1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp nâng cao năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận cho học sinh lớp 12 qua tác phẩm “tuyên ngôn độc lập”

35 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 274,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

-Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài “Giải pháp nâng cao năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận cho học sinh lớp 12 qua tác phẩm Tuyên ngôn độc lập” với mong muốn đề xuất được các biện phá

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT HÀ TRUNG

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH LỚP 12 QUA

TÁC PHẨM “TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP”

Người thực hiện: Vũ Thị Hải Chức vụ: Giáo viên

SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ văn

THANH HÓA NĂM 2021

Trang 2

MỤC LỤC

1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Lí do chọn đề tài 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 1

1.3 Đối tượng nghiên cứu 1

1.4 Phương pháp nghiên cứu 2

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2

2.1 Cơ sở lý luận của giải pháp nâng cao năng lực đọc hiểu VBNL cho học sinh lớp 12 2

2.1.1 Khái niệm văn bản nghị luận 2

2.1.3 Vị trí của phần VBNL trong chương trình Ngữ văn lớp 12 3

2.2 Thực trạng của việc đọc hiểu văn bản nghị luận của học sinh lớp 12 trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 4

2.3 Các giải pháp nâng cao năng lực đọc hiểu VBNL cho học sinh lớp 12 4

2.3.1 Luyện kỹ năng xác định thể loại và luận điểm văn bản nghị luận 4

2.3.2 Luyện kỹ năng xác định bố cục và tóm tắt văn bản nghị luận 6

2.3.3 Luyện kỹ năng xác định các luận điểm, luận cứ trong văn bản nghị luận 8

2.3.4 Luyện kỹ năng giải thích, cắt nghĩa, bình luận, khẳng định, bác bỏ các vấn đề được nêu ra trong văn bản nghị luận 9

2.3.5 Luyện kỹ năng phân tích, đánh giá nghệ thuật nghị luận của văn bản 10

2.3.6 Luyện kỹ năng liên hệ, vận dụng sáng tạo văn bản nghị luận vào cuộc sống 13

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 16

2.4.1 Đối với giáo viên 16

2.4.2 Đối với học sinh 17

3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 19

3.1 Kết luận 19

3.2 Kiến nghị 19 TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

PHỤ LỤC

Trang 4

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài

Trong nhà trường phổ thông, Ngữ văn là một môn học chủ chốt có vai tròquan trọng trong việc hình thành và phát triển các năng lực thiết yếu cho họcsinh Phát triển năng lực đọc hiểu văn bản nói chung, văn bản nghị luận nóiriêng là góp phần vào việc thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chấtnhân cách, năng lực vận dụng các tri thức trong các tình huống thực tiễn nhằmchuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống vànghề nghiệp Giáo dục theo định hướng năng lực nhấn mạnh vai trò của ngườihọc với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức, đặc biệt chú trọng đến hoạtđộng học - tức là quá trình cố gắng và tiến bộ của mỗi học sinh

Văn bản nghị luận (VBNL) là một kiểu văn bản quan trọng trong nhàtrường, trong đời sống và trong học thuật VBNL thường được dùng để trìnhbày, thể hiện, bộc lộ quan điểm, tư tưởng sâu sắc về một vấn đề nào đó nhằmthuyết phục người nghe, người đọc Trong lịch sử, các nhà tư tưởng, các nhà líluận, triết học, các nhà chính trị thường để lại trước tác của mình dưới hình thứcnghị luận Dạy học VBNL có tác dụng rất lớn trong việc rèn luyện cho học sinh

tư duy logic, trừu tượng; kĩ năng lập luận sắc bén, năng lực biểu đạt những quanniệm, tư tưởng một cách sâu sắc và bản lĩnh, tinh thần tự chủ trước đời sống Vìvậy, trong chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn THPT, văn bản nghị luậnchiếm một vị trí quan trọng Việc đọc hiểu VBNL là khó đối với học sinh nóichung và học sinh lớp 12 nói riêng Trong chương trình Ngữ văn, học sinh đượchọc khá nhiều về VBNL nhưng năng lực đọc hiểu VBNL thì còn hạn chế

Trong thực tế dạy học, qua khảo sát, dự giờ, tôi thấy việc dạy học đọc hiểu VBNL, nhìn chung, chưa có hiệu quả Giáo viên không thích dạy, học sinhkhông thích học vì VBNL “khô khan, trừu tượng" Hầu hết học sinh chỉ hiểu vănbản theo cách giảng giải của thầy chứ chưa có kĩ năng vận dụng các tri thứccông cụ cần thiết vào việc đọc hiểu một VBNL mới, ngoài chương trình.Nguyên nhân chủ yếu là do mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học đọchiểu văn bản nói chung, VBNL nói riêng chưa được xây dựng trên quan điểmhình thành và phát triển năng lực học sinh

-Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài “Giải pháp nâng cao năng lực đọc

hiểu văn bản nghị luận cho học sinh lớp 12 qua tác phẩm Tuyên ngôn độc lập” với mong muốn đề xuất được các biện pháp, cách thức hướng dẫn học sinh

lớp 12 đọc hiểu VBNL một cách độc lập và sáng tạo

1.2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này tôi hướng đến đề xuất quy trình, biện pháp, cáchthức phát triển kĩ năng đọc hiểu VBNL cho học sinh lớp 12 góp phần hìnhthành kĩ năng đọc độc lập và sáng tạo ở học sinh, từ đó nhằm nâng cao chấtlượng hiệu quả của việc dạy học VBNL ở trường THPT và phát triển ở họcsinh năng lực đọc hiểu, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển năng lực vàphẩm chất của học sinh

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực đọc hiểu VBNL cho học sinh

lớp 12 qua tác phẩm Tuyên ngôn độc lập ở nhà trường THPT.

Trang 5

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm hệ thống hóa các vấn đề lí luận

liên quan đến năng lực đọc hiểu VBNL cho học sinh lớp 12

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: so sánh giữa giải pháp cũ thường làmvới giải pháp mới để có sự kế thừa và phát huy

- Phương pháp quan sát: dự giờ, thăm lớp, tích lũy kinh nghiệm thực tế

- Phương pháp trao đổi, thảo luận: trao đổi trong nhóm và trao đổi vớiđồng nghiệp để bổ sung, hoàn thiện tiết dạy; trao đổi với học sinh, lắng nghe ýkiến từ phía học sinh

- Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành thiết kế giáo án và dạy thực

nghiệm tác phẩm Tuyên ngôn độc lập, nhằm kiểm chứng tính khả thi của các

giải pháp nâng cao năng lực đọc hiểu VBNL của học sinh lớp 12 ở nhà trườngTHPT như đã đề xuất

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lý luận của giải pháp nâng cao năng lực đọc hiểu VBNL cho học sinh lớp 12

2.1.1 Khái niệm văn bản nghị luận

Văn bản nghị luận là một trong những kiểu văn bản quan trọng trong đờisống xã hội của con người, có vai trò rèn luyện tư duy, năng lực biểu đạt nhữngquan niệm, tư tưởng sâu sắc trước đời sống Trước tác của các nhà tư tưởng, nhà

lí luận, nhà triết học, nhà chính trị đều viết dưới dạng thức nghị luận

Có nhiều cách phát biểu khác nhau về văn bản nghị luận:

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Nghị luận là bàn và đánh giá cho rõ về một vấn đề nào đó Văn nghị luận là thể văn dùng lý lẽ và dẫn chứng để phân tích giải quyết một vấn đề” [6]

Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: Thể văn nghị luận viết về nhữngvấn đề nóng bỏng thuộc nhiều lĩnh vực đời sống khác nhau: chính trị, xã hội,triết học, văn hóa… Mục đích của văn chính luận là bàn bạc, thảo luận, phê bìnhhay truyền bá tức thời một tư tưởng, một quan điểm nào đó… Đặc trưng cơ bảnnhất của văn chính luận là tính chất luận thuyết Văn chính luận trình bày tưtưởng và thuyết phục người đọc chủ yếu bằng lập luận, lý lẽ [7, tr 331]

Cũng cùng quan điểm như trên về văn bản nghị luận, các tác giả của cuốn

Một số vấn đề về văn nghị luận ở cấp hai (Tài liệu BDTX chu kỳ 1992 - 1996

cho GV văn cấp 2 phổ thông) trong một cách diễn đạt khác đã quan niệm: Vănnghị luận là một loại văn nhằm bàn bạc, thảo luận với người khác về thực tại đờisống xã hội bao gồm những vấn đề về văn hóa, triết học, đạo đức, lịch sử, chínhtrị, văn hóa nghệ thuật… Nét nổi bật nhất trong văn nghị luận là hệ thống lí lẽ vàdẫn chứng đầy đủ, tiêu biểu để làm sáng tỏ một vấn đề nào đó nhằm khiêu gợi,thuyết phục người đọc, người nghe hiểu rõ vấn đề, tin vào tính minh xác của sựlập luận và tán thành với quan điểm, tư tưởng của người viết để người đọc có thểvận dụng chúng vào cuộc sống xã hội và cá nhân [8, tr4]

Tựu chung, văn bản nghị luận là một thể loại văn bản dùng lí lẽ để thểhiện tư tưởng, quan điểm, thái độ của người viết, người nói về các vấn đề củađời sống (chính trị, đạo đức, văn hóa, văn học ) Các vấn đề đó được trình bày

Trang 6

bằng một hệ thống lí lẽ, dẫn chứng tiêu biểu với lập luận chặt chẽ, thuyết phục

và một thứ ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn chính xác

2.1.2 Đặc trưng của văn bản nghị luận

Văn bản nghị luận là một thể văn đặc biệt, khác các thể văn hư cấu (thơ,truyện, kịch) ở chỗ: nếu trong thơ, tác giả dùng nhiều đến tưởng tượng và lấyngôn từ hàm xúc, tinh tế, giàu cảm xúc, giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu để biểuhiện cảm xúc của mình và bản chất của cuộc sống; trong truyện, kịch tác giả lấyviệc xây dựng thế giới hình tượng nhân vật làm trung tâm để miêu tả cuộc sống,con người và biểu hiện tư tưởng, tình cảm của nhà văn thì trong văn bản nghịluận tác giả không dùng hư cấu - một hoạt động cơ bản của tư duy hình tượng

mà dựa vào tư duy logic, vận dụng lý lẽ, thực tế và ngôn từ trực tiếp của mình

để trình bày một thái độ, một quan điểm, một tư tưởng về một vấn đề đạo đức,chính trị, xã hội nào đó nhằm thuyết phục người đọc, người nghe đồng ý, đồngtình, đồng cảm với vấn đề và cách giải quyết vấn đề của tác giả Tóm lại, vănbản nghị luận là một kiểu văn bản đặc biệt có những đặc điểm chủ yếu sau: Phátbiểu một cách trực tiếp tư tưởng, quan điểm, thái độ, tình cảm của người viết vềmột vấn đề của đời sống; thuyết phục người đọc bằng hệ thống luận điểm, luận

cứ xác đáng, tin cậy và bằng cách lập luận sắc bén; ngôn ngữ chính xác, trongsáng, cú pháp rõ ràng, chặt chẽ, giọng điệu hùng hồn Xác định rõ những đặcđiểm cơ bản này sẽ giúp chúng ta phân biệt được điểm khác nhau giữa một giờđọc - hiểu văn bản nghị luận với một giờ đọc - hiểu văn bản văn chương hìnhtượng, có hướng phân tích và lựa chọn được những nội dung cơ bản, các phươngpháp, biện pháp tổ chức dạy học phù hợp với đặc trưng thể loại văn bản

2.1.3 Vị trí của phần VBNL trong chương trình Ngữ văn lớp 12

Văn bản nghị luận có vị trí, vai trò rất quan trọng trong cuộc sống Có thểthấy văn bản nghị luận có mặt ở hầu khắp các hoạt động, từ những cuộc tròchuyện, trao đổi, hội họp trong sinh hoạt hằng ngày đến các báo cáo, tiểu luận,luận văn, trong hành chính, khoa học, văn hóa VBNL là một công cụ để conngười trao đổi, đối thoại, thuyết phục để hiểu nhau hơn, gần gũi nhau hơn vànhận ra được bản chất, quy luật của sự vật hiện tượng

Trong nhà trường, vấn đề mà các văn bản nghị luật đặt ra thường là nhữngvấn đề gần gũi, quen thuộc hoặc có ý nghĩa quan trọng như: bảo vệ môi trường,phòng chống thiên tai, dịch bệnh, kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa dântộc, vai trò của người hiền tài đối với đất nước; vai trò của văn học với cuộcsống; độc lập tự do của dân tộc… được tiếp cận với những vấn đề ấy cùngnhững quan điểm, lập luận, cách đánh giá, giải quyết vấn đề của tác giả văn bảnnghị luận, học sinh sẽ có nhận thức sâu sắc, học được cách bày tỏ quan điểmđánh giá rõ ràng, đúng đắn về các vấn đề trong cuộc sống

Đồng thời, qua đọc hiểu các VBNL, các em còn học được cách suy nghĩ

để giải quyết vấn đề hợp lý, hợp tình và sáng tạo theo cách riêng của mình, nhất

là về những vấn đề rất gần gũi với cuộc sống hiện nay

Văn bản nghị luận còn có khả năng bồi dưỡng lòng nhân ái, ý thức côngdân, tinh thần trách nhiệm, tinh thần hợp tác ở học sinh Khi các em trăn trở đitìm những giải pháp giải quyết vấn đề mà các tác giả đặt ra trong văn bản nghịluận nghĩa là các em đang thể hiện vai trò công dân, tinh thần trách nhiệm của

Trang 7

mình đối với xã hội Những tác phẩm nghị luận mẫu mực là sự hòa quyện nhuầnnhuyễn giữa lý trí và tình cảm, giữa nghệ thuật và thực tiễn, giữa khách quan vàchủ quan, giữa tình cảm trong sáng kết tinh cùng với lý trí tỉnh táo của nhữngnhân cách lỗi lạc đã trở thành những tấm gương, như những ngôi sao “càng nhìncàng thấy sáng” để học sinh có thể soi vào đó và tự hoàn thiện chính bản thân.

Văn bản nghị luận có vai trò quan trọng như vậy, nhưng về căn bản, sốlượng văn bản nghị luận trong chương trình lớp 12 hiện hành vẫn ít Ở THPTvăn bản nghị luận chỉ chiếm tỉ lệ 12% so với tổng số văn bản được học, cụ thểnhư sau: THPT có 16 văn bản nghị luận trên tổng số gần 130 văn bản đọc hiểu,trong đó lớp 12 có 6 văn bản nghị luận Nếu chia văn bản thành 4 thể loại: tự sự,trữ tình, kịch, nghị luận theo chương trình giáo dục phổ thông thì số lượng vănbản nghị luận cần phải đọc hiểu theo loại thể trong chương trình hiện nay chưathật sự thỏa đáng

Tôi cho rằng, vị trí của phần văn bản nghị luận ở lớp 12 cấp THPT chưathực sự tương xứng với chức năng và ý nghĩa quan trọng của nó trong chươngtrình học Bởi vậy mà học sinh chưa nhận thức đúng được vai trò của văn bảnnghị luận

2.2 Thực trạng của việc đọc hiểu văn bản nghị luận của học sinh lớp

12 trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Trong thực tế dạy học, qua khảo sát, dự giờ, tôi thấy việc dạy học đọc hiểu VBNL, nhìn chung, chưa có hiệu quả Giáo viên không thích dạy, học sinhkhông thích học vì VBNL “khô khan, trừu tượng" Hầu hết học sinh chỉ hiểu vănbản theo cách giảng giải của thầy chứ chưa có kĩ năng vận dụng các tri thứccông cụ cần thiết vào việc đọc hiểu một VBNL mới, ngoài chương trình.Nguyên nhân chủ yếu là do mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học đọchiểu văn bản nói chung, VBNL nói riêng chưa được xây dựng trên quan điểmhình thành và phát triển năng lực học sinh

-Những hạn chế nói trên, một phần là do học sinh không nắm bắt được đặctrưng cơ bản của thể loại văn nghị luận, một phần chủ yếu là do ảnh hưởng củaphương pháp dạy học thiên về thuyết trình, diễn giảng - phương pháp dạy họcnày coi học sinh như một cái lọ cần phải chứa đầy kiến thức chứ không phải làmột chủ thể nhận thức, vì vậy chỉ tập trung mọi cố gắng cho thầy giáo Tính thụđộng của người học ở đây thể hiện rất rõ: “Họ phải nhớ cho được những gìngười ta đã cung cấp cho họ ở trạng thái hoàn thành Trong những điều kiệnnày, người giáo viên không lãnh đạo việc học tập và sự phát triển của học sinh

mà chỉ huy động kiến thức và phương pháp tư duy nhồi nhét vào học sinh” Họctheo phương pháp này, học sinh không cần đọc hiểu văn bản quá nhiều bởi cácthầy cô đã hiểu và truyền dạy lại cho học sinh

2.3 Các giải pháp nâng cao năng lực đọc hiểu VBNL cho học sinh lớp 12

2.3.1 Luyện kỹ năng xác định thể loại và luận điểm văn bản nghị luận

Xác định thể loại VBNL hiện đại không khó đối với học sinh lớp 12 Giáoviên chỉ cần cho học sinh ôn lại kiến thức về đặc trưng VBNL, đọc tiêu đề vănbản, đọc lướt nội dung văn bản, chú thích là học sinh có thể xác định được thểloại văn bản Tuy nhiên đối với các VBNL được viết dưới các hình thức khácnhư điếu văn, cáo, chiếu, biểu thì giáo viên cần giúp học sinh xác định bố cục,

Trang 8

lập luận, giọng điệu, phương thức biểu đạt chính, từ đó học sinh sẽ biết cáchnhận diện thể loại VBNL và phân biệt với các thể loại văn bản khác nhau Ví dụ,học sinh cần biết văn bản nghị luận khác với các loại văn bản tự sự, thuyết minh,miêu tả ở chỗ nào, từ đó học sinh mới có thể xác định chính xác tác phẩm đó cóphải là một văn bản nghị luận hay không.

Tương tự, việc xác định được đề tài, chủ đề của văn bản nghị luận khôngkhó vì các chủ đề của văn bản nghị luận thường được thể hiện rất rõ trong nhan

đề văn bản Giáo viên cho học sinh đọc văn bản, đối chiếu nội dung văn bản vớitiêu đề của văn bản Ban đầu học sinh đọc lướt qua một lần toàn văn bản để cảmnhận nội dung khái quát và giọng điệu bao trùm tác phẩm Sau đó học sinh đọc

kỹ từng phần, từng đoạn

Để đạt được những mục tiêu trên giáo viên có thể hướng dẫn học sinh:

- Đọc kĩ văn bản, chú thích ở nhà trước khi lên lớp

- Xác định đề tài, vấn đề mà người viết muốn đưa ra bàn luận

- Tìm mối liên hệ giữa nhan đề văn bản và nội dung văn bản

- Học sinh cũng cần phải phân biệt giữa nhan đề văn bản và nội dung vănbản Bởi trong thực tế hiện nay, có rất nhiều học sinh nhầm lẫn đánh đồng giữanhan đề và nội dung văn bản Nhan đề và nội dung văn bản có mối liên hệ mậtthiết với nhau, nhưng nội dung văn bản thường được cụ thể hóa, còn nhan đềphải khái quát ở mức cao về nội dung tư tưởng của văn bản, của tác phẩm; phảinói cô đọng được cái thần, cái hồn của tác phẩm

Chẳng hạn, tiêu đề của văn bản: Tuyên ngôn độc lập, Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác cũng chính là luận đề, là vấn đề mà tác giả muốn đem ra bàn

luận, thể hiện quan điểm

Tiêu đề Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc; Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS 01/12/2003 không chỉ là luận

đề mà còn là luận điểm trọng tâm của văn bản

Để xác định được đề tài, luận đề của văn bản nghị luận, giáo viên cầnhướng dẫn học sinh trả lời được câu hỏi: Văn bản này viết về vấn đề gì? Hoặctrọng tâm của văn bản này là gì? Dựa vào đâu để em biết được điều đó? Giáoviên cần tạo được không gian chia sẻ những trải nghiệm của học sinh về đề tài,chủ đề nghị luận thay vì việc ra lệnh và yêu cầu học sinh làm việc độc lập trongmột không gian yên tĩnh

Theo cách đọc hiểu truyền thống, học sinh sẽ tiếp nhận tri thức từ thầy côgiáo cung cấp bằng cách giới thiệu, kể, diễn giảng, thuyết trình Thực hiện tinhthần đổi mới giáo viên cần thường xuyên khuyến khích học sinh chia sẻ trảinghiệm của mình, vận dụng vốn sống, tri thức nền đã có để dự đoán đề tài, chủ

mà văn bản nghị luận muốn đề cập tới Đây là cái nhìn khái quát chung, tạo tiền đềthuận lợi cho học sinh trong việc xác định bố cục và tóm tắt văn bản nghị luận

Trang 9

2.3.2 Luyện kỹ năng xác định bố cục và tóm tắt văn bản nghị luận

Tóm tắt văn bản nghị luận là trình bày lại một cách ngắn gọn nội dung củavăn bản gốc theo một mục tiêu đã định trước Văn bản tóm tắt phải ngắn gọn, côđọng, hàm súc Muốn vậy, văn bản tóm tắt chỉ giữ lại những thông tin chính,những luận điểm quan trọng, lược bỏ các thông tin phụ

Để xác định được bố cục của một văn bản nghị luận, giáo viên cần hướngdẫn học sinh dựa vào việc xác định hệ thống các ý, các luận điểm, luận cứ vàtrình tự lập luận của văn bản đó

Thông thường các văn bản nghị luận được xem là mẫu mực được đưa vàochương trình đọc hiểu trong môn Ngữ văn lớp 12 thường có 3 phần Phần mởđầu, phần nội dung, phần kết luận, với các đặc trưng khác nhau Khi đọc vănbản nghị luận học sinh cần đọc kỹ và ghi nhớ các đặc trưng của từng phần nộidung VBNL để tóm tắt thành dàn ý hoặc vẽ sơ đồ bố cục của văn bản nghị luận

Phần mở đầu: nêu vấn đề, tầm quan trọng của vấn đề cần bàn luận Nóthường đứng ở đầu văn bản

Phần nội dung: nêu thực trạng và phân tích thực trạng của vấn đề Trongphần này tác giả sẽ đưa ra những lý lẽ, dẫn chứng để minh chứng về thực trạngcủa vấn đề từ đó bộc lộ quan điểm thái độ của tác giả về vấn đề đó, hoặc đề xuấtgiải pháp khắc phục

Phần kết luận: khẳng định lại quan điểm, tư tưởng của người viết hoặc lờikêu gọi hành động

Cách thức xác định bố cục

Trên cơ sở nhận diện được bố cục chung như trên, học sinh cần phải đọc

kỹ văn bản nghị luận, dựa vào bố cục chung của VBNL để tìm hiểu bố cục củavăn bản Có thể cho học sinh hoạt động theo nhóm đôi để tìm bố cục văn bản,giáo viên cũng có thể cho học sinh những giả định về bố cục văn bản (dùng máychiếu) cho học sinh trao đổi, nhận xét về cách chia bố cục đó, từ đó học sinh sẽlựa chọn và trình bày bố cục theo ý kiến của các em

Chẳng hạn bố cục của Tuyên ngôn Độc lập gồm 3 phần:

- Phần mở đầu: (từ đầu đến “không ai chối cãi được”) Nêu nguyên líchung của Tuyên ngôn Độc lập

- Phần nội dung: (tiếp theo đến “phải được độc lập”)

+ Tố cáo tội ác của thực dân Pháp

+ Khẳng định thực tế lịch sử là nhân dân ta đã kiên trì đấu tranh và nổidậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

- Phần kết luận: (còn lại) Lời tuyên bố độc lập và ý chí bảo vệ nền độc lập

tự do của dân tộc Việt Nam

Mạch lập luận của văn bản logic, chặt chẽ, thuyết phục: từ cơ sở lý luậnđối chiếu vào thực tiễn, rút ra kết luận phù hợp, đích đáng không thể khôngcông nhận

Để giúp học sinh có thể xác định bố cục của văn bản nghị luận, giáo viêncho học sinh xác định bố cục văn bản bằng cách đánh dấu phần mở đầu và kếtđoạn, hoặc thông qua bài tập trắc nghiệm dạng:

? Em hãy sắp xếp các ý/luận điểm sau theo đúng trật tự mạch nghị luận của VB.

Trang 10

A Khẳng định Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà tuyên bố với thế giới về quyền tự do, độc lập.

B Cơ sở pháp lý và chính nghĩa của “Tuyên ngôn độc lập”.

C Bản cáo trạng tội ác của thực dân Pháp và quá trình đấu tranh giành độc lập của dân tộc ta.

Hoặc gợi ý cho học sinh điền vào bố cục dạng sơ đồ tư duy như:

(Hình 1)

Văn bản nghị luận được tạo thành từ hệ thống luận điểm, luận cứ, ý chính.Nếu tóm tắt văn bản tự sự, học sinh có thể dựa vào cốt truyện, cuộc đời nhânvật, sự kiện thì tóm tắt VBNL giáo viên phải hướng dẫn học sinh dựa vào luậnđiểm, luận cứ Cụ thể:

- Giáo viên cần nêu mục đích, yêu cầu của việc tóm tắt văn bản nghị luận;

- Gợi ý tóm tắt và cho học sinh hình thành thói quen, kĩ năng tóm tắtVBNL theo các bước:

+ Bước 1: Đọc kĩ toàn văn bản Dựa vào nhan đề, phần mở đầu và kếtthúc để xác định bố cục, trong mỗi phần của văn bản lựa chọn những ý, nhữngchi tiết phù hợp với mục đích tóm tắt

+ Bước 2: Đọc từng đoạn trong phần triển khai (nội dung) để lựa chọn vàkhái quát các luận điểm, luận cứ, ý chính

+ Bước 3: Lập dàn ý trình bày lại một cách hệ thống các luận điểm, luận

cứ, ý chính của văn bản được tóm tắt

+ Bước 4: Dùng lời văn của mình để thuật lại nội dung cơ bản của vănbản được tóm tắt nhưng cần giữ lại bố cục và những câu văn quan trọng của vănbản gốc

- Về kĩ thuật tóm tắt giáo viên có thể cho học sinh lập dàn ý, lập sơ đồ tưduy hoặc viết thành đoạn văn hoàn chỉnh Chẳng hạn giáo viên có thể hướng dẫn

học sinh tóm tắt Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí Minh) bằng đoạn văn chẳng hạn: Bản tuyên ngôn mở đầu bằng những câu trích dẫn từ "Tuyên ngôn độc lập" của

Mỹ, "Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền" của Pháp để khẳng định quyền độc

Trang 11

lập tự do của dân tộc Việt Nam Tiếp đó, bản tuyên ngôn lên án tội ác của thực dân Pháp đối với dân tộc Việt Nam trong hơn 80 năm xâm lược nước ta Đó là tội ác về kinh tế, chính trị, văn hóa, tội bán nước ta hai lần cho Nhật Bản tuyên ngôn nêu cao cuộc đấu tranh chính nghĩa và thắng lợi của nhân dân ta Bản tuyên ngôn kết thúc bằng lời tuyên bố quyền độc lập tự do và ý chí quyết tâm bảo vệ độc lập tự do của toàn dân tộc.

Như vậy sử dụng nhiều cách tóm tắt VBNL sẽ giúp học sinh đa dạng hóacách học, dễ nhớ, dễ hiểu, tăng khả năng phát triển tư duy sáng tạo và giúp họcsinh phát triển năng lực thuyết trình, giao tiếp, hợp tác trong đọc hiểu VBNLmột cách tốt nhất

2.3.3 Luyện kỹ năng xác định các luận điểm, luận cứ trong văn bản nghị luận

Luận điểm, luận cứ là xương sống, là linh hồn của VBNL Vì vậy, xácđịnh luận điểm, luận cứ là một kỹ năng quan trọng và cũng là cơ sở để đánh giánăng lực đọc hiểu văn bản nghị luận của học sinh Luận điểm là quan điểm, ýkiến, thái độ của người viết về vấn đề được đặt ra Để có được những luận điểmchặt chẽ, giàu tính thuyết phục, các tác giả, nhà phê bình phải sử dụng nhữngluận cứ, chứng cứ xác đáng và phong phú Luận cứ là các tài liệu, dữ liệu dùng

để làm cơ sở xác thực, thuyết minh cho luận điểm

Có thể nói luận điểm là trung tâm, là tư tưởng cơ bản của bài văn nghịluận, được thể hiện dưới một mệnh đề logic có thể triển khai thành nhiều luậnđiểm nhánh

Các dạng luận điểm, luận cứ

Mỗi một văn bản nghị luận có một luận điểm chính/luận điểm trung tâm

và các luận điểm phụ, luận điểm nhánh

Luận điểm thể hiện tư tưởng, quan điểm, lập trường, thái độ của tác giảphải được nêu ra dưới hình thức câu khẳng định (hay phủ định), diễn đạt của câumang luận điểm phải rõ ràng, mạch lạc

Luận cứ là lý lẽ và dẫn chứng Có hai loại luận cứ cần phải xác định là:luận cứ thực tế (trong đời sống và văn học), luận cứ về lý lẽ (các nguyên lý, kháiniệm, chân lý, ý kiến đã được xác nhận và công nhận) Xác định luận điểm, luận

cứ cũng là cơ sở để học sinh có thể xác định được quan điểm, tư tưởng, ý chí,khát vọng của tác giả gửi gắm qua văn bản

Cách thức thực hiện

Trước hết giáo viên hướng dẫn học sinh tìm luận điểm trung tâm baoquát, chi phối toàn văn bản, được thể hiện dưới dạng một câu khẳng định có thểtriển khai thành nhiều luận điểm phụ khác nhau

Ví dụ: Luận điểm trung tâm của văn bản “Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh là tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã là một đất nước tự do độc lập; toàn thể nhân dân Việt Nam sẽ kiên quyết bảo vệ quyền tự do, độc lập ấy” Luận điểm này được triển khai thành một hệ

thống các luận điểm nhỏ khác theo một trình tự logic nhất định:

- Tất cả mọi người và các dân tộc trên thế giới sinh ra đều có quyền bìnhđẳng, quyền được sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc

- Thực dân Pháp đã chà đạp lên quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh

Trang 12

phúc của nhân dân Việt Nam.

- Nhân dân Việt Nam đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước ViệtNam dân chủ Cộng hòa

- Nhân dân Việt Nam quyết tâm bảo vệ nền độc lập tự do của mình

Để học sinh phát hiện ra luận điểm giáo viên có thể hướng dẫn học sinh:

Dựa vào hình thức: Câu luận điểm thường là câu khẳng định, có tính

tuyên bố, tuyên ngôn

Dựa vào nội dung: Câu luận điểm thể hiện rõ quan điểm, tư tưởng, chủ

trương, lập trường thái độ của tác giả về vấn đề nào đó

Để xác định luận cứ của văn bản nghị luận, giáo viên hướng dẫn học sinhtrả lời các câu hỏi như sau:

- Để giải thích và chứng minh cho luận điểm… tác giả đã sử dụng nhữngluận cứ nào?

- Xác định luận cứ (lý lẽ và các luận cứ bằng dẫn chứng) của đoạn văn…rồi điền vào sơ đồ sau:

(Hình 2)

Bằng cách thường xuyên luyện tập cách xác định luận cứ như vậy, họcsinh sẽ dần dần thành thạo kỹ năng đọc hiểu cấu trúc VBNL

2.3.4 Luyện kỹ năng giải thích, cắt nghĩa, bình luận, khẳng định, bác

bỏ các vấn đề được nêu ra trong văn bản nghị luận

VBNL là lời phát biểu trực tiếp quan điểm của người viết về những vấn

đề phức tạp trong cuộc sống Vì vậy khi đọc hiểu văn bản, kỹ năng giải thích,cắt nghĩa, bình luận, khẳng định, bác bỏ các vấn đề được bàn luận trong văn bản

là những thao tác tư duy quan trọng thường xuyên được vận dụng Nó thể hiệnmức độ đọc hiểu văn bản của học sinh đã đạt đến độ thông hiểu và vận dụng vào

Trang 13

thực tế Các kỹ năng này nhằm giúp học sinh:

- Nhận diện, phân tích, đánh giá hệ thống luận điểm của bài viết nhất lànhững luận điểm đúng đắn, mới mẻ, độc đáo, sâu sắc

- Phân tích, cắt nghĩa và đánh giá được cái hay, cái chặt chẽ, sắc sảo và sựthuyết phục trong cách lập luận của người viết

- Lý giải và bình giá được sự phù hợp giữa luận cứ và luận chứng, giữanội dung và thái độ của người viết

Đồng thời, giáo viên nêu vấn đề hoặc hướng dẫn học sinh phát hiện ranhững điểm khó hiểu, những điểm dễ gây ra quan điểm, cách đánh giá khácnhau, sau đó yêu cầu học sinh đánh giá, nhận xét, bình luận bằng việc sử dụngcác thao tác nghị luận kể trên

Để hướng dẫn học sinh rèn luyện các thao tác cắt nghĩa, giải thích, khẳngđịnh hoặc bác bỏ, giáo viên có thể dẫn dắt như sau:

- Trong văn bản/đoạn đoạn văn bản Tuyên ngôn độc lập có câu/ đoạn nàokhó hiểu?

- Nhận định “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dântộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.” có nghĩa là gì?

- Tác giả nói: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phảiluôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi” Em có tán thành quan điểmnày không? Vì sao?

- Em có tán thành với cách suy luận của Hồ Chí Minh: “Tất cả các dân tộctrên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sungsướng và quyền tự do”

- Ý kiến của em về vấn đề Pháp đã bán nước ta 2 lần cho Nhật?

- Em hãy bình luận ý kiến của tác giả rằng: “Tất cả các dân tộc trên thếgiới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng

và quyền tự do.”

Những câu hỏi trên là những câu hỏi cốt lõi về những nội dung cơ bản củavăn bản Trả lời được những câu hỏi đó, học sinh phải sử dụng thường xuyêncác thao tác giải thích, cắt nghĩa, khẳng định hoặc bác bỏ…

Thành thạo các thao tác nghị luận học sinh không chỉ hiểu sâu giá trị nộidung, nghệ thuật của VBNL mà còn hình thành ở học sinh bản lĩnh, tư duy độclập, khả năng phản biện hiệu quả

2.3.5 Luyện kỹ năng phân tích, đánh giá nghệ thuật nghị luận của văn bản

Bên cạnh nội dung, vấn đề nghị luận; nghệ thuật nghị luận là yếu tố cănbản làm nên giá trị của một VBNL Vì vậy khi đọc hiểu VBNL cần giúp họcsinh nhận diện, phân tích và đánh giá được nghệ thuật nghị luận của văn bản, tài

Trang 14

năng của nhà văn khi viết VBNL Đồng thời, phân tích, đánh giá nghệ thuật nghịluận của văn bản là góp phần làm sáng tỏ lý lẽ, dẫn chứng, tư tưởng, quan điểm,thái độ của tác giả

Đây cũng là bước tích lũy tri thức nền cho học sinh để vận dụng vào quátrình tạo lập văn bản nghị luận và là kiến thức phương pháp giúp các em có thểđọc hiểu các VBNL khác

Các yếu tố làm nên nghệ thuật nghị luận của văn bản

Nghệ thuật lập luận biểu hiện trước hết ở bố cục, trình tự lập luận của vănbản nghị luận, cách nêu vấn đề, cách dẫn dắt người đọc, người nghe, cách phântích bằng nhiều thủ pháp (như so sánh, liên hệ, đối chiếu, nêu dẫn chứng, đưa sốliệu thống kê), cách soi xét vấn đề ở nhiều mặt, nhiều góc độ Ngoài ra còn cócác yếu tố hành văn, giọng văn cách dùng từ, đặt câu Khi đọc hiểu VBNL, giáoviên cần hướng dẫn học sinh nhận xét và đánh giá về trình tự mạch nghị luậncủa văn bản; hệ thống, cách sắp xếp các luận điểm, luận cứ, luận chứng; mốiliên hệ giữa các luận điểm, luận cứ, luận chứng trong việc làm nổi bật luận đề,chủ đề của văn bản

Nghệ thuật lập luận của văn bản nghị luận còn thể hiện ở sự kết hợp cácyếu tố miêu tả, biểu cảm, kể chuyện, thuyết mình, hình ảnh để tạo nên sức hấpdẫn và thuyết phục của lí lẽ Không có văn bản nghị luận nào tồn tại một thaotác lập luận mà tất cả đều có sự kết hợp hài hòa, linh hoạt nhiều thao tác khácnhau Vì lẽ đó, khi dạy học đọc hiểu văn bản nghị luận, giáo viên cần giúp họcsinh nhận diện, so sánh, tìm ra đặc trưng của từng thao tác nghị luận; cho các emthấy được sự tồn tại, giao thoa của nhiều thao tác trong cùng một văn bản nghịluận Muốn vậy, giáo viên phải cung cấp cho học sinh lý thuyết về các thao táclập luận Các văn bản nghị luận được chọn học trong chương trình sẽ là nhữngkiểu văn bản “mẫu mực” nhất để các em đọc hiểu và nhận diện các thao tác nghịluận Ngoài hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh phân tích văn bản để nhận racách kết hợp các thao tác trong văn bản, giáo viên cũng có thể sử dụng hệ thốngbài tập nhận diện, bài tập phân tích, bài tập tạo lập văn bản dựa trên các thao táclập luận là bước trọng tâm trong việc phát triển tư duy, rèn luyện kỹ năng sửdụng thành thạo các thao tác vào thực tế giao tiếp Đây chính là bước rèn luyện

kỹ năng tạo lập văn bản sau bước đọc hiểu - chiếm lĩnh văn bản

Văn bản nghị luận thường sử dụng ngôn ngữ chính luận và ngôn ngữ đốithoại, dù tường minh hay ngầm ẩn, đối thoại là một quá trình hiểu lẫn nhau,tránh cách nhìn nhận áp đặt một chiều Để đối thoại và đối thoại có hiệu quả,trong văn bản nghị luận, người viết thường ngầm xác định đối tượng đối thoại là

ai, mục đích đối thoại là gì, nội dung đối thoại ra sao và lời lẽ trong văn nghịluận cần phải được cân nhắc như thế nào Vì vậy, khi đọc hiểu VBNL cần chú ýnhận diện và phân tích nghệ thuật đối thoại này

Để nâng cao tính thuyết phục của VBNL, các tác giả cũng rất chú ý sửdụng các biện pháp tu từ như: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, nói quá, phóngđại… Vì vậy khi đọc hiểu văn bản giáo viên cần hướng dẫn học sinh phát hiện

và đánh giá các phép tu từ đó trong việc làm nổi bật vấn đề nghị luận của vănbản Khi xác định được các biện pháp tu từ trong văn bản nghị luận, học sinh sẽ

dễ dàng hơn trong việc phân tích và đánh giá được nghệ thuật của văn bản nghị

Trang 15

- Nhận xét về mạch nghị luận, trình tự lập luận của văn bản?

- Có thể đảo ý/ luận điểm đầu lên trước luận điểm thứ 2 được không? Vì sao?

- Nhận xét về cách kết hợp lí lẽ và dẫn chứng trong đoạn/văn bản nghị luận?

- Cách lựa chọn dẫn chứng của tác giả có gì đặc biệt?

- Các biện pháp tu từ được sử dụng trong văn bản nghị luận này là gì? Tạisao dùng những biện pháp tu từ đó? Tác dụng của các biện pháp tu từ này là gì?

- Giọng điệu chính trong văn bản là gì? Tác dụng?

- Ngoài phương thức biểu đạt chính là nghị luận, tác giả sử dụng nhữngphương thức biểu đạt khác như thế nào? (Hoặc sự kết hợp các yếu tố miêu tả,biểu cảm trong văn bản có làm ảnh hưởng tới mục đích ý nghĩa của văn bảnkhông? Tác dụng của sự kết hợp các phương thức biểu đạt đó?

- Em hãy vẽ sơ đồ mạch nghị luận của tác giả?

Ngoài phương pháp sử dụng đàm thoại, đối thoại, tranh luận, giáo viên cóthể sử dụng các hình thức luyện tập khác nhau như:

- Học sinh tự viết một đoạn văn khác thay thế cho đoạn lập luận của tácgiả và so sánh xem cách nào hấp dẫn, hợp lý hơn

- Cho học sinh đối chiếu bố cục, kết cấu của 1 văn bản nghị luận cụ thểvới bố cục kết cấu chung của văn bản nghị luận để thấy được nét độc đáo, sángtạo, phá cách của tác giả

Để một văn bản nghị luận có giá trị và ý nghĩa thì cái tôi của tác giả phảirất nổi bật, đặc biệt Vì vậy bên cạnh việc hướng dẫn học sinh phân tích tính thời

sự, tính đúng đắn và ý nghĩa của vấn đề nghị luận mà tác giả nêu ra, giáo viêncần giúp học sinh thấy được cách trình bày, lập luận chặt chẽ, sắc bén cũng nhưtính sáng tạo độc đáo của tác giả trong việc sử dụng nghệ thuật lập luận để làmnên giá trị, sức thuyết phục của văn bản

Ví dụ:

Để hướng dẫn học sinh tìm hiểu phong cách, nghệ thuật lập luận của tác

giả trong văn bản “Tuyên ngôn Độc lập”, giáo viên cho học sinh đọc qua một

lượt, rồi đọc kỹ sau đó trả lời câu hỏi

Câu hỏi: Tại sao mở đầu Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh lại trích dẫn bản Tuyên ngôn Độc lập (1776) của nước Mỹ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền

và Dân quyền (1791) của cách mạng Pháp? Nếu đảo trật tự của phần nội dung

lên phần mở đầu thì ý nghĩa, hiệu quả tuyên ngôn của tác giả sẽ thay đổi nhưthế nào?

Qua trao đổi thảo luận, học sinh sẽ phát hiện ra nghệ thuật đặt vấn đề, dẫndắt tinh tế, khéo léo, có sức thuyết phục mạnh mẽ của Bác Mở đầu bản Tuyênngôn Độc lập của dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn bản Tuyênngôn Độc lập của Mỹ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp

Trang 16

vừa đề cao những giá trị hiển nhiên của tư tưởng nhân đạo và văn minh nhânloại, vừa tạo tiền đề cho lập luận sẽ nêu ở mệnh đề tiếp theo

Cách đặt vấn đề vừa khéo léo, vừa kiên quyết Khéo léo vì Bác tỏ ra rấttrân trọng, đề cao những giá trị của hai cuộc cách mạng mà người Pháp và người

Mỹ đã tạo nên Kiên quyết vì Người đã cảnh báo rằng nếu xâm lược nước ta thìchúng đã vấy bẩn lên lá cờ chính nghĩa và đi ngược với lý lẽ của cha ông chúng

Việc trích dẫn hai bản tuyên ngôn của Mĩ, Pháp còn có ý nghĩa đặt babản tuyên ngôn ngang hàng nhau, đặt ba nền độc lập ngang hàng nhau, Hồ ChíMinh đã nâng cao tầm vóc văn hóa Việt Nam sánh ngang với ánh sáng vănminh thế giới

Như vậy cách đặt vấn đề, cách mở đầu của một VBNL có ý nghĩa quyếtđịnh đến việc thu hút sự chú ý, hứng thú, mối quan tâm của người đọc Vì vậykhi đánh giá nghệ thuật nghị luận của văn bản chúng ta nên chú ý cách mở đầucủa tác giả Đây cũng là một bài học cho học sinh khi thực hành tạo lập văn bản

Để giúp học sinh khái quát được nghệ thuật nghị luận của văn bản, giáo viên cóthể gợi ý:

- Điều gì làm nên tính hấp dẫn, sức thuyết phục của văn bản?

- Nét độc đáo trong nghệ thuật nghị luận của văn bản? Em có thể họcđược gì từ nghệ thuật nghị luận của tác giả?

Về nội dung Tuyên ngôn Độc lập là lời tuyên ngôn, tuyên bố của Hồ Chí

Minh trước đồng bào và thế giới về độc lập chủ quyền của dân tộc Việt Nam

Nó có sức mạnh tố cáo mạnh mẽ tội ác của thực dân Pháp, ngăn chặn âm mưutái chiếm nước ta của các thế lực thù địch và phe nhóm cơ hội quốc tế, vừa bộc

lộ tình cảm yêu nước, thương dân và khát vọng độc lập tự do cháy bỏng của tácgiả và toàn dân tộc

Về nghệ thuật đây là áng văn chính luận mẫu mực của nhân dân ta trong

thời đại mới: hệ thống lập luận chặt chẽ, luận cứ toàn diện, sắc sảo, mang tínhthuyết phục cao; lời lẽ văn phong hùng hồn hướng tới nhiều đối tượng khácnhau với nhiều giọng điệu khác nhau Bên cạnh màu sắc chính luận, Tuyên ngônĐộc lập còn là áng văn chương giàu tính hợp lý Bản tuyên ngôn đã kế thừatruyền thống các áng tuyên ngôn độc lập của cha ông ta nhưng đồng thời cũngthổi vào đó hơi thở của thời đại mới

Khác với những văn bản văn chương hình tượng, văn bản nghị luận khôngphải là một thế giới nghệ thuật hư cấu, muôn hình muôn vẻ theo thế giới quan vànhân sinh của nhà văn Văn bản nghị luận là sự thể hiện tư tưởng, quan điểm,đánh giá của người viết về người thật, việc thật, là những vấn đề nóng hổi lớnlao có ý nghĩa của cuộc sống như phòng chống chiến tranh, gìn giữ hòa bình,bàn luận về văn hóa dân tộc, đổi mới tư duy, đổi mới thơ cho đến chân dung mộtcon người, đấu tranh chống lại đại dịch HIV/AIDS Vì thế, dạy học đọc hiểuvăn bản nghị luận là tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận các vấn đề của cuộc sống.Bằng các biện pháp kỹ năng cụ thể, người dạy giúp các em hiểu sâu sắc hơn vềthời đại từ đó nâng cao ý thức, tinh thần, trách nhiệm, tự giác hành động ở mỗicông dân tương lai

2.3.6 Luyện kỹ năng liên hệ, vận dụng sáng tạo văn bản nghị luận vào cuộc sống

Trang 17

VBNL có vai trò to lớn trong đời sống hôm nay, vì vậy việc liên hệ vớithực tiễn văn học và đời sống, đánh giá khả năng tác động của VBNL đến nhậnthức và hành động của học sinh là bước cuối cùng và quan trọng trong việc đọchiểu văn bản nghị luận Trong chương trình dạy học đọc hiểu VBNL ở nhàtrường THPT nói chung, lớp 12 nói riêng hiện nay, việc liên hệ, vận dụng cũng

đã được chú ý Tuy nhiên sự liên hệ, vận dụng chỉ ở chừng mực nhất định Phầncâu hỏi đọc hiểu trong SGK hiện hành cũng có câu hỏi liên hệ, vận dụng nhưngcòn ít và đơn điệu Trong các giờ đọc hiểu ở trên lớp học sinh tuy đọc hiểu đượcnội dung văn bản nghị luận nhưng phần liên hệ vận dụng vào thực tiễn cuộcsống để rút ra những bài học cho bản thân còn hạn chế

Nội dung liên hệ, vận dụng:

Như đã khái quát, các VBNL ở lớp 12 đề cập đến các đề tài gần gũi, có ýnghĩa như: Đề tài về dựng nước, giữ nước, kế thừa và phát huy truyền thống vănhóa dân tộc, phòng chống dịch bệnh với những văn bản tiêu biểu như: Tuyênngôn độc lập, Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS 01/12/2003,Nhìn về vốn văn hóa dân tộc, Những ngày đầu của nước Việt Nam mới, Đọchiểu những văn bản này giúp học sinh có cơ hội tìm hiểu và nhận thức về nhữngđiều đang diễn ra trong cuộc sống hàng ngày xung quanh các em Trong quátrình dạy học đọc hiểu giáo viên cần hướng dẫn học sinh liên hệ với thực tế vàcác hoạt động diễn ra hằng ngày để rút ra ý nghĩa và ý thức trách nhiệm của các

em đối với cộng đồng xã hội

Giáo viên cho học sinh đọc văn bản và nêu hiểu biết, trải nghiệm của các

em về các vấn đề cơ bản mà văn bản đặt ra Chẳng hạn, dạy học văn bản Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, giáo viên có thể sử dụng các bước

sau: Yêu cầu học sinh liệt kê ra giấy tất cả những gì các em đã biết về căn bệnhHIV, AIDS rồi điền vào sơ đồ tư duy:

Ngày đăng: 19/05/2021, 20:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w