1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Kế hoạch phòng chống dịch cúm.pdf

76 3,3K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kế hoạch phòng chống đại dịch cúm
Trường học Tổ chức Y tế Thế giới
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Tài liệu
Năm xuất bản 1999
Thành phố Geneva
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kế hoạch phòng chống dịch cúm.

Trang 1

Bộ phận Giám sát và Phòng chống bệnh truyền nhiễm

Tài liệu này được tải về từ trang web của WHO/CSR, không bao gồm các trang bìa gốc và danh sách người tham gia Xem trang web

http://www.who.int/emc để biết thêm thông tin

Trang 3

Mục lục

1 Tóm lược

2 Giới thiệu

3 VAI TRò CủA Tổ CHứC Y Tế THế GiớI (WHO)

3.1 Đánh giá mức báo động liên quan đến các vi rút cúm mới trong khoảng thời gian giữa các đại dịch

3.2 Giai đoạn 0: Hoạt động trong khoảng thời gian giữa các đại dịch 3.2.1 Giai đoạn 0, báo động cấp 1, chủng vi rút cúm mới ở một bệnh nhân

3.2.2 Giai đoạn 0, báo động cấp 2, khẳng định tình trạng nhiễm khuẩn

ở người

3.2.3 Giai đoạn 0, báo động cấp 3, khẳng định sự lây lan ở người

3.3 Giai đoạn 1: Khẳng định sự khởi phát của đại dịch

3.4 Giai đoạn 2: Các đợt dịch trên phạm vi khu vực và đa khu vực

3.5 Giai đoạn 3: Kết thúc làn sóng đầu tiên của đại dịch

3.6 Giai đoạn 4: Làn sóng thứ hai hay các làn sóng tiếp theo của đại dịch 3.7 Giai đoạn 5: Kết thúc đại dịch (trở lại Giai đoạn 0)

3.8 Hành động của WHO trong giai đoạn sau đại dịch

4 Vai trò của các nhà chức trách y tế và uỷ ban quy hoạch phòng chống đại dịch cấp quốc gia

4.1 Thành phần của Uỷ ban quy hoạch phòng chống đại dịch cấp quốc gia 4.2 Thiết lập quy trình quản lý có hiệu quả

4.3 Quyết định về chiến lược tiêm chủng

4.4 Lập kế hoạch chiến lược phòng chống tổng thể

4.5 Củng cố các hệ thống giám sát

Trang 4

4.6 Đạt sự nhất trí về khoa học và y học

4.7 Đảm bảo hậu cần và nguồn cung cấp thuốc men

4.8 Khung pháp lý - chính trị - kinh tế cho hành động

9 Phụ lục C: Nguồn gốc của đại dịch

10 Phụ lục D: Vắc xin cúm

11 Phụ lục E: Thuốc kháng vi rút

12 Phụ lục F: Danh mục địa chỉ

13 Phụ lục G: Kế hoạch phòng chống đại dịch quốc gia

Trang 5

1 Tóm lược

Tài liệu này được đưa ra để giúp các nhà lãnh đạo y tế công cộng và y khoa

đáp ứng tốt hơn với những mối đe doạ tiềm tàng của đại dịch cúm Tài liệu vạch ra những nét chính trong vai trò tuy riêng biệt nhưng lại mang tính bổ sung cho nhau của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và của các nhà chức trách quốc gia khi có thể hay thực sự xảy ra một đại dịch cúm Tài liệu mô tả cụ thể những hành động do WHO tiến hành khi đánh giá nguy cơ mà các phân nhóm mới của vi rút cúm gây ra trước bất cứ sự lây lan nào của dịch Trách nhiệm quản lý nguy cơ của đại dịch cúm nếu xảy ra chủ yếu thuộc về các nhà chức trách quốc gia WHO mạnh mẽ khuyến cáo rằng tất cả các nước cần lập ra Uỷ ban quy hoạch phòng chống đại dịch cấp quốc gia (UBQG), có trách nhiệm phát triển những chiến lược phù hợp cho đất nước trước khi đại dịch có thể xảy ra

Trên cơ sở nhận thức được những đặc điểm riêng của từng nước, cũng như tính chất không thể dự báo được của bệnh cúm, tài liệu này nhấn mạnh những quy trình và vấn đề thích hợp với WHO và các UBQG, nhưng không đưa ra “kế hoạch mẫu” Thêm nữa, các UBQG có thể sẽ phải đối mặt với những vấn đề mới cần được trao đổi thêm trên trường quốc tế Ví dụ, cần cân nhắc kỹ lưỡng hơn về cách san sẻ những nguồn vắc xin hạn hẹp, về lợi ích của việc huỷ bỏ các cuộc hội họp công cộng nhằm hạn chế sự lây lan của vi rút gây đại dịch trong những quần thể dân cư chưa được tiêm phòng

Không thể nào biết được khi nào sẽ xảy ra đại dịch Nếu một loại vi rút cúm

có tiềm năng gây đại dịch thực thụ lại xuất hiện và tung hoành như đã từng làm năm 1918, thì ngay cả khi đạt được những bước tiến lớn về thuốc men, loài người vẫn có thể phải chịu đựng những tổn thất vô song về bệnh tật và tử vong Việc đi lại bằng đường hàng không góp phần làm cho vi rút mới lây lan nhanh chóng, đồng thời cũng làm giảm thời gian dành cho việc chuẩn bị phòng chống dịch Các hệ thống chăm sóc y tế sẽ nhanh chóng rơi vào tình trạng quá tải, kinh tế gặp căng thẳng, trật tự xã hội bị phá vỡ Mặc dù việc ngăn chặn sự phát tán của vi rút có tiềm năng gây đại dịch được coi là không khả thi, chúng ta vẫn có thể hạn chế ở mức tối thiểu những hậu quả của nó bằng cách chuẩn bị sẵn sàng để đương đầu với thách thức trong tương lai Ngay cả khi không có đại dịch, như trường hợp của Hoa Kỳ năm 1976 và Đặc khu Hồng Công cuối năm 1997, công chúng cũng sẽ nhanh chóng trở nên

hoảng sợ trước khả năng xảy ra đại dịch khi có một số bệnh nhân nhiễm một

phân nhóm (tuýp) mới của vi rút Nỗi sợ hãi về sự hiện diện của một dạng vi rút cúm mới và nguy hiểm đặt ra cho các nhà chức trách y tế và các vị lãnh

đạo quốc gia những thách thức to lớn, kể cả khi quy mô dịch bệnh do loại vi rút mới gây ra còn chưa được kiểm chứng Để có thể đối phó tốt hơn với tình trạng “báo động giả” xuất phát từ việc giám sát cao độ, các chuyên gia đã đưa

ra định nghĩa về một chuỗi các “cấp độ chuẩn bị” cần áp dụng trước khi công

Trang 6

bố bắt đầu đại dịch Nhờ đó WHO có thể đưa ra thông báo về những ca nhiễm loại vi rút mới ở người và khởi xướng các hoạt động phòng chống mà không gây ra sự hoảng loạn không cần thiết Nhu cầu này đặc biệt quan trọng trong một kỷ nguyên mà thông tin được truyền đi nhanh chóng nhờ các phương tiện

điện tử Cần tiếp tục thực hiện những nỗ lực đặc biệt để mở rộng khả năng sử dụng công cụ truyền thông điện tử của những người đảm nhiệm trọng trách giám sát hay đánh giá và quản lý đáp ứng với những vi rút cúm mới, và để phổ biến các báo cáo tình hình một cách có trật tự

Có thể truy cập tài liệu này trên trang web của Tổ chức Y tế Thế giới

http://www.who.int/emc/diseases/flu/index.html

Trang 7

2 Giới thiệu

Những vi rút cúm lưu hành trong khoảng thời gian giữa các đại dịch có liên quan đến những vi rút gây ra các vụ dịch trước đó Vi rút lan truyền ở người theo những mức độ miễn dịch thay đổi từ những lần nhiễm trước đây Sự lưu hành này - trong giai đoạn thường là 2 đến 3 năm - thúc đẩy việc xuất hiện những chủng mới đã thay đổi đến mức đủ để gây ra một đợt dịch khác trong dân cư nói chung; quy trình này được gọi là “biến đổi gien” Trong từng năm một, việc “biến đổi gien” có thể có những tác động khác nhau đến những cộng

đồng, khu vực, quốc gia hay châu lục khác nhau, nhưng nếu xét vài năm liên tục thì tác động thường giống nhau Qua mức độ nhập viện hoặc tử vong cao khác thường, có thể thấy rằng những vụ dịch cúm điển hình làm tăng tỷ lệ bệnh viêm phổi và bệnh viêm đường hô hấp dưới Không chỉ người cao tuổi hoặc những người có bệnh mạn tính hay gặp phải các biến chứng kiểu này, mà trẻ nhỏ cũng mắc bệnh nặng Phụ lục A của tài liệu này sẽ mô tả những bệnh tật do vi rút cúm gây ra

Tuy nhiên, vào những khoảng thời gian không dự báo được, các vi rút mới nảy sinh với kháng nguyên bề mặt (haemagglutinin) của một phân nhóm hoàn toàn khác các chủng lưu hành trong năm trước Hiện tượng này được gọi là

“quá trình biến đổi kháng nguyên” Nếu những vi rút như vậy có tiềm năng lây lan từ người sang người thì có thể xảy ra những vụ dịch lớn và trầm trọng hơn, thường đạt đến quy mô tương tự nhau ở từng nước trong vòng vài tháng cho đến 1 năm, gây ra đại dịch Phụ lục B sẽ cung cấp thêm thông tin về những vấn đề này, và Phụ lục C nêu những giả thuyết về nguồn gốc của vi rút gây đại dịch

Nói chung, các đại dịch trước đây xảy ra do:

• sự xuất hiện của vi rút cúm A có phân tnhóm với kháng nguyên bề mặt khác các chủng lưu hành ở người trong nhiều năm trước đó, và

• có tỷ lệ người cảm nhiễm cao trong cộng đồng, nghĩa là một bộ phận lớn dân cư không có hay có hiệu giá kháng thể với kháng nguyên bề mặt của vi rút mới rất thấp, và

• vi rút mới có khả năng lây truyền cao từ người sang người, kèm với bệnh ở người

Các đại dịch của thế kỷ này diễn ra vào các năm 1918, 1957, 1968; đại dịch

1977 có quy mô nhỏ hơn (Bảng 3, Phụ lục B) Đại dịch 1918/1919 là đại dịch trầm trọng nhất; ước tính có tới 20 triệu người chết trên toàn thế giới

Ngoài ra, cũng có những “báo động giả” (Bảng 3, Phụ lục B) Ví dụ, ở Hoa Kỳ năm 1976 đã xảy ra một vụ dịch địa phương có ca bệnh đầu tiên tử vong trong

số tân binh Ca tử vong này do một loại vi rút cúm tương tự như vi rút tìm thấy trên lợn ở Hoa Kỳ gây ra, chúng có liên quan đến vi rút gây đại dịch 1918

Trang 8

Phản ứng của Hoa kỳ bao gồm việc sản xuất vắc xin hàng loạt theo hợp đồng với chính phủ, và chiến dịch tiêm chủng rộng khắp Tuy nhiên, vi rút đã không vượt ra khỏi giới hạn của trại huấn luyện Hoa Kỳ cũng phát hiện được một số trường hợp với các ca tản phát người nhiễm vi rút cúm lợn (ví dụ ở Wisconsin năm 1988) Những ví dụ khác được nêu ở cuối Bảng 1 chỉ phản ánh phần nổi của tảng băng Việc cảnh báo sớm các trường hợp bất thường hay khác lạ phụ thuộc vào chất lượng của hệ thống giám sát bệnh cúm ở người và ở động vật Một lần nữa, vào năm 1997, mối lo ngại về khả năng xảy ra đại dịch lại dấy lên khi Đặc khu Hồng Công phát hiện ra các bệnh nhân mắc phân nhóm vi rút H5N1 Vi rút H5N1 tìm thấy ở người có liên quan đến những vi rút phân lập

được từ gà bệnh ở Đặc khu Hồng Công Tuy nhiên, các cuộc khảo sát chuyên sâu đã không khẳng định được là có sự lây truyền vi rút đáng kể từ người sang người, và hiện tượng nhiễm khuẩn ở người đã ngừng lại khi các quan chức y tế công cộng và thú y tổ chức tiêu huỷ hàng loạt số gà bán ở chợ và nuôi ở các trại chăn nuôi

Điều chế các tái tổ hợp gien có khả năng sinh trưởng cao cho sản xuất vắc xin H5N1 là việc làm khó khăn và đòi hỏi nhiều thời gian, vì những vấn đề kỹ thuật gặp phải trong quá trình chọn lọc (ví dụ độc tính với trứng gà có phôi)

Kể từ khi ca bệnh đầu tiên xuất hiện vào tháng 5 năm 1997, phải mất hơn 12 tháng người ta mới đưa ra được các chế phẩm như vậy để sản xuất vắc xin thực nghiệm Điều đó nhắc nhở chúng ta rằng sản xuất nhanh loại vắc xin phù hợp có hiệu quả với chủng vi rút có tiềm năng gây đại dịch cúm không phải là việc trong tầm tay, và trước hết cần nghĩ đến những biện pháp phòng chống khác

Những dấu ấn khác nhau nêu trên cho thấy cần có kế hoạch linh hoạt đề phòng những trường hợp bất trắc, đảm bảo đáp ứng một cách có hiệu quả với nguy cơ xảy ra đại dịch Mục tiêu của tài liệu này là cung cấp thông tin và bộ khung để giúp WHO và các nước thành viên hoàn thành vai trò và trách nhiệm của mình trên mặt trận này

Trang 9

3 Vai trò của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)

Ngoài vai trò thu thập và phân tích dữ liệu về sự xuất hiện của các loại vi rút gây bệnh cúm trên toàn thế giới, WHO liên tục cung cấp thông tin cho các nhà chức trách y tế, các cơ quan thông tin đại chúng và cho công chúng về những khuyến cáo liên quan đến vắc xin cúm hiện hành, cũng như những loại thuốc kháng vi rút đang được dùng, theo một hay nhiều phương pháp sau đây:

• báo cáo qua Bản tin Dịch tễ học hàng tuần

• thông tin cho các nhà chức trách quốc gia, các trung tâm nghiên cứu bệnh cúm quốc gia và các thành viên khác của chương trình phòng chống bệnh cúm về tinh fhình bệnh cúm toàn cầu

• đề xuất kế hoạch nhằm giúp dịnh hướng cho các nhà hoạch định chính sách quốc gia hay thực thi chính sách quốc gia, và

http://www.who.int/inf • ra thông cáo báo chí

3.1 Đánh giá mức báo động liên quan đến các vi rút cúm mới trong

khoảng thời gian giữa các đại dịch

Loại vi rút mới có tiềm năng gây đại dịch đầu tiên có thể được phát hiện từ các vụ dịch lớn và lan nhanh, ví dụ trong các năm 1957 và 1968 Tuy nhiên,

để có thể lập kế hoạch một cách hiệu quả, điều quan trọng là có được một quy trình để xác định phương án đáp ứng với những tình huống khác, ví dụ như

nhận biết khả năng không lan rộng và gây đại dịch của loại vi rút mới, và phát

hiện sớm sự lây lan ở mức độ thấp của một vi rút có tiềm năng gây đại dịch thực thụ

Định nghĩa về mức báo động được mô tả ở đây là cơ sở để WHO xác định phản ứng của mình trước những tình huống như vậy

Báo động cấp 1, 2 và 3 tương ứng với những sự kiện có thể xảy ra trong khoảng thời gian giữa các đại dịch (cũng có thể coi là tương ứng với Giai đoạn

0 của đại dịch) Do đó WHO sẽ duy trì Đội đặc nhiệm giám sát đại dịch trong khoảng thời gian giữa các đại dịch để có thể khởi xướng những biện pháp thích hợp khi có báo cáo về loại vi rút có tiềm năng gây dịch, và để chỉ rõ mức

báo động cần thiết (xem phần dưới đây và xem Bảng 1)

Trang 10

Nếu loại vi rút mới có lây lan ở người, WHO sẽ ra tuyên bố - với sự trợ giúp

của đội đặc nhiệm và sau khi đã hội đàm ở cấp quốc tế - về đại dịch cúm mới

3.2 Giai đoạn 0: Hoạt động trong khoảng thời gian giữa các đại dịch

Trong giai đoạn này, không có dấu hiệu về bất cứ tuýp vi rút mới nào Như đã nói ở trên, khoảng thời gian giữa các đại dịch - khi có thể xuất hiện các phân tuýp có kháng nguyên bề mặt mới của vi rút cúm A có tiềm năng gây đại dịch

- được coi là giai đoạn 0 của đại dịch Dựa trên các báo cáo gửi đến WHO về những loại vi rút mới như vậy, sau khi Đội đặc nhiệm giám sát đại dịch và các chuyên gia có liên quan đã xem xét, WHO sẽ ra thông báo về những giai đoạn tiếp theo của đại dịch khi chúng diễn ra

đối chiếu các chủng vi rút, và đào tạo cán bộ cho các phòng thí nghiệm quốc gia Ngoài ra, họ có cơ sở vật chất đảm bảo an toàn sinh học giúp họ tiến hành nghiên cứu trên những vi rút có tiềm năng gây đại dịch trong

điều kiện không gây mất an toàn hoặc không làm sai lệch việc phân tích

do Trung tâm cộng tác của WHO ở Atlanta bào chế ra

để định loại các phân lập vi rút Kết quả được báo cáo cho WHO, đồng thời với việc gửi mẫu phân lập đến các Trung tâm cộng tác để đối chiếu kỹ với nhau và với các chủng cũ Bằng cách này, có thể khẳng định được sự xuất hiện và lây lan của các biến thể mới, và đánh giá tầm quan trọng của chúng

Trang 11

Trong trường hợp cần thiết, các Trung tâm cộng tác và Cơ quan kiểm định quốc gia của úc và châu Đại dương, châu Âu, châu á và Hoa Kỳ sẽ ra quyết

định chọn các chủng giống dự tuyển để sản xuất vắc xin khi có khuyến cáo về công thức vắc xin Những khuyến cáo này được các chuyên gia có trách nhiệm đưa ra qua hai cuộc họp thường niên: tháng Hai đối với Bán cầu bắc và tháng Chín đối với Bán cầu nam Phụ lục D sẽ cung cấp thêm thông tin về quá trình ra khuyến cáo và sản xuất vắc xin cúm

WHO cũng đã phân công một Trung tâm cộng tác nghiên cứu các vi rút gây bệnh cúm ở động vật; Trung tâm này - có trụ sở đặt tại Memphis, bang Tennessee, Hoa Kỳ - giúp WHO định loại vi rút phân lập từ các loài động vật khác nhau, và nghiên cứu mối quan hệ giữa các chủng vi rút ở người và động vật

3.2.1 Giai đoạn 0, báo động cấp 1, chủng vi rút cúm mới ở một bệnh nhân

Mức báo động này được đặt ra sau khi có báo cáo đầu tiên về việc phân lập

được một phân tuýp vi rút mới từ một bệnh nhân duy nhất, nhưng không có bằng chứng rõ ràng về sự lây lan của nó hay về bệnh dịch do nó gây ra

• Với sự trợ giúp của đội đặc nhiệm, và sau khi tổ chức hội đàm ở cấp quốc

tế, WHO sẽ ra thông báo Báo động cấp 1

• WHO sẽ điều phối nỗ lực quốc tế để giúp các nhà chức trách quốc gia và

địa phương báo cáo về vi rút có tiềm năng gây đại dịch qua việc khẳng

định sự nhiễm khuẩn ở người là do chủng vi rút mới gây ra bằng cách: Loại trừ những trường hợp báo cáo sai xuất phát từ sai sót trong khâu xét nghiệm hay kết quả nhân tạo, ví dụ bệnh phẩm bị nhiễm bẩn trong quá trình xét nghiệm hay quy trình xét nghiệm không được thực hiện

đúng;

Tìm kiếm thêm dữ liệu liên quan đến nguồn phơi nhiễm, sự nhiễm khuẩn ở những người tiếp xúc, và tình trạng đáp ứng kháng thể ở những người phơi nhiễm với vi rút mới, kể cả người trong gia đình, nhà trường hay nơi làm việc của (các) ca bệnh đầu tiên, nhân viên y tế, nhân viên phòng thí nghiệm;

Cố gắng phân lập lại vi rút từ bệnh phẩm lâm sàng gốc, đưa vào môi trường phù hợp cho việc phát triển vi rút giống để sản xuất vắc xin;

áp dụng các kỹ thuật sinh học phân tử để phân tích chuỗi gien vi rút và chuẩn bị những bản sao bộ gien vi rút từ bệnh phẩm lâm sàng gốc, và

để sử dụng cho việc biến đổi gien nếu cần;

Đánh giá tính nhậy cảm của (các) phân lập mới với các thuốc kháng vi rút hiện có

Trang 12

• WHO sẽ đẩy mạnh hoạt động của mạng lưới các phòng thí nghiệm giám sát bằng cách:

Thông báo cho các phòng thí nghiệm cúm quốc gia ngay lập tức xem xét lại kết quả của mình và báo cáo về những vi rút khó xác định tuýp; Xúc tiến việc vận chuyển mẫu của các phân lập vi rút mới đó đến các Trung tâm cộng tác, kể cả tạo thuận lợi trong việc khai báo hải quan nếu cần;

Thúc đẩy việc phát triển và lập kế hoạch phân phối các chất phản ứng

đến mọi phòng thí nghiệm cúm quốc gia để định loại chủng vi rút mới

3.2.2 Giai đoạn 0, báo động cấp 2, khẳng định tình trạng nhiễm khuẩn ở

người

Mức báo động này được đặt ra khi khẳng định được rằng có từ hai người trở lên nhiễm phân tuýp vi rút mới, nhưng còn nghi ngờ về khả năng lây lan từ người sang người và khả năng gây ra nhiều vụ dịch dẫn đến các đợt dịch của

vi rút

• Với sự trợ giúp của đội đặc nhiệm, và sau khi tổ chức hội đàm ở cấp quốc

tế, WHO sẽ ra thông báo Báo động cấp 2

• WHO sẽ khuyến khích và giúp quốc gia nơi đã phát hiện ra những ca đầu tiên đẩy mạnh công tác giám sát và chẩn đoán, và tổ chức những đợt khảo sát đặc biệt để nâng cao kiến thức về sự lây truyền có thể xảy ra và tác

• WHO sẽ thúc đẩy việc tăng cường hoạt động giám sát trên quy mô khu vực hay quốc tế Các phòng thí nghiệm quốc gia, đặc biệt là ở những nước mà dân cư thường hay qua lại nơi đầu tiên phát hiện ra vi rút mới, sẽ được khuyến khích tăng tần số báo cáo về những cụm hay vụ dịch giống cúm, và

bố trí chẩn đoán xét nghiệm kịp thời, bất kể lúc đó có phải là “mùa cúm” thông thường hay không

• WHO sẽ khuyến cáo các nhà chức trách y tế cấp quốc gia tiến hành những bước chuẩn bị để khởi động kế hoạch phòng chống đại dịch của nước mình nếu điều đó là cần thiết

Trang 13

• WHO sẽ thúc đẩy việc phát triển và đánh giá các chủng giống dự tuyển để

sản xuất vắc xin phòng chống chủng vi rút cúm mới, trên cơ sở áp dụng

các phương pháp sau đây nếu phù hợp:

Chuẩn bị vi rút tái tổ hợp gien giảm độc lực, chịu được lạnh, có khả

năng tăng trưởng cao nếu có thể, chú ý đảm bảo quá trình xử lý không

gây nguy cơ cho người, hay cho động vật cảm nhiễm được nuôi trong

điều kiện hiện tại của các cơ sở sản xuất vắc xin có sử dụng trứng gà

Có thể xác định ra các chủng hiện có đã thích ứng với điều kiện phòng

thí nghiệm và phù hợp về mặt kháng nguyên và sinh học để sản xuất

vắc xin phòng chống vi rút mới (ví dụ những phân lập tương tự từ vật

chủ động vật)

Có thể chuẩn bị các biến thể thích ứng với điều kiện phòng thí nghiệm

từ vi rút mới, ví dụ bằng cách cấy chuyển nhiều lần qua các vật chủ

khác nhau hay ở những nhiệt độ khác nhau, để chọn ra những biến thể

an toàn và hiệu quả cho việc sản xuất vắc xin

Trong tương lai, trong khi chờ đợi những cải tiến về công nghệ, có thể thực hiện việc chế tác di truyền học để xoá bỏ hay thay đổi những đoạn a xít

nucleic quyết định độc tính của vi rút, ví dụ vị trí phân cắt ngưng kết hồng

cầu, từ đó tạo ra vi rút giống để sản xuất vắc xin trong hệ thống vật chủ thông

thường Từ việc chế tác di truyền học, có thể dẫn đến các dạng công nghệ sản

xuất vắc xin mới tuỳ theo biểu hiện của a xít nucleic đơn dòng hoá Do đó,

• WHO sẽ thúc đẩy việc phát triển các chất phản ứng cần thiết để xác định

nhận dạng và hiệu lực của vắc xin sản xuất từ chủng mới

• WHO sẽ thúc đẩy việc lập kế hoạch thử nghiệm vắc xin tiền lâm sàng và

lâm sàng, ví dụ tìm kiếm địa điểm có khả năng thực hiện những cuộc thử

nghiệm như vậy với các dạng vắc xin khác nhau, và xác định thành phần

nhóm cố vấn kỹ thuật để thiết kế, tiến hành và phiên giải các cuộc thử

nghiệm đó

3.2.3 Giai đoạn 0, báo động cấp 3, khẳng định sự lây lan ở người

Mức báo động này được đặt ra khi đã có bằng chứng rõ ràng để khẳng định

rằng phân tuýp vi rút mới lây lan từ người sang người trong quần thể dân cư

chung, ví dụ các ca thứ phát mắc bệnh qua tiếp xúc với một ca đầu tiên, tạo

nên ít nhất một vụ dịch kéo dài tối thiểu hai tuần ở một nước Việc phân lập

được phân tuýp vi rút mới ở một vài nước và không có lời giải thích nào ngoài

sự tiếp xúc giữa những người nhiễm cũng có thể được coi như bằng chứng về

sự lây lan quan trọng ở người

Trước khi WHO công bố mức báo động này, đội đặc nhiệm của WHO sẽ thực

hiện những việc làm cần thiết cho việc tổ chức hội đàm ở cấp quốc tế: thứ

Trang 14

nhất, để đảm bảo việc đánh giá tiềm năng gây đại dịch của vi rút mới không

bỏ qua bất cứ lời giải thích nào, kể cả sự phơi nhiễm nhân tạo của con người ở một số nơi với vi rút cúm (ví dụ như hành động khủng bố), hay tình huống sinh thái khác thường trong đó có một loại động vật trung gian truyền vi rút sang cho người ở những địa điểm khác nhau; và thứ hai, để đảm bảo có đủ bằng chứng về tiềm năng gây bệnh viêm đường hô hấp dưới hay các biến chứng khác của vi rút

• Với sự trợ giúp của đội đặc nhiệm, và sau khi tổ chức hội đàm ở cấp quốc

tế, WHO sẽ ra thông báo Báo động cấp 3

• WHO sẽ đưa ra định nghĩa ca bệnh để sử dụng trong việc giám sát phân tuýp vi rút mới

• Một phần trong các hoạt động ở mức báo động cấp 2 là WHO sẽ tạo thuận lợi cho việc phân phối vi rút vắc xin dự tuyển đến các nhà sản xuất vắc xin

có quan tâm

• WHO sẽ mời các chuyên gia về thành phần vắc xin cúm họp bàn để phát triển, phổ biến và khuyến khích phối hợp thử nghiệm lâm sàng vắc xin phòng chống chủng vi rút mới

• WHO sẽ mời các chuyên gia về thành phần vắc xin cúm họp bàn để phát triển các biện pháp giúp đưa vắc xin đến mọi nơi trên thế giới, và đưa ra những hướng dẫn sử dụng phù hợp với quần thể dân cư, hệ thống cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế và môi trường của những khu vực khác nhau

• WHO sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác phổ biến thông tin để kịp thời cung cấp báo cáo về tình hình điều tra nghiên cứu loại vi rút mới, mức độ lây lan của nó, cũng như về những đáp ứng với nó

• WHO sẽ trao đổi với các nhà sản xuất vắc xin và chính phủ các nước về năng lực và kế hoạch sản xuất vắc xin phòng chống vi rút mới, cũng như về việc phân bổ vắc xin trên quy mô quốc tế

• WHO sẽ khuyến khích sự điều phối quốc tế trong việc mua và phân phối vắc xin đến các nước khác nhau

• WHO sẽ đưa ra những nguyên tắc chỉ đạo chung cho các nhà chức trách y

tế cấp quốc gia dựa trên những thông tin tốt nhất có được để giúp họ xác

định chiều hướng hành động Sự chỉ đạo sẽ phải hữu hiệu, đặc biệt là trên những phương diện sau đây:

Những phương thức giám sát có khả năng cung cấp tư liệu đáng tin cậy

về sự lây lan và tác động của vi rút mới;

Các nhóm có nguy cơ nhiễm khuẩn hay có khả năng mắc bệnh nặng;

Trang 15

Tình huống liên quan đến kế hoạch sản xuất vắc xin phòng chống vi rút mới;

Các phương pháp kiểm soát khác; và

Công tác quản lý ca bệnh

3.3 Giai đoạn 1: Khẳng định sự khởi phát của đại dịch

Thông báo Đại dịch sẽ được đưa ra khi chứng minh được rằng phân tuýp vi

rút mới gây ra một số vụ dịch ở ít nhất một nước, và đã lây lan sang các nước khác theo những mô hình bệnh tật nhất quán - cho thấy có tỷ lệ mắc bệnh và

tỷ lệ tử vong cao ở ít nhất là một bộ phận dân cư Theo định nghĩa, sự khởi phát là thời điểm mà WHO đã khẳng định được rằng vi rút có kháng nguyên

bề mặt phân tuýp khác với các chủng gây dịch gần đây đã bắt đầu lan ra từ một hay nhiều ổ dịch ban đầu Tuỳ theo mức độ cảnh báo sớm, giai đoạn này

có thể, hay có thể không, diễn ra sau chuỗi các mức báo động tăng dần đã nêu

ở trên

• Với sự trợ giúp của đội đặc nhiệm, và sau khi tổ chức hội đàm ở cấp quốc

tế, WHO sẽ ra thông báo về sự khởi phát Giai đoạn 1 của đại dịch cúm

• WHO sẽ ra khuyến cáo về thành phần và cách sử dụng vắc xin (liều lượng

và lịch tiêm chủng), và tổ chức các cuộc hội đàm nhằm tạo thuận lợi cho việc sản xuất và phân phối vắc xin một cách công bằng nhất WHO cũng

sẽ cân nhắc tình huống không có sự thay thế những chủng lưu hành trước

đây bằng phân tuýp vi rút mới

• WHO sẽ ra hướng dẫn về cách sử dụng tốt nhất những loại thuốc kháng vi rút sẵn có để điều trị vi rút mới

• Cần khởi xướng càng nhanh càng tốt các biện pháp xử lý của quốc gia theo

kế hoạch phòng chống đại dịch được đưa ra từ trước, được cập nhật theo những đặc điểm cụ thể của phân tuýp mới và tính sẵn có của vắc xin

• WHO sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác theo dõi giám sát và báo cáo tình hình lây lan cũng như tác động của vi rút trên phạm vi toàn cầu

• WHO sẽ tìm cách hỗ trợ các nước có năng lực hạn chế huy động nguồn lực thông qua quan hệ hợp tác với những tổ chức như UNICEF, Hiệp hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới, và các cơ quan cứu trợ quốc tế

Trang 16

• WHO sẽ làm việc cụ thể với các văn phòng khu vực để khuyến khích các hoạt động chung giữa những quốc gia cùng phải đương đầu với những thách thức giống nhau của đại dịch

3.4 Giai đoạn 2: Các đợt dịch trên phạm vi khu vực và đa khu vực

Các vụ dịch và đợt dịch đang diễn ra ở nhiều nước, và lan từ khu vực này sang khu vực khác trên phạm vi toàn thế giới

• Với sự trợ giúp của đội đặc nhiệm, và sau khi tổ chức hội đàm ở cấp quốc

tế, WHO sẽ ra thông báo về sự khởi phát Giai đoạn 2 của đại dịch cúm

• WHO sẽ tiếp tục làm việc cụ thể với các văn phòng khu vực để khuyến khích những hoạt động chung giữa các quốc gia

• WHO sẽ tiếp tục thực hiện công tác theo dõi giám sát và báo cáo tình hình lây lan cũng như tác động của vi rút trên phạm vi toàn cầu

• WHO sẽ tiếp tục tổ chức việc phân phối vắc xin một cách công bằng nhất

• WHO sẽ cập nhật hướng dẫn về cách sử dụng tốt nhất những loại thuốc kháng vi rút sẵn có để điều trị vi rút mới

• WHO sẽ tìm cách tiếp tục hỗ trợ các nước có hạn chế trong năng lực huy

động nguồn lực

3.5 Giai đoạn 3: Kết thúc làn sóng đầu tiên của đại dịch

Hiện tượng lan rộng của dịch ở những nước hay khu vực bị ảnh hưởng đầu tiên

đã ngừng lại, hay dịch đã bị đẩy lùi, nhưng các vụ dịch hay đợt dịch do vi rút mới gây ra vẫn tồn tại ở một nơi nào khác

• Với sự trợ giúp của đội đặc nhiệm, và sau khi tổ chức hội đàm ở cấp quốc

tế, WHO sẽ ra thông báo về sự khởi phát Giai đoạn 3 của đại dịch cúm

• WHO sẽ tiếp tục làm việc cụ thể với các văn phòng khu vực để khuyến khích những hoạt động chung giữa các quốc gia

• WHO sẽ tiếp tục thực hiện công tác theo dõi giám sát và báo cáo tình hình lây lan cũng như tác động của vi rút trên phạm vi toàn cầu

• WHO sẽ tiếp tục tổ chức việc phân phối vắc xin một cách công bằng nhất

Trang 17

• WHO sẽ cập nhật hướng dẫn về cách sử dụng tốt nhất những loại thuốc kháng vi rút sẵn có để điều trị vi rút mới

• WHO sẽ tìm cách tiếp tục hỗ trợ các nước có năng lực hạn chế huy động nguồn lực

3.6 Giai đoạn 4: Làn sóng thứ hai hay các làn sóng tiếp theo của đại

dịch

Kinh nghiệm trước đây cho thấy ở nhiều nước, trong vòng 3 đến 9 tháng sau

đợt dịch đầu tiên, có thể xảy ra thêm ít nhất một làn sóng các vụ dịch do vi rút mới gây ra

• Với sự trợ giúp của đội đặc nhiệm, và sau khi tổ chức hội đàm ở cấp quốc

tế, WHO sẽ ra thông báo về sự khởi phát Giai đoạn 4 của đại dịch cúm

• WHO sẽ tiếp tục thực hiện công tác theo dõi giám sát và báo cáo tình hình lây lan cũng như tác động của vi rút trên phạm vi toàn cầu

• WHO sẽ đánh giá nhu cầu còn lại đối với vắc xin

• WHO sẽ đánh giá tính sẵn có của các loại thuốc kháng vi rút

• WHO sẽ tìm cách tiếp tục hỗ trợ các nước có năng lực hạn chế huy động nguồn lực

3.7 Giai đoạn 5: Kết thúc đại dịch (trở lại Giai đoạn 0)

WHO sẽ ra thông báo lúc kết thúc Giai đoạn đại dịch, thường là sau 2 - 3

năm Biểu thị của sự kết thúc này là các chỉ số liên quan đến bệnh cúm cơ bản

đã trở về mức bình thường của khoảng thời gian giữa các đại dịch, và khả năng miễn dịch với phân tuýp vi rút mới đã mang tính phổ biến trong quần thể dân cư nói chung Những đợt dịch lớn sẽ không xảy ra cho đến khi các biến thể kháng nguyên lại bắt đầu xuất hiện từ chủng gây đại dịch nguyên mẫu

• Với sự trợ giúp của đội đặc nhiệm, và sau khi tổ chức hội đàm ở cấp quốc

tế, WHO sẽ ra thông báo về sự kết thúc của đại dịch cúm, và sự khởi đầu

của một giai đoạn mới giữa các đại dịch: Giai đoạn 0

Các phương pháp được WHO sử dụng để thu thập thông tin về bệnh cúm, thông báo về sự lây lan của vi rút, và thúc đẩy việc thực hiện các biện pháp phòng chống đặc biệt nói chung sẽ trở về những mức độ trước đại dịch Nếu thuận tiện, trên cơ sở của kinh nghiệm thu được qua giai đoạn đại dịch, và nếu

Trang 18

nguồn lực cho phép, nên duy trì các hoạt động của WHO và của từng nước ở mức độ cao

3.8 Hành động của WHO trong giai đoạn sau đại dịch

Sau khi ra thông báo kết thúc giai đoạn đại dịch, WHO sẽ tổ chức các cuộc hội đàm và trao đổi để thực hiện những việc sau:

• Đánh giá tác động chung của đại dịch

• Nhận định về những bài học thu được từ đại dịch hữu ích cho việc đáp

ứng với những đại dịch trong tương lai

• Cập nhật Kế hoạch phòng chống đại dịch cúm của WHO

Bảng 1 Mức độ báo động trong những giai đoạn giữa các đại

dịch, đại dịch và sau đại dịch

Giai đoạn Đặc trưng Diễn giải Hành động WHO cần thực

hiện

Giai đoạn 0 Không có bằng

chứng về bất cứ tuýp vi rút mới nào

WHO sẽ:

điều phối một chương trình quốc tế

giám sát bệnh cúm ở người, với sự trợ giúp của 4 Trung tâm cộng tác

Giai đoạn 0

Báo động

cấp 1

Xuất hiện chủng vi rút cúm mới ở một người bệnh

có bằng chứng rõ ràng về sự lây lan của nó hay về bệnh dịch do nó gây ra

Ra thông báo Báo động cấp 1 với

sự trợ giúp của đội đặc nhiệm, và sau khi tổ chức hội đàm ở cấp quốc

tế

Điều phối nỗ lực quốc tế để giúp

các nhà chức trách quốc gia và địa phương báo cáo về vi rút có tiềm năng gây đại dịch qua việc khẳng

định sự nhiễm khuẩn ở người là do chủng vi rút mới gây ra

Đẩy mạnh hoạt động của mạng

lưới các phòng thí nghiệm giám sát.

Trang 19

Giai đoạn 0

Báo động

cấp 2

Khẳng định tình trạng nhiễm khuẩn

ở người

Mức báo động này

được đặt ra khi khẳng định được rằng có từ hai người trở lên nhiễm phân tuýp vi rút mới, nhưng còn nghi ngờ về khả

năng lây lan từ người sang người

và khả năng gây ra nhiều vụ dịch dẫn

đến các đợt dịch của vi rút

Ra thông báo Báo động cấp 2 với

sự trợ giúp của đội đặc nhiệm, và sau khi tổ chức hội đàm ở cấp quốc

tế

Khuyến khích và giúp quốc gia nơi

đã phát hiện ra những ca đầu tiên

đẩy mạnh công tác giám sát và chẩn

đoán, và tổ chức những đợt khảo sát

đặc biệt để nâng cao kiến thức về sự lây truyền có thể xảy ra và tác động của vi rút mới

Thúc đẩy việc tăng cường hoạt

động giám sát trên quy mô khu vực hay quốc tế

Thúc đẩy việc phát triển và đánh

giá các chủng giống dự tuyển để sản xuất vắc xin phòng chống chủng vi rút cúm mới

Thúc đẩy việc phát triển các chất

phản ứng cần thiết để xác định nhận dạng và hiệu lực của vắc xin sản xuất từ chủng mới

Thúc đẩy việc lập kế hoạch thử

nghiệm vắc xin tiền lâm sàng và lâm sàng

Thúc đẩy việc phát triển các chiến

lược sử dụng những vắc xin mới sản xuất gần đây một cách hiệu quả nhất

Khuyến cáo các nhà chức trách y

tế cấp quốc gia tiến hành những bước chuẩn bị để khởi động kế hoạch phòng chống đại dịch của

nước mình

Trang 20

Giai đoạn 0

Báo động

cấp 3

Khẳng định tình trạng lây lan ở người

Mức báo động này

được đặt ra khi đã

có bằng chứng rõ ràng để khẳng định rằng phân tuýp vi rút mới lây lan từ người sang người trong quần thể dân cư chung, ví dụ các

ca thứ phát mắc bệnh qua tiếp xúc với một ca đầu tiên, tạo nên ít nhất một vụ dịch kéo dài tối thiểu hai tuần ở một nước

Ra thông báo Báo động cấp 3 với

sự trợ giúp của đội đặc nhiệm, và sau khi tổ chức hội đàm ở cấp quốc

động cấp 2

Mời các chuyên gia về thành phần

vắc xin cúm họp bàn để phát triển, phổ biến và khuyến khích phối hợp thử nghiệm lâm sàng vắc xin phòng chống chủng vi rút mới

Mời các chuyên gia về thành phần

vắc xin cúm họp bàn để phát triển các biện pháp giúp đưa vắc xin đến mọi nơi trên thế giới

Đẩy mạnh công tác phổ biến thông

tin để kịp thời cung cấp báo cáo về tình hình điều tra nghiên cứu loại vi rút mới, mức độ lây lan của nó, cũng như về những đáp ứng với nó

Trao đổi với các nhà sản xuất vắc

xin và chính phủ các nước về năng lực và kế hoạch sản xuất vắc xin phòng chống vi rút mới, cũng như

về việc phân bổ vắc xin trên quy mô quốc tế

Khuyến khích sự điều phối quốc tế

trong việc mua và phân phối vắc xin

đến các nước khác nhau

Đưa ra những nguyên tắc chỉ đạo

chung cho các nhà chức trách y tế cấp quốc gia dựa trên những thông tin tốt nhất có được để giúp họ xác

định chiều hướng hành động

Trang 21

Giai đoạn đại dịch

Giai đoạn 1 Khẳng định

sự khởi phát của đại dịch

Thông báo Đại dịch sẽ được đưa ra khi chứng minh

được rằng phân tuýp vi rút mới gây

ra một số vụ dịch ở

ít nhất một nước,

và đã lây lan sang các nước khác theo những mô hình bệnh tật nhất quán

- cho thấy có tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ

tử vong cao ở ít nhất là một bộ phận dân cư

Ra thông báo về sự khởi phát Giai

đoạn 1 của đại dịch cúm với sự trợ giúp của đội đặc nhiệm, và sau khi

tổ chức hội đàm ở cấp quốc tế

Khuyến cáo về thành phần và cách

sử dụng vắc xin (liều lượng và lịch tiêm chủng), và tổ chức các cuộc hội đàm nhằm tạo thuận lợi cho việc sản xuất và phân phối vắc xin một cách công bằng nhất

Hướng dẫn về cách sử dụng tốt

nhất những loại thuốc kháng vi rút sẵn có để điều trị vi rút mới

Khởi xướng càng nhanh càng tốt

các biện pháp đáp ứng của quốc gia

theo kế hoạch phòng chống đại dịch

được đưa ra từ trước, được cập nhật theo những đặc điểm cụ thể của phân tuýp mới và tính sẵn có của vắc xin

Đẩy mạnh công tác theo dõi giám

sát và báo cáo tình hình lây lan cũng như tác động của vi rút trên phạm vi toàn cầu

Tìm cách hỗ trợ các nước có năng

lực hạn chế huy động nguồn lực thông qua quan hệ hợp tác với những tổ chức và cơ quan cứu trợ quốc tế

Làm việc cụ thể với các văn phòng

khu vực để khuyến khích các hoạt

động chung giữa những quốc gia cùng phải đương đầu với những thách thức giống nhau của đại dịch.

Giai đoạn 2 Các đợt dịch

trên phạm vi khu vực và

đa khu vực

Mức báo động này

được đặt ra khi có các vụ dịch và đợt dịch đang diễn ra ở nhiều nước, và lan

từ khu vực này sang khu vực khác trên phạm vi toàn thế giới

Ra thông báo về sự khởi phát Giai

đoạn 2 của đại dịch cúm với sự trợ giúp của đội đặc nhiệm, và sau khi

tổ chức hội đàm ở cấp quốc tế

Tiếp tục làm việc cụ thể với các

văn phòng khu vực để khuyến khích những hoạt động chung giữa các quốc gia

Tiếp tục thực hiện công tác theo

dõi giám sát và báo cáo tình hình

Trang 22

lây lan cũng như tác động của vi rút trên phạm vi toàn cầu

Tiếp tục tổ chức việc phân phối vắc

xin một cách công bằng nhất

Cập nhật hướng dẫn về cách sử

dụng tốt nhất những loại thuốc kháng vi rút sẵn có để điều trị vi rút mới

Hiện tượng lan rộng của dịch ở những nước hay khu vực bị ảnh hưởng đầu tiên đã

ngừng lại, hay dịch

đã bị đẩy lùi, nhưng các vụ dịch hay đợt dịch do vi rút mới gây ra vẫn tồn tại ở một nơi nào khác

Ra thông báo về sự khởi phát Giai

đoạn 3 của đại dịch cúm với sự trợ

giúp của đội đặc nhiệm, và sau khi

tổ chức hội đàm ở cấp quốc tế

Tiếp tục làm việc cụ thể với các

văn phòng khu vực để khuyến khích những hoạt động chung giữa các quốc gia

Tiếp tục thực hiện công tác theo

dõi giám sát và báo cáo tình hình lây lan cũng như tác động của vi rút trên phạm vi toàn cầu

Tiếp tục tổ chức việc phân phối vắc

xin một cách công bằng nhất

Cập nhật hướng dẫn về cách sử

dụng tốt nhất những loại thuốc kháng vi rút sẵn có để điều trị vi rút mới

Kinh nghiệm trước

đây cho thấy ở nhiều nước, trong vòng 3 đến 9 tháng sau đợt dịch đầu tiên, có thể xảy ra thêm ít nhất một làn sóng các vụ dịch do vi rút mới gây ra

Ra thông báo về sự khởi phát Giai

đoạn 4 của đại dịch cúm với sự trợ giúp của đội đặc nhiệm, và sau khi

tổ chức hội đàm ở cấp quốc tế

Tiếp tục thực hiện công tác theo

dõi giám sát và báo cáo tình hình lây lan cũng như tác động của vi rút trên phạm vi toàn cầu

Đánh giá nhu cầu còn lại đối với

Trang 23

WHO sẽ ra thông báo lúc kết thúc Giai đoạn đại dịch, thường là sau 2 - 3 năm

Đánh giá tác động chung của đại

dịch

Nhận định về những bài học thu

được từ đại dịch hữu ích cho việc

đáp ứng với những đại dịch trong tương lai

Cập nhật Kế hoạch phòng chống

đại dịch cúm của WHO

Trang 24

4 Vai trò của các nhà chức trách y tế và uỷ ban quy hoạch phòng chống đại dịch cấp quốc gia

Tất cả các nước cần lập ra Uỷ ban quy hoạch phòng chống đại dịch cấp quốc gia (UBQG) Đây là uỷ ban thường trực có trách nhiệm thay đổi theo

diễn biến của bệnh cúm trên phạm vi quốc gia và toàn cầu Trong khoảng thời gian giữa các đại dịch, uỷ ban sẽ xem xét lại đáp ứng thông thường với sự xuất hiện theo chu kỳ của bệnh cúm Vai trò của uỷ ban trở nên đặc biệt quan trọng khi WHO khẳng định sự hiện diện của loại vi rút mới và tiềm năng lây lan ở người của nó Các nhà chức trách quốc gia cần báo cáo theo định kỳ tiến độ hoạt động của UBQG cho WHO, kèm theo bản sao kế hoạch phòng chống đại dịch của nước mình Nếu phù hợp, WHO sẽ tổ chức họp trong khu vực để trao

đổi với đại diện các quốc gia về việc phát triển kế hoạch

4.1 Thành phần của Uỷ ban quy hoạch phòng chống đại dịch cấp quốc

gia

Thành phần và chức năng của UBQG không mang tính cứng nhắc, mà có thể thay đổi theo cơ cấu chính trị và thể chế của từng nước Dưới đây là danh sách các loại tổ chức và chuyên gia có thể đưa vào UBQG hay tư vấn cho UBQG

Để UBQG có quy mô dễ quản lý, có thể chọn ra một nhóm hạt nhân làm

“Uỷ viên thường trực”, những tổ chức/cá nhân khác tham gia khi cần đến tài

chuyên môn hay sự đóng góp của họ, hay đóng góp ý kiến mà không cần dự họp

• Các nhà chức trách y tế công cộng ở cấp độ quốc gia và khu vực, bao gồm các khối y tế dự phòng, điều trị và chẩn đoán, cơ quan quản lý dược, và (các) Trung tâm cúm quốc gia

• Đại diện các đoàn thể của các bác sỹ (như Hội thầy thuốc đa khoa, Hội bác

• Đại diện các tổ chức công cộng hay cá nhân làm công tác theo dõi các chỉ

số y tế, việc sử dụng cơ sở y tế và thuốc men

• Đại diện các nhà sản xuất hay nhà phân phối thuốc

• Đại diện các cơ quan cung cấp dịch vụ xã hội

Trang 25

• Đại diện quân đội hay các tổ chức hoặc nhóm có trách nhiệm đối phó với tình trạng khẩn cấp của chính quyền

• Đại diện các tổ chức phi chính phủ và tình nguyện, ví dụ Hội Chữ thập đỏ

và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc gia

• Đại diện ngành bưu chính - viễn thông và các chuyên gia có quan hệ với báo giới

Các chuyên gia bệnh nghề nghiệp, chuyên gia tâm lý, chuyên gia y đức, các chức sắc của những tôn giáo chính cũng có thể đóng góp cho quá trình lập kế hoạch Có thể mời tham gia hoặc tham khảo ý kiến của lãnh đạo các khu vực doanh nghiệp, giáo dục, thể thao và những khu vực giải trí khác

4.2 Thiết lập quy trình quản lý có hiệu quả

Việc phản ứng với đại dịch đòi hỏi phải có sự quản lý hiệu quả Ngay từ đầu UBQG cần thống nhất đưa ra một quy trình quản lý, bao gồm việc xây dựng

một Hệ thống mệnh lệnh cần thiết để đảm bảo hoạt động suôn sẻ trong tình

trạng khẩn cấp Cần định rõ các phương pháp liên lạc của uỷ ban qua hệ thống

điện thoại hiện đại hay danh mục thư điện tử và xác định những người thay thế Cần đưa ra các quy trình đặt uỷ ban vào tình trạng báo động khi WHO công bố Báo động cấp 2, cũng như cách thức hoạt động của uỷ ban khi mức

độ báo động tăng lên và đại dịch khởi phát Cần đặt thời gian biểu để thực hiện và hoàn thành những thành phần khác nhau trong kế hoạch phòng chống

đại dịch của quốc gia, cũng như để xem xét lại và cập nhật các thành phần này một cách thường xuyên

4.3 Quyết định về chiến lược tiêm chủng

Một trong những quyết định chính mà mỗi Uỷ ban quy hoạch phòng chống

đại dịch cấp quốc gia cần đưa ra là khuyến cáo về quy mô can thiệp bằng tiêm

chủng trước sự kiện đại dịch, trên cơ sở tính đến nguồn lực hiện có (xem Bảng 2) Uỷ ban cần cân nhắc kỹ và trả lời câu hỏi này sớm, vì quyết định này là

điều kiện để giải quyết những vấn đề khác về sau (xem mục dưới đây và Phần

5 cũng như Phụ lục D)

4.4 Lập kế hoạch chiến lược phòng chống tổng thể

Uỷ ban quy hoạch phòng chống đại dịch cấp quốc gia cần soạn thảo những kế hoạch tổng thể đối phó với đại dịch Nếu khu vực đã có kế hoạch, cần tham khảo những kế hoạch đó Tại những khu vực có các quốc gia tiếp giáp nhau, các nước nên trao đổi kế hoạch khu vực với nhau Có thể cần xây dựng một số

kế hoạch trong đó có tính đến mùa lần đầu tiên phát hiện ra phân tuýp mới, trạng thái gần kề của nó đối với đất nước, thông tin sẵn có về tác động của nó,

và mức độ thực hiện các biện pháp dự phòng Đối với mỗi đáp ứng được chọn

để đưa vào kế hoạch, cần đưa ra lịch thực hiện các bước hành động và dự toán

Trang 26

ngân sách Kế hoạch đối phó với đại dịch cần được xây dựng dựa trên những

tỷ lệ tấn công khác nhau: 10% là mức có thể gây căng thẳng cho cộng đồng; 25% là mức phá vỡ các dịch vụ cộng đồng và gây căng thẳng cho các bệnh viện và cơ sở chăm sóc y tế; và 50% là mức gây thảm hoạ

Đối với nhiều vấn đề, có lẽ đã có đủ thông tin để bắt đầu hoạch định từ các kế hoạch đối phó với tình huống khẩn cấp và thảm hoạ hiện có, ví dụ cấu trúc dân cư, mức độ sẵn có của các cơ sở và nhân viên y tế phục vụ thường xuyên

và cấp cứu, hệ thống phân phối thuốc men và những thông tin tương tự, cũng như các quy trình khởi xướng những biện pháp đối phó với tình huống khẩn cấp

Điều không tránh khỏi là không phải lúc nào cũng có được tất cả những thông tin cần thiết, và quá trình phát triển phòng chống đại dịch thường sẽ làm lộ ra những lĩnh vực yếu kém trong hạ tầng cơ sở của quốc gia đối với việc xử lý

đại dịch Nếu chú ý đến những điểm yếu đó, thì có thể khuyến khích được công tác điều tra nghiên cứu, cũng như cải thiện hạ tầng cơ sở hiện tại trước khi có lệnh báo động đại dịch Các nước cũng có thể mong muốn tận dụng

được sự hỗ trợ từ bên ngoài để xác định những biện pháp cần thực hiện, trên cơ sở đó phát triển kế hoạch của mình Việc tổ chức hội đàm với sự trợ giúp của WHO có thể sẽ là cần thiết để đặt thách thức của đại dịch vào trong bối cảnh của khu vực, góp phần giải quyết những nhu cầu chung của khu vực bằng các chiến lược được củng cố vững chắc phù hợp với nhau

4.5 Củng cố các hệ thống giám sát

Việc ra quyết định phụ thuộc rất nhiều vào những dữ liệu về sự xuất hiện, mức

độ lây lan và tác động của phân tuýp vi rút cúm mới Phải xác định rõ những loại dữ liệu cần thiết, và phương tiện kỹ thuật để nhanh chóng thu thập và tiếp cận được với chúng Nên đặc biệt quan tâm đến việc có được các trang thiết bị xét nghiệm, cũng như chuẩn bị các quy trình và chương trình đào tạo, để thực hiện công tác xét nghiệm và phát triển vắc xin liên quan đến phân tuýp mới có thể có khả năng sinh bệnh cao cho người hay cho một loài động vật cụ thể

triển các mô hình toán học có khả năng được điều chỉnh nhanh cho phù hợp

với tình huống thực Có thể “kiểm định” mẫu hình về những bối cảnh cụ thể

để đánh giá kết quả mà các phương pháp khác nhau đem lại, ví dụ như khi sử dụng những lượng vắc xin khác nhau, hay vắc xin được sản xuất ở những hiệu

Trang 27

giá khác nhau để “giãn” lượng cung Tương tự, có thể xây dựng mô hình cho những bối cảnh khác nhau về tỷ lệ mắc bệnh và quản lý ca bệnh Cần tập hợp những báo cáo và dữ liệu chính lại

4.7 Đảm bảo hậu cần và nguồn cung cấp thuốc men

Trong những năm gần đây, các loại thuốc kháng vi rút mới để dự phòng hay

điều trị nhiễm khuẩn cúm đã trở nên sẵn có Hai loại thuốc amantadine và dẫn xuất của nó là rimantadine đã được một số nước chấp thuận để dùng cho

bệnh cúm tuýp A, bao gồm tất cả các phân nhóm có tiềm năng gây dịch Các thuốc kháng vi rút mới hơn, có hiệu quả đối với vi rút cả tuýp B lẫn tuýp A hiện đang được thử nghiệm lâm sàng Phụ lục E sẽ cung cấp thêm thông tin về những loại thuốc này

Có thể cần lưu ý đến những chủ đề như:

• Quy trình cấp phép cho sản phẩm mới trong tình huống khẩn cấp

• Lập kế hoạch hậu cần để cung cấp các vắc xin cúm và phế cầu khuẩn, thuốc kháng vi rút, thuốc kháng sinh, khẩu trang, bơm kim tiêm, v.v

• Dự toán giá thành của những vật tư đó, và chi phí để bảo quản và vận chuyển chúng

http://www.unicef.org

http://www.ifrc.org

Những quốc gia muốn được trợ giúp dự toán các số liệu như vậy có thể liên hệ với bộ phận Dịch vụ mua hàng của UNICEF, các tổ chức quốc gia và đa quốc gia có kinh nghiệm cung cấp hàng cứu trợ thảm hoạ hay phòng chống bệnh tật (ví dụ Hiệp hội Chữ thập

đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ Quốc tế, và các tổ chức cứu trợ thảm hoạ, nhân đạo và viện trợ quốc gia và quốc

tế khác) qua các kênh liên lạc thông thường

4.8 Khung pháp lý - chính trị - kinh tế cho hành động

Các hành động khẩn cấp để kiểm soát việc phân phối vắc xin, hay để làm giảm sự lây lan trọng cộng đồng, có thể đòi hỏi phải có cơ sở pháp lý cũng như sự hỗ trợ chính trị rộng khắp Có thể cần có sự phê duyệt, hay những quyết định đặc biệt về pháp lý hoặc chính trị, đối với kinh phí cho các biện pháp cụ thể Nên thực hiện những việc đảm bảo có được luật pháp hay quy

định cần thiết, và đảm bảo thống nhất được phương pháp đạt được sự phê chuẩn về chính trị và ủng hộ về tài chính Nên chuẩn bị dự toán ngân sách để

định hướng cho quá trình ra quyết định về chính trị

Trang 28

4.9 Truyền thông

Sự đe doạ của đại dịch cúm sẽ tạo ra mức cầu về thông tin cao, cả từ phía

nhân viên y tế lẫn từ phía công chúng nói chung Do đó Kế hoạch phòng chống đại dịch cần cung cấp đường lối chỉ đạo về các phương pháp có hiệu quả nhất và hữu ích nhất cho công tác truyền thông về nguy cơ của đại dịch và

đáp ứng với nó, có thể là thu hút sự tham gia của giới báo chí trong nước, các cơ quan thông tấn chuyên nghiệp, các nhà chức trách y tế, và các đối tác khác

Cần có kế hoạch nhanh chóng xử lý những tin đồn thất thiệt và tình trạng

hoảng loạn để cho công chúng tin tưởng

Trang 29

Bảng 2 Bối cảnh vi rút học / dịch tễ học

Tình huống tốt nhất

Vi rút mới không lây lan nhiều như

trong các đại dịch nghiêm trọng, hay bệnh do nó gây ra nói chung không quá nặng kể cả cho các nhóm dễ cảm nhiễm

Tình huống xấu nhất

Vi rút mới lây lan nhanh và rộng trong quần thể dân cư, gây ra bệnh ít nhất là nặng như phần lớn các đợt dịch cúm A; một số nhóm dân cư có thể mắc bệnh

Có khả năng người dân cảm thấy bị các nhà lãnh đạo bỏ rơi trong những thời gian đầu khi người ta còn chưa biết rằng nguy cơ do vi rút gây ra rất hạn chế

Nguồn lực đáng lẽ

sử dụng cho tiêm chủng lại được dùng để củng cố

hệ thống chăm sóc

y tế nhằm xử lý số lượng lớn những

ca bệnh nặng Khi lập kế hoạch phòng chống, đã

loại trừ được khả

năng phụ thuộc vào một sản phẩm

có thể không có mặt kịp thời

Không được hưởng lợi ích do vắc xin

đem lại, tỷ lệ mắc bệnh và có thể tỷ

lệ tử vong sẽ cao Các dịch vụ y tế rơi vào trạng thái căng thẳng ở mức

độ cao, đội ngũ phục vụ giảm đi, còn mức cầu tăng lên Nền kinh tế quốc gia bị ảnh hưởng trầm trọng Công chúng sợ hãi

và phẫn nộ Có thể dẫn đến tình trạng hỗn loạn về xã hội.

động xã hội liên quan đến các chương trình tiêm chủng diện rộng

Có thể bị chỉ trích về những quy trình và quyết định liên quan đến việc xác định những

đối tượng “quan trọng nhất” để tiêm chủng

Những người không được chọn có thể cảm thấy bị các nhà chức trách gạt ra ngoài ngay cả

khi không xảy ra dịch bệnh lớn

Hạn chế được ở mức tối thiểu sự rạn nứt các chức năng cộng đồng sống còn, kể cả

việc chăm sóc y tế

Tác động của vi rút

đối với bộ phận lớn dân cư còn nghiêm trọng, nhiều vấn đề mà Phương án 1 gặp phải cũng có thể xảy ra

Nếu không có ngân quỹ bổ sung, vắc xin mới sẽ thay thế

Hạn chế được ở mức tối thiểu cả sự gia tăng về cầu chăm sóc y tế lẫn

Quần thể dân cư nói chung, bao gồm cả trẻ em trước và trong độ

Trang 30

được có thể góp phần đẩy mạnh những chương trình tương tự trong tương lai.

ít nhất một phần vắc xin cũ Các quần thể dân cư

có nguy cơ cao vẫn có thể cảm nhiễm với bệnh nếu vi rút mới KHÔNG thay vào vị trí của vi rút cũ Có thể xảy ra sự chồng chéo trong việc sản xuất vắc xin theo kế hoạch ban đầu

những khó khăn trong việc này

Nhìn chung, chương trình tiêm chủng sẽ đạt được hiệu quả chi phí - lợi ích về mặt tài chính cho chăm sóc y tế, và làm giảm thiểu tác

động đến những chức năng then chốt của xã hội

tuổi đi học, và phần lớn người trưởng thành ở độ tuổi lao động sẽ bị

ảnh hưởng nghiêm trọng Do đó nền kinh tế quốc gia và nhiều hoạt động thông thường sẽ bị

đảo lộn, đồng thời một số vấn đề mà Phương án 1 gặp phải cũng sẽ có thể xảy ra

Một chương trình phức tạp như vậy thu hút mất nhiều nguồn lực từ các nhu cầu khác Có thể xảy ra những cuộc tranh luận lớn Tiêm chủng trên quy mô lớn làm tăng khả

năng xảy ra các phản ứng bất lợi, dẫn đến sự nghi ngờ về tính an toàn của vắc xin.

Nếu có đủ nguồn cung vắc xin và sử dụng đúng lúc, có thể làm giảm đến mức tối đa tác

động của vi rút gây đại dịch Các

vị lãnh đạo quốc gia sẽ được tôn vinh vì những nỗ lực của họ

Bất kể những lợi ích chung, người dân có thể không hiểu rằng vắc xin không có hiệu quả 100%, và sẽ có những người phàn nàn rằng họ bị vắc xin làm hại

* Nguồn cung vắc xin thường hạn chế, ít nhất là trong năm đầu tiên kể từ khi vi rút đại dịch bắt

đầu lây lan Do đó, cần từng bước thực hiện các phương án khi lượng vắc xin có được tăng lên.

Trang 31

5 Những vấn đề cần đến quyết định chính sách ở cấp quốc gia

5.1 Những vấn đề về quản lý

• Những tổ chức nào ngoài các “Uỷ viên thường trực” của UBQG cần tham gia quá trình quy hoạch: tổ chức của các bác sỹ, ngành dược phẩm, thú y, doanh nghiệp, giáo dục, thể thao, hay khu vực giải trí, các tổ chức tôn giáo

và dân tộc, quân đội và cơ quan thực thi pháp luật, các tổ chức phi chính phủ và tình nguyện, v.v ?

• Quá trình xây dựng kế hoạch, phân công xem xét lại, và nếu cần, đảm trách việc thực hiện do ai - Chính phủ (ví dụ, Bộ Y tế hoặc bên “quốc phòng”) hay cơ quan bên ngoài (ví dụ, các tổ chức tôn giáo phi chính phủ,

y tế công cộng và y khoa hàng đầu, hay các chuyên gia quản lý / doanh nghiệp hàng đầu)- chỉ đạo?

5.2 Những vấn đề về giám sát

• Có cân nhắc một cách cụ thể đến định nghĩa ca bệnh do WHO đưa ra hay

không, những định nghĩa ca bệnh nào sẽ được sử dụng trong việc giám sát phân tuýp vi rút mới?

• Những quy trình xét nghiệm mà WHO khuyến cáo sẽ được thực hiện thế nào, hoạt động của chúng được đảm bảo ra sao để cảnh báo được sớm về phân tuýp vi rút mới cũng như để theo dõi được tác động của đại dịch?

• Cần theo dõi bao nhiêu chỉ số (ví dụ số lượt người mắc cúm, số lượt chẩn

đoán xét nghiệm, số lượt nhập viện vì viêm phổi, số ca tử vong), những chỉ

số này đơn thuần là chỉ số liên quan đến sức khoẻ hay cả những dữ liệu khác như số lượt nghỉ học hoặc nghỉ làm?

• Cần phân nhóm như thế nào để phân tích, ví dụ nhóm tuổi, nhóm ngành nghề, nhóm có nguy cơ về sức khoẻ, v.v ?

• Cần đưa tên cán bộ đầu mối của những tổ chức nào vào danh sách?

• Cần giám sát những gì trong việc phân phối, bảo quản và sử dụng vắc xin, thuốc kháng vi rút, và thuốc kháng sinh?

Trang 32

• Trong trường hợp xảy ra nhiễm khuẩn chéo giữa phân tuýp mới ở người và các chủng ở động vật thì động vật nuôi hay động vật hoang dại có nguy cơ hay không?

• Xét về sự xuất hiện, mức độ trầm trọng, và các đặc điểm dịch tễ của phân tuýp mới, tiêu chuẩn nào sẽ được sử dụng làm ngưỡng cho những cấp độ

đáp ứng khác nhau?

• Nếu lưu ý đến các khuyến cáo của WHO, cần tiêm chủng cho những nhóm dân cư nào, có phải đặt chế độ ưu tiên trong việc sử dụng vắc xin hay không?

• Nếu lưu ý đến các khuyến cáo của WHO, cần điều trị thuốc kháng vi rút cho những nhóm dân cư nào, và những chế độ ưu tiên nào chi phối việc sử dụng của họ?

• Nếu lưu ý đến các khuyến cáo của WHO, trong tình huống phân tuýp vi rút mới không thế chỗ của các chủng lưu hành trước đây, nên khuyến cáo thế nào về liều lượng vắc xin và lịch tiêm chủng?

• Các biện pháp khác có phù hợp để kiểm soát sự lây lan hay giảm tác động

đến xã hội - ví dụ sự biến đổi hành vi bao gồm việc đóng cửa trường học và hạn chế các cuộc hội họp trong nhà và ngoài trời - hay không?

• Có phải đặt ra các tiêu chuẩn nghiêm ngặt để hạn chế việc cho bệnh nhân nhập viện không?

• Có cần đào tạo chéo cho nhân viên phòng khám và bệnh viện để mở rộng nguồn cung nhân viên cho các chương trình tiêm chủng hay điều trị các ca bệnh nặng hay không?

• Cần thực hiện những nghiên cứu nào?

5.4 Những vấn đề về hậu cần và nguồn cung thuốc men

• Khả năng có được những loại vắc xin nào vào những thời điểm khác nhau của đại dịch, lưu ý đến những khó khăn đặc biệt mà các chủng vi rút trước

đây chưa từng gặp ở người gây ra?

• Thủ tục cấp phép cho một nhà sản xuất mới muốn đưa vắc xin ra sử dụng bao gồm những bước nào?

• Kế hoạch mua và sử dụng vắc xin, thuốc kháng vi rút, thuống kháng sinh

sẽ như thế nào?

• Khả năng phải cần đến những trang thiết bị đi kèm nào (khẩu trang, bơm kim tiêm, máy thở)?

Trang 33

• Khả năng có được những cơ sở y tế (bệnh viện, giường bệnh, giường cấp cứu, nhà dưỡng bệnh) và nhân viên như thế nào?

• Có thể tiến hành tiêm chủng đại trà ở đâu, với mức độ nào?

• Trong trường hợp tỷ lệ tử vong cao, cần bảo quản, vận chuyển và chôn cất hay hoả táng thế nào?

• Có cần phải thiết lập kho dự trữ chiến lược đối với một loại thuốc kháng vi

rút -ví dụ như rimantadine, để có thuốc ít nhất cho các nhân viên y tế hay

xét nghiệm có nguy cơ phơi nhiễm với phân tuýp mới trước khi sản xuất

được loại vắc xin thích hợp hay không? Quy trình sử dụng loại thuốc đó thế nào nếu nó chưa được cấp phép trong nước?

5.5 Những vấn đề về pháp lý - chính trị - kinh tế

• Những luật lệ nào tạo thuận lợi hay hạn chế hành động của chính phủ trong việc phản ứng với tình trạng khẩn cấp về y tế công cộng, ví dụ như đặt ra phạm vi quyền hạn đối với việc cung cấp vắc xin, phân công cán bộ chuyên trách về tình trạng khẩn cấp, hạn chế sự nhập viện, ngăn chặn các cuộc hội họp công cộng, v.v ?

• Ai sẽ phê chuẩn những chính sách quốc gia cần đến các khoản chi đặc biệt, các hành động y tế công cộng, việc kiểm soát hoạt động của bệnh viện, v.v , và phải có được những thông tin gì để đạt được sự phê chuẩn đó?

• Phí tổn chung do đại dịch gây ra, và chi phí để thực hiện được các đáp ứng khác nhau với đại dịch - bao gồm đẩy mạnh công tác giám sát, theo dõi, mua sắm vật tư, v.v - sẽ là bao nhiêu?

• Những nghĩa vụ sẽ dồn lên vai chính phủ hay các nhà cung cấp dịch vụ y tế vì sự tổn hại do những hành động khẩn cấp gây ra, bao gồm việc phá vỡ hoạt động sản xuất và mua bán thuốc men thông thường (ví dụ những đơn

đặt vắc xin “bình thường”), phản ứng bất ngờ của vắc xin, huỷ bỏ các cuộc hội họp công cộng lớn - như nhạc hội hay sự kiện thể thao (nếu cần phải như vậy), áp dụng chế độ kiểm dịch hay hạn chế việc đi lại, hay đóng cửa trường học?

Trang 34

• Có hệ thống thông tin điện tử kết nối các chuyên gia, cố vấn, nhà hoạch

định chính sách, v.v khác nhau để họ có thể họp bàn về kế hoạch mà không cần phải đi lại nhiều không?

Trang 35

6 Kết luận

Các đại dịch trong quá khứ đã xảy ra với rất ít sự cảnh báo Vào năm 1918, trước khi có thể thực hiện được việc chẩn đoán và mô tả đặc điểm của vi rút trong phòng thí nghiệm, những biểu hiện duy nhất của đại dịch là tình trạng bệnh gia tăng mạnh khi một dạng được coi là khác hẳn của vi rút cúm đã lan rộng ở nhiều nước Ngay cả trong những đại dịch khởi phát vào các năm 1957

và 1968, khi đã có các quy trình xét nghiệm để nghiên cứu vi rút cúm, cũng mới chỉ có ít bệnh phẩm được gửi đến Trung tâm cộng tác duy nhất của WHO, và không có “cảnh báo sớm” về phân tuýp trước khi các vụ dịch xảy ra

• Trong số những nước khác có tham gia chương trình giám sát quốc tế, Trung Quốc là một thành viên tích cực;

• Các phương pháp định loại vi rút mới bao gồm cả việc tái tổ hợp chuỗi gien nhanh;

• Việc truyền thông về các sự kiện và việc vận chuyển bệnh phẩm có thể được thực hiện một cách mau lẹ;

• Đã có một lượng lớn kiến thức về các vi rút cúm ở

động vật

Tuy nhiên, cần ghi nhớ:

• Dự báo về sự khởi phát của đại dịch cúm vẫn còn là việc chưa thể làm

được;

• Việc chuẩn bị các biện pháp phòng chống (ví dụ như sản xuất vắc xin mới)

có thể chiếm nhiều thời gian hơn giới hạn thời gian trước khi đại dịch tấn công, và dự trữ những cơ số thuốc chống cúm đủ để chữa trị cho toàn bộ dân cư của thế giới là điều phi thực tế;

• Nhiều nước không có đủ nguồn lực để chuẩn bị cho những sự kiện như vậy một cách thích hợp;

Trang 36

• Sự gia tăng về tốc độ và dung lượng giao lưu quốc tế, cũng như hiện tượng tăng dân số ở nhiều khu vực và tình trạng phát triển đô thị hoá, sẽ đặt ra thêm nhiều sức ép cho việc thiết lập và thực hiện các biện pháp phòng chống hiệu quả

Tuy nhiên, hy vọng rằng từ những thành quả này, những điều bất cập đã được cải thiện vượt bậc để giúp phát hiện ra các vi rút mới trước khi bắt đầu đại dịch, nhờ đó làm tăng được thời gian cho việc tổ chức phòng chống, bao gồm cả việc sản xuất và phân phối vắc xin

Nhưng, như đã nêu ở Bảng 1, các phân tuýp mới của vi rút cúm sẽ xuất hiện nhưng không nhất thiết gây ra đại dịch Từ đó có thể thấy rằng việc lập kế

hoạch phòng chống đại dịch cần đạt tới hai mục tiêu: đánh giá đúng nguy cơ của các vi rút mới, và quản lý tốt nguy cơ khi vi rút mới có những đặc tính

giúp chúng lan rộng và gây bệnh trầm trọng

Quản lý nguy cơ không hàm ý là khả năng ngăn ngừa đại dịch, mà là sử dụng tốt nhất những nguồn lực sẵn có nhằm giảm thiểu quy mô của dịch bệnh, giảm thiểu tác động của những thảm cảnh thứ phát, và ngăn ngừa

sự hoảng loạn trong quần thể dân cư

Về mặt đánh giá nguy cơ, từ những sự kiện ở Đặc khu Hồng Công trong năm

1997 (khi vi rút cúm gà độc hại gây ra một số ca nhiễm khuẩn ở người) chúng

ta đã biết rằng khả năng rút ra kết luận về tác động trong tương lai của một phân tuýp vi rút cúm mới có thể bị những sự kiện bất ngờ gây cản trở Một số bài học thu được là:

• Các trung tâm cúm quốc gia cần luôn đề cao cảnh giác với sự tồn tại của các vi rút khó xác định, và cần nhanh chóng gửi chúng kèm theo tất cả thông tin liên quan đến một trong 4 Trung tâm cộng tác Tham khảo và Nghiên cứu bệnh Cúm của WHO để hạn chế đến mức tối đa thời gian phân loại chúng

• Cần có được sự hợp tác giữa các ngành thú y, y tế công cộng và các cơ quan điều hành, quản lý để phản ứng mau lẹ với các trường hợp lây lan thể cúm nặng do phân tuýp mới gây ra từ động vật sang người một cách rõ rệt

• Các phòng thí nghiệm tham gia giám sát bệnh cúm cần được trang bị để có thể xử lý chủng vi rút mới trên cơ sở đảm bảo dự phòng nhiễm khuẩn cho nhân viên, và phòng ngừa việc vi rút thoát ra môi trường

• Có thể phải cần đến những xét nghiệm không truyền thống để xác định các

ca nhiễm phân tuýp mới khi không có chất phản ứng cho các phương pháp chẩn đoán truyền thống, hay khi các xét nghiệm truyền thống không đưa ra

được kết quả tốt

Trang 37

• Cần có một quy trình trong đó chuyên gia quốc tế thuộc nhiều lĩnh vực liên tục trao đổi ý kiến để đánh giá các dữ liệu dịch tễ và cận lâm sàng khi có khó khăn trong việc chứng minh một cách nhanh chóng và đáng tin cậy về thực trạng không phổ biến của việc lây truyền phân tuýp vi rút mới từ người sang người

Về mặt quản lý nguy cơ do vi rút mới gây ra, tình huống năm 1997 cũng cho thấy rằng những giả định về khả năng chế tạo vắc xin phòng chống vi rút mới phải tính đến việc chủng vi rút này có thể có những đặc điểm sinh học cản trở việc áp dụng những phương pháp sản xuất vắc xin truyền thống

Chúng ta cũng cần nhìn nhận rằng sẽ không có một kế hoạch phòng chống đại dịch nào được chuẩn bị sẵn lại hoàn toàn thích hợp, hay tỏ ra tốt nhất, với bất

cứ tình huống nào mà tạo hoá đưa ra Từ đó cho thấy việc nhấn mạnh đến quá trình và những vấn đề phục vụ cho công tác đáp ứng với một đại dịch có thể hay hiện đang diễn ra sẽ quan trọng hơn việc đi sâu vào những chi tiết cụ thể

có thể không phù hợp với tình huống mới Vì vậy, WHO đã sử dụng tiếp cận này để đưa ra những hướng dẫn ở đây

Đáp ứng với bệnh cúm mới phải được thực hiện ở mức độ tin cậy cao, vì sẽ phải nhanh chóng thu hút nguồn lực từ những nỗ lực khác nhằm tập trung vào mối nguy hiểm này Do đó, cần có một nhóm người am hiểu, có những mối quan tâm khác nhau, đại diện cho các khu vực của chính phủ và phi chính phủ, thường xuyên xem xét kỹ tính hợp lý của phòng chống

Qua việc khuyến khích quy hoạch công tác phòng chống đại dịch ở cấp quốc gia, WHO cho rằng sẽ có những vấn đề quan trọng nảy sinh, mà để giải quyết

được phải có sự hội đàm liên tục ở cấp quốc tế Ví dụ về những vấn đề này là các chính sách khác nhau của những nước láng giềng với nhau, và sự bất công trong khả năng sẵn có của vắc xin của các nước giàu và các nước nghèo WHO rất khuyến khích các nước trao đổi về kế hoạch phòng chống đại dịch của khu vực, nhằm làm cho đáp ứng trở nên đồng bộ trên quy mô khu vực Vì lý do đó, quá trình chuẩn bị trước các chiến lược quốc gia sẽ mang tính liên tục, và cần có sự tham gia của WHO

Trang 38

Tài liệu này đã đ−ợc phát triển với sự hợp tác chặt chẽ của 4 Trung tâm cộng tác Tham khảo và Nghiên cứu bệnh Cúm của WHO: TS I.D Gust và TS

A Hampson, Parkwille, Victoria, úc; TS A hay, Viện nghiên cứu y khoa quốc gia, Mill Hill, London, Anh Quốc; TS K Nerome, Viện nghiên cứu các bệnh nhiễm khuẩn quốc gia, Tokyo, Nhật Bản; TS N Cox, Phân viện Cúm, Trung tâm kiểm soát bệnh tật, Atlanta, Georgia, Hoa Kỳ; cùng với TS G.C Schild, Viện quy chuẩn và kiểm soát sinh học quốc gia, Hertfordshire, Anh Quốc; TS R Lewandowski, Trung tâm đánh giá và nghiên cứu sinh vật học, Cơ quan quản lý thực phẩm và thuốc, Rockville, MD, Hoa Kỳ

Ngày đăng: 17/08/2012, 09:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.  Mức độ báo động trong những giai đoạn giữa các đại - Kế hoạch phòng chống dịch cúm.pdf
Bảng 1. Mức độ báo động trong những giai đoạn giữa các đại (Trang 18)
Bảng 2. Bối cảnh vi rút học / dịch tễ học - Kế hoạch phòng chống dịch cúm.pdf
Bảng 2. Bối cảnh vi rút học / dịch tễ học (Trang 29)
Bảng 3. Những dấu ấn của bệnh cúm ở ng−ời trong thế kỷ này - Kế hoạch phòng chống dịch cúm.pdf
Bảng 3. Những dấu ấn của bệnh cúm ở ng−ời trong thế kỷ này (Trang 48)
Bảng 4. Lịch sản xuất vắc xin cúm cho Bắc Bán cầu trong khoảng - Kế hoạch phòng chống dịch cúm.pdf
Bảng 4. Lịch sản xuất vắc xin cúm cho Bắc Bán cầu trong khoảng (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w