1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ôn tập Tác phẩm Tuyên ngôn Độc lập

11 689 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những văn bản: “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, “Tuyên truyền”, “Bản án chế độ thực dân Pháp”, “Tuyên ngôn Độc lập” luôn là những áng văn mẫu mực về phong cách ngôn ngữ ngắn gọn, chắ

Trang 1

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

Cơ sở lập luận trong " Tuyên ngôn Độc lập"

Có thể nói, học tập phong cách ngôn ngữ Chủ tịch Hồ Chí Minh, trước hết, là

học tập cách viết và cách lập luận chặt chẽ qua từng câu chữ, mỗi trang văn chính luận.

Những văn bản: “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, “Tuyên truyền”, “Bản án chế

độ thực dân Pháp”, “Tuyên ngôn Độc lập” luôn là những áng văn mẫu mực về phong

cách ngôn ngữ ngắn gọn, chắc chắn, dễ hiểu, chính xác và giàu cảm xúc…

Dù viết trong hoàn cảnh nào, và bằng thứ tiếng nào, văn chính luận Việt nói chung, văn chính luận Chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng, luôn luôn dựa hẳn trên hai nguyên lí: nguyên lí nhân đạo chủ nghĩa và triết lí ái quốc chủ nghĩa Trong cách trình bày, người viết thiên về sự khẳng định chân lý theo sát với hai nguyên lí trên Sự khẳng định thường được trình bày hết sức rạch ròi giữa cái thiện và cái ác, cái tốt và cái xấu, cái cao thượng và cái thấp hèn, điều chính nghĩa và điều phi nghĩa Những sự khẳng định có

tính chất đối lập này được thể hiện một cách nhuần nhuyễn, sắc sảo trong văn bản “Tuyên ngôn Độc lập”.

Tìm hiểu cách lập luận trong văn bản “Tuyên ngôn Độc lập”, chúng ta có thể nhận ra:

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng tất cả những luận cứ sắc sảo nhất, đắt nhất cho cách lập luận của mình, được thể hiện trong từng từ, từng câu, từng đoạn và toàn bộ văn bản

Lập luận thể hiện ở cấp độ toàn văn bản

Chúng ta đều biết, bản “Tuyên ngôn Độc lập” được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết

“bằng văn xuôi hiện đại tiếng Việt, thuộc phong cách ngôn ngữ chính luận, một loại văn mang tính chính thức xã hội ở cấp Nhà nước - quốc gia, hoặc liên Nhà nước - liên quốc gia, để nói rõ trước công chúng (trong và ngoài nước) về chính kiến của mình trước

những sự kiện lịch sử cực kỳ trọng đại” [Nguyễn Nguyên Trứ - Học tập cách viết của

Hồ Chủ Tịch, NXB Giáo Dục 1999, tr159].

Đọc toàn văn bản “Tuyên ngôn Độc lập”, chúng ta nhận thấy phương pháp lập

luận được Bác sử dụng trước hết, và quan trọng nhất, là lập luận bằng phương thức so sánh, so sánh tương đồng và so sánh tương phản những luận cứ, luận điểm trực tiếp liên quan đến vấn đề muốn nói

Trong bản “Tuyên ngôn Độc lập”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân danh Chính phủ

lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

“Nước Việt có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” Đó là một kết luận quan trọng được rút ra từ những luận cứ (lí lẽ) có tính lịch sử xác thực:

Luận cứ 1: Bản Tuyên ngôn Độc lập 1776 của Mỹ: “Tất cả mọi người sinh ra đều

có quyền bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”

Trang 2

Luận cứ 2: Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm

1789: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng và quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”

Ở đây, xét về mục đích soạn thảo văn bản, bố cục là hình thức nhưng cũng là nội dung; và trong bố cục của một loại hình văn bản nào thì sự mở đầu lúc nào cũng quan trọng, cũng là kết quả của những sự cân nhắc thuộc chiến lược ngôn hành Mở đầu bản

“Tuyên ngôn Độc lập”, ngay trong đoạn mở đầu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn ngay

hai nội dung quan trọng trong hai bản Tuyên ngôn của Mĩ và Pháp làm luận cứ cho kết luận của mình

Có thể nói rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng thủ pháp lập luận “gậy ông đập lưng ông” vào ngòi bút của mình một cách sắc sảo và hiệu quả Trong tranh luận, để bác

bỏ luận điệu của một đối thủ nào đấy, không gì thú vị và đích đáng hơn là dùng lí lẽ của chính đối thủ ấy Sự bác bỏ lí lẽ của bọn xâm lược trước dư luận thế giới của Chủ tịch Hồ Chí Minh là trường hợp như thế

Quan hệ giữa đoạn mở đầu với đoạn tiếp theo trong bản “Tuyên ngôn Độc lập”

của Bác là quan hệ ngữ nghĩa đối lập: đối lập nội dung, đối lập chữ nghĩa, đối lập về thái

độ Tất cả đã được diễn đạt trang trọng, chặt chẽ, đanh thép, hùng hồn và xúc động Điều này được thể hiện:

Thứ nhất, đi từ một chân lý đã biết, đã được công nhận, suy ra một chân lý tương

tự, có chung logic bên trong, đó là cách lập luận so sánh tương đồng mà Chủ tịch Hồ Chí

Minh vận dụng khi đem so sánh lời trích trong bản “Tuyên ngôn Độc lập 1776 của Mỹ”,

để đi đến kết luận: “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” Cái “suy rộng ra” của Bác là cái được lấy từ chính cái luận cứ và lí lẽ: “Lời bất hủ ở trong

bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ”, nhưng đó lại là “sự bổ sung rất trí tuệ

của Bác: với cuộc đời của dân tộc mình và cuộc đời của biết bao dân tộc bị đoạ đày khác, Bác đã đưa ra một sự bổ sung vĩ đại, góp phần xoá bỏ một vết nhơ nhục nhã trong lịch sử loài người”

Ý kiến “suy rộng ra” ấy quả là “một đóng góp đầy ý nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới”

Thứ hai, đối chiếu mặt trái ngược để làm nổi bật điều mình muốn hướng tới là phương pháp lập luận so sánh tương phản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng khi đối

chiếu nội dung đoạn trích “Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng

Pháp năm 1789” cho kết luận hết sức thuyết phục: “Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp nước ta, áp bức đồng bào ta Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa” Cơ sở lập luận của kết luận trên được xây dựng bằng lí lẽ: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”

Rõ ràng, xét một cách hiển ngôn, tác giả “Tuyên ngôn Độc lập” đã đánh giá lời

trích dẫn Tuyên ngôn của nước Mĩ là “bất hủ” (nghĩa là không khi nào cũ, không bao giờ mất), và lời trích dẫn Tuyên ngôn của nước Pháp “là những lẽ phải không ai chối cãi

Trang 3

được” thể hiện rõ hành động chính trị, nhằm trả lời một đối một đối với những lí lẽ của những người chống đối hoặc phòng xa nguy cơ chống đối

Có thể nhận thấy, một mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao tư tưởng chính trị chứa đựng trong những lời trích dẫn ấy được ghi bằng chữ vàng trong lịch sử không chỉ của nước Mĩ, nước Pháp mà cả toàn nhân loại; mặt khác Người lên án việc xâm phạm, áp bức các dân tộc, chà đạp nhân quyền là phi pháp lí và đạo lí, là phi văn hóa

Ở đây, chúng ta bắt gặp một cách nói, cách viết vừa khéo léo, vừa kiên quyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh Khéo léo vì nó tỏ ra rất trân trọng những danh ngôn bất hủ của người Pháp, người Mĩ; kiên quyết vì nhắc nhở họ đừng có phản bội tổ tiên mình, đừng có làm vấy bùn lên lá cờ nhân đạo của những cuộc cách mạng vĩ đại của nước Pháp, nước

Mĩ, nếu nhất định tiến quân xâm lược Việt Nam

Hệ thống luận cứ, luận chứng và cơ sở lập luận của “Tuyên ngôn Độc lập”

Chúng ta đều biết, văn chính luận thuyết phục người ta bằng lí lẽ, nếu đánh địch thì cũng đánh địch bằng lí lẽ Lợi thế của nó là những lí lẽ đanh thép, những lập luận chặt chẽ, những bằng chứng không ai chối cãi được Do vậy, trong văn chính luận, nếu có dùng đến hình ảnh, có gợi đến tình cảm thì chẳng qua cũng chỉ để phụ giúp thêm cho sự thuyết phục bằng lí lẽ mà thôi

Điều này định hướng đúng đắn cho người nghe, người đọc khi tiếp nhận văn bản

“Tuyên ngôn Độc lập” để chỉ ra cái hay, cái tài của tác giả Cách dùng từ ngữ (luận

chứng), cách sắp xếp luận cứ (lí lẽ) và mục đích, thái độ, tình cảm của người viết chính là

những cơ sở của những lập luận sắc sảo trong bản “Tuyên ngôn Độc lập” Khi tác giả soạn thảo bản “Tuyên ngôn Độc lập” đã hội tụ đầy đủ 4 yếu tố bắt buộc của màn thuyết

phục theo lý thuyết văn bản đã nêu ở trên:

a) Cơ hội (thời cơ nói): Khi Bác Hồ đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập” thì ở miền

Nam, thực dân Pháp nấp sau quân đội Anh (thay mặt quân Đồng Minh vào giải giáp quân đội Nhật) đang tiến vào Đông Dương, còn ở phía Bắc thì bọn Tù Tưởng, tay sai của đế quốc Mĩ, đã trực sẵn ở biên giới Đây là thời điểm lịch sử quan trọng để Bác Hồ viết cho đồng bào cả nước và nhân dân thế giới nhằm khẳng định nền Độc lập của nước nhà

b) Lí lẽ (các luận cứ): Để khẳng định quyền Độc lập dân tộc của nước nhà, và lên

án tội ác của quân xâm lược, bản “Tuyên ngôn Độc lập” đã dùng đến rất nhiều luận cứ,

luận chứng (các lí lẽ) hết sức thuyết phục:

- Nội dung Bản “Tuyên ngôn Độc lập 1776 của Mỹ” là bất hủ.

- Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1789 “Đó là

những lẽ phải không ai chối cãi được”

- “Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”

- “Chúng thi hành những luật pháp dã man, ”

- “Chúng lập nhà tù nhiều hơn trường học, ”

- “ trong 5 năm chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật ”

Trang 4

- “Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp” v.v

c) Tính biểu cảm của ngôn ngữ: Bác Hồ viết “Tuyên ngôn Độc lập” với giọng văn

chính luận hào hùng, lập luận sắc sảo, chặt chẽ, ngắn gọn, chắc chắn, dễ hiểu, chính xác

và giàu cảm xúc Điều này được thể hiện rõ trong văn bản qua: giọng điệu vừa khéo léo vừa kiên quyết, lựa chọn từ ngữ chính xác, ngắn gọn, súc tích nhưng hiệu quả Khi nói về mình thì: “Chúng tôi trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng”, “Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập”,

“Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay ”

Khi nói về địch thì: 13 lần sử dụng từ chúng với những hành động được miêu tả khác nhau (chúng thi hành dã man, chúng thẳng tay chém giết, chúng tắm các cuộc khởi nghĩa, chúng ràng buộc, chúng cướp, chúng bóc lột, chúng nhẫn tâm, ); còn khi trình bày những bằng chứng hiển nhiên, ngoài nội dung miêu tả là những kết tử, tác tử lập luận được sử dụng hết sức chặt chẽ: “thế mà”, “thậm chí”, “tuy vậy”, “bởi thế cho nên”,

“vì những lẽ trên”, “suy rộng ra”; đặc biệt, Người đã sử dụng lặp đi lặp lại đến hai lần hai chữ “sự thật là ”, “sự thật là ” như một điệp khúc của bản cáo trạng, lời văn khẳng định đầy rắn rỏi và đanh thép

d) Thái độ người nghe: Bác Hồ đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập” cho ai nghe? Rõ

ràng, Bác đọc “Tuyên ngôn Độc lập” cho toàn thể đồng bào cả nước và nhân dân thế giới.

Điều này ai cũng biết Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, Người viết không chỉ cho đồng bào và thế giới chung chung, vì như thế không cần nhiều đến những lời lẽ lập luận chặt chẽ, đanh thép đến vậy

Ở đây, người nghe là kẻ thù xâm lược Pháp và Mĩ mới là đối tượng Bác hướng tới

Từ đó ta mới hiểu, trong màn thuyết phục này, dù “Tuyên ngôn Độc lập” đã dùng đầy đủ

lí lẽ nhưng người nghe vẫn có thái độ cố chấp, không đủ trí tuệ để nhận thức đúng, đầy

đủ những nội dung, giá trị trong lòng người nói Thế mới biết “sự cố chấp”, “ngang tàng”

và “bạo ngược” của bọn đế quốc và thực dân xâm lăng! Quân xâm lược đã lắng nghe với một thái độ chống đối

Người viết bản “Tuyên ngôn Độc lập” cũng thừa hiểu rằng “mâu thuẫn giữa Anh

-Mỹ - Pháp và Liên Xô có thể làm cho Anh, Mĩ nhân nhượng với Pháp và để cho Pháp trở lại Đông Dương” (Nhận định của Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ngày 15-8-1945) Và

đúng như dự định, sau “Tuyên ngôn Độc lập” chỉ có 21 ngày, núp dưới bóng quân Anh,

thực dân Pháp đã nổ súng và Nam Bộ kháng chiến bắt đầu Một lần nữa khẳng định, Hồ Chủ tịch luôn là người lãnh đạo “biết người biết mình trăm trận trăm thắng” trong mọi quyết sách của dân tộc

Có thể nói, từ góc nhìn lí thuyết lập luận, chúng ta có thể nhận thấy một cách hiển ngôn hơn về nghệ thuật hùng biện, triết luận sâu sắc, hùng hồn và đanh thép trong từng

câu văn của bản “Tuyên ngôn Độc lập” Tài nghệ ở đây là dàn dựng được cơ sở lập luận

chặt chẽ, đưa ra những luận cứ, luận chứng, lí lẽ, bằng chứng không ai chối cãi được Và đằng sau “những lời lẽ ấy là một tầm tư tưởng, tầm văn hoá lớn đã tổng kết được trong một bản Tuyên ngôn ngắn gọn, trong sáng, khúc chiết, kinh nghiệm của nhiều thế kỷ đấu

Trang 5

tranh vì độc lập tự do, vì nhân quyền, dân quyền của dân tộc và của nhân loại” [Nguyễn Đăng Mạnh: 2006, tr.460]

Quả thật, bên trong tiếng nói của trí tuệ là tiếng nói của trái tim Trong cơn bão khốc liệt của chủ nghĩa bạo lực, chủ nghĩa khủng bố đang diễn ra trong thời đại ngày nay,

những lời suy rộng của “Tuyên ngôn Độc lập” đang vang lên như những tiếng chuông

cảnh tỉnh: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do

*********************************

Trí tuệ và sự sáng tạo tuyệt vời của Người thể hiện trong “Tuyên ngôn”

Mở đầu Tuyên ngôn Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Hỡi đồng bào cả nước Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ Suy rộng

ra, câu nói này có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi Đó là

Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử đã được các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực nghiên cứu và làm rõ Tuy nhiên, đến nay vẫn còn có người khi đọc văn bản lịch

sử này đã đặt ra câu hỏi: Vì sao Chủ tịch Hồ Chí Minh lại mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập của mình bằng những câu trích dẫn từ hai bản Tuyên ngôn của nước Mỹ và Pháp? Ngay cả một số nhà sử học Mỹ cũng luôn nói rằng, Hồ Chí Minh đã mở đầu bản “Tuyên ngôn độc lập” của Việt Nam bằng cách trích dẫn: “Tuyên ngôn” của Mỹ Điều này có phần nào không đúng và chưa đủ Bởi lẽ, Chủ tịch Hồ Chí Minh là danh nhân văn hóa thế giới như UNESCO đã tôn vinh Người nhắc đến hai văn kiện lịch sử ấy với lòng trân trọng đặc biệt của một trí tuệ lớn đối với sự phát triển của văn minh nhân loại mà Cách mạng giành độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và Cách mạng tư sản Pháp năm 1789 mang lại Đây là những thành quả văn hóa của nhân loại, là dấu mốc lớn của lịch sử loài người

Đó là nền tảng và là tiền đề để Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, chính cuộc Cách mạng

mà dân tộc Việt Nam đã giành được vào mùa Thu năm 1945 là bước đi tiếp, đồng thời cũng là một cái cột mốc cho sự phát triển của lịch sử giải phóng con người thuộc các dân tộc bị áp bức, bóc lột Vì đó là mẫu hình đầu tiên và cũng là ngọn cờ đầu của cuộc đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa nhỏ, yếu, thoát khỏi ách đô hộ, thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ và mới mà cách mạng Việt Nam do Đảng và Bác lãnh đạo đã giương cao

Đi sâu nghiên cứu Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ, chúng ta thấy: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay đổi một ý so với bản Tuyên ngôn của Th Giép-phơ-sơn (Th Jefferson) Trong Tuyên ngôn của nước Mỹ có câu “chúng tôi ủng hộ một sự thật hiển

Trang 6

nhiên rằng, mọi người đều sinh ra bình đẳng” thì Chủ tịch Hồ Chí Minh suy rộng ra rằng:

“Mọi dân tộc sinh ra đều bình đẳng” Đây quả là một sự thay đổi khéo léo và sáng suốt như nguyên Thượng nghị sĩ Mác Go-vân (Mc.Govern) đã đưa ra nhận xét Cũng bình luận về đoạn trích dẫn này, một nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam người Mỹ, bà Lây-đi Bo-tơn (Lady Borton) còn đưa ra nhận xét rằng khi dịch chữ “all men” trong văn bản của

Th Giép-phơ-sơn được viết vào thế kỷ XVIII, thời đó, từ này chỉ bao hàm những người đàn ông (đương nhiên là da trắng và có tài sản) Nhưng từ “all men” này đã được Chủ tịch của nước Việt Nam độc lập diễn dịch thành: “Tất cả mọi người” Như vậy có thể thấy, với vốn tiếng Anh hoàn hảo cùng với thiên tài của trí tuệ, Bác Hồ đã dịch và trích dẫn Tuyên ngôn độc lập của Mỹ nhưng có sự điều chỉnh và phát triển để thể hiện quan điểm riêng của mình và trên thực tế được thể hiện trong Hiến pháp Việt Nam bao gồm tất thảy các công dân không phân biệt giới tính, tôn giáo, sắc tộc hay chính kiến Đó chính là một sự “suy rộng” nữa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đóng góp về lý luận đem lại những tiến bộ và phù hợp với sự phát triển của nhân loại

Cần phải hiểu thêm rằng: Bản tuyên ngôn của nước Mỹ ra đời năm 1776, nhưng mãi đến năm 1870, những người đàn ông da màu mới có quyền đi bỏ phiếu Với phụ nữ,

sự thừa nhận về sự bình đẳng chính trị còn muộn hơn nữa Đó là năm 1923 Như vậy, đàn ông da đen có quyền được đi bầu sau 95 năm và phải mất thêm 50 năm sau nữa, phụ nữ

Mỹ mới được đi bỏ phiếu Còn tại Việt Nam, trước năm 1945, nước ta vẫn là xã hội nặng

về ý thức Nho giáo “trọng nam, khinh nữ” Vì vậy, với bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt cho nhà nước mới đã tuyên bố độc lập tự do và bình đẳng cho toàn thể mọi người dân Việt Nam không phân biệt dân tộc, giới tính, tôn giáo… Đây là điều thể hiện sự tiến bộ vượt trội của Tuyên ngôn độc lập, so với hai bản Tuyên ngôn của Mỹ và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo

***********************************

Ý nghĩa lịch sử bản Tuyên ngôn

Tuyên ngôn độc lập khẳng định trước hết và trên hết một chân lý lịch sử: Tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều có quyền bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền được sống, quyền sung sướng và quyền tự do Do đó, sẽ không có và không một dân tộc

nào có quyền áp bức, bóc lột, đè đầu, cưỡi cổ dân tộc khác và cũng không được dân tộc nào coi dân tộc khác là hạ đẳng so với dân tộc mình Dân tộc Pháp, Nhật, Mỹ hay dân tộc Việt Nam đều bình đẳng như nhau Người Việt Nam đứng lên đấu tranh để giành độc lập cũng chỉ để nhằm giành lấy quyền bình đẳng như mọi dân tộc, quốc gia khác Đó là quyền chính đáng của các quốc gia, dân tộc trên thế giới Bất kỳ thế lực nào có âm mưu xâm lược, áp bức, bóc lột và nô dịch dân tộc Việt Nam là thế lực đó đã chà đạp lên những nguyên tắc sơ đẳng nhất của quyền dân tộc tự quyết, vi phạm luật pháp quốc tế và chắc chắn thế lực đó sẽ bị sự phản kháng đến cùng của dân tộc Việt Nam và cùng chung số phận của những kẻ từng xâm lược Việt Nam trong lịch sử

Tuyên ngôn độc lập là bản khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, là tác

phẩm bất hủ và hoành tráng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là bản Thiên cổ hùng văn, kết

tinh rực rỡ và thể hiện sáng ngời truyền thống lịch sử, văn hóa hàng ngàn năm kiên cường, bất khuất, là bản anh hùng ca mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam - kỷ

Trang 7

nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, đánh dấu một thời đại mới ở Việt Nam - thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội Bản Tuyên ngôn góp phần làm phong phú về quyền tự quyết của các dân tộc trên thế giới trong điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam - quyền tự

do, độc lập

Tuyên ngôn độc lập là văn bản pháp lý quan trọng đầu tiên khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, khẳng định quyền tự do, độc lập của nhân dân và dân tộc Việt Nam với toàn thế giới Văn kiện pháp lý này thay thế cho tất cả các văn kiện pháp lý của các chế độ cũ trước đó và khẳng định rõ ràng nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam Bản Tuyên ngôn đã tuyên bố chính thức một chính quyền cách mạng mới của nhân dân Việt Nam được xây dựng và sẽ trưởng thành theo đúng ý nguyện của mọi tầng lớp nhân dân và của cả quốc gia, dân tộc Việt Nam Bản Tuyên ngôn còn là bản cáo trạng tuyên bố kết liễu sự tồn tại các chính quyền của các triều đại phong kiến và chế độ thực dân nửa phong kiến đã suy tàn Chính quyền cách mạng mới được thành lập

là chính quyền thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, và là chính quyền tồn tại và phát triển bền vững mãi mãi đúng với ý nguyện của quần chúng nhân dân

Tuyên ngôn độc lập khẳng định ý chí và tinh thần dũng cảm, kiên cường, bất khuất của cả dân tộc Việt Nam nguyện đem hết mọi trí tuệ và sức lực, tính mạng và của cải để bảo vệ nền độc lập, tự do, dân chủ của chính mình Đó là ý chí không gì lay chuyển và đồng thời là triết lý nhân sinh vĩnh hằng của dân tộc Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí

Minh khẳng định: Không có gì quý hơn độc lập tự do.

Bản Tuyên ngôn độc lập tạo dựng nên nền tảng, tiêu thức và hạt nhân thống nhất

về tư tưởng, nhận thức và hành động trong mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam để thuyết phục, tập hợp, động viên, quy tụ và đoàn kết mỗi người dân Việt Nam ở trong nước và đồng bào Việt Nam ở nước ngoài cùng kề vai sát cánh xung quanh Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sẵn sàng bảo vệ nền độc lập và tự do đã được chính thức khai sinh từ bản Tuyên ngôn trọng đại này

Tuyên ngôn độc lập còn là tác phẩm bất hủ đầu tiên và duy nhất trong lịch sử Việt Nam hội tụ được các trào lưu lịch sử Việt Nam với trào lưu lịch sử nhân loại, làm xích lại gần nhau những quan niệm về quyền sống của con người và cao hơn là quyền dân tộc tự quyết của Việt Nam và các dân tộc khác trên thế giới Bản Tuyên ngôn đã lấy những khẳng định trong Tuyên ngôn nhân quyền của Mỹ và Tuyên ngôn dân quyền của Pháp làm căn cứ để đưa ra những tuyên bố hợp lô-gích về quyền của dân tộc Việt Nam và đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo và phù hợp vào thực tiễn Việt Nam Điều

đó đã khẳng định dân tộc Việt Nam sẽ cùng kề vai sát cánh với các dân tộc khác trên thế giới trong cuộc đấu tranh bảo vệ những quyền thiêng liêng và cao cả của dân tộc mình

Nó còn là sự kết hợp hữu cơ giữa những tinh hoa về trí tuệ và văn hóa của nhân loại với những giá trị bền vững của trí tuệ và nền văn hóa đậm đà bản sắc của dân tộc Việt Nam Mối quan hệ biện chứng này còn thể hiện năng lực sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào xử lý các vấn đề cụ thể của cách mạng Việt Nam

Trí tuệ lỗi lạc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trang 8

Ngoài những giá trị to lớn đã nêu, Bản Tuyên ngôn độc lập còn thể hiện trí tuệ lỗi lạc và thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh Tác phẩm đã góp phần hình thành phương pháp luận và tư tưởng Hồ Chí Minh Chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh tạo nền tảng thống nhất triệt để và nền tảng tư tưởng, trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động của cách mạng Việt Nam Trong Tuyên ngôn nhân quyền của Mỹ có câu: “All men are created equal” Câu này được dịch ra tiếng Việt Nam là “Mọi người sinh ra đều bình đẳng” Mệnh đề này được coi như là một điều hiển nhiên và nó đánh giá là sự khám phá vĩ đại và đóng góp có ý nghĩa trọng đại của nước Mỹ đối với nhân loại Tuy nhiên, mệnh đề này mới chỉ nhấn mạnh đến khía cạnh con người Không dừng lại ở khẳng định

có tính triết lý đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn tiến một bước xa hơn và cao hơn về tầm tư duy là khẳng định điều này ở phạm vi rộng hơn với ý nghĩa sâu sắc hơn là “Tất cả các

dân tộc trên thế giới sinh ra đều có quyền bình đẳng” (All people are created equal) để từ

đó khẳng định quyền bình đẳng giữa các dân tộc (cộng đồng người) chứ không chỉ đơn thuần là quyền bình đẳng giữa người với người (cá nhân) Ở đây, Người đã thay thế từ

mọi người thành từ mọi dân tộc - sự thể hiện những giá trị cá nhân vốn là đặc trưng của

văn hóa phương Tây được thay thế bằng những giá trị mang tính tập thể là đặc trưng của văn hóa phương Đông Sự chuyển hóa giá trị được thực hiện thông qua một bước tiến tưởng chừng rất đơn giản này lại là sự khẳng định khả năng trí tuệ lỗi lạc và thiên tài của

Hồ Chí Minh trong lịch sử Đồng thời, bản Tuyên ngôn còn cho thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh có tầm nhìn xa về sự phát triển của lịch sử, có những dự báo thiên tài về tương lai của cách mạng, về quá trình hội nhập của cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới Điều đó đã được khẳng định tiếp trong lời nói đầu của Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là “Nước Việt Nam độc lập và thống nhất tiến bước trên đường vinh quang, hạnh phúc, cùng nhịp với trào lưu tiến bộ của thế giới và ý nguyện hòa bình của nhân loại”, bằng quá trình bình thường hóa và phát triển quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước trên thế giới trong 67 năm qua được khẳng định trong đường lối đối ngoại chủ động và tích cực của Đảng Cộng sản Việt Nam, Việt Nam sẵn sàng “là bạn, đối tác đáng tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”(1), vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh

Bản Tuyên ngôn độc lập là sản phẩm của sự kết hợp các giá trị của truyền thống anh hùng, bất khuất và ý chí độc lập của dân tộc Việt Nam với sứ mệnh cao cả của giai cấp vô sản Việt Nam Nó thể hiện rõ nét cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới và giai cấp vô sản Việt Nam là một bộ phận của giai cấp vô sản thế giới Bản Tuyên ngôn độc lập còn thể hiện sự trung thành tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam với tư tưởng Mác - Lê-nin “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”./

Sự sáng tạo tầm vóc Trong chuyến đi thăm Hoa Kỳ của Thủ tướng Phan Văn Khải (2005), tại cuộc tiếp xúc ở thành phố Boston, mọi người đã được nghe một bài phát biểu nồng nhiệt của một chính khách lão thành của Hoa Kỳ Đó là nguyên thượng nghị sĩ McGovern, người luôn có tiếng nói chống cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và năm 1972 đã từng tranh cử chức tổng thống với

Trang 9

R.Nixon Ông đã đưa ra nhận xét rằng: “Trong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam Chủ tịch Hồ

Chí Minh đã nhắc lại cuộc kháng chiến giành độc lập của Hoa Kỳ, do Thomas Jefferson soạn thảo Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thay đổi một ý so với bản tuyên ngôn của Th Jefferson Câu

“Chúng tôi ủng hộ một sự thật hiển nhiên rằng mọi người đều sinh ra bình đẳng” thì Chủ tịch Hồ Chí Minh lại nói rằng: “Mọi dân tộc sinh ra đều bình đẳng” Quả là một sự thay đổi khéo léo và sáng suốt”

Nguyên văn trong Tuyên ngôn Độc lập, Bác Hồ dùng cách diễn đạt “Suy rộng ra, câu ấy

có nghĩa là tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”

Cũng bình luận về đoạn trích dẫn này, một nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam người Hoa

Kỳ, bà Lady Borton, còn đưa ra nhận xét rằng khi dịch chữ “all men” trong văn bản của Th Jefferson vào thời được viết, thế kỷ XVIII, chỉ bao hàm những người đàn ông (đương nhiên là da trắng và có tài sản) đã được Chủ tịch của nước Việt Nam độc lập diễn dịch thành: “Tất cả mọi người” mà trên thực tế được thể hiện trong Hiến pháp Việt Nam bao gồm tất thảy các công dân không phân biệt giới tính, tôn giáo, sắc tộc hay chính kiến Đó chính là một sự “suy rộng” nữa

mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem lại cho Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ những tiến bộ của nhân loại gần 2 thế kỷ sau đó

Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam không chỉ là tấm giấy khai sinh cho một Nhà nước Việt Nam theo thể chế Dân chủ - Cộng hòa theo đuổi mục tiêu Độc lập - Tự do - Hạnh phúc mà còn đóng góp cho sự nghiệp giải phóng nhân loại bằng một sự “suy rộng ra” thành một chân lý mang tầm thời đại

*********************************

Tuyên ngôn độc lập và nghệ thuật viết văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí

Minh

Đọc Tuyên ngôn Độc lập ta thấy: lý lẽ, suy tư, luận giải của nhà khoa học, nhà văn, của sử gia, triết gia, luật gia, chính trị gia, kinh tế gia v.v… được thể hiện thông qua suy nghĩ và ngôn từ của chỉ một lớp người đó là quảng đại công chúng Việt Nam hồi Cách mạng Tháng Tám.

Sau Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt và Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh được xem như

là Tuyên ngôn độc lập thứ ba trong lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam

Toàn văn bản Tuyên ngôn Độc lập chỉ có 1.010 chữ, sắp xếp trong 49 câu, nhưng Tuyên ngôn Độc lập đã hàm chứa một nội dung rất to lớn và sâu sắc Đó là sự đúc kết cao nhất,

cô đọng nhất nội dung cuộc Cách mạng Tháng Tám - cuộc cách mạng đã đem lại cho xã hội Việt Nam một sự biến đổi chưa từng thấy trong lịch sử, cuộc cách mạng đầu tiên ở Việt Nam nhằm dựng lên một xã hội tương lai không có áp bức giai cấp, không có tệ người bóc lột người

Một trong những yếu tố quan trọng đưa Tuyên ngôn Độc lập lên tầm của một áng văn chính luận kiệt xuất là nghệ thuật viết ngắn, viết giản dị

Rất giản dị mà lại rất vững chãi Giản dị vì ai cũng hiểu Vững chãi vì không ai bẻ được, vì nó lấy thực tế sôi bỏng của cách mạng làm cốt lõi, vì nó bắt nguồn từ lòng yêu

Trang 10

thương, kính trọng quần chúng nhân dân Lý luận đó càng tăng tính thuyết phục khi ta thấy chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã áp dụng thật nghiêm túc và thu được những thành công rực rỡ

Chủ tịch Hồ Chí Minh khuyên viết ngắn Ngắn mà có nội dung Trong cuốn Sửa đổi lối làm việc viết năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Viết dài mà rỗng thì không tốt, viết ngắn mà rỗng cũng không hay Chúng ta phải chống tất cả những thói rỗng tuếch Nhưng trước hết phải chống thói đã rỗng lại dài” Đọc Tuyên ngôn Độc lập ta thấy nội dung đậm đặc trong từng câu, từng chữ Toàn bộ lịch sử xã hội Việt Nam trong hơn 80 năm dưới ách cai trị của thực dân Pháp, rồi phát xít Nhật được khái quát lại trong

622 chữ, 186 chữ dành cho việc vận dụng pháp lý quốc tế suốt hơn một thế kỷ rưỡi để khẳng định quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam, toàn bộ những trói buộc về mặt pháp lý mà thực dân Pháp đã bỏ ra ngót một thế kỷ để tạo dựng đối với Việt Nam bị xóa

bỏ gọn trong một câu với 58 chữ, còn chí khí Việt Nam, sức mạnh Việt Nam, tương lai Việt Nam thì được khẳng định trong 144 chữ

Nhiều người nghiên cứu văn học, nghệ thuật trên thế giới đã tập trung trí tuệ vào một vấn đề được xem như là đặc biệt quan trọng Đó là vấn đề tiếp nhận văn học, nghệ thuật Sau khi đã hao tốn không biết bao nhiêu thì giờ, giấy mực, không biết bao nhiêu là chất xám, người ta mới phát hiện ra một điều rất giản dị rằng: chẳng phải ai khác mà

chính là công chúng và chỉ có công chúng mới là trọng tài công minh nhất của văn học,

nghệ thuật Mà khi đã suy tôn công chúng lên cái vị trí danh dự ấy thì trước hết phải lấy

họ làm đối tượng chính để phục vụ

Điều này, với Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành một chân lý hiển nhiên Viết cho ai đọc và viết để làm gì? Câu hỏi đó được Người trả lời dứt khoát: “Viết cho đại đa số nhân dân đọc” và “viết để phục vụ quần chúng nhân dân” Mà muốn thế thì trước hết những gì viết ra phải thật dễ hiểu, những gì nói ra phải đến tận tai người dân

Báo Cứu Quốc, số ra ngày 5 tháng 9 năm 1945 cho biết: trong khi đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói thêm một câu không có trong văn bản.

Câu đó là: “Tôi nói thế đồng bào có nghe rõ không?” Đó là một cử chỉ hết sức đẹp của một vị lãnh tụ cách mạng Nó thể hiện cái cao cả về đạo đức, cái sâu đậm về tình cảm

Lý luận về nghệ thuật viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh là như vậy Nó nằm trong cả một hệ thống lý luận của Người về quan điểm quần chúng Lý luận này rõ ràng đã được thể nghiệm nhiều qua thực tiễn viết và nói của Người Mà một thể nghiệm thành công lớn

nhất là Tuyên ngôn Độc lập Trong 49 câu của văn bản lịch sử trọng đại ấy có tới 45 câu

thuộc loại câu đơn giản Có cả một loại câu rất ngắn Mỗi câu chỉ 10 chữ trở lại Câu thì ngắn mà ý nghĩa nội dung thì đầy ắp

Sau khi trích ra hai đoạn ngắn trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ

và trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ hạ một câu: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” - Chỉ 10 chữ thôi mà ý nghĩa tổng kết thật cao, chính nghĩa được khẳng định một cách đanh thép

Câu thứ 19: tố cáo thực dân Pháp: “Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu”

- chỉ 9 chữ Câu thứ 13: “Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học” - cũng chỉ 9 chữ Câu thứ 11: “Chúng thi hành những luật pháp dã man” - chỉ 8 chữ thôi

Ngày đăng: 05/07/2015, 16:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w