim tình nguyện của một người muốn đi tìm vẻ đẹp trong chiều sâu nhân bản, trong cái hoang sơ của núi rừng Ma Văn Kháng luôn nghĩ rằng: phải sống hết mình vì nhân dân trước rồi sau đó mới có thể làm một cái gì thích hợp với sở trường của mình Và thực tiễn sáng

tác của ông đã phản ánh đúng điều nhà văn suy nghĩ: “Sự ra đời của những trang viết ở ngay vị trí công tác là kết quả ở cả hai phía: người viết văn và người cán bộ nhưng hài hòa làm một từ gốc rễ sâu xa; một tình yêu, một cách cảm nghĩ và một lối sống đúng đắn Tình yêu, cách cảm nghĩ và lối sống ấy được chung đúc lại thành ý thức trách nhiệm của người cầm bút trong việc

tự khẳng định phong cách nghệ thuật của mình trên cơ sở bảo đảm tính chất dân tộc đậm đà cho tác phẩm - hai yêu cầu nhất thiết phải được gắn kết một cách nhuần nhuyễn trong một hiện tượng nghệ thuật thống nhất, xem nhẹ mặt nào đều là không đúng yêu cầu của đề tài này” [ 77,

tr 132]

Viết về vùng đất biên ải đó, Ma Văn Kháng cho chúng ta thấy rằng, cuộc sống ấy, những con người ấy đáng thương biết chừng nào Tuy nhiên, những gì xảy ra trên những mảnh đất vùng cao ấy không chỉ là thầy mo, ma thuật, thổ phỉ, không chỉ là những cam chịu, niềm tin mù quáng; mà còn là hình ảnh của những con người lao động và chiến đấu dũng cảm bên cạnh

người Kinh Điều này đã được nói đến trong Gió rừng và Trăng non, nhưng Ma Văn Kháng

chưa thực sự thành công khi đề cập đến công cuộc xây dựng cuộc đời mới của những con người

đã được cách mạng giác ngộ

Dẫu vậy, với những gì đã làm được, người đọc đã có thể tìm thấy ở các tác phẩm của Ma Văn Kháng những bức tranh sống động, những câu chuyện, những con người và con đường của người dân tộc thiểu số đã tìm tòi để hòa nhập vào cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam như thế

Trang 26

nào Khát vọng sống trong độc lập và tự do, lịch sử đấu tranh đau thương mà anh dũng, quả cảm, đời sống thường nhật, bản sắc văn hóa, phong tục tập quán, nếp sống, nếp nghĩ của các dân tộc anh em trên dải đất Tây Bắc liền kề biên giới phía Bắc đã hiện lên khá đậm đà Những

gì ông thể hiện trong các tác phẩm của mình đã cho chúng ta thấy ở ông có một vốn sống về miền núi sâu rộng, cảm nhận ở ông một tấm lòng chan chứa yêu thương, thủy chung trọn vẹn dành cho đồng bào và một tâm hồn nhạy cảm tinh tế Hơn thế, những tác phẩm của ông đã góp phần làm nên cái phong phú, đa dạng của mảng văn học viết về các dân tộc anh em

1.2.2.2 Đề tài về đời sống của người dân thành thị sau 1975

Từ sau 1975, văn xuôi Việt Nam vận động và phát triển trong một hoàn cảnh mới - cuộc sống thời bình Ý thức tinh thần xã hội đã và đang có nhiều biến đổi theo chiều hướng dân chủ hóa, kéo theo sự dân chủ hóa trong ý thức nghệ thuật dẫn đến hàng loạt thay đổi trong đó có quan niệm về hiện thực Hơn nữa, cách tiếp cận hiện thực đời sống của văn học trong giai đoạn này cũng đã khác trước Đấy là những điều kiện có tính nền tảng cho sự mở rộng đề tài trong văn xuôi Việt Nam nói chung Cùng với những biến đổi chung của văn học nước nhà, Ma Văn Kháng cũng đã có những thay đổi lớn trong sự nghiệp cầm bút của mình Đó là sự chuyển hướng trong cảm hứng hiện thực, trong bút pháp của nhà văn được đánh dấu bằng tác phẩm

Mưa mùa hạ

Có lẽ khi chứng kiến những tác phẩm viết về miền núi Tây Bắc của Ma Văn Kháng, không ít người đã nghĩ rằng ông chính là “nhà văn dân tộc vùng cao”, nhưng ông thực sự đã làm người đọc bất ngờ trước bước ngoặt này Vốn là người thành phố, khi trở về với tư cách như một người đi xa trở lại chốn cũ, Ma Văn Kháng có dịp chứng kiến tất cả những biến động

dù là nhỏ nhất ở nơi đây Những cảnh đời mới, những hiện tượng nghịch mắt của cuộc sống trong thời kì mới đã khiến ông cần phải nói, phải viết Đấy cũng chính là nguồn cảm hứng dồi

dào cho một giai đoạn sáng tác mới của ông Mưa mùa hạ (1982), Mùa lá rụng trong vườn (1985), Đám cưới không có giấy giá thú (1989)… lần lượt ra đời đã làm cho đời sống văn học

vốn đang rất sôi động càng sôi động hơn Trên phương diện đề tài, giai đoạn này, tiểu thuyết

Ma Văn Kháng đã có sự mở rộng đáng chú ý: đề tài quản lý kinh tế xã hội và đề tài thế sự, đạo đức xã hội Thực sự đây là giai đoạn mà tiểu thuyết của ông có nhiều thành tựu đóng góp cho nền văn học đổi mới

Sau 1975, đặc biệt là từ giữa những năm 80 trở đi, về phương diện quản lí kinh tế - xã hội trong thời bình ở nước ta có nhiều vấn đề đáng nói Bên cạnh những thành tựu mà chúng ta

đã đạt được trong công cuộc xây dựng đất nước, cũng còn tồn tại nhiều thiếu sót, hạn chế trong

Trang 27

cơ chế tổ chức quản lí điều hành; trong nhận thức về cách mạng XHCN đâu đó vẫn còn ấu trĩ, non nớt Bởi vậy, hướng về đề tài quản lí kinh tế - xã hội là một hướng tiếp cận mới của văn học giai đoạn này Thực hiện phương châm “nhìn thẳng vào sự thật” mà Đại hội Đảng lần thứ

VI đã vạch ra, văn học đã vào cuộc, đảm nhận sứ mệnh mới: đào sâu vào hiện thực cuộc sống, truy tìm nguyên nhân, cắt nghĩa hiện thực, đồng thời góp phần xây dựng một cơ chế quản lí hiệu quả, dân chủ hơn, vì con người nhiều hơn nữa

Như một tất yếu, trong mảng đề tài này, vấn đề con người quản lí được đặt ra hàng đầu,

vì đây chính là “nhân vật trung tâm của các cuộc vận động chống quan liêu bao cấp, đổi mới

cơ chế, cải tiến quản lí” [67, tr 242] Trong tiểu thuyết của mình, Ma Văn Kháng đã không né

tránh hiện thực cuộc sống đang diễn ra trước mắt Ngược lại, ông đã mổ xẻ sự thật như một nhu cầu thực sự của người cầm bút Ông đã không ngần ngại xây dựng một loạt nhân vật quản lí tiêu cực như bí thư thị ủy Lại, bí thư chi bộ Dương, hiệu trưởng Cẩm, tổng cục trưởng Nguyễn Văn Phô… Đó là những con người yếu về năng lực, thấp về trình độ, là hiện thân nguyên nhân của sự hỗn loạn các chuẩn mực giá trị đạo đức, bệnh quan liêu… Điểm qua một số gương mặt tiêu biểu ta sẽ thấy rõ điều đó Là một bí thư Thị uỷ - “người đại diện cho cả một thời đại”

nhưng ông Lại là người xuất thân là một “đồ tể” Cái thấp kém về trình độ của ông Bí thư thể

hiện ngay trong lời phát biểu nhân ngày khai trường của một trường cấp ba mới được thành lập

ở thị xã miền núi: “Hôm nay, thị xã ta khai giảng trường cấp ba Rồi đây chúng ta sẽ mở trường cấp bốn, cấp năm, cấp sáu Cũng như hiện tỉnh ta đã có giống lợn Mường Khương, nhiều mỡ, rồi đây ta sẽ có giống lợn lai kinh tế nhiều nạc, tăng trọng nhanh” [82, tr 102] Một

sản phẩm được đào tạo hết sức chắp vá là hiệu trưởng Cẩm “Cẩm vào nghề giáo đâu có phải là

từ một hành vi tự nguyện! Có sức khỏe, lại giật giải trong cuộc chạy thi 1.000m ở huyện, anh bí thư đoàn xã tên Nguyễn Văn Cẩm nọ được mời vào dạy thể dục ở trường ” Sau đó “vì Cẩm là đảng viên duy nhất ở trường” nên được đề bạt làm hiệu trưởng và được cử đi học Đại học Sư phạm, nghĩa là do nhu cầu khách quan chứ không phải do Cẩm muốn Và cuối cùng là Cẩm trở thành một giáo viên văn mà cả đời “chưa đọc hết lượt truyện Kiều” nên Cẩm dạy truyện Kiều như “làm trò cười cho giáo giới” Bí thư chi bộ Dương lại xuất hiện như là một cái máy, một điển hình cho sự giáo điều, lúc nào cũng chỉ có mấy từ cửa miệng: “Xét trên quan điểm toàn diện” Là một bí thư chi bộ hẳn hoi nhưng ông Dương cắt nghĩa Mácxít là “chủ nghĩa Mác cộng với Xittalin” Ở ngôi trường Trung học số 5 ấy, Dương giữ chức vụ bí thư chi bộ đã mười lăm năm nhưng ông chẳng có được công trạng gì đáng kể Mọi người nhìn vào thì thấy đó chỉ là một con người “vô tích sự và thật lố lăng, vì ông như một con rối mà lại tưởng rằng mình là

Trang 28

nhân vật quan trọng số một” Đó còn là ông cục trưởng Nguyễn Văn Phô nổi tiếng với câu nói

“Tôi không cần người có tài, tôi chỉ cần đoàn kết”

Ma văn Kháng đã khắc họa mỗi nhân vật với một chân dung mang những nét riêng biệt, rất sinh động Điểm chung của họ: đều là những người nắm giữ cương vị quan trọng, gánh vác trọng trách của Đảng và nhà nước, của đoàn thể, song lại kém năng lực, kém phẩm chất của người cán bộ Các nhân vật quản lý tiêu cực ấy đều đặt nhầm chỗ và ngồi sai vị trí Bởi vậy, họ trở thành những mối họa cho xã hội, kìm hãm những con người tài năng đức độ xung quanh họ

Vậy tại sao lại có hiện tượng như thế? Tại sao lại có nhiều sự đặt nhầm chỗ đến vậy? Ở chỗ này, chỗ kia trong tác phẩm của mình, Ma Văn Kháng đã cắt nghĩa hiện tượng ấy xuất phát

từ cái nhìn đầy chính trị, cực đoan khi nhìn nhận, đánh giá con người của một thời bằng các hình tượng nghệ thuật sinh động Giá trị của con người được xem xét chủ yếu ở những phần không cơ bản, nằm ngoài con người, cụ thể là căn cứ vào lý lịch và thành phần xuất thân Hiệu trưởng Cẩm là “sản phẩm của một thời lấy lý lịch ba đời nghèo khó, lấy tấn phân xanh, phân chuồng làm ra thước đo giá trị duy nhất mỗi con người”, còn “lý lịch ba đời Cẩm, khỏi chê Cụ nội, ông nội, bố đều là mõ, loại cùng đinh, mạt hạng bấy giờ” Một người đạp xích lô như ông Nhuần cũng ý thức rất rõ về giá trị của mình trong gia đình Hằng ngày ông có thể kiếm được một khoản tiền gấp bảy tám lần lương của một anh thợ tiện bậc bảy trên bảy, nhưng không vì thế mà ông thấy mình có giá trị hơn Điều đáng tự hào là ở chỗ, cái nghề đạp xích lô đó của ông Nhuần đã đem lại cho gia đình ông danh hiệu “gia đình lao động dân nghèo thành phố” Vào thời này, đi đâu người ta cũng bắt gặp bức tranh vẽ những nhân vật tiêu biểu cho bốn tầng lớp chính yếu của xã hội: công, nông, binh, trí Bởi thế mà Liệu sẵn sàng “bỏ dở lớp bảy trong khi hoàn toàn có thể hoàn thành cấp học PTCS này” để trở thành “gã đánh xe ngựa ở một xí nghiệp

in của Hà Nội” Với Liệu, đó là một con đường tiến thân dễ dàng, vì anh có thể đến với tầng lớp thợ thuyền, được đứng cùng vị trí với những con người “hội đủ các ưu điểm lớn của thời đại”,

là “người tiêu biểu cho phương thức sản xuất mới”…

Trạng thái tư duy thô sơ của một bộ phận trong xã hội đã được phản ánh rõ nét qua câu

ca dao “Hết gạo chạy rông lại nhất nông nhì sĩ” Với suy nghĩ đó thì anh trí thức thời ấy chỉ là

“những kẻ mang sẵn cái mầm bất phục tùng và thói tự phụ cùng các nhược điểm thâm căn cố

đế như hoang mang dao động, xa rời đời sống…” [82, tr 329] nên phải nhận những cái nhìn

khinh rẻ, nghi ngờ của xã hội Hơn thế, trong con mắt bí thư Lại, tầng lớp trí thức tiểu tư sản

“chẳng qua chỉ là cái sinh thực khí, tức là cái của thằng đàn ông Nghĩa là xung trận, được kích thích nó cương lên Rồi sau đó thì ỉu xìu như thằng chết trôi” Có lẽ xuất phát từ đây mà trong

Trang 29

những tác phẩm Ma Văn Kháng viết ở giai đoạn sau, ta thấy ông đặc biệt quan tâm tới thân phận của tầng lớp trí thức chân chính Ông thấu hiểu nỗi niềm của họ, thông cảm với họ một cách chân thành Ông gọi họ là “những kẻ đồng hành với cách mạng” và trăn trở rằng “đi cùng với nhau trên một đoạn đường, mà lại cứ luôn luôn bị chê bai, đả kích và nhất là…bị dè chừng” Phải chăng, đằng sau nỗi niềm ấy, Ma Văn Kháng muốn nhắn gửi điều gì? Thiết nghĩ rằng, đó là mong muốn nhìn con người bằng đôi mắt nhân bản hơn, xuất phát từ giá trị tự thân của con người Bởi chỉ có như vậy, mỗi con người trong xã hội mới có thể tìm thấy giá trị đích thực của mình và những căn bệnh khác của xã hội mới có thể giải quyết được một cách rốt ráo

Đã có một thời, người ta coi số đông là duy nhất đúng, anh làm trái với số đông chứng tỏ

tư tưởng của anh “có vấn đề” Cho nên, khi viết về đề tài quản lý, Ma Văn Kháng một lần nữa đặt ra vấn đề về mối tương quan giữa số đông và chân lý Ông đồ Biểu, bố của Tự trong tác

phẩm Đám cưới không có giấy giá thú là một bằng chứng Ông là một Đảng viên, “tuy đứng

cùng một đội ngũ với ông bí thư huyện ủy, anh cán bộ thuế nông nghiệp, chị huyện hội phụ nữ, chú giám mã huyện đội… nhưng trong đối xử, vẫn bị gạt ngầm sang một phía khác” Hay trong các kỳ sinh hoạt chi bộ cũng luôn bị phê phán là “lạc hậu, cổ hủ, cá nhân chủ nghĩa cao độ, xa rời tập thể…” Có muôn vàn lý do để họ đối xử với ông như vậy Họ cho rằng làm sao ông có thể xứng danh là một cán bộ cách mạng được, khi mà “cứ đến ngày húy kỵ ông bà cha mẹ lại thắp một nén hương, ngồi bần thần tưởng niệm!” Vì “hai cha con nấu ăn riêng, anh em ngồi chơi tú lơ khơ thì ngồi trong màn đọc sách Công đoàn đề ra kế hoạch tăng gia trồng mướp, thì lại bắc giàn thiên lý, bảo trồng rau muống thì lại ươm lay ơn với thược dược Rõ phức tạp! Thậm chí, quanh năm chẳng thấy bao giờ ra suối tắm cùng đồng chí đồng nghiệp…” Cũng

chính vì “số đông” ấy mà cuộc sống của Khiêm và cuốn “Bến bờ” - một tác phẩm tâm huyết

của anh phải lao đao, khốn đốn… Do được hình thành dưới áp lực của quyền hành, sự đồng lõa của nỗi sợ hãi, tính a dua a tòng, thói tính toán vụ lợi và thiếu năng lực tự chủ cá thể, nên “số đông” đâu thể biết thế nào là sai thì làm sao biết được thế nào là đúng Đây thực sự là một vấn

đề bức thiết của xã hội, cho nên việc Ma Văn Kháng đặt lại vấn đề như thế quả là rất cần thiết

Sự cần thiết để cổ vũ cho tinh thần dân chủ, ý thức làm chủ của mỗi cá nhân

Vì tính cần thiết đó mà văn xuôi của những năm 80 đã hướng về đề tài quản lý một cách

có quy mô và sôi động Nhìn vào thực tế cho thấy, giai đoạn này các nhà văn khác cũng đã cho

ra đời những cuốn tiểu thuyết nóng bỏng tính thời sự Tiêu biểu là Nguyễn Mạnh Tuấn với hai

tác phẩm: Đứng trước biển (1982) và Cù lao tràm (1985) Cù lao tràm chính là “một diễn đàn

phát ngôn về nhiều vấn đề phát triển kinh tế, tổ chức đời sống làng xã, về đào tạo và sử dung

Trang 30

cán bộ, về phẩm chất và năng lực, nhân cách và lối sống của người cán bộ trong điều kiện Đảng cầm quyền” [Lại nguyên Ân, Sống với văn học cùng thời, tr.119] Điều đó cho thấy sự

nhạy cảm đặc biệt tinh tế cũng như bản lĩnh mạnh mẽ của những người cầm bút Trong dòng chảy đó, Ma Văn Kháng cũng đã hướng ngòi bút của mình trợ lực cho công cuộc cải tạo xã hội

với Mưa mùa hạ (1982), Mùa lá rụng trong vườn (1985) và mạnh mẽ nhất là Đám cưới không có giấy giá thú (1989) Cùng viết về đề tài quản lý nhưng mỗi nhà văn lại có hướng đi

riêng của mình Trong khi Nguyễn Mạnh Tuấn tập trung vào “việc áp dụng một phương thức quản lý mới trong kinh tế, nhằm phát huy quyền chủ động của xí nghiệp cơ sở và tính tích cực của người lao động”, hay có nên “cưỡng bức nông dân vào hợp tác xã hay không?”, thì Ma Văn Kháng lại chú ý nhiều hơn đến vấn đề quản lý xã hội, con người ở tầm vĩ mô Tuy nhiên giữa các nhà văn có điểm gặp gỡ, đó là họ đều đặt ra vấn đề trí thức và người lãnh đạo Và khi đề cập đến vấn đề này, Ma Văn Kháng đã nhấn mạnh về tư cách của người lãnh đạo, về mối liên minh có tính tất yếu giữa lực lượng công nhân với tầng lớp trí thức, về cách nhìn và đối xử với người trí thức… Tất nhiên, khi Ma Văn Kháng nói về vấn đề này, nhiều người nhận ra rằng vẫn

có đôi chỗ còn phải bàn Điều đáng qúy và ghi nhận đó chính là tâm huyết, sự nhiệt thành, một cái tâm trong sáng và bản lĩnh của người cầm bút nơi ông

Như đã nói ở trên, trong giai đoạn sau 1975, đặc biệt là từ những năm 80 trở đi, tiểu thuyết Ma Văn Kháng đã có sự chuyển hướng trên phương diện đề tài Bên cạnh đề tài quản lý

xã hội là mảng đề tài đời tư - thế sự, đạo đức xã hội, một đề tài mới của văn xuôi sau 1975

Sống ở Lào Cai một thời gian khá dài nên khi chuyển công tác về Hà Nội, Ma Văn

Kháng đã “phải mất đến dăm sáu năm mới làm quen được với lớp ngôn ngữ mới và tạo lập được cảm xúc mới” Thế nhưng, ở mảng sáng tác này ông cũng đã có nhiều tác phẩm thành

công trong việc miêu tả một xã hội thành thị sôi động nhưng đầy bất ổn trong quan hệ đời sống, đạo đức của con người

Sau chiến tranh, sự xuất hiện của nền kinh tế thị trường cũng như cuộc đấu tranh gay gắt giữa hai con đường XHCN và TBCN đang đẩy tới sự phân cực giữa đạo đức và phi đạo đức, nhân cách và phi nhân cách, thiện và ác, ánh sáng và bóng tối Xã hội lúc này trở nên phức tạp hơn và đang phải đối mặt với những “căn bệnh” nguy hại Đó là nguy cơ của sự băng hoại các giá trị chuẩn mực đạo đức truyền thống, nhân cách và bản lĩnh của mỗi con người trong xã hội đang bị thử thách Hơn lúc nào hết, với thiên chức của mình văn học cần phải hướng tới con người nhiều hơn, nâng đỡ tâm hồn họ và đưa họ trở về với những chuẩn mực thiện, mĩ Đó là lý

Trang 31

do ra đời của hàng loạt tác phẩm tiếp cận cuộc sống từ góc độ đạo đức nhân sinh, đời tư thế sự của Ma Văn Kháng cũng như các nhà văn khác

Viết về đề tài này, Ma Văn Kháng đã miêu tả cuộc sống đô thị ở tất cả các phương diện

có thể nhưng ngòi bút của ông đặc biệt hướng vào việc khám phá gia đình - cái tế bào của xã hội Ông đã đặt ra nhiều vấn đề mà xã hội đang phải đối đầu: Vấn đề về khoảng cách giữa hai

thế hệ, sự chông chênh của các mối ràng buộc gia đình “Gia đình, giọt nước của biển cả, cá thể của xã hội, liệu có thể vững vàng trong cuộc sống xây dựng đang có nhiều khó khăn, lắm bê bối này?” [34, tr.24] Ngược lại với quan điểm một thời xem gia đình là cái gì đó nhỏ nhoi,

không đáng kể, Ma Văn Kháng đã dành hẳn một cuốn tiểu thuyết để viết về gia đình: Mùa lá rụng trong vườn Câu chuyện tập trung xoay quanh gia đình ông Bằng, một gia đình trí thức cũ

ở Hà Nội Cứ ngỡ rằng, với sự cố gắng duy trì nếp sống cổ truyền vốn có của ông Bằng thì gia đình ông sẽ có một cuộc sống bình yên, tốt đẹp, nhưng cuối cùng, nếp sống ấy cũng không thể

nào thoát khỏi sự chi phối của kinh tế thị trường Ở Mùa lá rụng trong vườn, Ma Văn Kháng

không viết về những gì to tát, điều đáng chú ý là trong gia đình ấy không biết đã có bao nhiêu chuyện xảy ra chỉ sau một năm, giữa hai mùa cây trong vườn thay lá Cừ đã bỏ ra nước ngoài phản bội Tổ quốc, Lý rời bỏ gia đình mà đi theo một gã trai khác vào Sài Gòn, và ông Bằng cũng không còn Điều gì đã làm cho một gia đình vốn được coi là “mô phạm mẫu mực” ấy lung lay, đổ vỡ, rơi vào bi kịch?

Ma Văn Kháng đã xây dựng gia đình ông Bằng với hai lối sống trái ngược nhau Trong gia đình ấy, có những con người chọn cho mình lối sống nghiêng về các giá trị tinh thần như ông Bằng, chị Hoài, vợ chồng Luận - Phượng và Cần Và một bên là những người như Lý, Cừ, đại diện cho một lối sống tự do hơn, đặt nặng vấn đề vật chất hơn Đó chính là nguyên nhân gây

ra sự lủng củng, bất hòa, bất ổn trong các mối tương giao Điều mà ông Bằng mong muốn là

“cố gắng duy trì cái nền nếp có trăm ngàn điều nhỏ nhặt” để “xây dựng một gia đình hòa thuận, tôn ti trật tự, trên kính dưới nhường, trọng nghĩa khinh tài, hướng về sự phát triển đạo đức tinh thần…”, vì thế, ông luôn khuyên răn con cái là “giữ gìn từ cái nho nhỏ vì từ những cái nho nhỏ cộng lại, hợp thành văn hóa, nền tảng của đạo lý” Trong lúc ông cố gắng chủ động tạo sự cân bằng trong cuộc sống bằng cách “dựa vào một nền tảng tinh thần vững bền để chống lại tất cả cái xấu đang tàn phá cuộc sống”, thì trái lại, Cừ và Lý luôn muốn thoát ra ngoài những ràng buộc ấy Trong mắt Cừ thì “ba lạc hậu hàng thế kỷ Luật lệ đạo đức gì mà cổ quá” Còn Lý lại nhận xét: “Chưa thấy cái nhà nào cổ hủ như cái nhà này Chỉ thịnh đạo lý, sách vở Thế thì suốt đời đói nghèo là phải” Và chính từ những nhận thức đó, họ đi đến phủ định đạo đức

Trang 32

truyền thống gia đình, đạp bằng dư luận và cuối cùng là sa ngã, bi kịch xảy ra Lỗi ấy còn do thiếu sự quan tâm của những người thân trong gia đình Tuy nhiên, những hành vi của họ chúng

ta cũng cần quan tâm Nó như mang tính chất nổi loạn, dự báo, bởi ý thức cá nhân nơi Cừ và Lý

đã trỗi dậy mạnh mẽ Đây cũng là xu hướng phát triển chung của con người trong văn học đổi mới sau chiến tranh Một khi ý thức cá nhân được đẩy lên cao thì những kiểu gia đình như gia đình ông Bằng lại trở nên lạc lỏng và hiếm hoi Lý và Cừ cảm thấy khó có thể hòa nhập được với gia đình bởi giữa họ và gia đình không có sự tương đồng về quan niệm sống, mặt khác, vì

họ đã mang tư tưởng của một lối sống mới Chỉ riêng cái quy định “ngày hai bữa cơm sum họp”

đã trở thành một cực hình với Cừ, bởi có những lúc đói hoa mắt mà vẫn phải chờ, ăn hết bát cơm thì phải “xin mẹ” nếu muốn xới tiếp và khi nhận bát cơm thì không được quên cảm ơn… Trong gia đình ấy, mọi người phải sống theo quy phạm, chịu trừng phạt theo những quy phạm nếu có lỗi lầm, sống phải có trên dưới, trên bảo thì dưới phải nghe, cấm cãi Cũng cần nói ra rằng, có lúc, bản thân ông Bằng trong cách xử sự còn nhiều thiên kiến Ông “yêu thích vẻ đẹp cân đối, mực thước, cổ điển”, nhưng lại sẵn sàng từ chối không nghe một hành khúc của Vácne, nhạc sĩ thiên tài Đức chỉ vì “cả đến Hítle cũng thích nhạc của ông” Bởi ông cho rằng: “làm người không nên có cái dáng khinh ngạo, nhưng lại không thể không có cái cốt cách khinh ngạo” Nhưng rõ ràng là suy nghĩ, cách cư xử, cách duy trì nền nếp gia đình của ông Bằng, ta thấy nó còn bộc lộ những điều bất cập Những điều mà ông gọi là nền nếp gia phong ấy dường như đã quá khắt khe, áp đặt với những người con người của mình Cái đó cản trở đến sự phát triển ý thức cá nhân của họ, và tất yếu họ phản kháng Có nghĩa là những sai lầm, sa ngã của

Lý, Cừ không chỉ xuất phát từ nguyên nhân có tính chủ quan là nhận thức sai lầm mà còn từ một nguyên nhân khác, đó là do sự thức tỉnh của ý thức cá nhân trong họ Ta hiểu vì sao họ sa ngã, vì sao họ ra đi Tuy nhiên, trong gia đình ông Bằng vẫn có những người tìm thấy hạnh phúc như vợ chồng Luận - Phượng mặc dù cuộc sống vẫn nhiều thiếu thốn Ấy là bởi họ sống chủ yếu nghiêng về giá trị tinh thần, họ hướng về cộng đồng nhiều hơn, mặt khác, họ được trang bị một nền văn hóa cơ bản nên khả năng tự điều chỉnh để thích nghi cao hơn Đó cũng chính là một gợi ý trong hướng giải quyết vấn đề về sự tồn tại khoảng cách giữa hai thế hệ trong một hoàn cảnh xã hội mới: sau chiến tranh Muốn xóa bỏ khoảng cách ấy cần phải có sự

cố gắng từ hai phía, phải thực sự cố gắng xích lại gần nhau hơn

Không đơn thuần chỉ là khoảng cách giữa hai thế hệ trong một gia đình cụ thể như gia đình ông Bằng, mà đã là một vấn đề của xã hội Vì thế, khi đặt ra vấn đề này, đồng thời Ma Văn Kháng cũng muốn nhắc lại vấn đề về tính kế thừa, bảo lưu các chuẩn mực ứng xử đạo đức

Trang 33

truyền thống Cuộc sống sau chiến tranh có khá nhiều điều phức tạp, nên ông mong muốn rằng, mỗi người cần phải có ý thức tự điều chỉnh bản thân, hành vi của mình cho phù hợp với thực tiễn

Về phương diện đạo đức xã hội, tính nhân văn của nhà văn được thể hiện rõ khi ông đề cập đến vấn đề khoảng cách giữa hai thế hệ ấy một cách sâu sắc và bức thiết Nhưng nguy cơ của sự suy thoái đạo đức xã hội, sự sa sút về nhân cách của con người mà Ma Văn Kháng đề cập đến trong nhiều tiểu thuyết của mình mới là điểm thực sự gây ấn tượng cho người đọc Trong những năm trước và sau đổi mới, xã hội có những biến động khôn lường, bằng con mắt tinh tế cộng thêm nội lực mạnh mẽ của mình ông đã nhận ra những chấn động lớn có ảnh hưởng không nhỏ đến phạm trù đạo đức nhân thế Con người lúc này chỉ biết chạy theo đồng tiền, lấy đồng tiền làm thước đo cho tất cả Không phân biệt gái trai, già trẻ, người có học thức hay kẻ giốt nát, đồng tiền đã chi phối hết thảy họ, khiến họ trở thành một con người khác chỉ trong chốc lát Không chỉ trong gia đình, ngoài xã hội, mà nơi trường học, đồng tiền cũng đã len lỏi vào tận ngõ ngách của những mô phạm Nhân cách thầy cô giáo, những người đang đứng trên bục giảng và chịu trách nhiệm về tương lai của một thế hệ mới đang dần bị sa sút chỉ

vì đồng tiền, “nghề thầy đang có nguy cơ bị cào bằng như một kế sinh nhai” [82, tr.183] Thuật, một giáo viên giỏi toán của trường Trung học số 5, một người mà trước nay Tự vẫn thán phục

‘đã oang oang tuyên ra rằng bất chấp giá cả trượt lên trượt xuống, cứ mỗi cua toán luyện thi đại học là một chỉ, rằng người ta kinh doanh sản xuất thì Thuật kinh doanh giảng dạy”[82,

tr.246] Với Cẩm, sau kì thi tốt nghiệp của cái năm đầu tiên được làm hiệu trưởng, thì “cái vực thẳm đen ngòm đã ở ngay trước vành bánh xe đạp của Cẩm” Vì thế, dù là một hiệu trưởng, nhưng ông Cẩm đã bất chấp quy chế thi cử, bất chấp đạo đức nghề nghiệp đã sửa điểm cho học trò, nhằm nâng tỉ lệ tốt nghiệp của trường chỉ để cố giữ lấy cái ghế hiệu trưởng Vì tiền, vì dục vọng mà nhiều người đàn bà trở thành những kẻ phản bội đáng ghê tởm như Lý, Loan, Xuyến,

Thoa… Với Lý thì “Đời chỉ là một chữ T thôi”, nhân vật họa sĩ Hảo trong Mưa mùa hạ cũng

hùng hồn tuyên bố “Thế kỷ XX thế kỷ tiền Quân tử không tiền quân tử điên” Vì tiền mà cô Trình - cái dấu chấm phẩy, cũng đã biết nhắm vào chỗ yếu của thầy giáo Tự mà ép giá chiếc lốp

xe đạp vừa được phân phối Vì tiền mà vợ chồng Kha phải “chia tay nhau khi đã hết cả hơi sức

để dằn vặt người thân” rồi đi xuất khẩu lao động

Lối sống vì vật chất như thế đã khiến cho con người đối xử với nhau tàn nhẫn hơn Và chính điều này làm cho người đọc thấy xót xa hơn khi đọc tiểu thuyết của Ma Văn Kháng, bởi cái tình người đã bị thui chột đi vì đồng tiền Những tưởng rằng, trong cái đảo điên ấy vẫn còn

Trang 34

một chỗ mà con người có thể đặt niềm tin vì nơi ấy xa cách với những vang vọng đời thường, nhưng xem ra cũng không thể nào tin được Ông Thống ốm nặng, phải vào bệnh viện nhưng cả ngôi trường Trung học số 5, nơi mà ông làm việc đã không có một ai ngó ngàng gì, trừ thầy giáo Tự Ai cũng lấy cớ này cớ nọ thoái thác trách nhiệm chăm sóc, giúp đỡ Nếu có ai đó vào

thăm thì cũng chỉ vì bản thân mình Giống như Cẩm, “ngày nào cũng mò tới bệnh viện Vẻ ngoài sốt sắt không giấu nổi mưu đồ dò la ám muội… Cẩm chỉ tìm cớ lân la để theo dõi thực trạng bệnh ông và khả năng cứu chữa thôi Tên gây tội sợ bị lôi ra đứng trước vành móng ngựa hẳn là ngày đêm chỉ cầu mong cho ông Thống chết quách đi cho rồi” [82, tr.328] Những người

đồng nghiệp cùng cơ quan như Phô, Quanh, Liệu, Phù… lại hớn hở mừng khi Hoan bị công an bắt Những con người như thế, họ đã lấy cái rủi ro, cái thiệt thòi của người khác làm cơ hội, may mắn cho mình mà không hề đắn đo Phải chăng, đó cũng chính là một lời cảnh báo về những suy thoái, tụt dốc của xã hội mà Ma Văn Kháng muốn gửi đến cho độc giả qua những trang viết của mình

Xã hội như đang mang trong mình những chấn thương nặng nề: mọi chuẩn mực bị đảo lộn, đạo đức nhân sinh suy thoái, tình người bị bóp nghẹt bởi ma lực của đồng tiền… khiến cho con người tuyệt vọng Nhưng cái gì cũng có mặt này mặt kia, nên không vì thế mà Ma Văn Kháng khiến con người mệt mỏi với những ung nhọt đó của xã hội, ngược lại ông đã tìm lại cho người đọc một trạng thái cân bằng khi đến với tiểu thuyết của ông Ma Văn Kháng đã nhìn cuộc sống trong tính toàn vẹn của nó Nghĩa là khi viết về cái ác, cái phi đạo đức, Ma Văn Kháng cũng không quên đi tìm và tạo dựng nên nhiều cái đẹp, cái tốt để cho con người đặt niềm tin vào đó Dẫu cuộc sống này có bề bộn, phức tạp bao nhiêu thì vẫn còn nhiều những biểu tượng sáng ngời về đạo đức, đạo lý, nhân cách Đó là chị Hoài, một “người phụ nữ giầu lòng nhân ái

và đầy tinh thần trách nhiệm”, một “dâu trưởng nết na, thùy mị”, “đẹp người, đẹp nết” Là chị Phượng rất “hài

hòa, hợp lý, tin cậy” Và những con người đáng quý như ông Diệp, bác Tuệ, ông Thống…

Hàng ngày, hàng giờ, trong mỗi con người, trong mỗi gia đình và trong toàn xã hội đang diễn ra những xung đột căng thẳng về đạo đức, về nhân cách, về tư tưởng, quan niệm… Khi Ma Văn Kháng hướng về đề tài này, ông đã khẳng định được bản lĩnh nghề nghiệp của mình Những tác phẩm của ông đã tham gia một cách tích cực và có hiệu quả vào cuộc đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu, cái đạo đức và phi đạo đức Những thành công đó cho thấy, tiểu thuyết Ma Văn Kháng đang đi những bước vững chắc trong quá trình tiếp cận với mảng đề tài mới của văn xuôi thời kì mới Và chính hướng tiếp cận hiện thực của ông cũng là một hướng tiếp cận mới

Trang 35

Qua sự phân tích ở trên, với sự có mặt của những đề tài đó, đã thể hiện được năng lực của người cầm bút Hơn bao giờ hết, năng lực bao quát hiện thực cuộc sống rộng lớn của Ma Văn Kháng được bộc lộ một cách rõ nét trên từng trang văn, trong mỗi tác phẩm của ông Dù viết về cuộc sống nghèo khổ, khó khăn của những người dân miền núi hay cái phức tạp, hỗn độn nơi thành thị sau chiến tranh, thì Ma Văn Kháng vẫn luôn thể hiện được cái tâm trong sáng, nhiệt tình, bản lĩnh và một tài năng đa dạng của mình

Trang 36

Chương 2:

TIỂU THUYẾT THẾ SỰ MA VĂN KHÁNG:

CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT VÀ LOẠI HÌNH NHÂN VẬT

2.1 Cảm hứng nghệ thuật và cảm hứng nghệ thuật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng:

2.1.1 Cảm hứng nghệ thuật:

2.1.1.1 Khái niệm:

Để sáng tạo văn chương, người nghệ sĩ phải có cảm xúc, và là cảm xúc mãnh liệt, tập trung: trạng thái cảm xúc ở cường độ cao đặc biệt ấy, người ta gọi là cảm hứng Cảm hứng buộc nhà văn phải ngồi vào bàn, viết ngay những gì đang ứ đầy trong tâm hồn mình Cảm hứng làm cho trang viết phập phồng ấm nóng, có hồn Nói tóm lại, cảm hứng có mặt trong suốt quá trình sáng tác của nhà văn, góp phần làm nên giá trị tác phẩm, để lại ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc Đề cập đến vấn đề này, văn hào L.Tolstoi cho rằng, không có xúc động thì nghề văn của

chúng ta không nhích lên được: “Sự lí giải, đánh giá sâu sắc và chân thực - lịch sử đối với các tính cách được miêu tả vốn nảy sinh từ ý nghĩa dân tộc khách quan của các tính cách ấy là cảm hứng tư tưởng sáng tạo của nhà văn và của tác phẩm của nhà văn” (25, tr.141)

Như vậy, nội dung tác phẩm văn học không chỉ là sự lí giải dửng dưng lạnh lùng, mà gắn liền với cảm xúc mãnh liệt Rõ ràng, cảm hứng trong sáng tạo nghệ thuật là một tình cảm mạnh

mẽ mang tính tư tưởng “Đó là trạng thái phấn hứng cao độ của nhà văn do việc chiếm lĩnh được bản chất của cuộc sống mà họ miêu tả Sự chiếm lĩnh ấy bao giờ cũng bắt nguồn từ lí tưởng xã hội của nhà văn nhằm phát triển và cải tạo thực tại xã hội” [25, tr 141] Chính cảm

hứng đó tạo nên sự ham muốn tích cực, thôi thúc nhà văn phải viết Và quan trọng hơn, cảm hứng đó cần được nhìn nhận như một lớp nội dung đặc thù của tác phẩm văn học

Cảm hứng sáng tạo ở nhà văn không thể hiểu một cách đơn giản như là phút say mê bất chợt, là phút thần hứng, mà nó là một trạng thái lao động nghiêm túc của nhà văn Viết văn là gan ruột, là tâm huyết, khi ấy nhà văn chỉ bộc lộ những gì đã thật sự tràn đầy trong lòng, không thể có một sản phẩm văn chương đích thực của một tâm hồn bằng lặng, vô vị và miễn cưỡng

Trong cuốn Lí luận văn học, GS.PTS Trần Đình Sử đã viết “Cảm hứng là trạng thái tâm lí

căng thẳng nhưng say mê khác thường Sự căng thẳng của ý chí và trí tuệ, sự dồi dào về cảm xúc, khi đã đạt đến sự hài hoà, kết tinh, sẽ cháy bùng trong tư duy nghệ thuật của nhà văn, dẫn dắt họ đến những mục tiêu da diết bằng con đường gần như trực giác, bản năng” [67, tr.210]

Trang 37

Cảm hứng nghệ thuật trong tác phẩm văn chương, trước hết là sự say mê khẳng định lý tưởng chân chính mà nhà văn theo đuổi, hoặc là sự phủ định những mặt đối lập với lý tưởng ấy

Và tất cả những điều đó được cụ thể hóa ở thái độ của người nghệ sĩ, đồng tình ca ngợi nhân vật chính diện, những hiện tượng tích cực phù hợp với lý tưởng hay phê phán, lên án những nhân vật phản diện, những hiện tượng tiêu cực, phi đạo đức, phi nhân cách…Tuy nhiên, cảm

hứng trong tác phẩm không phải là thứ tình cảm một chiều, “không phải là thứ tình cảm được xướng lên, mà phải là tình cảm toát ra từ tình huống, từ tính cách và sự miêu tả” [67, tr.270]

Cảm hứng chính là năng lượng tình cảm của tác phẩm, một tình cảm xã hội đã được ý thức, và chỉ có những tư tưởng lành mạnh, tiến bộ của thời đại mới dấy lên được những cảm hứng nghệ thuật đích thực

Cảm hứng nghệ thuật là trạng thái tâm lí then chốt và bao trùm trong sáng tác của nhà văn Nó là yếu tố đầu tiên dẫn đến sự hình thành của một tác phẩm nghệ thuật Cảm hứng đó có thể đến trong một giây với thi sĩ, nhưng nó lại là sự tích tụ, thai nghén lâu dài trong một quá trình đối với một nhà tiểu thuyết, bởi tiểu thuyết là thể loại có dung lượng đồ sộ, kết cấu phức tạp và hệ thống nhân vật phong phú…

2.1.1.2 Các dạng cảm hứng nghệ thuật chính:

Cuộc sống muôn màu, muôn mặt Con người thiên hình, vạn trạng Hai cái đa dạng này chạm vào nhau tất làm nên những âm vang phong phú Có thể nói, mỗi một tác phẩm văn học đích thực đều dung chứa trong lòng nó một số cảm hứng nghệ thuật khác nhau, trong đó trỗi lên một cảm hứng chính, người ta gọi là cảm hứng chủ đạo Có cảm hứng nghệ thuật của một tác phẩm, cảm hứng nghệ thuật của một tác giả, cảm hứng nghệ thuật của một trào lưu, cảm hứng nghệ thuật của một thời đại…

Tuy nhiên, từ đời sống văn học nhân loại, các nhà lý luận đã đúc kết một số cảm hứng nghệ thuật chính như: cảm hứng anh hùng, cảm hứng sử thi, cảm hứng bi kịch, cảm hứng phê phán, cảm hứng châm biếm… Cụ thể hơn khuynh hướng văn học, các dạng cảm hứng nghệ thuật này là những thái độ tư tưởng - cảm xúc nhất định của nhà văn đối với thực tại Là sự ý thức về mặt tư tưởng và sự đánh giá về mặt cảm xúc, một sự ý thức và đánh giá chân thực, sâu sắc về những gì đang diễn ra và đang tồn tại trong thực tế Tuy nhiên, thực tế cuộc sống và tâm trạng con người vốn đa dạng và biến động nên trong tác phẩm nghệ thuật, các dạng thức của cảm hứng có thể chuyển hóa lẫn nhau, thâm nhập vào nhau, sự phân lập chỉ là tương đối

Cảm hứng anh hùng, cảm hứng sử thi:

Trang 38

Theo Dẫn luận nghiên cứu văn học, “Cảm hứng anh hùng bao hàm sự khẳng định chiến công lớn lao của một cá nhân hoặc của cả một tập thể, sự khẳng định ý nghĩa to lớn của chiến công đó đối với sự phát triển của nhân dân, dân tộc, nhân loại” [25, tr.144] Trong tác phẩm

văn học, đối tượng của cảm hứng anh hùng là chất anh hùng của bản thân thực tại Và trong mỗi hoàn cảnh lịch sử khác nhau, nội dung của chất anh hùng ấy cũng khác nhau Chất anh hùng ấy được lí giải dưới ánh sáng lí tưởng về sự dũng cảm, trung thực Tuy nhiên, trong tác phẩm nghệ thuật, chất anh hùng của thực tại ít nhiều mang tính cường điệu thông qua những tính cách và sự kiện hư cấu

Từ xưa, việc thể hiện tính anh hùng đã có trong những truyền thuyết, bài hát và thần thoại lịch sử… Và những hình tượng anh hùng đó được sử dụng rộng rãi trong văn học sau này Tuy nhiên, trong từng giai đoạn phát triển cụ thể của văn học, cảm hứng anh hùng có khác nhau

Với những tác phẩm dân gian thì hình ảnh trung tâm của tác phẩm đó chính là những chiến binh, dũng sĩ cường tráng trong cuộc chiến bảo vệ lợi ích nhân dân, bảo vệ lợi ích và khát vọng của tập thể Ở những tác phẩm văn học thành văn, chất anh hùng vừa thể hiện ở việc nhân vật dũng cảm đấu tranh chống kẻ thù bên ngoài, vừa thể hiện ở cách họ giải quyết những mâu

thuẫn trong chính con người họ cần thiết cho sự phát triển của xã hội “Như vậy, cảm hứng anh hùng biểu hiện xu hướng của nghệ sĩ muốn thể hiện cái cao cả của con người làm nên chiến công vì sự nghiệp chung, muốn khẳng định tính cách của con người đó trong ý thức xã hội, khẳng định cái đạo đức sẵn sàng lập chiến công” [25, tr.151]

Cảm hứng anh hùng, cảm hứng sử thi có một sức sống và bề dày đáng kể Nó xuất hiện sớm trong lịch sử văn học, từ văn học dân gian đến văn học viết thời trung đại, và ngay cả thời hiện đại, ở một số nền văn học, đặc biệt là văn học Việt Nam

Trang 39

tạo nó trong tác phẩm văn học là do họ nhìn thấy sự không phù hợp giữa kì vọng và khả năng thực tế của con người

Như vậy, cảm hứng châm biếm nảy sinh là do yếu tố khách quan của chất hài trong đời sống chứ không chỉ phụ thuộc vào sự tùy hứng của cá nhân nhà văn Và cái bị châm biếm không phải là một con người hay một sự kiện riêng biệt nào mà nó là cái chung tiêu biểu của đời sống xã hội

Cảm hứng châm biếm cũng xuất hiện sớm, đặc biệt, nó thường là tiếng nói của lớp người yếu thế trong xã hội, họ muốn phá vỡ cái trật tự hiện hành

Cảm hứng bi kịch:

Cảm hứng bi kịch chính là bắt nguồn từ cái bi - một phạm trù thẩm mĩ và nó tập trung chủ yếu ở nội dung của tác phẩm văn học Cảm hứng bi kịch của tác phẩm văn học bắt nguồn

từ tư tưởng thế giới quan của nhà văn, nó có thể diễn ra ở hai khuynh hướng khác nhau: khẳng

định hoặc phủ định “Nhà văn có thể nhận thức được tính tiến bộ và chân thực lịch sử của những lí tưởng đạo đức cao cả mà, vì nó, nhân vật của nhà văn đã phải đấu tranh với bản thân, hoặc nhà văn lại nhận thức tính giả dối và sự tuyệt vọng lịch sử của những lí tưởng ấy” [25,

tr.164]

Bản chất của cái bi là xung đột Tình huống bi kịch xuất phát từ mâu thuẫn và đấu tranh trong ý thức của con người Đó là những mâu thuẫn trong đời sống xã hội và trong đời sống riêng tư Trong đời sống xã hội, xung đột bi kịch được xem là phổ biến và hết sức quan trọng,

đó là sự mâu thuẫn giữa những “yêu cầu tất yếu về mặt lịch sử với việc không có khả năng thực hiện được các yêu cầu đó trong thực tiễn” [52, tr.159]

Cơ sở của cái bi là sự xung đột giữa “tự do và tất yếu” nên nó không hạn chế trong phạm

vi một cá nhân Có cái bi cá nhân trong tình yêu, gia đình, trong các mối quan hệ sinh hoạt đạo đức; có cả những cái bi lịch sử Trong thực tế, có những tác phẩm văn học chỉ chủ yếu mô tả số phận bi kịch của cá nhân, có những tác phẩm chỉ dành để nói đến những xung đột xã hội - lịch

sử và đồng thời cũng có những tác phẩm mà trong đó, đằng sau cái bi của cá nhân lại hiện ra những xung đột xã hội to lớn

Bi kịch gắn liền với những mất mát, đau thương Vì thế, nhân vật phải có sức mạnh, có phẩm chất cao cả, đại diện cho sự phát triển tiến bộ của lịch sử Dẫu nhân vật Hamlet lâm vào khủng hoảng về tư tưởng, bi quan, thất vọng với đời nhưng về mặt đạo đức, anh ta đã chiến

thắng được nỗi sợ hãi cái chết Dẫu chỉ là một đứa trẻ lên bảy, nhưng cái Tý trong Tắt đèn của

Ngô Tất Tố còn giàu đức hy sinh hơn cả người lớn Khi đã thấu hiểu cảnh ngộ của cha mẹ,

Trang 40

nhận ra tình thế đau đớn không tránh khỏi của gia đình mình, em đã chấp nhận để mẹ đem bán cho nhà Nghị Quế

Trong tác phẩm văn học, cảm hứng bi kịch được thể hiện thông qua việc tập trung miêu

tả những con người bất hạnh với những bi kịch của đời họ Đấy có thể là “bi kịch của một thời con người tự hy sinh cá nhân để vươn tới cái tập thể một cách giản đơn, cứng nhắc để rồi suốt

đời thất bại (Thời xa vắng) Đấy là cái bi kịch chấp chới giữa danh vọng và tình yêu với những tính toán thấp hèn không dám chịu trách nhiệm cuối cùng đều trở thành ảo ảnh cả (Bên kia bờ

ảo vọng) Đấy còn là những bi kịch của những ân hận xót xa, dằn vặt vì những lỗi lầm mà con người vô tình hay cố ý gây ra (Bức tranh, Con ăn cắp)”… [9, tr.300]

Việc thể hiện những xung đột mang tính bi kịch trong nghệ thuật có ý nhận thức và giáo

dục sâu sắc “Nó giúp chúng ta lĩnh hội cuộc sống trong sự phong phú, phức tạp có thật của nó, đồng thời khơi dậy những tình cảm cao cả, lành mạnh, kích thích những hành động mãnh liệt

và sự tham gia tích cực vào cuộc sống” [52, tr.160]

Cảm hứng phê phán:

Thuật ngữ phê phán không chỉ là phê phán cái sai, là phủ định một chiều, mà phê phán luôn bao hàm cả khen và chê, cả khẳng định và bác bỏ để phán đoán sự vật, tìm ra quy luật, vươn tới bộc lộ bản ngã đích thực của con người

Có thể nói rằng phê phán là nghệ thuật xem xét và thẩm định giá trị, là thủ pháp dùng để

mổ xẻ các hiện tượng, để tìm ra cái đúng, cái sai để con người có thể vượt qua chính mình trước

tự nhiên và xã hội

Trong tiểu thuyết hiện đại, cảm hứng phê phán không đơn giản chỉ là một nghệ thuật, một thủ pháp; nó có mục đích sâu sắc hơn với những nét đặc thù Nó gắn liền với cái tôi sáng tạo, với ngôn ngữ và đặc trưng thể loại Cảm hứng phê phán trong tiểu thuyết hiện đại, được nhìn nhận như một khả năng tự vấn của chủ thể sáng tạo, thể hiện ở hành động phê phán và tự phê phán, ở việc nhận thức và tự nhận thức, ở hoạt động đối thoại với xã hội và với chính mình

Trong cuốn Cơ sở lý luận văn học, khi nói về “Vấn đề thể hiện cái tiêu cực”, tác giả Lê

Đình Kỵ đã lưu ý rằng: “Nguyên lí phản ánh đời sống trong sự phát triển cách mạng, cũng không cho phép che đậy các mâu thuẫn thực tế, các mặt tiêu cực còn rơi rớt lại trong đời sống cách mạng”, cho nên “ vạch trần và thể hiện cái xấu không mâu thuẫn gì với cảm hứng khẳng

định và lạc quan của nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa” Còn Huỳnh Như Phương lại có

quan niệm về cảm hứng phê phán như sau: “Tính khuynh hướng của tác phẩm không chỉ bộc lộ

Ngày đăng: 11/04/2013, 15:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2003), Sống với văn học cùng thời, Nxb Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống với văn học cùng thời
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2003
2. Tào Văn Ân, “Khuynh hướng hiện thực trong một số tiểu thuyết Tự lực Văn đoàn”, http://www.google.com.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuynh hướng hiện thực trong một số tiểu thuyết Tự lực Văn đoàn
Tác giả: Tào Văn Ân
3. Lê Huy Bắc (1998), Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại, TCVH (9) 4. Vũ Bằng (1955), Khảo về tiểu thuyết, NXB Phan Văn Tươi, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: TCVH
Năm: 1998
5. M.Bakthtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Người dịch: Phạm Vĩnh Cư, Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M.Bakthtin
Năm: 1992
6. M. Bakthtin (1993), Những vấn đề thi pháp tiểu thuyết Đôxtôiépxki, Người dịch: Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp tiểu thuyết Đôxtôiépxki
Tác giả: M. Bakthtin
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1993
7. Nguyễn Thị Bình (1996), Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975, Luận án tiến sĩ, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1996
8. Đào Ngọc Chương, “Tiểu thuyết – những vấn đề thi pháp” (Từ một cái nhìn so sánh), http://www.google.com.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết – những vấn đề thi pháp
Tác giả: Đào Ngọc Chương
9. Lê Tiến Dũng (2004), Nhà phê bình và cái roi ngựa, Nxb ĐHQG TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà phê bình và cái roi ngựa
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb ĐHQG TPHCM
Năm: 2004
10. Đặng Anh Đào (1995), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
11. Trần Thanh Đạm (1989), Bàn thêm về vấn đề con người trong văn học, Văn nghệ (35) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về vấn đề con người trong văn học
Tác giả: Trần Thanh Đạm
Năm: 1989
12. Phan Cự Đệ (2003), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
13. Phan Cự Đệ (2004), Văn học Việt Nam thế kỉ XX, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỉ XX
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
14. Phan Cự Đệ (2006), Tuyển tập (Tập 1), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
15. Phan Cự Đệ (2006), Tuyển tập (Tập 2), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
16. Hà Minh Đức (1998), Nhà văn nói về tác phẩm, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn nói về tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1998
17. Hà Minh Đức (chủ biên, 1993), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
18. Hà Minh Đức (2007), Tự lực văn đoàn - Trào lưu - Tác giả, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự lực văn đoàn - Trào lưu - Tác giả
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
19. Hà Minh Đức, Lê Bá Hán (1985), Cơ sở lý luận văn học, Tập II, Nxb ĐH & THCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức, Lê Bá Hán
Nhà XB: Nxb ĐH & THCN
Năm: 1985
20. Văn Giá (1994), “Quan niệm về tiểu thuyết trong khoa nghiên cứu giai đoạn 1932-1945”, TCVH (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về tiểu thuyết trong khoa nghiên cứu giai đoạn 1932-1945”
Tác giả: Văn Giá
Năm: 1994
21. Hoàng Ngọc Hà (1990), Cái đẹp trong tiểu thuyết “Đám cưới không có giấy giá thú”, Văn Nghệ 17/3/1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái đẹp trong tiểu thuyết “Đám cưới không có giấy giá thú”
Tác giả: Hoàng Ngọc Hà
Năm: 1990

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w