Trong nhiều năm các nhà giáo dục học nước ta đã dày công nghiên cứu và cho ra đời những giáo trình giáo dục học Đại cương rất có giá trị như: Giáo trình Giáo dục của các giáo sư Hà Thế N
Trang 1GS TSKH NGUYỄN VĂN HỘ PGS TS HÀ THỊ ĐỨC
Giáo dục học
ĐẠI CƯƠNG
TẬP MỘT
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 7
Phần thứ nhất: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA GIÁO DỤC HỌC 9
Chương I: GIÁO DỤC HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC 9
I Giáo dục là một hiện tượng đặc biệt của xã hội loài người 9
1.1 Vị trí, vai trò của giáo dục trong đời sống xã hội 9
1.2 Đặc điểm tương quan giữa giáo dục và kinh tế 12
1.3 Tính lịch sử và tính giai cấp của giáo dục 14
1.4 Chức năng xã hội của giáo dục 15
II Đối tượng và nhiệm vụ của giáo dục học 16
2.1 Đối tượng của giáo dục học 16
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của giáo dục học 16
2.3 Hệ thống các khoa học về giáo dục, mối quan hệ giữ giáo dục học với các khoa học khác 17
2.4 Một số khái niệm cơ bản của giáo dục học 19
III Các phương pháp nghiên cứu giáo dục học 20
3.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận 21
3.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn 21
Chương II SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CÁC TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC .24
I Tư tưởng giáo dục trong thời cổ đại 24
1.1 Giáo dục trong xã hội cộng sản nguyên thủy 24
1.2 Giáo dục trong xã hội chiếm hữu nô lệ 24
II Tư tưởng giáo dục thời trung đại và cận đại 30
2.1 Vài nét về tư tưởng giáo dục trong xã hội phong kiến 30
2.2 Giáo dục trong thời văn hóa phục hưng 30
2.3 Một số nhà giáo dục tiêu biểu trong thời tiền tư bản chủ nghĩa 31
III Xu thế phát triển của giáo dục hiện nay 32
Chương III: GIÁO DỤC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH 34
I Sự phát triển nhân cách của con người 34
1.1 Khái niệm con người, nhân cách trong giáo dục 34
1.2 Sự hình thành và phát triển của nhân cách 36
II Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách 37
2.1 Vai trò của di truyền 37
2.2 Ảnh hưởng của môi trường đối với sự phát triển nhân cách 38
Trang 32.3 Giáo dục và sự phát triển nhân cách 39
2.4 Hoạt động – nhân tố quyết định trực tiếp sự hình thành, phát triển nhân cách 40 III Giáo dục và các giai đoạn phát triển của nhân cách của học sinh 42
3.1 Sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em trước tuổi học ở trường phổ thông 43
3.2 Sự phát triển nhân cách của học sinh tiểu học và trung học cơ sở 44
Chương IV NGUYÊN LÝ GIÁO DỤC 47
I Khái niệm về nguyên lý giáo dục 47
II Cơ sở khoa học và thực tiễn của nguyên lý giáo dục .47
1 Tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin và của Đảng ta về nguyên lý giáo dục .47
2 Cơ sở thực tiễn của nguyên lý giáo dục 50
III Nội dung nguyên lý giáo dục 53
1.1 Học đi đối với hành: 53
1.2 Giáo dục kết hợp với hoạt động sản xuất 53
1.3 Nhà trường gắn liền với đời sống xã hội 54
IV Những biện pháp thực hiện nguyên lý giáo dục 55
Chương V MỤC ĐÍCH VÀ CÁC NHIỆM VỤ GIÁO DỤC 57
I Mục đích và mục tiêu giáo dục 57
1.1 Mục đích giáo dục 57
1.2 Mục tiêu giáo dục và đào tạo .59
1.3 Mối quan hệ giữa mục đích và thực tiêu giáo dục: 61
II Các nhiệm vụ giáo dục 61
2.1.Giáo dục trí tuệ cho học sinh (nhiệm vụ trí dục) 62
2.2.Giáo dục đạo đức và ý thức công dân cho học sinh (nhiệm vụ đức dục) 62
2.3 Giáo dục lao động và hướng nghiệp cho học sinh 63
2.4 Giáo dục thể chất và giáo dục quốc phòng cho học sinh 64
2.5 Giáo dục thẩm mĩ cho học sinh 65
Chương VI HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN 66
I Khái niệm về ức thông giáo dục quốc dân (HTGDQD) 66
II Những cơ sở xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân 67
III Cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam 71
Chương VII NGHỀ DẠY HỌC 82
I Những đặc điểm cơ bản của nghề dạy học .82
1 Mục đích của nghề dạy học 82
2 Đối tượng của nghề dạy học 82
3 Công cụ lao động của nghề dạy học 82
4 Sản phẩm của nghề dạy học .83
5 Thời gian và không gian lao động sư phạm .83
Trang 46 Hệ thống những kỹ năng đảm bảo cho hoạt động giáo dục của người giáo viên
đạt hiệu quả: 83
II Đặc điểm nhân cách của người giáo viên 84
III Hoạt động và nhân cách của học sinh PTTH: 89
1 Đặc tính chung trong hoạt động của học sinh PTTH: 89
2 Đặc tính chung về nhân cách của học sinh PTTH 90
Phần thứ hai: LÝ LUẬN DẠY HỌC 94
Chương IX: QUÁ TRÌNH DẠY HỌC 94
I Khái niệm về lý luận dạy học 94
II KHÁI NIỆM CHUNG VỀ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC 95
1 Dạy học và ý nghĩa của nó .95
2 Nhiệm vụ dạy học 96
3 Các nhiệm vụ dạy học cụ thể .100
4 Khái niệm về quá trình dạy học .102
5 Quy luật cơ bản của QTDH 108
6 Bản chất của quá trình dạy học .114
7 Các yếu tố tạo nên quá trình dạy học và mối quan hệ giữa chúng 118
8 Động lực của QTDH 120
9 Logíc của QTDH 123
Chương IX NGUYÊN TẮC DẠY HỌC 131
I Khái niệm về nguyên tắc dạy học 131
1 Khái niệm .131
2 Các nguyên tắc dạy học được xây dựng dựa trên những cơ sở sau: 131
II Hệ thống các nguyên tắc dạy học cụ thể .132
1 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục trong dạy học .132
2 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn dạy học .133
3 Đảm bảo sự thống nhất giữa cái cụ thể và cái trừu tượng trong dạy học .134
4 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính vững chắc 135
5 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất 136
6 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính hệ thống và tính tuần tự trong dạy học .138
7 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò tự giác, tích cực, độc lập của học sinh và vai trò chủ đạo của thầy trong dạy học 139
Chương X NỘI DUNG DẠY HỌC 143
I Cấu trúc của nội dung dạy học 143
II Các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo việc xây dựng nội dung dạy học 148
Trang 5III Kế hoạch dạy học, chương trình dạy học, sách giáo khoa và các tài liệu dạy học
khác .151
I Khái niệm về phương pháp: 154
II Phân loại các phương pháp khoa học 156
III Khái niệm về phương pháp dạy học 159
1.1 Phương pháp dạy học là gì? 159
1.2 Phương pháp dạy học có các đặc điểm cơ bản sau: 160
IV Phân lọai các phương pháp dạy học 165
V Các phương pháp dạy học truyền thống 169
1 Các phương pháp dạy học dùng lời 169
2 Các phương pháp dạy học trực quan 178
3 Các phương pháp dạy học thực tiễn 182
4 Các phương pháp kiểm tra và đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo 188
VI Một số phương pháp dạy học mới trong quá trình dạy học hiện nay .193
1 Phương pháp nghiên cứu 194
2 Dạy học chương trình hóa 195
3 Phương pháp Algôrit trong dạy học 200
VII Kết luận về phương pháp dạy học 202
Chương XII PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC 204
I Ý nghĩa của phương tiện dạy học 204
II Các phương tiện dạy học phổ biến được sử dụng trong nhà trường phổ thông hiện nay 206
III Yêu cầu về mặt cấu trúc của các phương tiện dạy học 208
I Khái niệm về hình thức tổ chức dạy học 210
1 Khái niệm: 210
2 Một số mô hình tổ chức bài học 210
II Những hình thức tổ chức dạy học trong nhà trường phổ thông .213
1 Hình thức bài học 213
2 Những ưu, nhược điểm của hình thức bài học: 214
3 Phân loại bài học .215
4 Cấu trúc bài học 216
5 Cấu trúc của các lợi bài học và các phương án kết hợp các yếu tố tạo nên bài học 222
6 Những yêu cầu đối với bài học 226
7 Chuẩn bị lên lớp 227
8 Những công việc nêu trên đước sắp xếp theo quy trình bao gồm các bước cụ thể sau 229
III – Những hình thức tổ chức dạy học khác 231
1 Hình thức học ở nhà (tự học) 231
Trang 62 Hình thức thảo luận và hình thức xêmina 233
3 Hình thức dạy học theo nhóm .235
4 Hình thức giúp đỡ riêng (phụ đạo) 237
5 Hình thức hoạt động ngoại khóa trong dạy học 237
SÁCH THAM KHẢO 240
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
Khoa học giáo dục với tư cách là khoa học nghiên cứu nhằm phát hiện những quy luật và tính quy luật của các quá trình hình thành nhân cách bao gồm trong nó nhiều chuyên ngành ứng với các góc độ khác nhau của sự phát triển cá nhân dưới ảnh hưởng của giáo dục Giáo dục học đại cương là một trong nhiều ngành đó, nó xem xét, tìm hiểu quá trình giáo dục trên bình diện tổng quát nhất Những kết quả do giáo dục học đại cương mang lại sẽ là chỗ dựa cho các chuyên ngành giáo dục học khác cả trên phương diện định hướng chung và những vấn
đề cụ thể
Trong nhiều năm các nhà giáo dục học nước ta đã dày công nghiên cứu và cho ra đời những giáo trình giáo dục học Đại cương rất có giá trị như: Giáo trình Giáo dục của các giáo sư Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt, Lê Khánh Bằng, Vũ Ngọc Quang, Phạm Viết Vượng… những giáo trình này đã phản ánh khá đầy
đủ, sâu sắc thành tựu phát triển giáo dục và khoa học giáo dục mỗi giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, phù hợp với từng bậc học (Đại học Sư phạm, Cao đẳng Sư phạm), đã góp phần tích cực và việc cung cấp một hệ thống kiến thức giáo dục tổng thể cho nhiều hệ của thầy giáo, cô giáo trong cả nước Nối tiếp những kết quả nghiên cứu cảu các tác giả đi trước, trên cơ sở tiếp thi có chọn lọc những luận điểm khoa học được đề cập tới trong các cuốn giáo dục của Việt Nam và nước ngoài, dựa trên những đòi hỏi thực tiễn của đất nước trong giai đoạn hiện nay, xu thế phát triển của hoạt động giáo dục trên thế giới, chúng tôi đã cố gắng biên soạn cuốn Giáo dục học Đại cương nhằm phục vụ cho nhu cầu đào tạo giáo viên trong gian đoạn hiện nay
Để biên soạn giáo trình học đại cương lần này, chúng tôi đã dựa trên các quan điểm tiếp cận lịch sử, tiếp cận thực tiễn và tiếp cận hoạt động, trong đó lấy quan điểm hoạt động làm nồng cốt để xây dựng hệ thống kiến thức trong tất cả các chương mục của cuốn sách
Trong nội dung cuốn giáo trình, ngoài những phần đã quen biết trong cấu trúc của giáo trình Giáo dục học, chúng tôi đã đi sâu vào phần trọng yếu nhất của hoạt động giáo dục và của nhà trường là hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp)
Giáo trình nhằm phục vụ chủ yếu cho việc giảng dạy và học tập của giáo viên cao học thạc sĩ theo các chuyên ngành giáo dục
7
Trang 8Trong quá trình biên soạn, chúng tôi đã cố gắng hết sức mình và học hỏi nhiều ở các tác giả đi trước cũng như các bạn đồng nghiệp, song không thể không tránh khỏi những sơ suất cả về nội dung và hình thức Chúng tôi rất mong
có sự góp ý của đông đảo bạn đọc khi tiếp cận với cuốn sách Chúng tôi xin chân thành cảm ơn
TÁC GIẢ
8
Trang 9PHẦN THỨ NHẤT
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA GIÁO DỤC HỌC Chương I: GIÁO DỤC HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC
I Giáo dục là một hiện tượng đặc biệt của xã hội loài người
1.1 Vị trí, vai trò của giáo dục trong đời sống xã hội
- Giáo dục là một hiện tượng xã hội, trong đó một tập hợp xã hội (nhóm) đã tích lũy được một vốn kinh nghiệm nhất định truyền đạt lại cho một nhóm xã hội khác nhằm giúp họ tham gia vào đời sống xã hội, giúp họ hiểu biết các chuẩn mức, khuôn mẫu, giá trị xã hội để trở thành những nhân cách phù hợp với sự đòi hỏi của lợi ích xã hội Đây chính là nét đặc trưng cơ bản của giáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội
Kinh nghiệm xã hội được hiểu là những tri thức về các quy luật vận động
và phát triển của tự nhiên, xã hội, tư duy, những kỹ năng, kỹ xải hoạt động thực tiễn, các chuẩn mực về đạo đức, lối sống, văn hóa, truyền thống v.v…
Trên cơ sở của sự lĩnh hội kinh nghiệm xã hội, mỗi cac nhân sẽ nhào nặn lại theo cách của riêng mình để trở thành một nhân cách, tương ứng với những đòi hỏi của cộng đồng xã hội, của mỗi hình thái phát triển kinh tế - xã hội nhất định
- Trong hệ thống xã hội, giáo dục là một trong 5 thiết chế đáp ứng nhu cầu
cơ bản của xã hội về mặt phát triển Thế hệ trẻ mới sinh ra, một mặt kế thừa những đặc điểm sinh học của loài (di truyền) vốn đã tồn tại ngay trong quá trình hình thành và phát triển bào thai, mặt kahsc, và mặt này chỉ khi đứa trẻ ra đời nó mới được tạo lập, đó là sự kế thừa các di sản xã hội mà thế hệ trước để lại Con người về mặt bản chất khác với thế giới loài vật chính là ở đặc trưng kế thừa xã hội Quá trình kế thừa xã hội được thực hiện trong hoạt động giáo dục (tự phát hoặc tự giác), nhờ đó mà mỗi cá nhân có thể tiếp thu những kinh nghiệm sống nhằm thích ứng với sự biến đổi của môi trường xung quanh, đặc biệt là môi trường xã hội Những mối quan hệ giữa con người với con người nảy sinh trong hoạt động sống của mỗi cá nhân đặt trước học phải có khả năng nhận biết, nắm vững, cải biến những quan hệ có tinh quy luật này để bản thân có thể tồn tại và phát triển Hướng dẫn thế hệ trẻ có được khả năng hội nhập một cách chủ động với những quy luật xã hội được hiện trong quá trình giáo dục, và chính những sản phẩm do giáo dục tạo bên (những nhân cách sống) lại đến lượt mình phục vụ
9
Trang 10cho sự tồn vong phát triển Jacques Delors (1996) đã viết “ý kiến càng phổ biến cho rằng sự đóng góp cho xã hội loài người mà có trong tay để nhào nặn nên tương lai” (Giáo dục cho ngày mai - Tài liệu tổng kết nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập UNESRO) - Người đưa tin UNECO, tháng 4/1996
* Yếu tố tự phát và tự giác trong hoạt động giáo dục:
Hoạt động giáo dục tồn tại trong mọi giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội, song hoạt động giáo dục tồn tại theo hai cớ chế, đó là cơ chế tự phát và cơ chế tự giác
Hoạt động truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm là một trong những mối quan
hệ tương tác giữa con người với con người, tồn tại rất đa dạng, phong phú Nếu dựa trên phương thức truyền đạt và lĩnh hội, chúng ta có thể phân thành 2 dạng ứng với 2 cơ chế hoạt động giáo dục Dạng thứ nhất, kinh nghiệm được truyền đạt và lĩnh hội một cách ngẫu nhiên, (người cần truyền đạt và người cần lĩnh hội) Hoạt động giáo dục theo dạng này thường xuyên xuất hiện một cách tự nhiên mà không tiân thủ theo một dự kiễn đã được hoạch định Nó giải quyết những nhu cầu trước mắt của mỗi cá nhân và có thể cho cả cộng động (người cổ xưa đi săn thú, kèm theo những đứa trẻ nhỏ - con trai, việc truyền thụ kinh nghiệm của người cho trẻ với mục đích là giúp trẻ có được các tri thức và những
kỷ năng, thao tác cần thiết để săn bắt được con thú và tránh được những nguy hiểm Những đứa trẻ tiếp thu những kinh nghiệm săn bắt do người lớn dạy bảo
để tồn tại, góp phần làm phong phú thêm của cải cho cộng đồng và qua đó mà tích cóp dần, hình thành những kinh nghiệm sống cho bản thân)
Hoạt động giáo dục theo cơ chế tự phát có một số đặc trưng cơ bản là:
- Mục đích hoạt động chủ yếu thông qua việc truyền đạt lĩnh hội kinh nghiệm trực tiếp, đơn lẻ, thiếu tính kế hoạch và hệ thống
- Kết quả đạt được do hoạt động giáo dục theo cơ chế tự phát mang lại là rất hạn chế cả về số lượng và chất lượng, và để đạt được kết quả đó, con người phải tiêu tốn một lượng thời gian khá lớn
- Đối tượng giáo dục khi lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo chủ yếu đi theo con đường bắt chước, học thuộc, điều đó tạo ra những con người thụ động, bảo thủ, kém tính sáng tạo
Hoạt động giáo dục thực hiện theo con đường tự phát bắt nguồn từ phương thức sản xuất lạc hậu của những xã hội trước đây (xã hội cộng sản nguyên thủy,
xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến), một nền sản xuất chủ yếu dựa trên sức lực của cơ bắp, lực lượng sản xuất giản đơn, sản phẩm tạo ra theo con đường
10
Trang 11đơn chiếc, khối lượng tri thức khoa học của nhân loại gia tăng thêm chưa nhiều, hàm lượng trí tụê chứa đựng trong mỗi sản phẩm là không đáng kể v.v… Mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng tồn tại thông qua lao động bằng con đường trực tiếp và thâm nhập vào đối tượng, dưới sự chỉ dẫn của thế hệ đi trước và những cá nhân khác có kinh nghiệm hơn Có thể nói hoạt động giáo dục được sản sinh từ những điều kiện cụ thể xã hội, có sự phù hợp ở mức độ đòi hỏi và xã hội đó
Ngày nay, với sự hiện diện của nền kinh tế công nghiệp, kinh tế tri thức khoa học, công nghệ đã tạo ra hệ thống sản xuất xã hội có kỹ thuật và kỹ năng rất phức tạp, đa dạng, làm nảy sinh nhu cầu chuẩn bị cho toàn bộ thế hệ trẻ khả năng tham gia vào sự phát triển đó của sản xuất cũng như giúp họ thích ứng nhanh chóng với sự biến đổi không ngừng, mau lẹ của đời sống xã hội Để làm được việc này hoạt động giáo dục đa cấp, đa ngành với những mục đích, nội dung, phương pháp và hệ thống tổ chức đào tạo thích hợp với từng loại đối tượng, từng khối lượng thời gian Giáo dục thực thi chức năng này trong xã hội hiện đại được thừa nhận là tổ chức chủ yếu của quá trình xã hội hóa cá nhân Giáo dục không chỉ cung cấp cho thế hệ trẻ là hệ thống tri thức, kỹ năng cần thiết của các loại hình hoạt động hiện có trong xã hội với tư cách là bộ máy trọng yếu nhất trong tạo nguồn nhân lực, giáo dục còn giúp cho thế hệ trẻ có được một nhân cách hoàn chỉnh về tình cảm, đạo đức, về sự hiểu biết các chuẩn mực, giá trị xã hội để họ có thể sống hòa nhập với cộng đồng
Như vậy, giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt của lòai người, một
hiện tượng có mục đích mà chỉ xã hội loài người mới có Các hiện tượng giáo dục đó được nảy sinh ngay từ khi có xã hội loài người và là nhu cầu cấp thiết
của sự phát triển xã hội Nhờ đó, các thế hệ sau chiếm lĩnh những kinh nghiệm, những tri thức giúp học có thể tham gia tích cực vào mọi hoạt động trong cuộc sống và lĩnh vực hoạt động khác, làm cho xã hội loài người luôn tồn tại và phát triển không ngừng
Nét đặc trưng cơ bản của giáo dục là : thế hệ trước truyền đạt lại những
kinh nghiệm sống cho thế hệ sau để họ tham gia vào đời sồn xã hội Các thế hệ
sau tiếp thhu, lĩnh hội những kinh nghiệm sống mà thế hệ trước truyền lại, đồng
thời họ lại làm phong phú hơn những kinh nghiệm sống đó Những kinh nghiệm
xã hội bao gồm: các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cùng những giá trị văn hóa xã hội như các chuẩn mực về đạo đức, niềm tin, hành vi, thói quen, các dạng hoạt động giao lưu của con người trong xã hội mà từ đó các cá thể dần dần trở thành nhanh cách Nhờ đó, giáo dục làm cho nhân cách con người được phát triển ngày càng đầy đủ, phong phú, đa dạng và hoàn thiện hơn Đó là chức năng của giáo dục, nó
11
Trang 12là phương tiện quan trọng nhằm “táo sản xuất nhân cách”, tái sản xuất những sức mạnh tinh thần, bồi dưỡng, những năng lực và phẩm chất tốt đẹp để mỗi cá nhân tồn tại, phát triển và tự khẳng định mình
1.2 Đặc điểm tương quan giữa giáo dục và kinh tế
Tính tất yếu và mối quan hệ giữa giáo dục và kinh tế
- Mác chỉ rõ: “Giáo dục nói chung phụ thuộc vào điều kiện sống” (Toàn tập, T.6, tr.591.Pyc) điều đó có nghĩa là: giáo dục phụ thuộc vào trình độ sản xuất của sức sản xuất, của tình trạng phân công lao động xã hội, của các mối quan hệ giai cấp và những vấn đề khác của chính trị, pháp quyền Tuy nhiên cũng cần phải nhìn thấy sự tác động trở lại của giáo dục đối với kinh tế
Một nền kinh tế chỉ trở nên vững mạnh và tăng tiến liên tục, nếu nó chứa đựng một hệ thống giáo dục có đường lối chính sách, cơ chế tiến bộ, phát triển cân đối về số lượng và chất lượng Ngược lại, giáo dục muốn phát triển theo xu hướng tiến bộ lại cần có chỗ dựa và được sự hỗ trợ của một nền kinh tế vững mạnh, có nền sản xuất hiện đại, tiên tiến
- Cần lưu ý rằng mối quan hệ giữa giáo dục và kinh tế luôn được sự gìn giữ, bảo vệ, định hướng và kiểm soát của thể chế chính trị, pháp quyên, của văn hóa xã hội
- Đặc biệt không nên tuyệt đối hóa mặt này hay mặt kia của mối liên hệ, giữa giáo dục và kinh tế Nhấn mạnh một chiều tác động của kinh tế giáo dục, hạ thấp tính độc lập tương đối của hoạt động giáo dục sẽ không khai thác được sức mạnh năng động của giáo dục đối với sự tiến bộ của kinh tế, còn nếu thổi phồng tác dụng của giáo dục đối với kinh tế, cho đó là yếu tố quyết định, có vai trò chủ yếu với hoạt động kinh tế mà coi nhẹ các nhân tố khác là sai lầm
Tính tiếp nối liên tục và phân đoạn trong khoảng thời gian
- Hoạt động của kinh tế và giáo dục diễn ra liên tục và đan kết vào nhau Mỗi kế hoạch phát triển kinh tế (tổng thể hay bộ phân) và kế hoạch phát triển giáo dục (cả hệ thống trong từng ngành) đều phải tính tới các thành quả trước đó
và định liệu cho thời gian tương lai theo phân đoạn trên những khoảng thời gian dài Tính chất này được quy định bởi đặc thù của hoạt động sư phạm: cái đi vào
hệ thống giáo dục hôm nay (học sinh) chịu sự chi phối của những điều kiện kinh
tế hiện tại, nhưng phải sau hàng chục năm nữa mới tham gia vào đời sống kinh
tế xã hội (người hoạt động )
12
Trang 13- Khi lập kế hoạch giáo dục vừa phải phù hợp với khả năng hiện tại của nền phát triển, vừa phải có tính tới nhu cầu phát triển kinh tế (đặc biệt là sự phân công lao động) của tương lai
- Về phía kinh tế, việc bỏ vốn đầu tư cho giáo dục cần xét dưới góc độ phục
vụ cho sự phát triển giáo dục của hiện tại (và đó cũng chính là phục vụ đời sống văn hóa, tinh thần cho xã hội ), đồng thời đó cũng chính là đầu tư cho chính sự phát triển kinh tế theo chiều sâu
- Để xách định được quy mô và nhịp độ phát triển giáo dục phù hợp với trạng thái kinh tế trong hiện tại và tương lai, cần tập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế giáo dục (cơ sở khoa học quy hoạch này là những dự báo về phát triển kinh tế, phát triển dân số và các vấn đề xã hội, xu hướng phát triển của ngành hệ thống giáo dục và từng phân hệ trong hệ thống)
* Tính đa dạng và tương quan kinh tế giáo dục
- Tương quan kinh tế giáo dục là một trong những mối tương quan của giáo dục với toàn bộ đời sống xã hội, ngoài mối liên hệ với kinh tế giáo dục còn có các chức năng chính trị, xã hội ; tư tưởng – văn hóa; ngược lại, kinh tế bên cạnh mục tiêu phục vụ đời sống tinh thần còn phải phục vụ các nhu cầu về đời sống vật chất và các nhu cầu đa dạng khác của xã hội Tuy nhiên, trong bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội thì chức năng kinh tế của giáo dục cần được coi là chức năng then chốt…… đã từng chỉ rõ: “Thực chất của bước quá độ từ xã hội tư bản lên xã hội chủ nghĩa lại là ở chỗ các nhiệm vụ chính trị giữ một địa vị phụ thuộc
so với nhiệm vụ kinh tế”(K.Marx F.Enges, V.Lênin, I.Stalin Bàn về giáo dục tr.2) Sự phụ thuộc ở đây chỉ rõ giáo dục muốn phục vụ đắc lực cho chính quyền
vô sản, thì mục đích của nó phải được định hướng cho sự phát triển kinh tế của đất nước
- Xác định chức năng kinh tế của giáo dục có tính then chốt trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, song không thể lạm dụng vào hoạt động giáo dục những mục tiêu kinh tế đơn thuần Mỗi hoạt động giáo dục đều có chứa đựng những nội dung kinh tế nhất định, nhưng trường học là nơi đào tạo chứ không phải là
cơ sở kinh doanh sản xuất (Trong cơ chế thị trường, có những tiểu hệ thống giáo dục được bao cấp ở mức độ cần thiết, có những loại hình đào tạo cần được
xã hội hóa, huy động tiềm năng trong xã hội, song nhiệm vụ chính yếu của nó,
dù dưới hình thức nào cũng là tạo nên những nhân cách cho xã hội, đó chính là tiền của, là tiềm năng tạo ra vật chất)
* Tính kinh tế sản xuất trong tương quan kinh tế giáo dục
13
Trang 14- Tương quan kinh tế - giáo dục cần xét tới những đặc thù kinh tế sản xuất của ngành giáo dục Nó là một ngành sản xuất đặc biệt của nền kinh tế quốc dân, thành phẩm của giáo dục tuy không phải là vật phẩm hàng hóa mang ra trao đổi, nhưng nó sẽ có mặt và tham gian vào mọi hoạt động của quá trình sản xuất và chính nó cũng được tạo nên theo một quy trình công nghệ đặc biệt
- Hoạt động đào tạo ở các cơ sở giáo dục phải đảm bảo về kinh tế - kỹ thuật theo tính chất của một quá trình sản xuất tương ứng với nó là các yếu tố đảm bảo quy trình đào tạo: người dạy, người học, nội dung, chương trình, cơ sở vật chất, tổ chức quản lý, kiểm tra giám sát v.v…
Có thể nói trong các giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội loài người, khi các phương thức sản xuất xã hội đổi sẽ kéo theo hàng lọat những biến đổi về tư tưởng, chính trị, về cấu trúc xã hội, về lối sống văn hóa, thẩm mỹ, v.v… Trong lĩnh vực giáo dục, môi trường xã hội, điều kiện kinh tế, văn hóa, … ảnh hưởng sâu sắc tới mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, hình thức giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu của đời sống xã hội Đó là tính quy định của môi trường kinh tế - chính trị -
xã hội đối với hoạt động giáo dục, trong đó các lực lượng giáo dục và người
giáo dục là hai nhân tố đặc trưng cơ bản nhất Mối quan hệ tương tác giữa các
tác nhân: môi trường, nhà giáo dục – đối tượng giáo dục phản ẩnh tính quy luật phổ biến, khách quan quá trình giáo dục
1.3 Tính lịch sử và tính giai cấp của giáo dục
Lịch sử phát triển của giáo dục và nhà trường cho thấy rằng, trong các giai đoạn phát triển khác nhay của lịch sử xã hội loài người, cùng với sự đổi thay của
cơ cấu tổ chức xã hội, sự thăng trầm về chính trị, kinh tế, văn hóa của mỗi quốc gia, sự nghiệp giáo dục đều có những thay đổi, chuyển hướng và những cải cách, đổi mới về mục tiêu, nội dung, hình thức cho phù hợp với yêu cầu của xã hội, của thời đại mới Vì vậy giáo dục luôn là một phạm trù lịch sử, mang tính lịch sử rõ nét
Trong xã hội giai cấp, giáo dục mang tính giai cấp đậm nét Tính giai cấp giáo dục cũng là một quy luật khách quan trong quá trình phát triển của hệ thống giáo dục – đào tạo Tính quy luật này đã quy định bản chất giáo dục, bởi lẽ giáo dục luôn là phương thức đấu tranh giai cấp, nhà trường là công cụ của chuyên chính giai cấp và hoạt động giáo dục – đào tạo tồn tại như là môi trường, là phương tiện đấu tranh và bảo vệ quyền lợi của một giai cấp trong xã hội
Trong xã hội có giai cấp đối kháng, không thể có một nền giáo dục trung lập, đứng ngoài hoặc đứng trên cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội, không thể
có một nền giáo dục thoát ly mọi hệ tư tưởng của giai cấp Hiện nay, trong thời
14
Trang 15kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tính giai cấp của giáo dục được phản ảnh đậm nét trong các văn kiện Đại hội Đảng, trong các chỉ thị, nghị quyết của Nhà nước, trong Luật giáo dục về mục đích, mục tiêu giáo dục trong thời kỳ đổi mới nhằm thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục hướng tới việc phát triển toàn diện, hài hòa nhân cách của mọi thành viên trong xã hội nói chung, thế hệ trẻ Việt Nam nói riêng
1.4 Chức năng xã hội của giáo dục
Chức năng xã hội của giáo dục là những tác động tích cực của hoạt động giáo dục đối với các quá trình xã hội về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, v.v…
Trong xã hội chúng ta hiện nay, các chức năng xã hội của giáo dục thường được phân chia thành 3 loại như sau:
a Chức năng kinh tế sản xuất :
Theo K.Marx, sức lao động của con người chỉ tồn tại trong nhân cách sống của người đó Như vậy, để cải tạo cái bản thể tự nhiên chung của con người, giúp họ có được những kỹ năng, kỹ xảo về một lĩnh vự lao động nào đó thì cần phải có sự huấn luyện, đào tạo, nghĩa là họ phải được giáo dục Như vậy, giáo dục đã tái tạo sản xuất sức lao động xã hội, đã tạo ra sức lao động mới có hiệu quả cao hơn, thay thế sức lao động cũ bằng cách phát huy những năng lực chung
và năng lực chuyên biệt của từng cá nhân Theo ý nghĩa đó, giáo dục đã tạo ra một năng suất lao động ngày càng cao hơn, thúc đẩy nền kinh tế sản xuất xã hội ngày càng phát triển
b Chức năng chính trị - xã hội
Giáo dục có vai trò chủ đạo trong việc hình thành, phát triển nhân cách con người Với các hình thức giáo dục phong phúc và đa dạng, nhà giáo dục cung cấp cho người giáo dục hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực phẩm chất, nhân cách, hình thành thái độ, niềm tin và các chuẩn mực xã hội cùng các dạng hoạt động giao lưu… Như vậy, giáo dục đã có tác động sâu sắc tới các mối quan hệ xã hội, tới sự phân chia các nhóm, các tổ chức, các giai tầng
xã hội Nói cách khác, ở bất kỳ một chế độ chính trị xã hội nào, nhỡ có sự tác động to lớn của giáo dục tới việc hình thành, phát triển nhân cách của con người
mà tác động tới cấu trúc của xã hội, ảnh hưởng sâu sắc tới chế độ chính trị của một quốc gia, một dân tộc
c Chức năng tư tưởng – văn hóa
15
Trang 16Với mục tiêu: nâng cao dân trí, bòi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài, giáo dục góp phần to lớn trong việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ văn hóa, trình độ học vấn cho mọi người, nâng cao trình độ học vấn cho toàn xã hội Giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc giáo dục tư tưởng, đạo đức, phát hiện, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Lịch sử đã chứng minh rằng, ở mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, các nhà văn hóa, các nhà tư tưởng lớn đều được đào tạo, bồi dưỡng qua hệ thống giáo dục trong các loại hình trường
Nói tóm lại, giáo dục thực hiện trong các chức năng xã hội của mình như là một công cụ, phương tiện để sản xuất sức lao động xã hội, cải biến cấu trúc xã hội, xây dựng nền văn hóa và hệ tư tưởng cho xã hội Có như vậy, giáo dục mới đáp ứng được những đòi hỏi về sự phát triển của những hình thái kinh tế xã hội,
về các quan hệ xã hội, các lực lượng sản xuất, các hình thái ý thức xã hội khác,… Giáo dục cung góp phần làm thỏa mã những nhu cầu cơ bản của con người: nhu cầu được học hành, được lao động sáng tạo, được phát triển và hoàn thiện nhân cách Có thể nói, giáo dục là một phúc lợi cơ bản, là đời sống tinh thần, là hạnh phúc và niềm to lớn của mỗi thành viên trong xã hội
II Đối tượng và nhiệm vụ của giáo dục học
Kể từ khi giáo dục học thực sự trở thành một lĩnh hội khoa học độc lập, một khoa học về sự giáo dục, đào tạo con người, về quá trình hình thành và phát triển nhân cách thì cũng là lúc giáo dục học có đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu
cụ thể, có hệ thống các khái niệm, các phạm trù cơ bản và các phương tiện nghiên cứu của nó
2.1 Đối tượng của giáo dục học
Đối tượng nghiên cứu của giáo dục học là quá trình giáo dục Quá trình giáo dục trước hết cần được hiểu một cách khái quát là một quá trình xã hội được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch, hướng vào việc truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội nhằm hình thành và phát triển nhân cách theo những mục đích và điều kiện do xã hội quy định ở những giai đoạn lịch sử nhất định
Đó là quá trình tổ chức, điều khiển các hoại hình hoạt động, giao lưu phong phú và đa dạng của nhà giáo dục đối với người được giáo dục, giúp họ chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội, những giá trị văn hóa của nhân loại
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của giáo dục học
Giáo dục học, với tư cách là một khoa học có các nhiệm vụ cơ bản sau:
16
Trang 17- Nghiên cứu mục tiêu chiến lược và xu thế phát triển của giáo dục – đào tạo trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội Mục tiêu chiến lược của giáo dục là cái đích mà nền giáo dục của một quốc gia cần hướng tới trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định Xu hương phát triển của giáo dục là những định hưỡng lớn mà sự nghiệp giáo dục của một quốc gia, một khu vực hay toàn cầu đang hướng tới: Giáo dục nhân văn, giáo dục hòa nhập, giáo dục cộng đồng, giáo dục tiếp tục, giáo dục thường xuyên, nhà trường hiện đại,… đã đang là những xu thế phát triển của giáo dục và đang được các nhà khoa học sư phạm quan tâm nghiên cứu trong giáo dục hiện đại ngày nay;
- Nghiên cứu các quy luật và tính quy luật của các quá trình giáo dục như quy luật hình thành phát triển nhân cách và các quy luật phản ánh mối quan hệ tương tác giữa hoạt động dạy học, giáo dục với môi trường kinh tế, chính trị, xã hội, với sự phát triển như vũ bão của khoa học, kỹ thuật, công nghệ,…;
- Nghiên cứu cấu trúc của quá trình giáo dục theo ngững tiếp cận khác nhau
để xây dựng những giải pháp tác động có cơ sở lý luận và thực tiễn đối với từng thành tố cấu trúc trong hệ thông giáo dục nhằm đặt hiệu quả giáo dục tối ưu trong những hoàn cảnh và điều kiện xã hội nhất định
2.3 Hệ thống các khoa học về giáo dục, mối quan hệ giữ giáo dục học với các khoa học khác
Trải qua một thời kỳ phát triển lâu dài, giáo dục học đã tự phân chia thành các chuyên ngành khoa học riêng biệt tạo thành một hệ thống khoa học giáo dục hoàn chỉnh Sự phân chia này được quy định bởi các đặc trưng của quá trình giáo dục có đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu khác nhau và được tiến hành trong các thể chế giáo dục khác nhau
- Lý luận dạy học các môn học trong các loại hình trường: Tùy theo mục đích, nhiệm vụ và yêu cầu của từng môn học trong các loại hình trường khác
17
Trang 18nhau, lý luận dạy học cho từng môn học được nghiên cứu sao cho phù hợp với đặc điểm đối tượng của người học và đáp ứng với yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học của bộ môn
- Lịch sử giáo dục học: Là một chuyên ngành khoa học nghiên cứu lịch sử quá trình phát triển các thuyết học, các luận điểm, các quan điểm tư tưởng,… về giáo dục và lịch sử phát triển thực tiễn giáo dục trải qua các thời kỳ khác nhau của lịch sử xã hội loài người Đặc biệt là nghiên cứu lịch sử đấu tranh của những
tư tưởng giáo dục tiến bộ chống những tư tưởng giáo dục phản động, lạc hậu, lỗi thời,…
Trong quá trình hình thành và phát triển, với tư cách là một khoa học trong
hệ tống các khoa học xã hội, lấy quá trình giáo dục làm đối tượng nghiên cứu, giáo dục học có mối quan hệ mật thiết với nhiều khoa học khác
Trước hết phải nói tới sự chi phối của Triết học đôi svới giáo dục Triết học với tư cách là khoa học về các quy luật chung nhất của sự phát triển tự nhiên, xã hội tư duy con người luôn được coi là cơ sở nền tảng khii xem xét các quy lậut giáo dục Chẳng hạn những quy luật về mối quan hệ giữa sự phát triển nhân cách con người dưới ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, văn hóa, chính trị,… Trong xã hội học – một ngành thuộc triết học sẽ là cơ sở cho giáo dục khi xác định mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chứac giáo dục nói chung
và giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức nói riêng Lý luận về nhận thức của triết học Mác-Lênin là nền tảng cho việc xây dựng các quy luật vận động của quá trình dạy học, quá trình giáo dục Những vấn đề về đạo đức học, mỹ học Mác-Lênin luôn được coi là cơ sở lý luận mang tính khoa học nhất trong khi xác định những nguyên tắc, nội dung, phương pháp hình thành các giá trị, chuẩn mực đạo đức, nếp sống v.v… cho học sinh; các quy luật của duy vật lịch sử, duy vật biện chứng được coi là những cơ sở phương pháp luân đúng đắn nhất trong nv KHGD Hoạt động giáo dục và dạy học lấy con người làm đối tác, vì thế giáo dục còn liên quan mật thiết với một số khoa học nghiên cứu về con người như sinh lý học, tâm lý học
Sinh lý học được coi là cơ sở khoa học tự nhiên của giáo dục học Những quy luật hoạt động của cơ thể sinh học con người nhơ quy luật vận động của hệ thần kinh cao của hệ thống các cơ quan cảm giác, tim mạch,…là cơ sở giúp cho khoa học giáo dục phù hợp với đặc điểm sinh học của học sinh trong từng cấp học
Tâm lý học bào gồm trong nó những quy luật về các quá trình, trạng thái và các phẩm chất tâm lý đa dạng của con người trong mối tương tác giữa con người
18
Trang 19với tự nhiên, với xã hội và với chính bản thân mình, luôn luôn đồng hành với giáo dục học, nhằm cung cấp cho giáo dục học những tri thức khoa học về các
cơ chế biểu diễn của các quá trình bên trong ở mỗi con người Những tri thức này không thể thiếu trong khi xem xét, tác động tới những đối tượng giáo dục cụ thể
Ngày nay với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học kỹ thuật, ảnh hưởng của các khoa học tự nhiên như toán học, điều khiển học, tin học đối với giáo dục học là đáng kể, đem lại hiệu quả rất đáng tin cậy trong việc xác định về bản chất của các hiện tượng giáo dục trong quá trình nghiên cứu cũng như trong quản lý, điều hành các quá trình giáo dục Sự biểu hiện của mối liên
hệ giữa giáo dục và khoa học rất đa dạng và phong phú Đó có thể là sự liên kết
để cùng nhu xem xét các mặt khác nhau của con người; hoặc cũng có thể là sử dụng chung các luận điểm khoa học, các dữ liệu, thông tin nhiều chiều trpng quá trình kết hợp nghiên cứu; và cũng có thể là quá trình sử dụng các phương pháp, hình thức tổ chức nghiên cứu của nhau để giúp cho hiệu quả nghiên cứu được chuẩn xác và toàn diện
2.4 Một số khái niệm cơ bản của giáo dục học
Với tư cách kà một khoa học, có đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu xác định, giáo dục học có hệ thống các khái niệm, các phạm trù cơ bản như: giáo dục, giáo dưỡng, dạy học, công nghệ giáo dục,…
- Giáo dục (nghĩa rộng): Trong thực tiễn, có thể hiểu phạm trù giáo dục
thoi nghĩa rộng, nghĩa hẹp Giáo dục (nghĩa rộng) là quá trình tòan vẹn nhằm hình thànhm phát triển nhân cách con người, được tổ chức một cách có mục đích, co kế hoạhc thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa nhà giáo dục và đối tượng giáo dục nhằm truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội mà loài người đã tích lũy trong lịch sử Đó là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có phương pháp mà nhà giáo dục trong các cơ quan giáo dục chuyên nghiệp biệt Về mặt này, khái niệm giáo dục (nghĩa rộng) trương đương với khái niệm quá trình sư phạm, đó là quá trình giáo dục diễn ra trong phạm vi nhà trường
- Giáo dục (nghĩa hẹp) là quá trình hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ,
tình cảm, thái độ, những nét tính cách của cá nhân, những hành vi và thói quen ứng xử đúng đắn trong xã hội thuộc các lĩnh vực tư tưởng – chính trị, đạo đức, lao động, thẩm mỹ và thể chất cho học sinh
- Giáo dưỡng: Là quá trình cung cấp cho con người học nội dung học vấn,
mà cốt lõi của học vấn là hệ thống tri thức hkk cơ bản, hiện đại; hệ thống kỹ
19
Trang 20năng, kỹ xảo tương ứng, đặc biệt là những thái độ đối với tự nhiên, xã hội và với bản thân giúp họ đủ điều kiện bước vào cuộc sống tự lập, cống hiến nhiều cho
xã hội
- Dạy học: Là con đường, là phương tiện cơ bản nhằm thực hiện nhiệm vụ
giáo dưỡng Đó là quá trình hoạt động phối hợp, thống nhất giữa người dạy và người học nhằm chiếm lĩnh có chất lượng và hiệu quả nội dung học vấn trong các loại hình trường
Như vậy quá trình giáo dục (nghĩa rộng) hay quá trình sư phạm tổng thể bao gồm hai quá trình bộ phận là quá trình giáo dục (nghĩa hẹp) và quá trình giáo dưỡng (hay quá trình dạy học)
- Giáo dục hướng nghiệp trong quá trình trường phổ thông là quá trình tác
động của các lực lượng giáo dục trong và ngoài trường tới học sinh giúp học định hướng được nghề nghiệp tương lai sao cho phù hợp với năng lực của bản thân đồng thồ đáp ứng yêu cầu khách quan xã hội
- Giáo dục cộng đồng: khái niệm này được dùng phổ biến ở nước ta vào
những thập niên cuối cùng của thế kỷ XX Đó là quá trình giáo dục trong đó mối quan hệ bền vững, gắn bó giữa giáo dục với các quá trình xã hội, với đời sống và cộng đồng là : Nền giáo dục được tổ chức và phát triển ổn định chặt chẽ cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhằm mục tiêu duy trì, cũng cố và phát triển cộng đồng Mặt khác, đó cũng là quá trình phổ biến (mang tính tòan cầu) nhưng cũng đậm đà bản sắc dân tộc, truyền thống, tinh hoc văn hóa của từng dân tộc, từng cộng đồng và là lợi ích thiết thực của từng thành viên trong cộng đồng
- Công nghệ giáo dục: Khái niệm công nghệ giáo dục, công nghệ dạy học
được dùng khá phổ biến trong các văn bản, các tài liệu, các công trình nghiên cứu khoa học giáo dục ở nước ta khoảng vài chục năm gần đây Có rất nhiều qua điểm, nhiều định nghĩa về công nghệ giáo dục Chúng ta nên hiểu một cách khái quát: công nghệ giáo dục không chỉ là việc sử dụng việc tích hợp nhiều lĩnh vực khoa học hiện đại nhằm đạt chất lượng nghiên cứu giáo dục học
III Các phương pháp nghiên cứu giáo dục học
Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục được xây dựng trê cơ sở phương pháp luận khoa học nói chung, phương pháp luận nghiên cứu khoa học giáo dục nói riêng Trong thực tiễn hoạt động nghiên cứu khoa học giáo dục nói chung, nghiên cứu khoa học nói riêng, các nhà nghiên cứu thường sử dụng 2
20
Trang 21nhòm phương pháp nghiên cứu : các phương pháp nghiên cứu lý luận và các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
3.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận là cách thức và phân tích, tổng
hợp các nguồn tài liệu liên quan tới quá trình nghiên cứu một đề tài về giáo dục học nhằm xây dựng cơ sở lý luận hoặc mở rộng, làm sáng tỏ thêm các luận điểm, các học thuyết, các nguyên tắc,… Các nguồn tài liệu có liên quan tới một
đề tài thuộc lĩnh vực giáo dục rất phong phú, da dạng Đó là những tác phẩm của các tác giả kinh điển; các văn bản của Đảng và nhà nước về giáo dục – đào tạo; Các loại sách, các bài báo trên các tạp chí chuyên nghành,… Để thu thập được những tư liệu, người nghiên cứu phải tiến hành các thao tác tư duy tích cực, độc lập, sáng tạo nhằm hệ thống hóa, khái quát hoc và xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu của mình
3.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn bao gồm các phương pháp cụ
thể sau:
- Phương pháp quan sát: là phương pháp trong đó người nghiên cứu sử
dụng có mục đích, có kế hoạch các giác quan (kết hợp với các phương tiện) để ghi nhận, thu thập những biểu hiện của các hiện tượng, quá trình giáo dục nhằm khai thác những thông tin cần thiết phục vụ cho việc đánh giá thực trạng giáo dục hoặc đưa ra những giải pháp có cơ sở thực tiễn có sức thuyết phục Có nhiều hình thức quan sát nhưng phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản như: phải đảm bảo tính cự nhiên, tính rõ ràng, tính phong phú, tính đa dạng, tính chính xác, tính cụ thể của đối tượng được quan sát và nhà nghiên cứu phải có sự hiểu biết về lý luận và thực tiễn liên quan tới các hiện tượng, quá trình giáo dục
- Phương pháp điều tra giáo dục: là phương pháp sử dụng một hệ thống
các câu hỏi được xây dưng theo một mục tiêu nhất định nhằm thu thập được hàng loạt ý kiến trong thời gian tương đối ngắn giúp cho nhà nghiên cứu phát hiện thực trạng, nguyên nhân hoặc đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục – đào tạo Có các hình thức điều tra cơ bản như: điều tra bằng anket (anket đóng, anket mở, anket hỗn hợp); điều tra bằng trò chuyện (trực tiếp hoặc gián tiếp); điều tra bằng trắc nghiệm khách quan (Trắc nghiệm điền khuyết, trắc nghiệm đúng – sai, trắc nghiệm đa phương án lựa chọn, trắc nghiệm thế, trắc nghiệm đối chiếu cặp đôi, v.v…) Cần lưu ý một số yêu cầu như: những câu hỏi điều tra phải rõ ràng, chính xác, dễ hiểu, có thông tin khoa học…
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục: là cách thức phát hiện, phân
tích, đánh giá, khái quát hóa và hệ thống các kinh nghiệm giáo dục Nhờ đó làm phong phú thêm lý luận đã có hoặc xây dựng lý luận mới giúp cho giáo dục
21
Trang 22không ngừng phát triển Kho tổng kết kinh nghiệm, cần lưu ý: Chọn các điển hình để khai thác kinh nghiệm, khai thác từ nhiều nguồn (con người, văn bản, sản phẩm…) sao cho các kinh nghiệm đa dạng, phong phú, chân thực; những kinh nghiệm cần được chon lọc có tính hệ thống, tính khái quát cao; cần kiểm nghiệm những kinh nghiệm trong thực tiễn giáo dục,…
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: là phương pháp trong đó nhà nghiên
cứu chủ động tác động đến đối tượng nghiên cứu trong những điều kiện được khống chế nhằm gây ra các biến đổi nhất định ở chúng về định tính cũng như định lượng Có nhiều loại thực nghiệm như: Thực nghiệm thăm dò, thực nghiệm tác động, thực nghiệm kiểm chứng, thực nghiệm ứng dụng, thực nghiệp triển khai,…
Khi tiến hành thực nghiệm, cần chú ý các yêu cầu cơ bản sau: Cần xây dựng quy trình, xác định giả thuyết thực nghiệm, chón nhóm thực nghiệm, đối chứng trong những điều kiện khống chế nhất định, cần tác động đúng phương pháp và xử lý kết quả thực nghiệm chính xác, chân thực cả về định lượng và định tính
Ngoài những phương pháp nghiên cứu trên, một số phương pháp bổ trợ khác cũng thường được sử dụng như: phương pháp chuyên gia, phương pháp nghiên cứu sản phẩm giáo dục, phương pháp toán thống kê, vv…
Từ những vấn đề cơ bản đã trình bày ở trên, chúng ta có thể rút ra kết luận:
giáo dục học là một khoa học về quá trình giáo dục, đào tạo con người, bởi lẽ
nó có đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu, có hệ thống các khác niệm khoa học,
có hệ thống các phương pháp nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận khoa học biện chứng, khách quan
Câu hỏi ôn tập:
1 Hãy phân tích làm sáng tỏ: tính quy định của kinh tế - xã hội đối với giáo dục và các chức năng xã hội của giáo dục Trong thời kỳ công nghiêp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, chức năng nào quan trọng nhất? Vì sao?
2 Hãy phân tích làm sáng tỏ tính lịch sử, tính giai cấp của giáo dục Theo tinh thần của luật giáo dục đã quy định, nền giáo dục nước ta hiện nay có mang tính giai cấp không? Vì sao? Cho ví dụ minh họa
3 Phân biệt một số khái niệm cơ bản của giáo dục học: Giáo dục (theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp), giáo dưỡng và dạy học, quá trình sư phạm tổng thể, cho ví dụ cụ thể để minh họa
22
Trang 234 Trình bày đối tượng và các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản giáo dục học? Cho ví dụ thực tiễn
5 Nêu khái quát phương pháp nghiên cứu giáo dục học và cho ví dụ một đề tài nghiên cứu một hiện tượng hoặc quá trình giáo dục mà anh (chị) đã thực hiện (hoặc dự kiến sẽ tiến hành nghiên cứu trong tương lai)
23
Trang 24Chương II SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN
CÁC TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC
I Tư tưởng giáo dục trong thời cổ đại
Từ những buổi bình minh của nhân loại, khi cuộc sống của con người còn phụ thuộc vào thế giới tự nhiên bao la đầy huyền bí Để tồn tại, loài người đã không ngừng lao động, đấu tranh với thiên nhiên và các loại kẻ thù hoang dã, không ngừng chinh phục hoàn cảnh vì lợi ích của con người
1.1 Giáo dục trong xã hội cộng sản nguyên thủy
Cách đây hàng vạn năm, khi loài người mới tách khỏi thế giới động vật, những người tối cổ đó sống trong các hang động theo từng bầy người nguyên thủy, mầm móng của sự giáo dục xuất hiện nhưng vẫn còn đậm nét tính bản năng Khi các công xã thị tộc hình thành và đã định cư phần lớn ở các ven sông, bìa rừng, ven biển, nới có khí hậu ôn hòa và nguồn thức ăn phương pháp,… Qua lao động và đấu tranh với thiên nhiên, con người tinh khôn dần và đã tích lúy khá nhiều kinh nghiệm, những kinh nghiệm đó được truyền thụ lại và thế hệ sau
đã tiếp thu, đó chính là hiện tượng giáo dục
Giáo dục trong xã hội cộng sản nguyên thủy mang tính chất thực tiễn, tự phát và hoàn toàn dân chủ, bình đẳng cho mọi người, nó đã được nảy sinh trong cuộc sống lao động và đấu tranh vì tồn tại và mưu sinh
1.2 Giáo dục trong xã hội chiếm hữu nô lệ
1.2.1 Ở một số nước phương Đông cổ đại, từ mấy nàgn năm trước công
nguyên, khi sản xuất phát triển, công xã thị tộc tan rã, cùng với sự xuất hiện gia đình, cùng với những của cải dư thừa là sự xuất hiện người giàu, người nghèo và
có sự phân chia giai cấp Khi đó, một số nhà nước chiếm hữu nô lệ đầu tiên đã ra đời Đó là các quốc gia thuộc khu vực Lưỡng Hà (nơi có các con sông lớn chảy qua) như Ai cập, Babilon, Atxiri Nhờ có các dòng sông lớn như Nin, Tigơrit, Ơphơrat, các nghề nông, công nghệ và thương mại sớ, phát triển Những công việc đắp đê phòng lụt, trồng cấy, hái lượm, xây dựng đô thị dọc theo hai bên bờ sông đã cho người ta nhiều kinh nghiệm trong cải tạo tự nhiên và lao động sản xuất Các lĩnh vực khoa học cũng bắt đầu hình thành và phát triển từ đó: như số học, hình học, y học, thiên văn, thuật chiêm tinh,… Những kinh nghiệm thực tiễn, những tri thức đó được tích lũy, hệ thống hóa dần dần và truyền đạt lại cho các thế hệ tiếp theo Hoạt đọng giáo dục tuy mang tính chất thực tiễn, tự phát, song lại có ý nghĩa vô cùng to lớn, là cơ sở, nền tảng cho nhiều lĩnh vực khoa học như toán học, thiên văn học, ngôn ngữ học,…
24
Trang 25Trong nền “văn minh của làn sóng thứ nhất” này, người Ai cập, Babilon, Atxiri cổ đại đã sớm có văn tự, đó là những “văn tự thần thánh” với thứ chữ tượng hình phản ánh các sự vật và âm thanh mà con người tiếp nhận được trong thế giới vật chất Cũng trong thời cổ đại đó, những người phương Đông cổ đại
đã biết định ngày, tháng, năm và các mùa, vụ trong năm; đã có chữ viết, biết làm tóan, tính được diện tích, chu vi các hình đơn giản và tìm ra số “Pi”, v.v…
1.2.2 Ở Hi lạp thời cổ đại, sau khi chế độ thị tộc tan rã, nhiều nước nhỏ
theo chế độ chiếm hữu nô lệ đã xuất hiện, trong đó có hai nước phát triển mạnh
mẽ tiêu biểu nhất là Xpac-tơ và A-ten
* Giáo dục ở Spac-tơ:
Với mục đích nhằm đào tạo thanh thiếu niên thành những võ sỹ, những chiến binh mạnh mẽ, giỏi kiếm cung, biết phục tùng và sẵn sàng đàn áp nô lệ, bảo vệ quyền lợi của giai cấp chủ nô, nội dung giáo dục trong nhà trường rất coi trọng các môn thể dục, quân sự như chạy, nhảy, ném đĩa, ném lao, cung, kiếm,… việc học chữ chỉ là thứ yếu Đặc biệt, việc giáo dục phụ nữ đã bắt đầu xuất hiện: trẻ em gái cũng được giáo dục về thể chất và quân sự để sau này sinh
ra những đứa trẻ mạnh khỏe, cường tráng Mặt khác để khi có chiến tranh, con tria ra trận kết thì con gái, phụ nữ phải giữ thành và đảm nhận mọi việc trong xã hội Như vậy giáo dục ở Spac-tơ có nhiều tiến bộ, song đã thể hiện tính giai cấp, chỉ phục vụ cho quyền lợi của các chủ nô mà thôi
* Giáo dục ở A-ten:
A-ten là một quốc gia ở miền Đông – Nam Hy lạp, có nhiều hải cảng nên việc buôn bán, công thương phát triển rất sớm Ngay từ thế kỷ thứ V trước công nguyên, nhà nước A-ten đã đạt tới mức độ cường tịnh và có một nền văn hóa phồn vinh Về mặt giáo dục của A-ten so với Spac-tơ cũng rất phát triển và có những nét đặc trưng cho con em giai cấp chủ nô còn dạy học và các môn văn học, địa lý, kiến trúc, hội họa,… Tư tưởng giáo dục toàn diện đã có mầm móngo
từ đây Chính vì vậy, F Ang-ghen đã viết: “Hầu hết các thế giới quan đời sau đã
có mầm mống trong các hình thức triết học Hylạp”
Từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ IV trước công nguyên, ở Hy lạp đã xuất hiện
ba nhà triết học vĩ đại, đồng thời cũng là các nhà giáo dục tiêu biểu là Xôcơrat, Platông, Arixtôt
a) Xôcơrat (469- 339 tr.), nhà triết học duy tâm phản đối chủ nghĩa duy vật,
khoa học tự nhiên và vô thần luận Ông quan niệm mục đích của triết học là dạy đức hạnh vì đức hạnh và tri thức chỉ là một Tự biết mình là nguồn gốc của đức
25
Trang 26hạnh mà muốn tự biết mình phải bắt đầu bằng sự nghi ngờ… nên phải tìm ra chân lý Xôcơrat, người đầu tiên trong lịch sử đã dùng “thuật đỡ đẻ” (phương pháp vấn đáp, mạn đàm, trao đổi) để dẫn dắt, gợi mở môn đệ của mình tự tìm ra chân lý duy tâm khách quan
b) Platông (429 – 347 tr.) là học trò của Xôcơrat, người kế thừa và phát
triển xuất sắc chủ nghĩa duy tâm khách quan của ông Cề giáo dục, Platông là người đầu tiên phân chia tuổi học tương đối hợp lý:
+ Từ 3 đến 6 tuổi, trẻ học ở trường mẫu giáo (do nhà nước bảo trợ);
+ Từ 7 đến 12 tuổi, trẻ học ở văn – đàn (Học đọc, viết, tính tóan, học nhạc); + Từ 12 đến 18 tuổi, học ở trường thể thao (giáo dục thể chất, học toán, địa
Platông đánh giá cao vai trò của giáo dục, theo ông, xã hội có ba tầng lớp,
đó là: các triết gia (người điều hành xã hội); vệ vinh (người bảo vệ xã hội) và những lao động, thợ thủ công (những người sản xuất của cải vật chất) Sự giáo dưỡng, theo Platông phải là chức năng của xã hội và do nhà nước đảm nhận Tuy nhiên, cũng như Xôcơrat, Platông cho rằng giáo dục là đặc quyênd, đặc lợi của giai cấp chủ nô, nô lệ chỉ là những công cụ lao động biết nói mà thôi
c) Aritốt (384- 332 tr.) là học trò của Platông và là thầy học của Alêchxăng
đại đé, ông là nhà triết học, nhà khoa học vĩ đại của Hylạp, bộ óc bách khoa của thời cổ đại Về giáo dục, Arixtốt quan niệm cơ thể con người gồm ba yếu tố chính: xương thịc, ý chí và lí trí nên giáo dục phải tác động đồng thời tới cả ba mặt: thể dục, đức dục và trí dục Đặc biệt về đạo đức, cần bồi dưỡng cho trẻ em lòng dũng cảm, tính ôn hòa, khẳng khái và tiết kiệm; về trí dục, phải dạy cho trẻ biết đọc, viết học vẽ và âm nhạc,… Ông cũng phân chia độ tuổi học tập của học sinh một cách có cơ sở khoa học để có nội dung, phương pháp giáo dục, giảng dạy sao cho phù hợp Arixtốt rất coi trọng giáo dục gia đình trong việc chăm sóc, nuôi dạy, bồi dưỡng năng khiếu cho trẻ em Những tư tưởng giáo dục của Arixtốt có ảnh hưởng co lớn đến nền giáo dục thời đại phục hưng Tuy nhiên, theo ông, tôn giáo phải là nội dung giáo dục chủ yếu và phụ nữ, nô lệ không được hưởng quyền giáo dục
26
Trang 271.2.3 Giáo dục ở La mã cổ đại
Tư tưởng giáo dục ở La mã thời cổ đại gắn liền với sự phát triển nước La
mã qua các thời kì thị tộc, thời kì cộng hòa và thời kỳ đế chính của nhà nước Là
mã
* Thời kỳ thị tộc (thừ thế kỷ thứ VI tr trở về trước)
Trong thời kỳ này, La mã là một nhà nước nhỏ chuyên về nông nghiệp Sự giáo dục chủ yếu được thực hiện trong các gia đình Người cha trong các gia đình thường dạy cho con cái những kinh nghiệm về sản xuất nông nghiệp, về nghề thủ công, giảng giải về tôn giáo, rèn luyện cho trẻ về ý thức phục tùng, về lòng dũng cảm,… Tư tưởng giáo dục trong thời kỳ này có tính tự phát nhưng cũng rất nghiêm khắc, bảo thủ và mê tín
* Thời kỳ cộng hòa (từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ thứ I tr.)
Thời kỳ này, người La mã xâm chiếm hều hết các nước lân cận và đến thế
kỷ III tr CN họ đã làm chủ cả một miền đất đai rộng lớn (lãnh thổ nước Italia ngày nay) Về giáo dục, trong thời kỳ này cũng có những thay đổi cản bản Giáo dục không còn chỉ trong phạm vi gia đình, mà đã là công việc của nhà nước Việc dạy dỗ trẻ em được giao cho một số người có kinh nghiệm chuyên môn đảm nhận, đó là các giáo bộc Hylạp Nèn giáo dục La mã thời đó ảnh hưởng tư tưởng giáo dục của Hy lạp sâu sắc nhiều trường học được mở để chuyên dạy cho con em giai cấp của chủ nô (gọi là “Văn pháp học hiệu”) Trong các trường
đó, trẻ em được học Hy lạp, học tiếng Latinh, học khoa học tự nhiên, thiên văn, lịch sử, địa lý,…
* Thời kỳ đế chính (từ thế kỷ thứ I tr đến thế kỷ II sau CN.)
Trong thời kỳ này, đế quốc La mã đã đánh chiếm được nhiều vùng đất đai rộng lớn ở châu Âu, châu Á và châu Phi nên cần có nhiều quan chức để cai trị những miền đất mới Vì thế các Hoàng đế La mã rất quan tâm đến việc phát triển giáo dục Trong thế kỷ đầu tiên, La mã đã có một nhà giáo dục nổi tiếng,
đó là Quanh-ti-liêng (42-118), ông đã nghiên cứu và đưa ra nhiều ý kiến rất tiến
bộ như:
- Phải chú ý phát triển ngôn ngữ của trẻ trước tuổi học;
- Phải làm cho trẻ vui mà học, không cưỡng ép, gây căng thẳng, mệt mỏi cho trẻ;
- Phải thay đổi nhiều hình thức, phương pháp giáo dục, giảng dạy;
- Một người thầy giáo tốt là phải biết yêu mến, tôn trọng học sinh,…
27
Trang 28Khi nhà nước đế chính suy tàn, nền giáo dục La mã cũng dần dần thay đổi, những giá trị tốt đẹp ngày càng biến mất Người ta chỉ chú trọng nhiều đến hình thức, văn phong sáo rỗng, hào nhoáng bên ngoài để che đậy cho nội dung giáo dục nghèo nàn, phản động sâu kín bên trong… và tính giai cấp của giáo dục ngày càng bộc lộ rõ nét
1.2.4 Giáo dục ở Trung Hoa cổ đại
Nhà nước Trung hoa thời cổ đại đã hình thành và phát triển từ khỏang 2000 năm tr Với chế độ chiếm hữu nô lệ hà khắc, việc giáo dục ở Trung hoa thời cổ đại cũng chỉ là đặc quyền của tầng lớp chủ nô Cũng như ở Ai-cập cổ đại, người Trung hoa có chữ viết rất sớm và được khắc trên các mai rùa Nội dung giáo dục cũng là học đọc, học viết, học nhạc, bắn cung, cưỡi ngựa, học các kỹ năng canh tác, thủ công,…
* Đến thời Xuân thu (770-403 tr.) và Chiến quốc (403-221 tr.), thời ký quá
độ giữa chế độ chiếm hữu nô lệ tan rã và chế độ phong kiến bắt đầu hình thành thì giáo dục mới có nhiều thay đổi về căn bản Những thay đổi về cơ cấu xã hội,
về phương thức sản xuất, về công cụ và phương tiện lao động… dẫn tới yêu cầu học tập, giáo dục ngày càng tăng và những tư tưởng mới về giáo dục đã xuất hiện Thời đó, ở Trung hoa xuất hiện nhiều nhà triết học vĩ đại, cũng là nhà giáo dục nổi tiếng như Khổng tử, Mặc tử, Mạnh tử, Tuân tử,…
“…Ngọc bất trắc bất thành khsi, nhân bất học bất trí đạo” (ngọc không mãi rũa, không thành đồ dùng; người không học không hiểu đạo lý làm người) Về nội dung giáo dục, ông dạy cho học trò đạo Nho và theo ông, muốn trở thành người quân tử, trước hết phải rèn luyện, trau dồi chữ “nhân”, vì nó có ý nghĩa vô cùng
to lớn, nó đứng đầu trong những cái đức của đạo làm người Về phương pháp giáo dục, Khổng tử rất coi trọng việc phát huy tích cực nhận thức của học sinh, chú ý dạy sát đối tượng, chú ý liên hệ lý luận với thực tiễn và gây hứng thú học tập cho học sinh… Với tư cách như vậy, cả cuộc đời dạy học, Khổng tử đã đào tạo được hàng ngàn học trò, trong đó có 72 người hiền và trở thành nhà văn hóa
có tên tuổi của Trung hoa như: Tăng Sâm, Mẫn Tử Khiêm, Trọng Cung, Tử
28
Trang 29Lộ,… Những tư tưởng giáo dục của Khổng tử, cho đến nay vẫn đang được nghiên cứu, kế thừa và vận dụng có hiệu quả trong các loại hình trường
b) Mặc tử (tức Mạc Địch, 479-381 tr.)
Mặc tử là người nước Lỗ, con một gia đinh làm thợ thủ công Là nhà triết học, Mặc tử cũng là một nhà giáo dục trứ danh, ông đã mở một trường tư lớn dạy cho hơn ba trăm học trờ, phần nhiều là con nhà nghèo
Quan điểm tư tưởng của Mặc tử có nhiều điểm rất tiến bộ, ông phản đối sự chuyên chế, chống chiến tranh và bênh vựa nghèo nàn, muốn mang lại quyền lợi cho họ: “…người đói phải được ăn, người rét phải được mặc, người làm việc nặng nhọc phải được nghỉ ngơi,…”
Mặc tử đánh giá rất cao vai trò của giáo dục Ông quan niệm bản tính của một con người giống như một tấm lụa trắng, người thợ có thể nhuộm vào bất cứ màu nào theo ý muốn Con người ta cũng vậy thiện hay ác chính là do ảnh hưởng của môi trường, của bạn tốt hay bạn xấu Từ đó, Mặc tử tin rằng giáo dục
là vũ khí để tạo nên một xã hội lý, giáo dục là vạn năng và ông đã yêu cầu phải
có một nền giáo dục bình đẳng đối với mọi người
Về mục đích và nội dung, Mặc tử cho rằng phải đào tạo những người khiêm
ái (có lòng nhân ái, khiêm tốn và được phát triển và nhiềi mặt) Muốn vậy giáo
dục phải phù hợp với thực tế và lợi ích của muôn dân trăm họ
Về nguyên tắc và phương pháp giáo dục, Mặc tử coi trọng nguyên tắc tự nhiên và nguyên tắc thực tiễn, đề cao vai trò của quan sát và rất coi trọng kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình giáo dục và giảng dạy
Tóm tại, có thể nói về quan điểm triết học, Mặc tử còn duy tâm, song tư rưởng giáo dục của ông có nhiều tiến bộ, mục đích giáo dục của ông là vì dân, phương pháp giảng dạy của ông là rất coi trọng quan sát, coi trọng cảm giác và suy luận, gắn liền tri thức với thực tiên
c) Mạnh tử (tức Mạnh Kha, 372-289 tr.)
Mạnh tử, người kế thừa và pr xuất sắc đạo Nho của Khổng tử Ông đã di du thuyết khắp nơi và mong muốn mang đạo Nho để cứu người, song vì chiến tranh liên miên nên cuối cùng ông đã quay về với nghề dạy học
Mạnh tử cho rằng bản chất con người là thiện, là tốt đẹp Con người trở thành kẻ ác, thành người không tốt, vô lương tâm,… là do hoàn cảnh, do không được giáo dục Muốn giữ được bản tính tốt đẹp, lương thiện thì cần phải có giáo dục Vì vậy ông đánh giá rất cao vai trò của giáo dục, tin tưởng vào giáo dục
29
Trang 30trong việc đào tạo, cải biến tính cách con người: “Người ta nếu chỉ ăn no, mặc
ấm, ngồi dưng mà không được giáo dục thì gần như loài cầm thú…”
Tóm lại, trong thời cổ đại, với nền kinh tế phát triển tự nhiên; với phương thức sản xuất đơn sơ của nền văn minh nông nghiệp… song các nhà giáo dục ở
Hy lạp, La mã, Trung hoa cổ đại, bằng hoạt động thực tiễn giáo dục, dạy học đã xây dựng nền móng ban đầu cho lâu đài giáo dục mà sau mấy ngàn năm lịch sử chúng ta vẫn kế thừa và phát huy những tư tưởng giáo dục bất hủ đó
II Tư tưởng giáo dục thời trung đại và cận đại
2.1 Vài nét về tư tưởng giáo dục trong xã hội phong kiến
Chế độ chiếm hữu nô lệ ở châu Âu cũng nhơ ở các châu Á kết thúc, xã hội phong kiến đã hình thành Với các đặc điểm cơ bản của xã hội phong kiến như: nền kinh tế tự nhiên, tự túc, tự câớ; tư liệu sản xuất chính là ruộng đất lại tập trung chủ yếu ở giai cấp địa chủ và lãnh chúa phong kiến chuyên bóc lột bằng địa tô; ý thức tư tưởng mang dấu ấn đậm nét của các tôn giáo và giáo dục luôn là đặc quyền, đặc lợi của giai cấp bốc lột Với mục đích nhằm đào tạo những người trung thành tuyệt đối và triệt để phục tùng, bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, nội dung và phương pháp giáo dục trong nhà trường của xã hội phong kiến mang dấu ấn của một nền giáo dục kinh viện Kết quả là, với các phương pháp giáo điều, với chế độ khoa cử nghiêm ngặt và kỷ luật quá khắt khe, nghệt ngã,… nền giáo dục đó đã dẫn tới một sự suy tàn trong nhiều lĩnh vực đời sống xã hội
và các thành tựu huy hoàng của nền văn minh cổ đại cũng dần dần nhấn chìm trong trường trung cổ
2.2 Giáo dục trong thời văn hóa phục hưng
Cuối thời trung cổ (khoảng thế kỷ XIV-XV), mọi lĩnh vự kinh tế - sản xuất phát triển, đặc biệt các ngành công, thương nghiệp ở châu Âu phát triển mạnh
mẽ và các lĩnh vực khoa học, văn học, nghệ thuật đều đạt được những thành tựu rực rỡ Nhiều nhà khoa học lỗi lạc (như Côpecnich, Galiè, Brunô, Bêcơn,…) và các dnah nhân nổi tiếng về các lĩnh vực văn học, nghệ thuật (như Lêôna Đơ Vanhxi, Sêchxpia,…), đặc biệt là các nhà giáo dục nổi tiếng như Vichtôrinô (ý) Eraxmơ góp đáng kể cho sự tiến bộ xã hội và sự nghiệp giáo thế hệ trẻ Với trào lưu chung của thời văn hóa phục hưng, các nhà giáo dục đã lên tiếng phản đối chủh nghĩa kinh viện, chủ nghĩa giáo điều, phê phán xã hội cũ lạc hậu, cổ vũ nền văn minh Hy lạp – La mã, đề cao tự do cá nhân, tôn trọng phẩm giá con người,… Tuy nhiên một số ý tưởng về cải cách giáo dục cho một xã hội công bằng, văn minh… mới chỉ là ước mơ về một nền giáo dục lý tưởng trong xã hội không tưởng mà thôi
30
Trang 312.3 Một số nhà giáo dục tiêu biểu trong thời tiền tư bản chủ nghĩa
hệ thống các nguyên tắc, các phương pháp dạy học; về các hình thức tổ chức dạy học (người đầu tiên trong lịch sử giáo dục đề xuất hình thức dạy học theo lớp-bài); về sự phân chia tuổi học; về những yêu cầu sư phạm đối với người giáo viên: muốn là người thầy, trước hết phải là người cha tốt, cho đến nay vẫn còn
có giá trị sâu sắc về lý luận và thực tiễn
* J.Lôc-cơ (1632-1704, người Anh)
Lôc-cơ là một nhà triết học, nhà chính trị - xã hội học và cũng là nhà giáo dục nổi tiếng Là một nhà giáo dục thực dụng, các quan điểm của Lôc-cơ có giá trị thực tiễn cao Ông rất coi trọng và tin tưởng ở khả năg của giáo dục, song cũng không phủ nhận vai trò của di truyền hoặc những “kinh nghiệm tiên tiến” Mục đích giáo dục của Lôc-cơ là đào tạo những con người phong nhã, có tài năng, có những phẩm chất của một thương gia tư sản, những con người thiết thực, có đủ điều kiện thích ứng với nhxưng đòi hỏi cấp bách của cuộc sống Về nội dung giáo dưỡng, ông đòi hỏi phải dạy học cho học sinh những tri thức cần thiết, có ích và ứng dụng linh hoạt trong thực tiễn Về phương pháp giảng dạy, Lôc-cơ đòi hỏi phải gây hứng thú làm cho học sinh tích cực học tập
Lôc-cơ có nhiều quan điểm tiến bộ về giáo dục, song vì đứng trên lập trường của giai cấp tư sản nên quan điểm giáo dục của ông vẫn còn nhiều hạn chế như: sự khinh miệt đối với giai cấp cần lao; coi giáo dục là công cụ để nô dịch hóa những người lao động,… Tuy nhiên, với thời điểm lịch sử đó, tư tưởng giáo dục của Lôc-cơ vẫn có ảnh hưởng sâu sắc tới các nhà sư phạm trong thời đại của ông
* J.J Rút-Xô (1712-1778)
Rút-Xô sinh ở Giơnevơ, cha là một người thợ chữa đồng hồ, gốc Pháp Rút-Xô mồ côi cha mẹ từ nhỏ, với cuộc sống bần hàn, vừa học vừa kiếm sống, ông đã vượt lên số phận và trở thành nhà văn, nhà giáo dục nổi tiếng Với các
31
Trang 32tác phẩm bất hủ “Khế ước xã hội”-1775, “Nàng Elidơ mới”-1761, đặc biệt là
“Êmin hay vấn đề giáo dục”-1762, đã phản ánh đậm nét các quan điểm giáo dục sâu sắc của ông
J.J Rút-Xô đề cao quan điểm giáo dục tự nhiên, ông đòi hỏi phải tôn trọng
sự phát triển tự do của cá nhân, tuyệt đối không được áp đặt đối với nhân cách của trẻ Tư tưởng dạy học của Rút xô là phát huy tính tích cực nhận thức của người học, phải tôn trọng và hướng vào hoạt động của học sinh mà sau này người ta thường nói là dạy học lấy học sinh làm trung tâm Rút-xô cũng đưa ra
sự phân loại tuổi học sinh một cách hợp lý Tuy nhiên quan điểm giáo dục đối với phụ nữ của Rut-xô còn quá ấu trĩ: phụ nữ không cần phải học mà cần “lấy ý chí của chồng làm ý chí của mình; lấy tư tưởng của chồng làm tư tưởng của mình; lấy tôn giáo của chồng làm tôn giáo của mình,…”
Cùng với sự hình thành và phát triển các tư tưởng giáo dục tiến bộ của các nhà giáo dục thời tiền tư bản chủ nghĩa như J.Lôc-cơ, J.J Rút-Xô, C.A Hen-vê-xi-uýt (1715-1771), D.Đi-đơ-rô (1713-1784), các nhà giáo dục trong thế kỷ thứ XIX như A.Đixtévéc (1790-7866), I.G Petxtalôgi (1746-1827), K.Đ.Usinxki (1824-1870), A Xanhximông (1760-1825), S.Phuriê (1772-1837), R.Owen (1771-1558),… Các nhà giáo dục này không những phát huy các tư tưởng giáo dục tiến bộ mà còn phát triển, làm phong phú, hoàn thiện thêm những quan giáo dục cơ bản về mục đích, nội dung và các phương pháp, hình thức tổ chức quá trình giáo dục Có thể nói trong suốt thời gian dài từ cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX, do nền kinh tế xã hội và khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển,
sự nghiệp giáo dục đã có những bước tiến rõ rệt Đó là cơ sở lý luận và những kinh nghiệm thực tiễn quý báu để hình thành và phát triển các quan điểm giáo dục trong xã hội hiện đại
III Xu thế phát triển của giáo dục hiện nay
Cùng với sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác vào những năm 40 của thế kỷ XIX, giáo dục học tiếp tục phát triển, hoàn thiện và dần dần trở thành một lĩnh vực khoa học độc lập Nó đã được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận khoa học biện chứng, đã kế thừa và phát huy toàn bộ những tư tưởng giáo dục tiến bộ của nhân loại, đã tích hợp những thành tựu của các lĩnh vực khoa học hiện đại
có liên quan nhằm góp phần nâng cao trình độ văn hóa – đạo đức – thẩm mĩ, nâng cao chất lượng cuộc sống cho toàn nhân loại
Như vậy, cùng với việc phát huy những giá trị tinh hoa trong di sản giáo dục của nhân loại, giáo dục học hiện đại đã chứng minh một cách có cơ sở lí luận và thực tiễn các vấn đề có tính quy luật thuộc các lĩnh vực giáo dục, đào tạo
32
Trang 33như: vấn đề hình thành và phát triển nhân cách học sinh; về tính quy định của kinh tế - xã hội đối với giáo dục; về tính lịch sử, tính giai cấp của giáo dục; về
xu thế đổi mới nội dung, phương pháp và các hình thức tổ chức quá trình giáo dục, đào tạo,… Đó là những luận điểm cơ bản có vai trò định hướng cho mọi quá trình nghiên cứu, ứng dụng các vấn đề lý luận vào thực tiễn giáo dục, giúp cho hoạt động giáo dục và đào tạo ngày càng đạt chất lượng, hiệu quả cao hơn Vào nửa sau thế kỷ XX, với “nền văn minh của làn sóng tứh ba”, do ảnh hưởng của những “cú sốc tương lai” trong cuộc cách mạng xã hội và cách mạng khoa học công nghệ, giáo dục có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển con người, là “chìa khóa để mở ra xã hội tương lai”,… Vấn đề đổi mới và hoàn thiện nội dung, phương pháp giáo dục đào tạo trở thành yêu cầu cấp bách Với các quan điểm tiếp cận khác nhau, các nhà giáo dục đã nghiên cứu, tìm kiếm những con đường, phương thức giáo dục đào tạo nhằm đạt chất lượng, hiệu quả giáo dục tối ưu như tích cực hóa, cá biệt hóa, công nghệ hóa… Và từ đó, hàng loạt các phương pháp giáo dục tích cực đã được nghiên cứu và vận dụng có hiệu quả trong thực tiễn giáo dục, dạy học như dạy học nêu vấn đề, dạy học chương trình hóa, algôrit hóa, phương pháp sư phạm tương tác, vv…
33
Trang 34Chương III: GIÁO DỤC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
Mục đích của giáo dục nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách cho thế hệ trẻ tương lai Để xác định được những con đường và biện pháp có cơ
sở pháp luận và thực tiễn nhằm thực hiện mục tiêu trên, chúng ta cần một lần nữa hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình hình thành và phát triển nhân cách, đặc biệt là vai trò chủ đạo của hoạt động giáo dục
I Sự phát triển nhân cách của con người
1.1 Khái niệm con người, nhân cách trong giáo dục
1.1.1 Khái niệm con người
Từ xưa đến nay có rất nhiều ngành khoa học nghiên cứu về con người và người ta đã đưa ra những khái niệm về con người với những nội dung dựa trên mục đích và phương diện nghiên cứu khác nhau
Có quan điểm cho rằng con người là một “tồn tại thần bí”, khó hiểu, đầy bí ẩn…; có quan điểm lại cho rằng con người là một “tồn tại sinh vật”, mọi hoạt động đều theo bản năng, vì sự sống và tồn tại: ăn uống, sinh đẻ, sống chết.v.v… Nếu quan điểm đầu tiên dễ đưa con người sa vào con đường mê tín dị đoan, nảy sinh lối sống thụ động, tin tưởng vào sự tồn tại của một thế lực thần bí nào đó dẫn dắt và ảnh hưởng đến số phận của mình thì quan điểm thứ hai lại có thể dẫn đến lối sống tự do, tùy tiện và tha hóa Đúng là trên thực tế, con người có bản năng sinh tồn, nhưng bản năng của con người khác hẳn về chất so với bản năng của động vật vì con người có ý thức, có hoạt động tư duy…
Cùng với sự phát triển của lịch sử và khoa học – kỹ thuật, quan niệm “con người kỹ thuật” đã ra đời, đánh dấu sự nhận thức, đánh giá về vai trò to lớn của công cụ lao động đối với sự phát triển của xã hội loài người Sự phân hóa giai cấp và hình thành thể chế xã hội đã xuất hiện lý thuyết “con người chính trị” Gần gũi với nó là lý thuyết “con người xã hội” nhằm chỉ rõ bản chất xã hội của con người, vv…
Khác hẳn với các lí thuyết, quan điểm trên đây, lần đầu tiên trong lịch sử, K.Marx đã đưa ra một quan điểm rất khoa học về con người: “… Bản chất con người không phải là cái gì trừu tượng, vốn có của mỗi cá nhân riêng biệt, trong tính hiện thực của nó bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” (K.Marx: Luận cương về Feuerbạc-1775-1833, Đức)
34
Trang 35Như vậy, theo K Marx bản chất con người không phải là cái gì chung chung trừu tượng, bất biến, không thể thay đổi được mà bản chất của con người bao giờ cũng được hình thành, được bộc lộ, được thể hiện đậm nét trong chính cuộc sống, trong hoạt động thực tiễn, đa dạng và phong phú
Tồn tại khách quan bao giờ cũng tác động vào con người thông qua các quan hệ xã hội phức tạp giữa con người với thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy thông qua các hình thức hoạt động và giao lưu, hoặc dưới các hình thức của những quan hệ tác động trực tiếp và gián tiếp của môi trường Mặt khác, với tư cách là chủ thể hoạt động có ý thức, con người lại tác động trở lại tồn tại khách quan, làm biến đổi môi trường tự nhiên, môi trường sống, làm thay đổi các mối quan hệ, và các thể chế xã hội,vv…
Như vậy, con người vừa là một sản phẩm của tự nhiên đồng thời là sản phẩm của lịch sử xã hội, là một thực thể mang bản chất xã hội, là chủ thể các hoạt động, là lực lượng sáng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội
Lịch sử đã chứng minh rằng: chính con người là chủ thể của lịch sử, của mọi giá trị, của mọi nền văn minh, con người cũng sáng tạo ra chính bản thân mình thông qua sự sáng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội Vì lẽ
đó, trong cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, việc quan tâm tới sự phát triển của con người là yếu tố quyết định mọi sự phát triển bền vững của các quốc gia Đảng và nhà nước ta, xuất phát từ quan điểm coi mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người nên đã đặt con người vào
vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển đất nước nhằm khơi dậy mọi tiềm năng của mỗi cá nhân, của tập thể và cả cộng đồng vì sự phồn vinh của dân tộc
1.1.2 Khái niệm nhân cách
Cho đến nay có rất nhiều quan điểm, học thuyết khác nhau về nhân cách Nếu như cá nhân là mỗi người cụ thể, là một thành viên trong xã hội thì nhân cách phản ánh bản chất xã hội của mỗi cá nhân Đó là tổ hợp những phẩm chất
và năng lực, là đạo đức và tài năng được kết tinh ở mỗi con người Nhân cách thường bộc lộ qua thái độ, hành vi, thói quen, được phản ánh trong những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý cá nhân, được thể hiện trong các mối quan hệ phức hợp của mỗi người với thế giới xung quanh qua hoạt động và giao tiếp… Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu giáo dục thường nhấn mạnh: nhân cách được cấu trúc bởi các thuộc tính nội cá nhân (phản ánh những nét tính cách riêng, độc đáo trong đời sống nội tâm); các thuộc tính liên cá nhân (phản ánh các mối liên
hệ, quan hệ phức hợp giữa các cá nhân trong cộng đồng và với xã hội); các
35
Trang 36thuộc tính siêu cá nhân (phản ánh những phẩm chất và năng lực đặc biệt vượt cả không gian và thời gian để lại những dấu ấn đậm nét, bất tử,…)
Như vậy, xét dưới góc độ giáo dục học, khái niệm nhân cách bao gồm tất
cả các phẩm chất và năng lực, các giá trị về học vấn, về tư tưởng, đạo đức và
nhân văn,… được kết tinh trong cái Tài và cái Đức của mỗi cá nhân
1.2 Sự hình thành và phát triển của nhân cách
Con người khi mới ính ra chưa có nhân cách, nhân cách phản ánh bản chất
xã hội của mỗi cá nhân và chỉ được hình thành, phát triển trong hoạt động giao lưu Chính trong quá trình sống, hoạt động, giao tiếp, học tập, lao động, vui chơi, giải trí,… con người đã tự hình thành và phát triển nhân cách của mình Thông qua những hoạt động xã hội, con người ngay từ khi con nhỏ đã dần dần lĩnh hội những kinh nghiệm mà nhân loại đã tích lũy trong các mối liên hệ có liên quan tới hoạt động của họ Vì thế, V.I.Lênin đã nhận xét: cùng với dòng sữa
mẹ, con người hấp thụ tâm lý, đạo đức của xã hội mà nó là thành viên Chính trong quá trình hoạt động, nhờ các mối quan hệ với thế giới tự nhiên,với thế giới
đồ vật do các thế hệ trước tạo ra và các quan hệ xã hội mà con người gắn bó bằng các hoạt động, nhân cách của con người đã hình thành và phát triển
Sự phát triển của nhân cách được biểu hiện qua những dấu hiệu cơ bản sau:
- Sự phát triển về thể chất: Sự tăng trưởng về chiều cao, trọng lượng, sự phát triển của cơ bắp và hoàn thiện của các giác quan,vv…
- Sự phát triển về mặt tâm lý: biểu hiện ở những biến đổi cơ bản trong các quá trình nhận thức, tình cảm, ý chí, nhu cầu, nếp sống, thói quen… đặc biệt là các thuộc tính tâm lý mới của nhân cách;
- Sự phát triển về mặt xã hội biểu hiện ở tính tích cực, năng động, sáng tạo trong quá trình tham gia vào các lĩnh vực hoạt động, giao tiếp khác nhau của đời sống muôn màu muôn vẻ xung quanh
Như vậy, sự phát triển nhân cách là một quá trình cải biến toàn bộ các sức mạnh thể chất và tinh thần cả về lượng và chất Sự hình thành và phát triển nhân cách đó bị chi phối bởi và các yếu tố chủ quan và những điều kiện khách quan: Các nhân tố sinh học và các nhân tố xã hội Nghê thuật sư phạm của nhà giáo
dục là phải phát huy những mặt tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực, hướng tới sự hòan thiện nhân cách của mỗi cá nhân học sinh
36
Trang 37II Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách
Sự hình thành và phát triển nhân cách mỗi các nhân chịu ảnh hưởng và bị chi phối bởi các yếu tố: Di truyền, môi trường, giáo dục và hoạt động của mỗi cá nhân
2.1 Vai trò của di truyền
- Di truyền là sự tái tạo lại ở trẻ em những thuộc tính sinh học có ở cha mẹ,
là sự truyền lại từ cha mẹ cho con cái những năng lực và những phẩm chất nhất định đã được ghi lại trong hệ thống Jen Cũng cần phân biệt các yếu tố bẩm sinh
và di truyền: bẩm sinh là những thuộc tính sinh học có ngay từ khi đứa trẻ mới sinh ra còn di truyền là những thuộc tính trên cơ thể người đã được ghi lại trong
hệ thống mã di truyền độc đáo, các mã di truyền này giữ lại và truyền lại những thông tin về các thuộc tính đó cho các thế hệ sau
- Vai trò của di truyền trong sự hình thành, phát triển nhân cách:
Thực tiễn chứng tỏ rằng, vấn đề di truyền những tư chất, nhất là những năng lực và phẩm chất về một lĩnh vực hoạt động nào đó (nghệ thuật, tóan học, kiến trúc,…) là một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục
Di truyền tạo ra sức sống trong bản chất tự nhiên của con người, tạo khả năng cho người đó hoạt động có kết quả trong một số lĩnh vực nhất định Vì vậy, nhà giáo dục cần quan tâm đúng mức để phát huy hết bản chất tự nhiên, khai thác những tư chất và năng lực vốn có, những say mê, hứng thú của trẻ bằng cách sớm phát hiện năng khiếu, kịp thời có kế hoạch, có biện pháp bồi dưỡng nhằm phát triển tài năng của trẻ em, không được hạ thấp vai trò của các nhân tố sinh học trong hoạt động sống của con người
Tuy nhiên, di truyền không phải là yếu tố quyết định mà chỉ là tiền đề cho
sự phát triển nhân cách Những tư chất có sẵn trong cấu tạo của não, trong các
cơ quan cảm giác, vận động hay ngôn ngữ, chỉ là điều kiện Sự thành công của mỗi con người về một lĩnh vực nào đó còn phụ thuộc vào hoàn cảnh, vào sự lao động, học tập, nghiên cứu, sự tích lũy kinh nghiệm… của mỗi cá nhân Ví dụ: hiện nay có một số gia đình, một số dòng họ liên tục xuất hiện những người có tài qua nhiều thế hệ Điều đó không chỉ do sự di truyền những tư chất nhất định
mà còn do ở các gia đình này, trẻ em luôn được giáo dục, được rèn luyện, được sống trong môi trường thuận lợi, được tham gia từ rất sớm các loại hoạt động để tạo nên tài năng đó
Trong quá trình giáo dục, chúng ta cần chú ý đến vai trò là tiền đề, là điều kiện của những yếu tố học sinh, của di truyền đối với sự phát triển nhân cách
37
Trang 38học sinh Những cũng không nên tuyệt đối hóa hoặc đánh giá quá cao ảnh hưởng nhân tố này sẽ dẫn đến sai lầm là phủ nhận khả năng biến đổi bản chất con người, hạ thấp vai trò của giáo dục, tự giáo dục
2.2 Ảnh hưởng của môi trường đối với sự phát triển nhân cách
Môi trường là hệ thống hoàn cảnh, các điều kiện tự nhiên và xã hội xung
quanh cần thiết cho hoạt động sống và phát triển con người
Quá trình giáo dục trong các loại hình trường đều có sự ảnh hưởng, chi phối một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, tự phát hoặc tự giác của các loại môi trường như: môi trường tự nhiên (bao gồm các điều kiện tự nhiên, hệ sinh thái phục vụ cho hoạt động học tập, lao động, vui chơi…); môi trường xã hội (điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội,…); môi trường khoa học – công nghệ (sự bùng nổ thôn tin, sự lão hóa tri thức về các lĩnh vực khoa học, vv…)
Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, môi trường xã hội (trong đó có gia đình, nhà trường, bạn bè,…) có tầm quan trọng đặc biệt vì nếu
có xã hội loài người thì những tư chất của con người cũng không thể phát triển được Ví dụ: 2 em bé Ấn Độ sống với bầy sói từ nhỏ không tiếp xúc với xã hội loài người nên không biết đứng thẳng, không nói được tiếng người, không biết
ăn theo kiểu của người, không có thói quen mặc quần áo, vv…
Sự hình thành và phát triển nhân cách chỉ có thể thực hiện trong một môi trường nhất định Môi trường góp phần tạo nên động cơ, phương tiện và điều kiện cho hoạt động, giao lưu cá nhân mà nhờ đó cá nhân chiếm lĩnh được các kinh nghiệm xã hội loài người để hình thành và hoàn thiện nhân cách của mình Tuy nhiên, tính chất và mức độ ảnh hưởng của môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách còn tùy thuộc vào ý thức, quan điểm, thái độ của
cá nhân đối với ảnh hưởng đó (tiếp thu, chấp nhận, phản đối hay phủ định) hoặc tùy thuộc vào xu hướng, năng lực, vào mức độ cá nhân tham gia cải biến môi trường Chính vì vậy, K.Marx đã khẳng định: Hoàn cảnh đã sáng tạo ra con người trong chừng mực con người đã sáng tạo ra hoàn cảnh
Vì thế, trong quá trình giáo dục học sinh, cần tổ chức hoạt động giáo dục, học tập gắn liền với thực tiễn cuộc sống, phát huy những ảnh hưởng tốt, những mặt tích cực của môi trường xung quanh, hạn chế, khắc phục những ảnh hưởng, tác động xấu, tiêu cực đối với học sinh Mặt khác cần tạo điều kiện để các em tích cực tham gia xây dựng, cải tạo môi trường Trong hoạt động thực tiễn ở một môi trường nhất định, nhân cách sẽ không ngừng phát triển và hoàn thiện
38
Trang 39Khẳng định vai trò của môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách, trong quá trình giáo dục, chúng ta cần đánh giá đúng những ảnh hưởng tương tác của môi trường, tránh “thuyết định mệnh do hoàn cảnh”, tuyệt đối hóa vai trò của hoàn cảnh, hạ thấp vai trò của giáo dục Ngược lại cũng cần tránh quan điểm cho rằng “giáo dục là vạn năng”, phủ định mọi ảnh hưởng của các loại môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Chính vì vậy,
theo quan điểm sư phạm tương tác, các nhà giáo dục phương Tây rất coi trọng
mối quan hệ phụ thuộc giữa các tác nhân: chủ thể giáo dục, đối tượng giáo dục, môi trường xung quanh và ảnh hưởng của nó
2.3 Giáo dục và sự phát triển nhân cách
Giáo dục là quá trình hoạt động phối hợp, thống nhất của chủ thể - nhà giáo
dục và đối tượng – người được giáo dục nhằm hình thành và phát triển nhân cách con người theo những yêu cầu của xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định Đó là một quá trình toàn vẹn được tổ chức một cách có mục đích, có
kế hoạch thông qua các loại hình hoạt động phong phú và đa dạng nhằm chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của nhân loại
a) Giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với sự hình thành và phát triển nhân cách:
Lịch sử phát triển của giáo dục nhà trường đã chứng minh vai trò to lớn của giáo dục trên mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội Đối với sự hình thành và phát triển nhân cách thì giáo dục giữ vai trò chủ đạo Vai trò chủ đạo của giáo dục được thể hiện ở những điểm sau đây:
- Giáo dục không chỉ vạch ra chiều hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh mà còn tổ chức, dẫn dắt sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh theo những chiều hướng đó;
- Giáo dục có thể mang lại những tiến bộ mà các nhân tố khác như bẩm sinh – di truyền hoặc môi trường, hoàn cảnh không thể có được;
- Giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt đối với những người khuyết tật, có thể bù đắp những thiếu hụt do bệnh tật gây ra cho con người Nhờ sự can thiệp sớm với những tác động đặc biệt là những phương tiện hỗ trợ, giáo dục có thể phục hồi ở những người có tật những chức năng đã mất, hoặc có thể phát triển trí tuệ như những trẻ bình thường nhờ những biện pháp giáo dục hòa nhập;
- Giáo dục có thể uốn nắn, làm thay đổi những phẩm chất, những nét tính cách, những hành vi, thói quen không phù hợp với yêu cầu, chuẩn mực của xã hội (do ảnh hưởng tiêu cực của môi trường, sự lôi kéo của bạn bè xấu…) giúp
39
Trang 40học phát triển theo yêu cầu của nhà giáo dục Đó chính là hiệu quả của qúa trình giáo dục lại đối với các trẻ em hư hoặc những người phạm pháp
b) Khác với các nhân tố khác, giáo dục không chỉ thích ứng mà còn có thể
đi trước hiện thực và thúc đẩy nó phát triển Điều đó có giá trị định hướng cho
việc xây dựng mô hình nhân cách của con người Việt Nam với tư cách là mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội… Thực tiễn giáo dục cũng chứng minh rằng: sự phát triển tâm lý của trẻ em chỉ có thể diễn ra một cách tốt đẹp trong môi trường dạy học và giáo dục
Như vậy, giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với sự hình thành và phát triển nhân cách con người Khi nhấn mạnh vai trò của giáo dục, chúng ta đừng quên rằng: giáo dục chỉ vạch ra đường hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh và thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển theo đường hướng đó Giáo dục không chỉ là sự tác động một chiều của nhà giáo dục tới học sinh mà còn bao gồm cả hoạt động tích cực, chủ động tự giáo dục của học sinh trong mối quan hệ qua lại giữa những người được giáo dục với nhau
Do đó, để giáo dục giữ được vai trò chủ đạo, cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục và tự giáo dục Có như vậy, giáo dục mới thực sự có tác dụng tích cực đối với sự phát triển nhân cách của học sinh Đồng thời, để phát huy được tính tích cực, tính chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình giáo dục, cần phát huy triệt để những yếu tố sinh học, những tư chất tốt đẹp vốn có của trẻ em Như vậy, giáo dục học khẳng định vai trò chủ đạo, tổ chức, hướng dẫn của giáo dục đối với sự hình thành, phát triển nhân cách của học sinh Nói như thế không có nghĩa giáo dục là “vạn năng” và hạ thấp vai trò của các nhân tố khác
Vì vậy cần làm cho học sinh luôn ý thức và chấp nhận những yêu cầu của nhà giáo dục và của tập thể với tư cách là phương tiện và môi trường giáo dục Có như vậy, bản thân học sinh mới biết tự đề ra cho mình những mục tiêu phấn đấu trong cuộc sống, biết tự bồi dưỡng, tự rèn luyện những phẩm chất và năng lực mới cho bản thân mình, bởi lẽ hoạt động cá nhân là yếu tố quan trọng, là điều kiện quyết định trực tiếp đối với sự hình thành, phát triển nhân cách
2.4 Hoạt động – nhân tố quyết định trực tiếp sự hình thành, phát triển nhân cách
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, cá nhân vừa là một thành viên của xã hội, vừa là chủ thể nhận thức, cải tạo hiện thực, và cũng là đối tượng của mối quan hệ xã hội
40