Khái quát Một vị vua Việt Nam vào khoảng giữa thế kỷ 19 Sau thời kỳ Bắc thuộc đến triều đại nhà Lý một số vị vua đã xưng hoàng đế, đây là điều thách thức thần quyền của các vua Trung Quố
Trang 1Vua Việt Nam
Loạt bài Lịch sử Việt Nam
Thời tiền sử Hồng Bàng
An Dương Vương Bắc thuộc lần I (207 TCN - 40) Nhà Triệu(207 - 111 TCN)
Hai Bà Trưng (40 - 43)
Bắc thuộc lần II (43 - 541) Khởi nghĩa Bà Triệu
Nhà Tiền Lý và Triệu Việt Vương (541 -602)
Bắc thuộc lần III (602 - 905) Mai Hắc Đế
Phùng Hưng
Tự chủ (905 - 938)
Họ Khúc Dương Đình Nghệ Kiều Công Tiễn
Nhà Ngô (938 - 967) Loạn 12 sứ quân
Nhà Đinh (968 - 980)
Nhà Tiền Lê (980 - 1009)
Nhà Lý (1009 - 1225)
Nhà Trần (1225 - 1400)
Nhà Hồ (1400 - 1407)
Bắc thuộc lần IV (1407 - 1427) Nhà Hậu Trần
Khởi nghĩa Lam Sơn
Nhà Hậu Lê (1428 - 1788)
Lê sơ Lê trung hưng
Nhà Mạc Trịnh-Nguyễn phân tranh
Nhà Tây Sơn (1778 - 1802)
Nhà Nguyễn (1802 - 1945) Pháp thuộc (1887 - 1945)
Đế quốc Việt Nam(1945)
Trang 2Chiến tranh Đông Dương (1945 - 1975) Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Quốc gia Việt Nam Việt Nam Cộng hòa Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (từ 1976)
Xem thêm
• Vua Việt Nam
• Nguyên thủ Việt Nam
• Các vương quốc cổ
• Niên biểu lịch sử Việt Nam
Vua Việt Nam là danh sách các vị vua nước Việt Nam từ khi bắt đầu hình thành nhà nước tới hết thời phong kiến.
Do hoàn cảnh lịch sử, vua Việt Nam có thể có những danh hiệu khác nhau, cao nhất là hoàng đế, thấp hơn là
"vương", thấp nữa là "công" hoặc "Tiết độ sứ".
Khái quát
Một vị vua Việt Nam vào khoảng giữa thế kỷ 19
Sau thời kỳ Bắc thuộc đến triều đại nhà Lý một số vị vua đã xưng hoàng đế, đây là điều thách thức thần quyền của các vua Trung Quốc, người vẫn tự xưng là con trời ("thiên tử") vâng mạng trời ("thiên mệnh") cai trị "thiên hạ", và đụng chạm tới tính chính danh của họ, tức lúc đó thế giới có đến hai vua Sau các cuộc tấn công thất bại của nhà Tống, người Hoa đã phải công nhận quyền lực của người Việt ở Thăng Long Nước Việt được xem như một dạng chư hầu đặc biệt mà Trung Quốc không thể sát nhập bằng vũ lực nhưng, ngược lại, người Việt cũng phải công nhận Trung Quốc là một nước lớn, về phương diện ngoại giao phải chịu lép nhường thần quyền con trời, mạng trời cao hơn cho vua Trung Quốc, tuy vua Việt vẫn có quyền xưng là con trời và vâng mạng trời cai trị dân đối với dân nước Việt Vua Việt Nam được tự ví mình với Mặt Trời như vua Trung Quốc Từ đây mô hình chính trị Trung Hoa đã được Việt hóa và phát triển để
khẳng định ngai vua ở Thăng Long là ngai vàng của Hoàng đế nước Nam người trị vì "Vương quốc phía nam" theo
mệnh trời Hệ thống triều đình của các vua nước Việt cũng tương tự các triều đình của vua chúa Trung Quốc, các nghi thức và danh phận của các vị quan cũng tương tự như quan lại Trung Quốc.
Các vị vua nước Việt đã sử dụng rất nhiều nghi thức, biểu tượng chỉ dành riêng cho vua Trung Quốc như áo long bào màu vàng có rồng 5 móng, giường long sàng, ngôi cửu ngũ, khi chết thì dùng từ "băng hà" và xây lăng có đường hầm dẫn xuống huyệt Các vua nước Việt được chính thức dùng các nghi thức đặc biệt nhạy cảm với vua Trung Quốc như thờ trời, tế trời ở đàn Nam Giao, được quyền cai quản các thần linh ở nước Việt, được quyền phong chức tước cho các thánh, thần, sông núi ở nước Việt, có lẽ chỉ ngoại trừ vua Đồng Khánh là vị vua Việt Nam duy nhất chịu làm em của một nữ thần mà thôi ; có vua Việt Nam còn mượn cớ đau chân để khỏi quỳ gối trước chiếu chỉ vua Trung Quốc
để chứng tỏ mình không phải là cấp dưới của vua Trung Quốc Tóm lại, các vị vua của Việt Nam là các vị vua thực
sự như các vua Trung Quốc.
Các vua Việt Nam đã dùng gần như đầy đủ các nghi thức thần quyền phong kiến dành riêng cho vua chúa Trung Quốc, chỉ có cái khác duy nhất là quyền lực thần quyền này không được phép áp đặt lên dân Trung Quốc, ngược lại, quyền lực thần quyền của vua chúa Trung Quốc cũng không áp đặt được lên vua quan và dân nước Việt, các quan của triều đình Việt Nam thì chỉ tuân lệnh và trung thành với vua Việt Nam mà thôi.
Trang 3Thiên mệnh của vua Trung Quốc chỉ kéo dài đến biên giới Hoa-Việt, biên giới này về cơ bản gần giống với ngày nay Theo ý thức thần quyền của hai chế độ phong kiến thì biên giới này do Trời vạch sẵn và được Trời cũng như các thần bảo vệ Cả hai nước đều ý thức được tầm quan trọng của đường biên giới này trong việc duy trì quyền lực giữa hai nước và đã giữ được sự cố định truyền thống của nó trong một thời gian rất dài trong lịch sử Quan hệ triều cống với Trung Quốc được coi là lựa chọn thay thế duy nhất cho đối đầu, chiến tranh hoặc cấm vận kinh tế với giá rẻ nhất.
Vì vậy Việt Nam trên danh nghĩa vẫn là một nước chư hầu của Trung Quốc, hầu hết các vị vua Việt Nam lên ngôi đều phải chịu sắc phong của Trung Quốc; hoặc phải để vua Trung Quốc hợp thức hóa vương vị và thần quyền của mình như vua Quang Trung Vào lúc loạn lạc thay đổi triều đại ở Việt Nam là cơ hội tốt để các triều đại phong kiến phương bắc mượn cớ giúp vua triều trước, không chịu sắc phong cho vua mới hoặc đem quân qua can thiệp nhằm chiếm đóng và đô hộ lâu dài nước Việt như thời nhà Minh, nhà Thanh Một số vua khác chỉ trị vì trên danh nghĩa, quyền lực thực sự lại nằm trong các vị chúa hoặc các đại thần và phe cánh Hầu hết các vị vua đều được biết bằng miếu hiệu, trong khi các vua nhà Nguyễn được biết bằng niên hiệu.
Sau đây là danh sách các vị vua Việt Nam từ khi hình thành nhà nước đến hết thời kỳ phong kiến.
Hồng Bàng và Văn Lang
Thời Hồng Bàng và nước Văn Lang mang tính truyền thuyết, có nhiều giả thuyết chưa thống nhất Tên hiệu các vua
Hùng được Hùng triều ngọc phả ghi gồm các vua như sau[1] :
Hùng Vương Tên húy Trị vì[2]
đều xưng là Hùng Hiền Vương
xưng là Hùng Quốc Vương
xưng Hùng Diệp Vương
xưng Hùng Hy Vương
xưng Hùng Huy Vương
xưng Hùng CHiêu Vương
xưng Hùng Vi Vương
xưng Hùng Định Vương
xưng Hùng Nghi Vương
xưng Hùng Trinh Vương
xưng Hùng Vũ Vương
xưng Hùng Việt Vương
xưng Hùng Anh Vương
Trang 4Hùng Triệu Vương Cảnh Chiêu Lang Gồm nhiều đời vua trị vì từ 754-660 TCN, đều
xưng Hùng Triệu Vương
xưng Hùng Tạo Vương
xưng Hùng Nghi Vương
xưng Hùng Duệ Vương
• ^ Thời Hùng Vương có nhiều điều không rõ Danh sách trên theo Ngọc phả của người đời sau soạn Con số 18 đời khiến nhiều nhà nghiên cứu
nghi ngờ Trong truyền thuyết, con số 9 (như voi 9 ngà, gà 9 cựa ) được các nhà sử học cho rằng mang tính chất biểu trưng là "nhiều"; các bội
số của 9 như 18, 27 cũng mang tính biểu trưng là sự truyền nối lâu dài như vậy[3]
Âu Lạc và Nam Việt
Nhà Thục (257-207 TCN hoặc 179 TCN)
Vua Tên húy Trị vì
Nhà Triệu (207-111 TCN)
Vua Tên húy Trị vì
Bắc thuộc
Trang 5Triều đại Trung Quốc Khởi nghĩa Lãnh đạo Thời gian
Mai Thúc Huy
713-723
Phùng An
766-789
(544-602)
Nhà Tiền Lý
Vua Tên húy Cai trị
Tự chủ
(905-938)
Tự chủ
Tiết độ sứ Tên húy Cai trị
• ^ Tiết độ sứ cuối cùng cai trị lãnh thổ Việt Nam trước thời kỳ độc lập
Thời kỳ độc lập
Trang 6Thuộc Minh Nam-Bắc triều và
Trịnh-Nguyễn phân tranh
Thuộc Pháp
Trước
độc lập
Nhà
Ngô
Nhà Đinh
Nhà Tiền
Lê
Nhà
Lý
Nhà Trần
Nhà
Hồ
Nhà Hậu Trần
Nhà Hậu
Lê
Nhà Mạc
Tây Sơn
Nam hiện đại
Chúa Trịnh Chúa Nguyễn
1427
1858
1945
(939-965)
Vua Niên hiệu Tên húy Trị vì
Ngô Xương Văn
950-965
• ^ Dương Tam Kha cướp ngôi của nhà Ngô và làm vua trong 6 năm.
• ^ Thời Hậu Ngô Vương gồm hai vị vua Nam Tấn Vương và Thiên Sách Vương cùng trị vì.
(968-979)
Vua Niên hiệu Tên húy Trị vì
• ^ Dùng tiếp niên hiệu cũ.
Trang 7(980-1009)
Vua Niên hiệu Tên húy Trị vì
Hưng Thống (989-993) Ứng Thiên (994-1005)
(1010-1225)
Vua Niên hiệu Tên húy Trị vì
Thông Thụy (1034-1038) Càn Phù Hữu Đạo (1039-1041) Minh Đạo (1042-1043) Thiên Cảm Thánh Võ (1044-1048) Sùng Hưng Đại Bảo (1049-1054)
Chương Thánh Gia Khánh (1059-1065) Long Chương Thiên Tự (1066-1067) Thiên Huống Bảo Tượng (1060) Thần Võ (1069-1072)
Anh Võ Chiêu Thắng (1076-1084) Quảng Hữu (1085-1091) Hội Phong (1092-1100) Long Phù (1101-1109) Hội Tường Đại Khánh (1110-1119) Thiên Phù Duệ Võ (1120-1126) Thiên Phù Khánh Thọ (1127)
Thiên Chương Bảo Tự (1133-1137)
Đại Định (1140-1162) Chính Long Bảo Ứng 1163-1173) Thiên Cảm Chí Bảo (1174-1175)
Thiên Gia Bảo Hữu (1202-1204) Trị Bình Long Ứng (1205-1210)
Trang 8Lý Chiêu Hoàng Thiên Chương Hữu Đạo[8] Lý Phật Kim (Lý Thiên Hinh) 1224-1225
• ^ Nữ vương duy nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.
(1225-1400)
Vua Niên hiệu Tên húy Trị vì
Thiên Ứng Chính Bình (1238-1350) Nguyên Phong (1251-1258)
Bảo Phù (1273-1278)
Trùng Hưng (1285-1293)
Khai Thái (1324-1329)
Đại Trị (1358-1369)
(1400-1407)
Vua Niên hiệu Tên húy Trị vì
Khai Đại (1403-1407)
Trang 9(1407-1413)
Vua Niên hiệu Tên húy Trị vì
Vua Niên hiệu Tên húy Trị vì
- Lê sơ (1428-1527)
Vua Niên hiệu Tên húy Trị vì
Đại Bảo (1440-1442)
Diên Ninh (1454-1459)
Hồng Đức (1470-1497)
Trang 10Nam - Bắc triều
Nhà Mạc (1527-1592)
Vua Niên hiệu Tên húy Trị vì
Cảnh Lịch (1548-1553) Quang Bảo (1554-1561)
Sùng Khang (1566-1577) Diên Thành (1578-1585) Đoan Thái (1586-1587) Hưng Trị (1588-1590) Hồng Ninh (1591-1592)
Sau đời Mạc Toàn, con cháu nhà Mạc rút lên Cao Bằng, tồn tại cho đến năm 1677 mới bị diệt hẳn:
• Mạc Kính Chỉ (1592-1593)
• Mạc Kính Cung (1593-1625)
• Mạc Kính Khoan (1623-1638)
• Mạc Kính Vũ (Mạc Kính Hoàn) (1638-1677)
Nhà Hậu Lê (1533-1788)
Vua Niên hiệu Tên húy Trị vì
Chính Trị (1558-1571) Hồng Phúc (1572-1573)
Quang Hưng (1578-1599)
Lê Trung Hưng - Trịnh-Nguyễn phân tranh
Trong thời kỳ này các vua Lê chỉ trị vì trên danh nghĩa, quyền lực nằm trong tay chúa Trịnh ở Đàng Ngoài (miền Bắc) và chúa Nguyễn ở Đàng
Trong (miền Nam)
Hoằng Định (1601-1619)
Đức Long (1629-1643) Dương Hòa (1635-1643)
Trang 11Lê Thần Tông (lần thứ 2) Khánh Đức (1649-1652)
Thịnh Đức (1653-1657) Vĩnh Thọ (1658-1661) Vạn Khánh (1662)
Đức Nguyên (1674-1675)
Lê Duy Hợi (Lê Duy Cối, Lê Duy
Khoái)
1672-1675
Chính Hòa (1680-1705)
Bảo Thái (1720-1729)
Trịnh - Nguyễn phân tranh
(1545-1786)
Chúa Tên húy Trị vì
Trang 12(1600-1802)
Chúa Tên húy Trị vì
Phong kiến tái thống nhất (1778-1945)
(1778-1802)
Vua Niên hiệu Tên húy Trị vì
Bảo Hưng
(1802-1945)
Trang 13Niên hiệu Miếu hiệu Tên húy Trị vì
Thống kê
Nếu không tính Hùng Vương là thời kỳ huyền sử còn nhiều nghi vấn, có thể đưa ra các thống kê về vua Việt Nam và các triều đại Việt Nam như sau (không tính các thời Bắc thuộc)[9] :
Về các vua
• Hoàng đế đầu tiên: Lý Nam Đế (544 - 548) với niên hiệu đầu tiên là Thiên Đức
• Hoàng đế cuối cùng: Bảo Đại (1925 - 1945)
• Ở ngôi lâu nhất: Triệu Vũ Vương Triệu Đà: 70 năm (207137 TCN), Lý Nhân Tông Càn Đức: 56 năm (1072
-1127), Lê Hiển Tông Duy Diêu: 47 năm (1740 - 1786), Lê Thánh Tông Tư Thành: 37 năm (1460 - 1496)
• Ở ngôi ngắn nhất: Tiền Lê Trung Tông Long Việt: 3 ngày (1006), Dục Đức (Nguyễn Cung Tông): 3 ngày (1883)
• Lên ngôi trẻ nhất: Lê Nhân Tông lúc 1 tuổi (1442); Mạc Mậu Hợp lúc 2 tuổi (1562); Lý Cao Tông lúc 3 tuổi; Lý Anh Tông cũng 3 tuổi; Lý Chiêu Hoàng lúc 6 tuổi (1224).
• Lên ngôi già nhất: Trần Nghệ Tông Phủ, khi 50 tuổi (1370); Triệu Đà khi 50 tuổi (207 TCN)
• Trường thọ nhất: Bảo Đại 85 tuổi (1913-1997), vua Trần Nghệ Tông 74 tuổi (1321 - 1394) Nếu tính Triệu Đà thì Triệu Đà là vua thọ nhất: 120 tuổi (257-137 TCN) (theo Đại Việt Sử ký Toàn thư) Ngoài ra, nếu tính cả các chúa thì chúa Nguyễn Hoàng thọ hơn Bảo Đại: 89 tuổi (1525 - 1613)
• Sống nhiều năm nhất ở nước ngoài trong thời gian làm vua: Bảo Đại
• Yểu mệnh nhất: Tiền Lê Trung Tông (Lê Long Việt); Hậu Lê Gia Tông Duy Khoái 15 tuổi (1661 - 1675)
• Vua đặt nhiều niên hiệu nhất: Lý Nhân Tông có 8 niên hiệu
• Vua có niên hiệu sử dụng lâu nhất: Lê Hiển Tông - niên hiệu Cảnh Hưng trong 47 năm (1740-1786)
• Vua có tôn hiệu dài nhất: Lý Thái Tổ (được truy tôn hiệu dài 52 chữ)
• Nữ vương đầu tiên: Trưng Vương (Trưng Trắc) (vì chỉ xưng vương) (40-43)
• Nữ hoàng duy nhất: Lý Chiêu Hoàng Phật Kim (1224 - 1225), vợ vua Trần Thái Tông Cảnh (1226 - 1258).
• Vua lập nhiều hoàng hậu nhất: Lý Thái Tổ lập 9 hoàng hậu (6 bà lập năm 1010, 3 bà lập năm 1016).
• Vua duy nhất ở ngôi 2 lần: Hậu Lê Thần Tông (1619-1643 và 1649-1662)
• Vua Việt Nam đầu tiên lấy vợ người phương Tây: Lê Thần Tông (Lê Duy Kỳ) lấy vợ người Hà Lan
• Vua có nhiều con làm vua: 3 người mỗi người có 4 người con làm vua Thứ nhất là Trần Minh Tông cha của Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông, Trần Nghệ Tông và Trần Duệ Tông Thứ hai là Lê Thần Tông cha của Lê Duy Hựu
Trang 14(Chân Tông); Lê Duy Vũ (Huyền Tông); Lê Duy Cối; (Gia Tông); Lê Duy Hợp (Hy Tông); Thứ ba là Lê Nguyên Long cha của Lê Nghi Dân; Lê Khắc Xương; Lê Bang Cơ; Lê Tư Thành
• Vua có nhiều con rể làm vua nhất: Lê Hiển Tông có 3 con rể làm vua là Nguyễn Huệ (lấy công chúa Lê Ngọc
Hân), Nguyễn Quang Toản (lấy công chúa Lê Ngọc Bình) và Nguyễn Ánh (cũng lấy Ngọc Bình) Nhưng khi còn sống ông chỉ chứng kiến Nguyễn Huệ làm con rể mình.
• Vua có nhiều loại tiền mang niên hiệu nhất: Lê Hiển Tông đã cho đúc 16 loại tiền Cảnh Hưng trong thời gian làm vua
• Vua trăm trận trăm thắng: Quang Trung (Nguyễn Huệ) (1753 - 1792)
• Người mở đất mạnh nhất, rộng nhất: Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu (1675 - 1725)
• Vua nhiều con nhất Minh Mệnh (Nguyễn Phúc Đảm) (1790 -1840) con chính thức là 142 gồm 78 trai, 64 gái
• Vua có nhiều vợ mà không có người con nào: Tự Đức (Nguyễn Phúc Hồng Nhậm) có 300 vợ.
• Vua làm nhiều thơ văn nhất: Tự Đức để lại 4000 bài thơ chữ Hán, 100 bài thơ Nôm, 600 bài văn[10] .
Về các triều đại
• Triều đại tồn tại lâu nhất: nhà Hậu Lê 356 năm (1428 - 1527 và 1533 - 1788).
• Triều đại tồn tại ngắn nhất: nhà Hồ 8 năm (1400 - 1407).
• Triều đại truyền nhiều đời vua nhất: nhà Hậu Lê: 27 vua (từ Thái Tổ đến Chiêu Thống), nhà Trần (kể cả Hậu
Trần) 15 vua.
• Triều đại truyền ít đời nhất: nhà Thục 1 vua.
• Triều đại truyền qua nhiều thế hệ nhất: nhà Hậu Lê 14 đời (từ Thái Tổ Lê Lợi đến Trung Tông Duy Huyên, rồi từ
Anh Tông Duy Bang đến Chiêu Thống Duy Kỳ), sau đó là nhà Lý: 9 đời (từ Thái Tổ Công Uẩn đến Chiêu Hoàng Phật Kim).
• Triều đại xảy ra phế lập, sát hại các vua nhiều nhất: Nhà Lê sơ 6/11 vua Nếu tính cả các vua không chính thức là
Lê Quang Trị (1516), Lê Bảng và Lê Do (1519) thì tổng cộng có 9/14 vua.
• Triều đại có các vua bị bắt đi đày ra nước ngoài nhiều nhất: Nhà Nguyễn
Thái thượng hoàng
Thái thượng hoàng gọi tắt là thượng hoàng, ngôi vị mang nghĩa là "vua bề trên" trong triều.
Tùy từng hoàn cảnh lịch sử, thực quyền của thượng hoàng khác nhau Thượng hoàng có thể giao toàn quyền cho vua hoặc vẫn nắm quyền chi phối việc triều chính; hoặc có thể thượng hoàng chỉ mang danh nghĩa.
Thông thường thượng hoàng là cha vua, nhưng có các trường hợp không phải như vậy: Thượng hoàng Trần Nghệ Tông truyền ngôi cho em là Duệ Tông, Duệ Tông mất lại lập cháu gọi bằng bác là Phế Đế; Thượng hoàng Mạc Thái
Tổ truyền ngôi cho con là Thái Tông, Thái Tông mất sớm lại lập cháu nội là Hiến Tông; Thượng hoàng Lê Ý Tông
là chú của vua Lê Hiển Tông.
Triều đại có nhiều thượng hoàng nhất là nhà Trần với 9 thượng hoàng Ngoài 7 thượng hoàng nhà Trần từ Trần Thừa tới Nghệ Tông cùng Mạc Thái Tổ, các thượng hoàng còn lại trong lịch sử Việt Nam đều không tự nguyện làm thượng hoàng mà do sự sắp đặt của quyền thần trong triều.
Trang 15Tham khảo
• Lê Thái Dũng (2008), Giở trang sử Việt, NXB Đại học quốc gia Hà Nội
• Nước Việt Nam qua từng thời kỳ lịch sử [11], Vietnam Net
• Đại Việt sử ký toàn thư
• Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược
• Tóm tắt Niên biểu Lịch sử Việt Nam [12], trang web của tạp chí Quê Hương
• Sự hình thành cơ cấu chính trị Đại Việt [13], BBC Việt ngữ tóm lược bài viết The Early Kingdoms của Keith
Taylor
Chú thích
[1] Hùng Vương (http://www1.thuathienhue.gov.vn/GeographyBook/Default.aspx?sel=3&id=1000)
[2] http://en.wikipedia.org/wiki/Vua_vi%E1%BB%87t_nam#endnote_hung
[3] Theo Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn và Lương Ninh - Lịch sử Việt Nam, tập 1, tr 94 - NXB Đại học và giáo dục chuyên
nghiệp, 1991
[4] http://en.wikipedia.org/wiki/Vua_vi%E1%BB%87t_nam#endnote_kieu
[5] http://en.wikipedia.org/wiki/Vua_vi%E1%BB%87t_nam#endnote_kha
[6] http://en.wikipedia.org/wiki/Vua_vi%E1%BB%87t_nam#endnote_hau
[7] http://en.wikipedia.org/wiki/Vua_vi%E1%BB%87t_nam#endnote_tie
[8] http://en.wikipedia.org/wiki/Vua_vi%E1%BB%87t_nam#endnote_lch
[9] Các thống kê này có tính tương đối, vì một số vị vua còn gây tranh cãi hoặc không rõ hết thông tin
[10] Lê Thái Dũng, sách đã dẫn, tr 140
[11] http://hanoi.vnn.vn/chuyen_de/0004/cac_vi_vua/bai_20.html
[12] https://www.mofa.gov.vn/quehuong/nr050307131435/nr050106094245/nr050221095119/folder_listing?b_start:int=40
[13] http://www.bbc.co.uk/vietnamese/entertainment/story/2004/01/040122_vietnamearlytime.shtml