Rõ ràng để có thể cung cấp được một hệ thống điện toán đám mây đáp ứng những nhu cầu như vậy thì nhà cung cấp cần một cơ sở vật chất và kỹ thuật cực kỳ tối tân, và trên thực tế chỉ có nh
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay đối với các công ty, doanh nghiệp, việc quản lý hiệu quả dữ liệu riêng của công
ty cũng như dữ liệu khách hàng và đối tác là một trong những bài toán được ưu tiên hàng đâu và đang không ngừng gây khó khăn cho họ Đề quản lý được nguồn dữ liệu đó, ban đầu các doanh nghiệp phải đầu tư, tính toán rất nhiều loại chi phía như chi phí cho phần cứng, phần mềm, mạng, chi phí cho quản trị viên… Ngoài ra họ còn phải tính toán khả
Trang 2của dữ liệu.
Từ một bài toán điển hình như vậy, chúng ta thấy được rằng nếu có một nơi tin cây giúp các doanh nghiệp quản lý tốt nguồn dữ liệu đó, các doanh nghiệp sẽ không còn quan tâm đến cơ sở hạ tầng, công nghệ mà chỉ tập trung chính vào công việc kinh doanh của họ thì
sẽ mang lại cho họ hiệu quả và lợi nhuận ngày càng cao hơn
Thuật ngữ “điện toán đám mây” ra đời bắt nguồn từ một trong nhu cầu thiết yếu của còn người Điện toán đám mây còn được bắt nguồn từ ý tưởng đưa tất cả mọi thứ như dữ liệu,phần mềm… lên trên mạng Internet Chúng ta sẽ không còn trông thấy các máy PC, máy chủ riêng của các doanh nghiệp để lưu trữ dữ liệu nữa mà chỉ còn là các “máy chủ ảo” tậptrung ở trên mạng Các “máy chủ ảo” sẽ cung cấp các dịch vụ giúp cho doanh nghiệp có thể quản lý dữ liệu dễ dàng hơn, họ sẽ chỉ trả chi phí cho lượng sử dụng dịch vụ của họ,
mà không cần phải đầu tư nhiều vào cơ sở hạ tầng cũng như quan tâm nhiều đến công nghệ Xu hướng này sẽ giúp cho các công ty, doanh nghiệp vừa và nhỏ mà không có cơ
sở hạ tầng mạng, máy chủ để lưu trữ, quản lý dữ liệu tốt Hơn thế nữa, vượt ngoài phạm
vi “quản lý dữ liệu”, nếu như toàn bộ chương trình ứng dụng của doanh nghiệp được cài đặt trên hệ thống máy tính chủ đó để mọi người có thể dễ dàng truy cập sẽ tạo thuận lợi lớn cho doanh nghiệp để họ có thể tập trung vào nghiệp vụ của mình
Rõ ràng để có thể cung cấp được một hệ thống điện toán đám mây đáp ứng những nhu cầu như vậy thì nhà cung cấp cần một cơ sở vật chất và kỹ thuật cực kỳ tối tân, và trên thực tế chỉ có những hãng công nghệ lớn mới có thể đảm nhận nhiệm vụ này Amazone
và Google là một trong những hãng tiên phong phát triển điện toán đám mây và đã thu được một số thành quả nhất định Gần đây, hãng phần mềm lớn nhất thế giới Microsoft cũng đã chính thức đưa ra sản phẩm điện toán đám mây của mình: Windows Azure Platform Dù chỉ mới xuất hiện nhưng Windows Azure đã gây chú ý lớn đặc biệt là ở khảnăng xây dựng các ứng dụng với khả năng mở rộng rất mạnh mẽ và linh hoạt
Trong tiểu luận này nhằm tìm hiểu về cloud computing, từ đó đi vào việc triển khai một
mô hình cung cấp dịch vụ Cloud Computing trên nền tảng Microsoft Nắm được nền tảng
Trang 4CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY
Lịch sử phát triển hơn 30 năm của ngành công nghệ phần mềm tuy chưa phải là dài, nhưng đã chứng kiến những cuộc cách mạng mang tính nhảy vọt Một trong những thay đổi mang tính quyết định và có ý nghĩa nhiều nhất là sự thay đổi của kiến trúc phần mềm
Có thể kể đến việc chuyển từ cấu trúc Mainframe sang kiến trúc Client-server những nămcuối thập kỉ 80 của thế kỉ 20
Và đến những năm đầu của thập niên 2010 này, chúng ta lại chứng kiến một cuộc cách mạng nữa khi ngành công nghiệp phần mềm đang từng bước chuyển mình sang một kiến trúc mới: Cloud computing – điện toán đám mây
1.1 Khái niệm
Đứng ở góc nhìn khoa học kỹ thuật cũng có nhiều định nghĩa khác nhau, trong đó có hai định nghĩa của Ian Foster và Rajkumar Buyya được dùng khá phổ biến và có nhiều điểm tương đồng
Theo Ian Foster: “Cloud Computing là một mô hình điện toán phân tán có tính co giãn
lớn mà hướng theo co giãn về mặt kinh tế, là nơi chứa các sức mạnh tính toán, kho lưu trữ, các nền tảng và các dịch vụ được trực quan, ảo hóa và co giãn linh động, sẽ được phân phối theo nhu cầu cho các khách hàng bên ngoài thông qua Internet.”
Theo Rajkumar Buyya: “Cloud là một loại hệ thống phân bố và xử lý song gồm các
máy tính ảo kết nối với nhau và được cung cấp động cho người dùng như một hoặc nhiều tài nguyên đồng nhất dựa trên sự thỏa thuận dịch vụ giữa nhà cung cấp và người sử dụng.”
Trang 5Hình 1.1 Mô hình điện toán đấm mây đối với người sử dụng
Cả hai định nghĩa trên đều định nghĩa Cloud Computing là một hệ phân bố, cung cấpcác dạng tài nguyên ảo dưới dạng dịch vụ một cách linh động theo nhu cầu của người dùng trên môi trường internet
Theo Viện tiêu chuẩn và công nghệ quốc gia Bộ Thương mại Mỹ (NIST): “Điện toán
đám mây là một mô hình cho phép truy cập mạng thuận tiện, theo nhu cầu đến một kho tài nguyên điện toán dùng chung, có thể định cấu hình (ví dụ như mạng, máy chủ, lưu trữ, ứng dụng) có thể được cung cấp và thu hồi một cách nhanh chóng với yêu cầu tối thiểu về quản lý hoặc can thiệp của nhà cung cấp dịch vụ”.
Một trong những ý tưởng quan trọng nhất của điện toán đám mây là khả năng mở rộng vàcông nghệ chủ chốt là công nghệ ảo hóa Ảo hóa cho phép sử dụng tốt hơn một server bằng cách kết hợp các hệ điều hành và các ứng dụng trên một máy tính chia sẽ đơn lẻ Ảohóa cũng cho phép di trú trực tuyến (online migration) để khi một server quá tải một, mộtinstace của hệ điều hành (và các ứng dụng trên đó) có thể di trú đến một server mới, ít tải hơn
Trang 61.2 Các đặc điểm của điện toán đám mây
1.2.1 Tự phục vụ theo nhu cầu (On-demand self-service)
Khách hàng có thể tự tăng cường năng lực tính toán, ví dụ như thời gian server hay không gian lưu trữ trên network, một cách hoàn toàn tự động dựa theo nhu cầu mà không cần phải thương lượng với nhà cung cấp dịch vụ Đặc tính này thường được biết đến với tên gọi Pay-as-you-go
1.2.2 Truy xuất diện rộng (Broad network access)
Khả năng tính toán được cung cấp thông qua network và được truy cập thông qua một
cơ cấu chuẩn, mà có thể dung bằng nhiều nền tảng client khác nhau (như mobile phones, laptops, và PDA)
1.2.3 Dùng chung tài nguyên (Resource pooling)
Tài nguyên điện toán của nhà cung cấp được dùng chung để phục vụ cho nhiều khách hàng sử dụng một mô hình multi-tenant, với các tài nguyên thực và ảo hóa khác nhau được cấp phát và tái cấp phát một cách động (dynamically) tùy thuộc vào yêu cầu của khác hàng Không phụ thuộc vị trí … khách hàng về tổng quát không có quyền hay thậm chí là không có hiểu biết về vị trí chính xác của các tài nguyên được cung cấp nhưng có thể xác định vị trí của các tài nguyên cấp cao hơn (ví dụ như nước, bang, datacenter) Cáctài nguyên bao gồm không gian lưu trữ, tính toán, bộ nhớ, băng thông mạng và các máy
ảo
1.2.4 Khả năng co giãn (Rapid elasticity)
Khả năng co giãn có thể được cung cấp một cách nhanh chóng và co giãn, trong một số trường hơp là tự động, để có thể giãn ra hoặc co vào phụ thuộc vào nhu cầu người dùng Đối với khách hàng, tài nguyên hiện có được coi như như vô hạn và có thể mua với bất kì
số lượng nào vào bất kì thời gian nào
1.2.5 Điều tiết dịch vụ (Measured Service)
Các hệ thống cloud tự động điều khiển và tối ưu hóa tài nguyên sử dụng bằng cách trừu tượng hóa tương ứng với kiểu dịch vụ (lưu trữ, khả năng xử lý, băng thông, và số người
Trang 7dùng active) Tài nguyên sử dụng có thể được giám sát, điều khiển và báo cáo một cách trong suốt cho cả nhà cung cấp và khách hàng của dịch vụ đã dùng.
1.3 Mô hình dịch vụ
Có 3 mô hình hình dịch vụ cơ bản mà cloud computing đang được triển khai là Infrastucture as a Service (IssA), Platform as a Service (PaaS) và Software as a Service (SaaS)
Hình 1.2 Mô hình dịch vụ
1.3.1 Infrastructure as a Service – IaaS
Trong loại dịch vụ này, khách hàng được cung cấp những tài nguyên máy tính cơ bản (như bộ xử lý, dung lượng lưu trữ, các kết nối mạng…) Khách hàng sẽ cài hệ điều hành, triển khai ứng dụng và có thể nối các thành phần như tường lửa và bộ cân bằng tải Nhà cung cấp dịch vụ sẽ quản lý cơ sở hạ tầng cơ bản bên dưới, khách hàng sẽ phải quản lý hệđiều hành, lưu trữ, các ứng dụng triển khai trên hệ thống, các kết nối giữa các thành phần
1.3.2 Platform as a Service – PAAS
Nhà cung cấp dịch vụ sẽ cung cấp một nền tảng (platform) cho khách hàng Khách
Trang 8hàng sẽ tự phát triển ứng dụng của mình nhờ các công cụ và môi trường phát triển được cung cấp hoặc cài đặt các ứng dụng sẵn có trên nền platform đó Khách hàng không cần phải quản lý hoặc kiểm soát các cơ sở hạ tầng bên dưới bao gồm cả mạng, máy chủ, hệ điều hành, lưu trữ, các công cụ, môi trường phát triển ứng dụng nhưng quản lý các ứng dụng mình cài đặt hoặc phát triển.
1.3.3 Software as a Service - SAAS
Dịch vụ SaaS cung cấp các ưng dụng hoàn chỉnh như một dịch vụ theo yêu cầu cho nhiềukhách hàng với chỉ một phiên bản cài đặt Khách hàng lựa chọn ứng dụng phù hợp với nhu cầu và sử dụng mà không quan tâm tói hay bỏ công sức quản lý tài nguyên tính toán bên dưới
Dịch vụ SaaS nổi tiếng nhất phải kể đến Salesforce.com với các ứng dụng cho doanh nghiệp mà nổi bật nhất là CRM Các ứng dụng SaaS cho người dùng cuối phổ biến là cácứng dụng Office365 của Microsoft hay Google Docs của Google
1.4 Mô hình triển khai điện toán đám mây
1.4.1 Public Cloud
Mô hình đầu tiên được nói đến khi đề cập tới Cloud Computing chính là mô hình Public Cloud Đây là mô hình mà hạ tầng Cloud Computing được một tổ chức sỡ hữu và cung cấp dịch vụ rộng rãi cho tất cả các khách hàng thông qua hạ tầng mạng Internet hoặc các mạng công cộng diện rộng Các ứng dụng khác nhau chia sẻ chung tài nguyên tính toán, mạng và lưu trữ Do vậy, hạ tầng CC được thiết kế để đảm bảo cô lập về dữ liệu giữa các khách hàng và tách biệt về truy cập
Trang 9Hình 1.3Mô hình triển khai Public Cloud
Các dịch vụ Public Cloud hướng tới số lượng khách hàng lớn nên thường có năng lực về
hạ tầng cao, đáp ứng nhu cầu tính toán linh hoạt, đem lại chi phí thấp cho khách hàng Do
đó khách hàng của dịch vụ trên Public Cloud sẽ bao gồm tất cả các tầng lớp mà khách hàng cá nhân và doanh nghiệp nhỏ sẽ được lợi thế trong việc dễ dàng tiếp cận các ứng dụng công nghệ cao, chất lượng mà không phải đầu tư ban đầu, chi phí sử dụng thấp, linhhoạt
1.4.2 Private Cloud
Đám mây doanh nghiệp (Private Cloud) là mô hình trong đó hạ tầng đám mây được sở hữu bởi một tổ chức và phục vụ cho người dùng của tổ chức đó Private Cloud có thể được vận hành bởi một bên thứ ba và hạ tầng đám mây có thể được đặt bên trong hoặc bên ngoài tổ chức sở hữu (tại bên thứ ba kiêm vận hành hoặc thậm chí là một bên thứ tư)
Trang 10Hình 4 Mô hình triển khai private cloud
Private Cloud được các tổ chức, doanh nghiệp lớn xây dựng cho mình nhằm khai thác ưu điểm được các tổ chức, doanh nghiệp lớn xây dựng cho mình nhằm khai thác ưu điểm về công nghệ và khả năng quản trị của Cloud Computing Với Private Cloud, các doanh nghiệp tối ưu được hạ tầng IT của mình, nâng cao hiệu quả sử dụng, quản lý trong cấp phát và thu hồi tài nguyên, qua đó giảm thời gian đưa sản phẩm sản xuất, kinh doanh ra thị trường
1.4.3 Community Cloud
Đám mây chung (Community Cloud) là mô hình trong đó hạ tầng đám mây được chia sẻ bởi một số tổ chức cho cộng đồng người dùng trong các tổ chức đó Các tổ chức này do đặc thù không tiếp cận với các dịch vụ Public Cloud và chia sẻ chung một hạ tầng Cloud Computing để nâng cao hiệu quả đầu tư và sử dụng
Trang 111.4.4 Hybrid Cloud
Hybrid Cloud là sự kết hợp của Public Cloud và Private Cloud Trong đó doanh nghiệp sẽ
“out-source” các chức năng nghiệp vụ và dữ liệu không quan trọng, sử dụng các dịch vụ Public Cloud để giải quyết và xử lý các dữ liệu này Đồng thời, doanh nghiệp sẽ giữ lại các chức năng nghiệp vụ và dữ liệu tối quan trọng trong tầm kiểm soát (Private Cloud).Một khó khăn khi áp dụng mô hình Hybrid Cloud là làm sao triển khai cùng một ứng dụng trên cả hai phía Public và Private Cloud sao cho ứng dụng đó có thể kết nối, trao đổi
dữ liệu để hoạt động một cách hiệu quả
Doanh nghiệp có thể chọn để triển khai các ứng dụng trên Public, Private hay Hybrid Cloud tùy theo nhu cầu cụ thể Mỗi mô hình đều có điểm mạnh và yếu của nó Các doanhnghiệp phải cân nhắc đối với các mô hình Cloud Computing mà họ chọn Và họ có thể sửdụng nhiều mô hình để giải quyết các vấn đề khác nhau Nhu cầu về một ứng dụng có tính tạm thời có thể triển khai trên Public Cloud bởi vì nó giúp tránh việc phải mua thêm thiết bị để giải quyết một nhu cầu tạm thời Tương tự, nhu cầu về một ứng dụng thường trú hoặc một ứng dụng có những yêu cầu cụ thể về chất lượng dịch vụ hay vị trí của dữ liệu thì nên triển khai trên Private hoặc Hybrid Cloud
Trang 121.5 Kiến trúc điện toán đám mây
Hình 1.5Kiến trúc điện toán đám mây
Hạ tầng: Cơ sở hạ tầng (Infrastructure) của ĐTĐM là phần cứng được cung cấp như là
các dịch vụ, nghĩa là được chia sẻ và có thể sử dụng lại dễ dàng Các tài nguyên phần cứng được cung cấp theo thời gian cụ thể theo yêu cầu Dịch vụ kiểu này giúp cho khách hàng giảm chi phí bảo hành, chi phí sử dụng…
Lưu trữ (Storage): Lưu trữ đám mây là khái niệm tách dữ liệu khỏi quá trình xử lý và
chúng được lưu trữ ở những vị trí từ xa Lưu trữ đám mây cũng bao gồm cả các dịch vụ CSDL, ví dụ như BigTable của Google, SimpleDB của Amazon…
Trang 13Cloud Runtime: Là dịch vụ phát triển phần mềm ứng dụng và quản lý các yêu cầu phần
cứng, nhu cầu phần mềm Ví dụ nền dịch vụ như khung ứng dụng Web, web hosting…
Dịch vụ: Dịch vụ đám mây là một phần độc lập có thể kết hợp với các dịch vụ khác để
thực hiện tương tác, kết hợp giữa các máy tính với nhau để thực thi chương trình ứng dụng theo yêu cầu trên mạng ví dụ các dịch vụ hiện nay như: Simple Queue Service, Google Maps, các dịch vụ thanh toán linh hoạt trên mạng của Amazon,…
Ứng dụng: Ứng dụng đám mây (Cloud application) là một đề xuất về kiến trúc phần
mềm sẵn sàng phục vụ, nhằm loại bỏ sự cần thiết phải mua phần mềm, cài đặt, vận hành
và duy trì ứng dụng tại máy bàn/thiết bị của người sử dụng Ứng dụng đám mây loại bỏ được các chi phí để bảo trì và vận hành các chương trình ứng dụng
Hạ tầng khách hàng: (Client Infrastructure) là những yêu cầu phần mềm hoặc phần
cứng để sử dụng các dịch vụ ĐTĐM trên mạng Thiết bị cung cấp cho khách hàng có thể
là trình duyệt, máy tính để bàn, máy xách tay, điện thoại di động…
1.6 Ưu nhược điểm của điện toán đám mây
1.6.1 Ưu điểm
Điện toán đám mây cho phép truy cập dữ liệu toàn cầu Một ưu điểm nữa của điện toán đám mây là độc lập thiết bị Người dùng có thể truy cập đám mây từ bất kỳ máy tính nào hoặc từ bất kỳ thiết bị nào, miễn là thiết bị đó được kết nối với mạng Internet
1.6.2 Nhược điểm
Để truy cập được vào đám mây và sử dụng các tiện ích mà đám mây cung cấp đòi hỏi thiết bị phải được kết nối vào mạng Internet Nghĩa là nếu không kết nối với mạng, ngườidùng sẽ không thể truy cập được bất cứ thứ gì bất cứ thứ gì kể cả tài liệu của họ
Bảo mật cũng là một trong những vấn đề thách thức của điện toán đám mây
1.7 Tổng kết chương
Chương này đã trình bày những khái niệm cơ bản về điện toán đám mây, kiến trúc, thành phần, ưu nhược điểm của điện toán đám mây Chương sau sẽ đi vào công nghệ ảo hóa, nền tảng để xây dựng điện toán đám mây
Trang 14CHƯƠNG 2 CÔNG NGHỆ ẢO HÓA
2.1 Ảo hóa là gì?
Ảo hóa là một thiết kế nền tảng kỷ thuật cho tất cả các kiến trúc điện toán đám mây Điệntoán đám mây đề cập chủ yếu đến nền tảng ảo hóa Ảo hóa là công nghệ được thiết kế để tạo ra tầng trung gian giữa hệ thống phần cứng máy tính và phần mềm chạy trên nó Ảo hóa cho người dùng thấy các máy chủ, thiết bị lưu trữ, và phần cứng khác được coi là một khối tổng thể các nguồn lực hơn là các hệ thống rời rạc, do đó những nguồn tài nguyên này có thể được phân bố theo yêu cầu Trong điện toán đám mây, công nghệ ảo hóa máy chủ được quan tâm hàng đầu, ở đó một máy vật lý đơn lẻ có thể tạo thành nhiều máy ảo độc lập Mỗi một máy ảo đều có một thiết lập nguồn hệ thống riêng rẽ, hệ điều hành riêng và các ứng dụng riêng
2.2 Lợi ích của ảo hóa
Thông thường việc đầu tư cho một trung tâm công nghệ thông tin là rất tốn kém Chi phí đầu tư mua các máy chủ cấu hình mạnh và các phần mềm bản quyền là rất đắt đỏ Trong thời buổi kinh tế khó khăn hiện nay doanh nghiệp nào cũng muốn cắt giảm và hạn chế tối
đa các chi phí không cần thiết mà vẫn đáp ứng được năng suất và tính ổn định của hệ thống, thế nên việc ứng dụng ảo hóa trở thành nhu cầu cần thiết của bất kỳ doanh nghiệp lớn hay nhỏ Vì thay vì mua mười máy chủ cho mười ứng dụng thì chỉ cần mua một hoặc hai máy chủ có hỗ trợ ảo hóa thì vẫn có thể chạy tốt mười ứng dụng trên Điều này cho tathấy sự khác biệt giữa hệ thống ảo hóa và không ảo hóa Bên cạnh đó việc ứng dụng ảo hóa còn đêm lại những lợi ích sau đây
- Quản lý đơn giản: khi triển khai hệ thống ảo hóa thì số lượng máy chủ vật lý giảm
đi đáng kể và khi đó việc theo dõi và giám sát hệ thống rất dễ dàng bằng công cụ phần mềm quản trị tập trung từ xa do nhà cung cấp phần mềm ảo hóa hỗ trợ Nhà quản trị dễ dàng theo dõi tình trạng của các máy ảo và của cả hệ thống Nếu máy chủ bị trục trặc thì có thể chuyển máy ảo từ máy chủ này sang máy chủ khác, có thể nâng cấp phần cứng bằng cách gắn thêm RAM, ổ cứng một cách nhanh chóng
và đơn giản
Trang 15- Triển khai nhanh: khi triển khai hệ thống thì không cần nhất thiết phải cài đặt toàn
bộ máy ảo trên hệ thống Vì một máy ảo chỉ là một tập tin được cài đặt trên một phần vùng trên ổ cứng nên chúng ta có thể tận dụng điều này để giảm thiểu thời gian cài đặt bằng cách sao chép các tập tin này và cấu hình lại cho đúng với yêu cầu của máy ảo đang sử dụng Với cách làm này sẽ giảm thời gian cài đặt từng máy ảo và tận dụng tối đa tài nguyên nhàn rỗi của tất cả các máy chủ vật lý
- Phục hồi và lưu trữ hệ thống nhanh: Vì máy ảo chỉ là một tập tin trên ổ đĩa nên việc sao lưu rất đơn giản là sao chép lại các tập tin này
- Cân bằng tải và phân phối tài nguyên linh hoạt: Với các công cụ quản lý từ xa các máy chủ và máy ảo ta sẽ thấy được tình trạng của toàn bộ hệ thống từ đó có chính sách nâng cấp CPU, RAM, ổ cứng cho máy chủ hoặc máy ảo đó hoặc di chuyển máy ảo đang quá tải đó sang máy chủ vật lý có cấu hình mạnh hơn, có nhiều tài nguyên còn trống hơn để hoạt động
- Tiết kiệm: công nghệ ảo hóa giúp các doanh nghiệp có thể tiết kiếm được một chi phí lớn đó là điện năng chiếu sang và hệ thống làm mát Ảo hóa cho phép gom nhiều máy chủ vào một máy chủ vật lý nên chỉ tốn kem chi phí điện tiêu thụ, làm mát cho một vài máy chủ
2.3 Các loại ảo hóa
Ảo hóa được xây dựng dựa trên giải pháp chia một máy vật lý thành nhiều máy con Giải pháp này được biết đến với cái tên là Virtual Machine Monitor (VMM) sau này được biếtgọi là hypervisor VMM cho phép tạo tách rời các máy ảo và điều phối truy cập của các máy ảo này đến tài nguyên phần cứng Mặc dù cho phép sử dụng các hệ điều hành bất kỳ trên các máy ảo trong thực tế để đạt một kết quả và hiệu suất cao nhất thì các nhà sản xuất vẫn giới hạn và khuyến cáo rang nên sử dụng một số hệ điều hành nào đó Dựa vào đặc điểm cấu trúc thì có thể phân loại ảo hóa thành những dạng sau
2.3.1 VMM – Hypervisor
Công nghệ VMM-Hypervisor là một dạng ảo hóa cơ bản Nó hoạt động như là một lớp phần mềm nằm ngay trên phần cứng hoặc bên dưới một hoặc nhiều hệ điều hành khách Mục đích chính của nó là cung cấp môi trường làm việc cho các máy ảo Cho phép các máy ảo hoạt động trên một phần của phần cứng được gọi là phân vùng (partition) Các hệ