1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Lịch sử mỹ thuật thế giới

21 1,2K 39

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 85,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy vậy, trong bài này, tôi xin mạnh dạn chia làm 2 mảng để trình bày: Phần 1: Nghệ thuật phương Tây từ thời nguyên thủy đến nay chủ yếunhấn mạnh những nền văn minh phát triển rực rỡ nhấ

Trang 1

LỊCH SỬ NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH THẾ GIỚI.

Tìm hiểu lịch sử nghệ thuật là việc làm tất yếu của mỗi người làm nghệthuật Nó giúp họ hiểu được bản chất của nghệ thuật, biết được vị trí củanền nghệ thuật đương thời, thông qua dòng chảy của nó Từ đó, rút ra đượcnhững bài học cho mình, định hướng cho sáng tác Nhưng đây là công việcđòi hỏi có nhiều kiến thức, óc suy luận, khả năng vận dụng lý luận vào thựctiễn… Với khả năng hạn chế của mình, tôi chỉ muốn điểm lại những biếnđộng thông qua những giai đoạn lớn của mỹ thuật thế giới, nhằm ôn lại và tựkiểm tra kiến thức, giúp mình phần nào nhìn lại những sáng tác, giảng dạycủa mình, định hướng cho công việc tới

Do đặc điểm địa lý, và có thể có những lý do không rõ khác, văn hóathế giới chia làm 2 khu vực khá rõ rệt Văn hóa phương Đông và phươngTây phát triển theo những con đường khác nhau, trên những thế giới quankhác nhau Và vì vậy, nền nghệ thuật thế giới chia làm 2: nghệ thuật phươngĐông và nghệ thuật phương Tây Có rất nhiều quan điểm về việc chia khuvực Đông – Tây, nhưng theo tôi, nếu căn cứ vào sự phát triển có tính kếthừa, chung nhau những cội nguồn văn hóa, “địa giới” của văn hóa phươngTây gồm những nước châu Aâu, Tây Á, Bắc Phi Nền văn hóa phương Đônggồm những nước từ Aán Độ và các nước lân cận đổ về phía Đông đến NhậtBản, các nước Đông Nam Á Sự hình thành của chúng dường như xuất pháttừ 2 trung tâm: Phương Tây lấy Bắc Phi làm gốc, phương Đông dường nhưcó cội nguồn quanh dẫy Himalaya Tất nhiên, sử liệu thiếu thốn, đến naychúng ta khó khẳng định được điều gì, chỉ dựa vào biểu hiện bên ngoài đểức đoán

Tuy vậy, trong bài này, tôi xin mạnh dạn chia làm 2 mảng để trình bày: Phần 1: Nghệ thuật phương Tây từ thời nguyên thủy đến nay (chủ yếunhấn mạnh những nền văn minh phát triển rực rỡ nhất và thời cận, hiệnđại)

Phần 2: Nghệ thuật phương Đông (chủ yếu là những nền văn minh lớnnhư Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản; do sử liệu về nền văn minh nguyên thủycủa cả khu vực này còn khá mù mờ, khó làm rõ mối liên hệ của chúng)

Trang 2

Phần I

NGHỆ THUẬT PHƯƠNG TÂY

Trong chương này tôi xin trình bày theo 4 giai đoạn:

Giai đoạn 1 từ thời đồ đá đến khởi đầu thời đại đồ sắt;

Giai đoạn 2 thời cổ đại với những nền văn minh Ai Cập, Lưỡng Hà, Hy La;

-Giai đoạn 3 thời trung cổ

Giai đoạn 4: từ thời Phục hưng đến hiện đại

Giai đoạn I:

Theo các nhà cổ sinh học, những hóa thạch về con người đầu tiên trênthế giới được tìm thấy ở châu Phi và quanh dẫy Himalaya Từ đó có thể nóiđó là hai cái nôi của con người được chăng?

Ngay từ trung kỳ đồ đá, chúng ta đã thấy con người biết trang trí chonhững đồ dùng bằng đá của mình; đến hậu kỳ đồ đá, những hình vẽ trêncông cụ đá, sừng hoặc gỗ tìm thấy nhiều hơn Những hình vẽ trên hangđộng đã được tìm thấy cũng vào thời kỳ này Chúng có vẻ xuất phát từ nhucầu ma thuật hơn là từ nhu cầu làm đẹp Do nhu cầu săn bắn (kiểu lao độngđầu tiên của con người), các hình vẽ này thường miêu tả thú vật, bắt đầu từcách vẽ đường chu vi, dần đến tô kín hình và đề tài được mô tả rõ dần tronghậu kỳ đồ đá Con người cũng là 1 đề tài nhưng còn khá mờ nhạt

Đến thời đồ đá mới, sức sản xuất tăng rõ rệt do phương thức trồng trọtchăn nuôi xuất hiện, chế độ phụ hệ dần thay thế chế độ mẫu hệ Các tácphẩm tạo hình nhỏ, đồ gốm được tìm thấy nhiều hơn Những hoa văn trangtrí đẹp trên đồ dùng hàng ngày của thời này cho thấy nhu cầu làm đẹp xuấthiện cùng với nhu cầu tế lễ, ma thuật

Thời đại đồ đồng ra đời cùng với chế độ chiếm hữu nô lệ Đồng vàđồng thau (tức là có kỹ thuật luyện kim) trở thành một chất liệu mới cho vũkhí, đồ trang sức và đồ dùng Nhiều họa tiết trang trí trên đồ dùng hàngngày, vũ khí có trình độ cao hơn Xuất hiện đề tài cảnh vật, chứng tỏ trình độ

tư duy, khái quát của con người cao hơn Những công trình kiến trúc tôn giáoxuất hiện với qui mô và sự hoàn thiện dần được nâng cao

Chế độ nô lệ gia trưởng, phân chia giai cấp xuất hiện, trong thời kỳnày, đồ sắt ra đời Những cảnh sinh hoạt, chiến trận trên những họa tiếttrang trí góp phần làm chúng ta hiểu được phần nào đời sống con người ởthời kỳ này

Trang 3

Giai đoạn II:

NỀN VĂN MINH AI CẬP:

Trên đồng bằng sông Nin, khoảng 4000 năm trước công nguyên xuấthiện một nền văn minh cổâ xưa, vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại

Chăn nuôi, săn bắt, đánh cá và trồng trọt là những phương thức laođộng chính trong thời kỳ này Chế độ nô lệ đã phát triển ở mức độ cao, tạonên nguồn nhân công dồi dào, nguồn của cải tập trung, cùng sự phong phúvề vật liệu giúp Ai Cập có được những công trình kiến trúc vào loại vĩ đạinhất thế giới cho đến nay Chế độ chính trị này tồn tại khá lâu chứng tỏ sựphù hợp của nó đối với trình độ kinh tế, sức sản xuất của thời bấy giờ Sựtồn tại lâu dài đó tạo nên một hệ thống tín ngưỡng phát triển một cách chặtchẽ và tạo nên sự chuẩn hóa các hình tượng nghệ thuật Với quan niệm

“sống gửi thác về”, người Ai Cập dồn công sức cho những đền đài, lăng mộnhiều hơn những công trình sinh hoạt Vì vậy, nghệ thuật Ai cập có nhữngnét rất riêng, độc đáo Aûnh hưởng của nó khá lớn đối với các nền văn minhkhác ra đời muộn hơn

Đầu thời đồ đồng, Ai Cập chưa thống nhất Vẫn tồn tại đồ đá mài, bắtđầu có những hình vẽ trên đồ gốm, đất sét miêu tả cảnh tang lễ, cảnh cúnglễ và thuyền trên sông Nin Dần dà, xuất hiện những vị vua (Pharaông) đầutiên, dần thống nhất các khu vực riêng thành những quốc gia Các hình vẽtrên đá chứng tỏ điều đó Nó dùng cách diễn tả vua lớn hơn cận thần, cậnthần lớn hơn quân lính… để phân biệt tầm quan trọng của các nhân vật Hìnhngười với mặt và chân nghiêng, ngực bụng chính diện, các hình vẽ mangtính biểu tượng…Những đặc điểm tạo hình này tồn tại suốt trong nền nghệthuật Ai Cập

Khoảng 3.200 đến 2.400 năm trước công nguyên, Ai Cập vào thờivương quốc cổ đại Đây là thời kỳ phát triển của chế độ nô lệ, Ai Cập dầnthống nhất thành một quốc gia thống nhất Khoa học và văn hóa nghệ thuậtđược nâng lên trình độ rất cao Có những thành tựu mà đến nay vẫn vượtsức của con người hiện đại Thành tựu đó phần lớn dồn vào việc xây dựngtrang trí những kim tự tháp mà cho đến nay, người ta vẫn ngờ rằng chứcnăng của nó còn nằm ngoài là những lăng mộ của các Pharaông Hàngtriệu phiến 2 đến 3 tấn được chuyển đến từ rất xa, đưa lên những tầm caovới sự chính xác không tưởng nổi (cạnh đáy dài hơn 200m mà sai số chỉ 20cm) Sự song song gần như tuyệt đối giữa những kim tự tháp cách rất xanhau, những lỗ rất nhỏ đi qua bao phiến đá xếp, đến nay vẫn dẫn ánh sángtừ một ngôi sao nhất định tới phòng đặt quan tài vào đúng ngày giờ địnhsẵn… chứng tỏ trình độ toán học, thiên văn học, khả năng điều hành một

Trang 4

lượng người lao động khổng lồ, kỹ năng xây dựng tuyệt vời của người ngàyxưa, khi mà công việc và dụng cụ của họ hoàn toàn thủ công.

Với một thời gian lâu dài tồn tại một cách khá ổn định, quyền lực củatôn giáo, của các chủ nô (Pharaông) trở nên gần như tuyệt đối, các phongtục, tập quán gần như không đổi tạo nên những quy định nghiêm nhặt chođời sống và nghệ thuật, sự hiện thực của các tác phẩm tạo hình không đượcchú trọng bằng ý nghĩa tượng trưng của nó Vì vậy, tính ước lệ của các tácphẩm tạo hình rất cao và đôi khi, nó trở nên thành những tín hiệu hầu như lànhững chữ cái vậy (Điều này ta cũng bắt gặp ở văn minh Ấn Độ cổ đại).Nhưng chúng được rèn giũa qua năm tháng, trở nên tinh tế dần và trởthành những kiệt tác, sinh động, phong phú, tránh được sự khô khan, sơ sàidễ gặp ở phong cách này Những bức bích họa, những tác phẩm điêu khắcchủ yếu ca ngợi công đức, chiến tích của các Pharaông Nhưng thông quađó, chúng ta cũng tìm hiểu được những sinh hoạt của người cổ đại Ai Cập.Nó như những bài ca về chiến đấu, lao động, những buổi hành lễ, các tậptục… của nền văn minh sông Nin

Nghệ thuật tạo hình của Ai Cập thường dùng để hỗ trợ cho những kiếntrúc lăng mộ đền đài Chúng được sáng tạo đểâ ca ngợi sự vĩnh hằng, tônvinh uy quyền tuyệt đối của thánh thần, vua chúa Chúng thường được diễntả bằng thủ pháp trang trí với những công thức nhất định: vua chúa, thầnthánh có những tư thế không đổi, với tỷ lệ lớn, sau đó là những nhân vậtkhác có động tác phong phú hơn Những cây cối thú vật được thể hiện khásinh động Hình người thường ở tư thế chính diện nhưng mặt và bàn chânquay nghiêng, tạo cảm giác động trong cái tĩnh Màu sắc ở những bích họathường tiết chế, nhưng hài hòa và bền chắc do kỹ thuật dùng màu thiênnhiên là chủ yếu, ít oxy hóa Sự cô đọng tiết chế, phù hợp với kiến trúc lăngtẩm nhưng do khả năng nắm bắt tinh tế, sự khái quát hóa cao làm các tácphẩm Ai Cập vẫn sinh động Điều làm chúng ta kính phục là sự kết hợp giữanhững tính chất đối nghịch: sự tồn tại vĩnh hằng của các quy chuẩn với hiệnthực sinh động, lộng lẫy với tiết chế, hoành tráng mà tinh vi, cô đọng màvẫn sinh động, hợp lý mà không khô khan… điều đó có thể nhận thấy quanhững kiệt tác: Tượng Nhân sư, Pharaông Mentukhôtép, Nữ hoàngClêopatre, những đầu cột đền đài, tượng người thư lại, những bức chạm nổi,bích họa trang trí khắp các cung điện, đền đài…

Có lẽ, xét về mặt khối lượng, văn minh cổ đại Ai Cập để lại cho đời saumột nền văn hóa khổng lồ, thống nhất mà cho đến nay, chưa nền văn minhnào đạt tới

Trang 5

NỀN VĂN MINH LƯỠNG HÀ

Nếu sông Nin đóng vai trò là con sông thần thánh của văn minh Ai Cậpthì châu thổ sông Tygrơ và Ơfrát cũng là nguồn nuôi dưỡng một nền vănminh khác: Văn minh Lưỡng Hà Nó là cội nguồn cho những nền văn minhTây Á sau này

Được bắt đầu từ văn hóa Sumerơ, trải qua nền văn hóa Aùtcát tớiBabilon, Aùsiri văn minh Lưỡng Hà tách dần khỏi ảnh hưởng của văn minh Aicập, và trở thành một nền văn minh độc lập

Điểm độc đáo của nền văn minh này là tính hiện thực của nó Bắt đầubằng những công thức khô khan, dần dần thiên nhiên, con người thực trởnên là đối tượng ca ngợi của nó Phối cảnh bắt đầu được áp dụng để tạo rabối cảnh sinh động, thực hơn Chân dung – ngay cả của các vị vua cũngdần trở nên “ giống thực” hơn Nếu ai đó sùng bái nghệ thuật Ai Cập sẽ cảmthấy hình tượng trang trí của nền văn minh này rườm rà hơn, nhưng tính sinhđộng phong phú của nó thì không thể chối cãi Nếu sự tuyệt đối hóa, thầnthánh hóa, sự ca tụng đời sống vĩnh hằng chế ngựï nghệ thuật Ai Cập thì ởvăn minh Lưỡng Hà đời sống trần thế, tính con người được đề cao hơn

Cũng với thủ pháp trang trí, văn minh Lưỡng Hà (mà đỉnh điểm là thờiBabilon) phong phú, rực rỡ hơn Thủ pháp đăng đối cũng được dùng nhiềucó lễ để nhân thêm lượng họa tiết có sẵn, nó thường được áp dụng trong kỹthuật in ống cùng với kỹ thuật hình nổi

Di vật còn lại không nhiều, có thể do khí hậu và sự sa mạc hóa củavùng đất này

Trang 6

VĂN MINH HI LẠP – LA MÃ

Vùng lục địa quanh biển Địa Trung Hải sản sinh một nền văn hóa cựckỳ vĩ đại mà ảnh hưởng của nó với nghệ thuật châu Aâu và thế giới sau nàyvô cùng lớn lao.Văn minh Ai cập làm chúng ta khâm phục vì sự hoàn thiệnkỳ vĩ, nhưng khó làm chúng ta cảm thông vì tính tuyệt đối hóa đến mức thầnthánh của nó Trong khi đó văn hóa Hi Lạp - La Mã này mang lại nguồn cảmhứng sống sự linh động, tính nhân bản của nó

Đặc điểm lớn của nền văn minh này là thể chế cộng hòa, dựa trên chếđộ dân chủ chủ nô của hai quốc gia HI Lạp và La Mã Hai nền văn minh nàythường được gộp chung do chúng có nhiều điểm tương đồng về phong cáchvà địa lý Thực ra, văn minh Hi Lạp ra đời sớm hơn, phát triển mạnh mẽ, lànguồn cảm hứng, là phong cách chung cho cả 2 nền văn minh này Mộtđiểm đáng chú ý là người La Mã tuy khuất phục được người Hi Lạp trênphương diện hành chính, chính trị, nhưng lại chịu khuất phục người Hi Lạpvề văn hóa Với đế chế vĩ đại mà họ chinh phục được, người La Mã lại cócông truyền bá nền văn minh này đến một vùng lãnh thổ rất rộng lớn Aûnhhưởng của nó còn tồn tại theo thời gian tới thời cận đại (thế kỷ 16)

Với nền dân chủ chủ nô phát triển mạnh mẽ, Hi Lạp đã phát triển mộtnền nghệ thuật giàu tính nhân văn, với sự tự tin vào sức mạnh con người.Ngay cả những biểu hiện tôn giáo của họ cũng đầy chất “ dân chủ”: các vịthần mang rất nhiều tính cách “người”, họ cũng yêu ghét, sai lầm, sự vĩ đại

đi cùng sự tầm thường, và thậm chí nhiều khi họ cũng thua con người, nhấtlà khi họ phải đối mặt với những vấn đề tình cảm Trong thần thoại của họxuất hiện khá nhiều Á thần: Hecquin, Pecxe, Asin… như là sự hòa trộnnhững phẩm chất “ người” với thần linh Trong sự tự hào với giá trị của mìnhnhư thế, các tác phẩm của Hi lạp thường miêu tả vẻ đẹp của con người với

cơ thể cường tráng, khả ái trong sức sống cuồn cuộn Tất nhiên sự trangnghiêm trong những công trình tôn giáo không thể thiếu, nhưng cuộc sốngvới nét hồn nhiên của nó cũng được tôn vinh Thần rượu nho (thầnBacquýt), thần mục đồng (Poăng), thần mùa Xuân, các vị thần nghệ thuật…được ca ngợi như những thần mang lại niềm vui sống cho con người Cácđền đài được dựng lên như sự biết ơn sự bảo hộ của các thần cho cuộcsống hơn là những đài tưởng niệm, những sự chuẩn bị cho cuộc sống vĩnhhằng như ta gặp ở văn hóa Ai Cập Vì vậy nó mang nhiều vẻ thanh nhã hơnlà trang nghiêm, vững chãi

Từ nền văn hóa sớm nhất (văn hóa Eâgiê), ảnh hưởng phần nào củanền văn minh Ai Cập, tính hiện thực bắt đầu tràn dần vào tác phẩm tạohình, thay thế cho những định chế nghiêm nhặt qua các thời kì Hôme, cổđại, cổ điển và Hêlinít Cùng với các thời kỳ đó, những cuộc chiến tranh

Trang 7

thắng lợi càng hình thành và củng củng cố vững chắc chế độ chiếm hữu nôlệ theo khuynh hướng dân chủ chủ nô Các thành bang thành lập độc lập,tạo cho sự phát triển thương mại, cùng với nó là sự giao lưu nghệ thuật.Những phát hiện khoa học, cùng với sự ra đời của các trường phái triết họctạo nên sự nghiên cứu một cách chủ động, sâu sắc thiên nhiên, con người.Có thể thấy sự cân đối về tỷ lệ, hợp lý về động tác, sự duyên dáng, sứcsống của các tượng trong thời này là bằng chứng cho sự hiểu biết sâu sắcthiên nhiên, sự tự hào làm Người của những con người thời kỳ này Bêncạnh những tác phẩm ca ngợi thần linh, vua chúa, ta thấy nhiều tượng trònvà phù điêu ca ngợi vẻ đẹp hình thể , sức sống, tài năng của con người.Tượng người ném đĩa, phóng lao, người đưa thư… là những ví dụ Các vị thầncũng được “ người hóa”, nếu không nói ra chúng ta không thể phân biệttượng thần Venus (Milo)với một người đàn bà đẹp; bỏ đôi cánh đi, tượngthần chiến thắng nào khác một người đẹp vươn người khỏi mặt nước, thầnHécmét là một thanh niên duyên dáng với đôi giày có cánh…

Bên cạnh những đền đài, điện thờ như đền Pacthenon, Olempiơ, đềnthờ Athena… chúng ta bắt gặp khá nhiều công trình kiến trúc cộng đồng:những nhà tắm công cộng, quảng trường, nhà hát ngoài trời, sân đấu, nơidân chúng họp mặt, bàn bạc, giải trí

Các nghệ sỹ cũng trở nên độc lập hơn khi họ tách mình ra khỏi nhữngngười thợ thủ công Tự hào với vai trò của mình, chữ ký của người sáng táctrong nhiều tác phẩm còn thấy rõ Vì vậy ngày nay, tên tuổi của những nghệsỹ như: Clichi, Eârotim, Amadix, Exeki…(gốm); Phidi, Itcơtin, Calicrat,Mnhexiclơ, Milet,… (kiến trúc), Crity, Nhexiot, Piphagor, Miron, Crexisley,Policlet, Nhikhi, Pracxiten, Xcôpacxơ, Lixipơ,… (tranh tượng) còn lại vớichúng ta ngày nay

Trên kia ta có nói nghệ thuật Hi Lạp và La Mã có những nét tươngđồng, nhưng nếu phân tích kỹ ra chúng ta thấy nghệ thuật Hi Lạp mangnhiều tính chất “dân chủ” hơn, “nhân bản” hơn Con người với cuộc sống củahó hiện diện nhiều hơn trong các tác phẩm của nền văn minh này Chính nólà cội nguồn, là xương sống cho nền văn minh chung Người La Mã sau khithôn tính đất đai của người Hi Lạp, đã thừa hưởng thành tựu của nền vănminh này, họ bị nền văn minh này “ thuần phục” Cùng với việc bành trướngthành một đế quốc rộng lớn vào thời Alexandre đại đế, La Mã đã đem vẻđẹp của văn minh Hi Lạp tới khắp đế chế của mình Tuy vậy, với bản chấthiếu chiến, nghệ thuật của họ dần trở nên khô khan, mang nhiều vẻ sùngbái cá nhân hơn Ca ngợi uy quyền của các lãnh tụ, phục vụ cho uy thế củanhà nước La Mã dần làm mất đi tính hiện thực, sức sống của nghệ thuật.(tất nhiên không thể nói những tác phẩm mang tính hiện thực cao nhưValentinhan nằm trong số đó)

Trang 8

Giai đoạn 3:

NGHỆ THUẬT THỜI TRUNG CỔ

Đây là thời kỳ ra đời phát triển và diệt vong của chủ nghĩa Phong kiến,trùng với sự ra đời của Kitô giáo

Nổi bật lên là nền nghệ thuật Bidanxơ Sau đế quốc La Mã, thống trịmột vùng rộng lớn của châu Aâu, một số nước ở Tiểu Á, Bắc Phi là đế quốcBidăngtanh mà trung tâm là Côngxtăngtinôpôn Aûnh hưởng của nó bao trùmmột số nước Nam Aâu, tiểu Á, đến tận nước Nga và Ucrain cổ Đây là thời kỳchiến tranh liên miên Chế độ phong kiến cát cứ dần biến mất, nhường chỗcho chính quyền phong kiến tập trung Vai trò của nhà thờ dần được khẳngđịnh, đôi khi chiếm địa vị độc tôn Nếu trước đây vào thời kỳ La Mã suy tàn,Kitô giáo đóng vai trò an ủi nhân dân, đoàn kết họ lại bằng tình thương thìbây giờ nó lại cùng với giai cấp phong kiến thống trị nhân dân

Vì vậy, kiến trúc thời này chủ yếu là kiến trúc quân sự và kiến trúc nhàthờ Qua chến tranh, loại công trình quân sự không còn được nhiều, chỉ còntồn tại những tầng hầm Trong khi đó, nhà thờ tồn tại đến ngày nay thể hiệntừng bước phát triển của nó Từ sơ sài, dần dần nhà thờ được xây dựng vàtrang hoàng lộng lẫy, vĩ đại như nhà thờ Thánh Xôphia ở Công xtantinôpôn,Aticơ Đgiami, Calenđarơ Đgiami… Hình thành kiểu nhà thờ mái “củ hành”, 4tháp trấn 4 góc quanh một gian trung tâm tròn

Nghệ thuật tạo hình khá cầu kì, ảnh hưởng nền văn hóa Lưỡng Hà Nổilên kiểu trang trí bằng Mozaich (ghép đá, sứ) lộng lẫy, tinh vi

Hình thành lối tranh vẽ Icôn, phát triển từ lối vẽ Chúa, các thánh trongcác hầm mộ thời La Mã, do các nghệ nhân thể hiện Do đó tính chuyênnghiệp không cao và đề cao sự khắc khổ, tuẫn đạo trong thời kỳ Kitô giáocòn hoạt động bí mật, bị săn đuổi, những tranh này thường không tuân thủtỷ lệ thật, thiếu tính hiện thực Tuy vậy, dần dần khi thế lực đạo Thiên Chúanắm vị trí thống trị, các thế lực nhà thờ lại càng củng cố lối vẽ này nhằm đềcao tính thần thánh của các nhân vật và trở thành 1 phong cách vẽ ước lệ.Các nghệ sỹ thời kì này đã nâng cao tính khái quát, siêu thực của nó, vàdần trở nên 1 phong cách hoàn chỉnh, trang trọng và gây ấn tượng Nhữngthân người kéo dài, những vạt áo song song, mắt to nhìn đăm đăm vàongười xem như đòi hỏi 1 điều gì đó, cùng với những mảng màu vàng kimtrang trí cho hào quang trên nền màu ấm sậm, cá họa tiết trang trí nặng nề,

…tất cả tạo cho ta cảm giác bị trấn áp trong 1 không khí siêu nhiên, sùngkính

Nói chung nghệ thuật Bidăngxơ mang màu sắc “kể chuyện” tôn giáo,tước bỏ cái xung quanh để nhấn mạnh vai trò cái chính, sự trang hoàng lộnglẫy, có tính áp đặt lên người xem vẻ kỳ dị, vĩ đại

Trang 9

Trong khi đó, ở một số nước Tây Aâu hình thành những phong cáchnghệ thuật khác Các quốc gia ở đây thường không thống nhất thành lãnhthổ rộng lớn, chiến tranh liên miên, với áp lực lớn lao của tôn giáo, vì vậy,kiến trúc nhà thờ vẫn chiếm địa vị chủ yếu Phong cách của những nhà thờnày (nhất là trong giai đoạn đầu) thường nặng nề như những pháo đài Nghệthuật được hình thành từ nhiều nguồn, nhưng chủ yếu xuất phát từ văn hóabản địa Dần dần, hình thành phong cách kiến trúc Rômăng, với những vòmcủa tròn, cửa sổ hẹp như những lỗ châu mai, mặt bằng phát triển theo chiềurộng… Phong cách này trông khá nặng nề, nhưng thân thuộc với con người.Sau đó, nghệ thuật Gôtích ra đời với những nhà thờ vút lên cao như khẳngđịnh vị trí của nó trong đời sống xã hội Những hình mũi tên chĩa lên tua tủa,tạo cảm giác sắc lạnh Nhưng chúng được làm dịu lại với phần trang trí rấtcông phu, tỷ mỷ, với hệ thống tượng tròn rất phong phú; những contrefortgiằng tường, nối các phần công trình tạo cảm giác vững chãi kéo lại sựchênh vênh do chiều cao mang lại.

Tuy vậy, kiến trúc Gôtích vẫn làm con người có cảm giác bị nhỏ bé vớicái siêu nhiên, tạo sự thuần phục với thần quyền

Tóm lại, nghệ thật thời trung cổ đề cao vị trí của giai cấp thống trị cùngvới vai trò của đạo Thiên Chúa trong đời sống Nền quân chủ phong kiến,

uy thế nhà thờ càng phát triển, nghệ thuật càng trở nên công cụ phục vụđắc lực cho chúng Những công thức được áp đặt làm cho nghệ thuật dầntrở nên khô cứng, xa rời thực tế, dần mất tính người Nhưng với vai trò phụcvụ cho giai cầp lãnh đạo, nghệ thuật trung cổ cũng góp một tiếng nói nào đóvề phong cách, kĩ thuật thể hiện trong dòng nghệ thuật chung của nhân loại.Chủ nghĩa phong kiến ngày càng trở nên suy thoái phản động, đối vớisự phát triển của lực lượng sản xuất, sự khẳng định vai trò của thương mại…,kinh tế tư bản chủ nghĩa dần lớn mạnh, yêu cầu giải phóng cho con ngườivề địa vị xã hội, về tư tưởng dần trở nên bức thiết Sự đè nén của giai cấpphong kiến, chức sắc giáo hội càng làm sâu sắc hơn mâu thuẫn giữa cáimới và cái cũ, làm nảy sinh nhiều cuộc đấu tranh về chính trị, tư tưởng, báohiệu một giai đoạn mới trong lịch sử thế giới: sự ra đời của chủ nghĩa Tưbản

Trang 10

Giai đoạn 4:

Đây là giai đoạn phát triển phức tạp, nhanh chóng nhất trong xã hộiloài người từ trước đến nay Chúng bắt đầu từ việc tập trung tư bản, tiến tớihình thành nền đại công nghiệp, thúc đẩy sức sản xuất, phát triển khoa họchiện đại, ra đời chủ nghĩa tư bản, đồng thời hình thành mâu thuẫn nội tại củachính chế độ chính trị này Chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời với sứ mệnhgiải quyết mâu thuẫn đó, thúc đẩy xã hội loài người tiến bộ trong sự chốngđối mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản vẫn đang trong thời kỳ sung sức Nghệthuật cũng bị xáo trộn ngày càng nhanh cùng với sự phát triển xã hội

Bước đột phá là thời kỳ “Phục hưng”

THỜI PHỤC HƯNG

Sự phát triển về kinh tế, sức sản xuất, khoa học và ý thức xã hội là cơsở cho chủ nghĩa tư bản ra đời Với yêu cầu về lao động tập trung, có taynghề, sự giải phóng con người ra khỏi lề thói, sự áp bức của chủ nghĩaphong kiến là tất yếu Những thành quả về khoa học kỹ thuật, những khámphá mới về vũ trụ, thiên nhiên, địa lí… làm con người tự tin hơn với tri thức vàsức mạnh của mình, dần thoát khỏi sự áp đặt tư tưởng của phong kiến, thầnquyền trong “đêm dài trung cổ”

Trong giai đoạn đầu, tuy chưa làm thành cuộc cách mạng tư sản,nhưng ý thức đó đã nhen nhóm với ý thức đòi tự do tư tuởng, tự do cá nhân,tự do sống, tự hào với vai trò làm Người,… với hình thức quay về với nhữnggiá trị dân chủ từng có trong thời cổ đại, phủ nhận sự hà khắc của chế độphong kiến, thần quyền Chủ nghĩa Nhân văn xuất hiện Đây là bước ngoặttiến bộ lớn lao nhất trong lịch sử loài người Nền nghệ thuật Phục hưng rađời, phát triểntrên cơ sở đó

Nghệ thuật phục hưng chủ yếu bắt nguồn từ Italia Do sự suy yếu củachế độ phong kiến trước sự hình thành sớm yếu tố tư bản chủ nghĩa ở đây,cộng với những lợi thế về yếu tố địa lý, thuận lợi cho việc bang giao làmcông thương nghiệp phát triển

Nhitcôlô Pidanô, Đgiôvanni P, Cavalini,… và điển hình là Đgiốtto lànhững người khai phá nền nghệ thuật Phục hưng Tuy còn phần nào mangtính kịch, sự diễn đạt còn tiếp nối nghệ thuật thời trung cổ nhưng tính

“Người”, khung cảnh thiên nhiên đã bắt đầu xuất hiện và được khẳng định,làm nên tính hiện thực trong tác phẩm Cuối thế kỷ 14 đầu thế kỷ 15,Đônatelô, Môdát trô, Bốttixenli, …đã tạo nên những yếu tố căn bản của nghệthuật Phục hưng: dứt khoát từ bỏ sự rườm rà, những yếu tố quy ước để quayvề với hiện thực, với tính con người Những hình tượng khỏa thân xuất hiện,vẻ thơ mộng, kiều diễm, cá tính của con người được tô đậm Những yếu tốđó được những nghệ sỹ của cuối thế kỷ 15, thế kỷ 16 phát triển một cách

Ngày đăng: 26/05/2015, 12:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w