MỤC LỤC 1. GIỚI THIỆU CHUNG 4 2. THỜI KỲ ĐỒ ĐÁ 5 3. KIẾN TRÚC CHÂU ÂU THỜI CỔ ĐẠI 6 3.1 Kiến trúc Ai Cập cổ đại 6 3.1.1 Kim tự tháp 6 3.1.2 Đền thờ 7 3.1.3 Nhà ở 7 3.1.4 Các thức cột 7 3.2 Kiến trúc hy Lạp cổ đại 8 3.2.1 Các quần thể kiến trúc thánh địa và kiến trúc dân dụng Hy Lạp cổ đại 8 3.2.2 Quá trình phát triển đền đài Hy Lạp cổ đại 8 3.2.3 Sự hình thành và phát triển của các loại thức cột 9 3.3 Kiến trúc La Mã cổ đại 10 3.3.1 Bối cảnh thiên nhiên Xã hội 10 4. KIẾN TRÚC PHƯƠNG TÂY TRUNG ĐẠI 11 4.1 Kiến trúc thời Trung cổ 11 4.1.1 Kiến trúc tôn giáo 11 4.1.2 Kiến trúc quân sự 11 4.2 Kiến trúc La Mã 12 4.2.1 Ra đời và phát triển 12 4.2.2 Đặc điểm và loại hình kiến trúc 12 4.2.3 Kỹ thuật xây dựng 13 4.2.4 Nhà thờ và tu viện trong kiến trúc Roman 14 4.3 Kiến trúc Gothic 17 4.3.1 Thuật ngữ Gothic 17 4.3.2 Thẩm mỹ 18 4.3.3 Lịch sử 18 4.4 Kiến trúc thời Phục Hưng 19 4.4.1 Từ nguyên học 20 4.4.2 Giai đoạn chính 20 4.4.3 Đặc điểm 22 5. KIẾN TRÚC PHƯƠNG TÂY THỜI HIỆN ĐẠI 25 5.1.1 Lịch sử kiến trúc Hiện đại thế kỷ 20 25 5.1.2 Đặc điểm 27 6. TÀI LIỆU THAM KHẢO 27 1. GIỚI THIỆU CHUNG Lịch sử kiến trúc nghiên cứu sự phát triển và lịch sử của nền kiến trúc thế giới thông qua việc nghiên cứu các ảnh hưởng ở các góc độ khác nhau như nghệ thuật, văn hoá, chính trị kinh tế và kĩ thuật. Nhìn chung, nhiệm vụ của lịch sử kiến trúc là phải xây dựng được mối quan hệ giữa ý nghĩa biểu cảm vô hình của công trình kiến trúc (ngữ nghĩa, chức năng, biểu tượng...) với sự thể hiện hữu hình của các đối tượng kiến trúc (kích thước, vật liệu, thành phần của kiến trúc...) và đặt vào trong một nghiên cứu tổng thể của thời điểm lịch sử. Lịch sử kiến trúc, cũng như bất kì một ngành nghiên cứu lịch sử có nguyên tắc nghiên cứu về sự giới hạn và sự tiềm ẩn của lịch sử. Điều đó có nghĩa là dưới một cùng một sự kiện chúng ta có thể có nhiều cách nhìn nhận và suy diễn khác nhau, phụ thuộc vào hoàn cảnh quan sát. Từ đó cho phép nảy sinh ra một số lượng lớn các quan điểm nghiên cứu về lịch sử kiến trúc, đặc biệt ở phương Tây Vào thế kỉ 19, kiến trúc Cổ điển được nhìn nhận từ góc độ hình thức, nhất mạnh xuống đặc điểm hình thái của hình thức, kĩ thuật và vật liệu. Thời kì này cũng chứng kiến sự xuất hiện các kiến trúc sư riêng lẻ, sự pha trộn của các luồng tư tưởng mà sau này sẽ trở thành chủ đề cho các phong trào nghệ thuật. Trên những bình diện đó, lịch sử kiến trúc là một nhánh phân ngành của lịch sử nghệ thuật, tập trung vào lịch sử phát triển tiến hóa của các nguyên tắc và phong cách thiết kế công trình và thiết kế đô thị. Dưới ảnh hưởng của sự đa nguyên Hậu Hiện đại, các nhà lý thuyết gần đây cố gắng mở rộng kiến trúc ra những diễn dịch mới đa dạng hơn. Những lý thuyết ngôn ngữ (linguistic) thịnh hành trong giữa thập niên 1990 cố gắng nhìn nhận các thành tố kiến trúc nhưng một ngôn ngữ độc lập, đóng góp và sự phát triển của Lý luận Phê bình (Critical Theory). Các nghiên cứu vềChú giải Ngôn ngữ (Hermeneutics) đóng góp những khía cạnh khác cho lịch sử kiến trúc và các bản tính trọng điểm của kiến trúc được xem như những hiện tượng. Tất cả đều tìm cách tiếp cận và xác định kiến trúc như một dạng của ngôn ngữ. Hai cách nhìn nhận đó khác nhau ở các khái niệm tham khảo, trong khi Lý thuyết Phê bình chủ yếu mang tính tự tham chiếu các đặc điểm cá nhân (seftreferential), còn Chú giải ngôn ngữ nặng về nghiên cứu bối cảnh tình huống (contextual). Xu thế chung của thời đại có thể xem như một phản ứng với các quan điểm siêu hình, nặng tính lý thuyết trước đó, cũng những ưu thế của những biểu hiện siêu hiện đại trong quá trình toàn cầu hóa, hậu tư bản (late capitalism) và dân chủ tự do mới (neoliberal democracy). Sự gia tăng nhận thức dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa thuộc địa cũng thúc đẩy quá trình xem xét lại về kiến trúc ở các quốc gia thuộc địa hóa và tìm kiếm sự giải phóng khỏi những quan điểm lý thuyết và thực hành không phù hợp của phương Tây. Nhìn chung, lịch sử kiến trúc phương Tây được phân loại rõ ràng thành từng giai đoạn phát triển trong khi ở nền văn hóa ngoài phương Tây lịch sử kiến trúc ít liên quan đến đến các bối cảnh lịch sử. Dưới ảnh hưởng của quá trình thuộc địa và sự ưu thế của văn hóa phương Tây, vấn đề lại càng trở nên phức tạp hơn. Các nhà viết sử Hậu Hiện đại đang cố gắng xác định cốt lõi của vấn đề. Tuy nhiên do tầm vóc quá lớn, người ta vẫn chưa tìm thấy được một sự đồng thuận của các nhà viết sử, thậm chí quan điểm của cá nhân đôi khi cũng không thống nhất, biến đổi theo thời gian. Nhưng có thể nói rằng, lịch sử kiến trúc phản ánh sự phát triển chung của lịch sử nhân loại.
Trang 1CHUYÊN ĐỀ : LỊCH SỬ KIẾN TRÚC PHƯƠNG TÂY
***
SINH VIÊN THỰC HIỆN : VŨ MẠNH TIẾN
QUÁCH ĐẠI KIÊN
Trang 2MỤC LỤC
1 GIỚI THIỆU CHUNG 4
2 THỜI KỲ ĐỒ ĐÁ 5
3 KIẾN TRÚC CHÂU ÂU THỜI CỔ ĐẠI 6
3.1 Kiến trúc Ai Cập cổ đại 6
3.1.1 Kim tự tháp 6
3.1.2 Đền thờ 7
3.1.3 Nhà ở 7
3.1.4 Các thức cột 7
3.2 Kiến trúc hy Lạp cổ đại 8
3.2.1 Các quần thể kiến trúc thánh địa và kiến trúc dân dụng Hy Lạp cổ đại 8
3.2.2 Quá trình phát triển đền đài Hy Lạp cổ đại 8
3.2.3 Sự hình thành và phát triển của các loại thức cột 9
3.3 Kiến trúc La Mã cổ đại 10
3.3.1 Bối cảnh thiên nhiên - Xã hội 10
4 KIẾN TRÚC PHƯƠNG TÂY TRUNG ĐẠI 11
4.1 Kiến trúc thời Trung cổ 11
4.1.1 Kiến trúc tôn giáo 11
4.1.2 Kiến trúc quân sự 11
4.2 Kiến trúc La Mã 12
4.2.1 Ra đời và phát triển 12
4.2.2 Đặc điểm và loại hình kiến trúc 12
4.2.3 Kỹ thuật xây dựng 13
4.2.4 Nhà thờ và tu viện trong kiến trúc Roman 14
4.3 Kiến trúc Gothic 17
4.3.1 Thuật ngữ Gothic 17
4.3.2 Thẩm mỹ 18
4.3.3 Lịch sử 18
Trang 34.4 Kiến trúc thời Phục Hưng 19
4.4.1 Từ nguyên học 20
4.4.2 Giai đoạn chính 20
4.4.3 Đặc điểm 22
5 KIẾN TRÚC PHƯƠNG TÂY THỜI HIỆN ĐẠI 25
5.1.1 Lịch sử kiến trúc Hiện đại thế kỷ 20 25
5.1.2 Đặc điểm 27
6 TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
Trang 41 GIỚI THIỆU CHUNG
Lịch sử kiến trúc nghiên cứu sự phát triển và lịch sử của nền kiến trúc thế giớithông qua việc nghiên cứu các ảnh hưởng ở các góc độ khác nhau như nghệ thuật, vănhoá, chính trị kinh tế và kĩ thuật Nhìn chung, nhiệm vụ của lịch sử kiến trúc là phảixây dựng được mối quan hệ giữa ý nghĩa biểu cảm vô hình của công trình kiến trúc(ngữ nghĩa, chức năng, biểu tượng ) với sự thể hiện hữu hình của các đối tượng kiếntrúc (kích thước, vật liệu, thành phần của kiến trúc ) và đặt vào trong một nghiên cứutổng thể của thời điểm lịch sử
Lịch sử kiến trúc, cũng như bất kì một ngành nghiên cứu lịch sử có nguyên tắcnghiên cứu về sự giới hạn và sự tiềm ẩn của lịch sử Điều đó có nghĩa là dưới mộtcùng một sự kiện chúng ta có thể có nhiều cách nhìn nhận và suy diễn khác nhau, phụthuộc vào hoàn cảnh quan sát Từ đó cho phép nảy sinh ra một số lượng lớn các quanđiểm nghiên cứu về lịch sử kiến trúc, đặc biệt ở phương Tây
Vào thế kỉ 19, kiến trúc Cổ điển được nhìn nhận từ góc độ hình thức, nhất mạnhxuống đặc điểm hình thái của hình thức, kĩ thuật và vật liệu Thời kì này cũng chứngkiến sự xuất hiện các kiến trúc sư riêng lẻ, sự pha trộn của các luồng tư tưởng mà saunày sẽ trở thành chủ đề cho các phong trào nghệ thuật Trên những bình diện đó, lịch
sử kiến trúc là một nhánh phân ngành của lịch sử nghệ thuật, tập trung vào lịch sử pháttriển tiến hóa của các nguyên tắc và phong cách thiết kế công trình và thiết kế đô thị.Dưới ảnh hưởng của sự đa nguyên Hậu Hiện đại, các nhà lý thuyết gần đây cốgắng mở rộng kiến trúc ra những diễn dịch mới đa dạng hơn Những lý thuyết ngônngữ (linguistic) thịnh hành trong giữa thập niên 1990 cố gắng nhìn nhận các thành tốkiến trúc nhưng một ngôn ngữ độc lập, đóng góp và sự phát triển của Lý luận Phêbình (Critical Theory) Các nghiên cứu vềChú giải Ngôn ngữ (Hermeneutics) đónggóp những khía cạnh khác cho lịch sử kiến trúc và các bản tính trọng điểm của kiếntrúc được xem như những hiện tượng Tất cả đều tìm cách tiếp cận và xác định kiếntrúc như một dạng của ngôn ngữ Hai cách nhìn nhận đó khác nhau ở các khái niệmtham khảo, trong khi Lý thuyết Phê bình chủ yếu mang tính tự tham chiếu các đặcđiểm cá nhân (seft-referential), còn Chú giải ngôn ngữ nặng về nghiên cứu bối cảnhtình huống (contextual)
Xu thế chung của thời đại có thể xem như một phản ứng với các quan điểm siêuhình, nặng tính lý thuyết trước đó, cũng những ưu thế của những biểu hiện siêu hiệnđại trong quá trình toàn cầu hóa, hậu tư bản (late capitalism) và dân chủ tự domới (neo-liberal democracy) Sự gia tăng nhận thức dưới ảnh hưởng của chủnghĩa thuộc địa cũng thúc đẩy quá trình xem xét lại về kiến trúc ở các quốc gia thuộc
Trang 5địa hóa và tìm kiếm sự giải phóng khỏi những quan điểm lý thuyết và thực hành khôngphù hợp của phương Tây.
Nhìn chung, lịch sử kiến trúc phương Tây được phân loại rõ ràng thành từng giaiđoạn phát triển trong khi ở nền văn hóa ngoài phương Tây lịch sử kiến trúc ít liên quanđến đến các bối cảnh lịch sử Dưới ảnh hưởng của quá trình thuộc địa và sự ưu thế củavăn hóa phương Tây, vấn đề lại càng trở nên phức tạp hơn Các nhà viết sử Hậu Hiệnđại đang cố gắng xác định cốt lõi của vấn đề Tuy nhiên do tầm vóc quá lớn, người tavẫn chưa tìm thấy được một sự đồng thuận của các nhà viết sử, thậm chí quan điểmcủa cá nhân đôi khi cũng không thống nhất, biến đổi theo thời gian Nhưng có thể nóirằng, lịch sử kiến trúc phản ánh sự phát triển chung của lịch sử nhân loại
2 THỜI KỲ ĐỒ ĐÁ
Ở Tây Nam Á, thời kì đồ đá
trong lịch sử kiến trúc bắt đầu từ
khoảng 10000 năm trước Công
nguyên ở vùng Cận Đông (levant), từ
thời kì Tiền đồ sứ Đồ đá mới A và
Tiền đồ sứ Đồ đá mới B (Pre-Pottery
Neolithic A/Pre-Pottery Neolithic B)
và mở rộng ra hướng đông và hướng
tây Thời kì văn minh Đồ đá mới ở
Đông nam Anatolia, Syria và Iraq
vào khoảng 8000 năm trước Công
nguyên Hình thái xã hội hái lượm
bắt đầu từ 7000 năm trước Công
nguyên ở Đông Nam châu Âu, và ở
Trung Âu vào khoảng 5500 năm trước Công nguyên Ở châu Mỹ và châu Đại dương,người thổ dân bản địa vẫn còn ở thời kì đồ đá cho đến khi người châu Âu khám phá rahọ
Các cư dân thời Đồ đá ở Cận Đông, Anatolia, Syria, phía nam bình nguyênLưỡng Hà và Trung Á là những nhà xây dựng vĩ đại Họ đã biết sử dụng gạch-bùn đểxây nhà ở và các ngôi làng Ở Çatalhöyük, người ta đã biết trang trí nhà cửa với nhữngtranh vẽ tạo hình người và thú vật Ở Trung Âu, các căn nhà dài bằng phên liếp đãđược xây dựng Các khu mộ tỉ mỉ cũng được cũng xây dựng Đặc biệt, ngày nay vẫncòn hàng ngàn ngôi mộ như vậy ở Ireland Người thời Đồ đá mới ở quần đảo Anhcũng xây dựng những nấm mồ và phòng mộ cho mình và các trại tường đất đắp
Hình 1.Mộ đá ở Ireland
Trang 6(causewayed camps), các vòng tròn đá (henges flint mines) và các đài đá lớn hình tròn(cursus monuments).
3 KIẾN TRÚC CHÂU ÂU THỜI CỔ ĐẠI
3.1 Kiến trúc Ai Cập cổ đại
Nhà nước Ai Cập cổ đại là một trong những nhà nước ra đời sớm nhất ở lưuvực sông Nin vùng đông bắc châu Phi Nền văn minh Ai Cập cổ đại là một trongnhững nền văn minh cổ xưa nhất và rực rỡ nhất của nhân loại
Đặc điểm của kiến trúc Ai Cập là công trình có quy mô lớn, kích thước đồ sộ,nặng nề và thần bí Trước khi nhắc đến sự phát triển của nghệ thuật kiến trúc Ai Cập
cổ đại, phải nói đến sự khéo tay trong nghề làm đá của những người thợ giỏi trong xãhội Ai Cập cổ đại Vật liệu đá trong xã hội Ai Cập có nhiều loại: đá vôi, đá sathạch, đá đen,đá thạch anh, đá hoa cương, đá minh ngọc Kinh nghiệm xây dựng thủylợi trên hai bờ sông Nin giúp cho người dân Ai Cập phát minh ra máy nâng và vậnchuyển, biết cách tổ chức lao động cho hàng vạn người một lúc Mặt bằng, mặt đứng,mặt cắt của công trình kiến trúc được dùng với thước đo Việc sử dụng dụng cụnhư rìu, búa và thước thủy chuẩn cũng rất chuyên nghiệp
3.1.1 Kim tự tháp
Người Ai Cập cổ đại có tục lệ ướp xác, tạo thành các "mummy" và chôn chúngtrong những ngôi mộ đồ sộ là Mastaba và Kim tự tháp Mastaba là lăng mộ của tầnglớp quý tộc, là một khối xây bằng đá, có mặt cắt hình thang, mặt bằng hình chữ nhật.Trong Mastaba có ba phòng: sảnh, phòng tế lễ và phòng thờ (nơi đặt tượng ngườichết) Từ mặt trên của Mastaba người ta đào một giếng hình tròn hoặc hình vuông, sâuđến khoảng 30 m Đáy giếng thông sang một hành lang rồi đến phòng mai táng (nơi đểquan tài) Sau khi chôn người chết, giếng được lấp kín Ở Ai Cập còn tìm thấy nhiềunơi có dấu vết của các khu vực có Masataba như khu lăng mộ vua chúa ở Memphis,xây dựng ở vương triều thứ ba, khoảng thế kỷ 18 trước Công nguyên Loại hình kiếntrúc này là nguồn gốc ban đầu của các Kim tự tháp
Một trong những Kim tự tháp lớn xuất hiện đầu tiên là Kim tự tháp Djoser Nó
có đáy hình chữ nhật, hai cạnh dài 126 m và 106 m, cao 60 m, có 6 bậc, các tầng thunhỏ về phía trên Công trình này do Imhotep chỉ đạo xây dựng Ông là một vị quan đầutriều của nhà vua vương triều thứ 3, năm 2770 trước Công nguyên Ngoài Kim tự thápnày còn có Kim tự tháp ở Meidumvà ở Dashur là những loại có ba bậc cấp Sau này,chúng được nghiên cứu và phát triển thành Kim tự tháp trơn, tiêu biểu nhất là quầnthể Kim tự tháp ở Giza Quần thể này bao gồm ba Kim tự tháp lớn, một con nhân
sư Sphinx, 6 Kim tự tháp nhỏ, một số đền đài và 400 Mastaba Ba Kim tự tháp trênlà: Kim tự tháp Kheops (hay Kim tự tháp lớn tại Giza), Kim tự tháp Khephren và Kim
Trang 7Hình 2 Mặt bằng đền Luxor
tự tháp Mykerinos Các Kim tự tháp này mang tên các nhà vua của Vương triều thứ 4;các kim tự tháp nhỏ hơn là của các hoàng hậu cùng thời Vật liệu xây dựng tháp là đávôi được khai thác tại chỗ, bên ngoài được phủ lớp đá vôi trắng nhẵn bóng, lấy từ các
mỏ đá ở Tourah, trên hữu ngạng sông Nin, lớp phủ này ngày nay đã bị tróc mất
3.1.2 Đền thờ
Những đền thờ Ai Cập cổ đại dùng để thờ
thần Mặt Trời Thờ thần Mặt Trời cũng chính là
thờ vua Đền thờ thường có một cái cửa lớn,
đường bệ và phù hợp với tính chất của các nghi
lễ tôn giáo Phần quan trọng thứ hai của đền là
khu vực nội bộ của đại điện Đây là nơi vua tiếp
nhận sự sùng bái của một số người nên không
gian được tổ chức sao cho u uẩn, kín đáo, mang tính thần bí Đôi khi, đền còn đượcbao quanh bởi bức tường thành, ở đây có trổ một cửa gọi là tiền tháp môn (propylon),sau đó là một con đường lát đá, rộng 34 m, dài khoảng 140 m, hai bên đặt những conSphinx, tiếp đến là các tháp bia, tượng vua và tháp môn
3.1.3 Nhà ở
Vào khoảng thế kỷ 17 TCN, nhiều loại hình nhà ở được thấy ở thành TelelAmarna Có ba loại nhà chính sau:
Nhà ở ba gian, vật liệu xây dựng là lau sậy và đất sét, mái bằng
Nhà cho quan lại, tường gạch cao, mở ba cửa quay ra phố
Loại lâu đài, dinh thự có ao cá, vườn cây phía trước, vật liệu dùng cột gỗ, tườnggạch, dầm gỗ, mái bằng và trong nhà có trang trí tranh tường Các cung điệncủa nhà vua có quy mô lớn, nhấn mạnh trục dọc, bên trong các phòng có nhiềucột, ngoài trục dọc còn có thể có trục phụ Gỗ làm cung điện, Ai Cập không có
mà được vận chuyển từ Syrie tới
Thức cây kê, xuất hiện từ thời Trung vương quốc V, mô hình cây Papyrus;
Thức Hathor, xuất hiện từ thời Trung vương quốc, bốn phía đầu cột là mặt nữThần tình yêu Hathor, diện hình đa giác 6-8-16 mặt Đầu cột là tấm đá vuông,trên đó là đá đầu cột, tiếp trên là tường đầu cột,
Trang 83.2 Kiến trúc hy Lạp cổ đại
3.2.1 Các quần thể kiến trúc thánh địa và kiến trúc dân dụng Hy Lạp cổ đại
Ở nơi đây, người ta thường tổ chức các lễ hội, tiến hành thi đấu thể dục thểthao, bình luận văn chương, diễn thuyết, ngâm thơ và biểu diễn kịch, ngoài ra còn cóthể trao đổi, mua bán Do đó, về sau người ta đã xây thêm xung quanh các quần thểnày những sân bãi thi đấu, quán trọ, hội trường, các hành lang cột và các loại đền đài.Hai quần thể kiến trúc công cộng phổ biến trong đô thị cổ đại lúc bấy giờ
là agora (quảng trường công cộng, mang tính dân dụng) và acropol (là những quần thể
kiến trúc với nhiều đền đài, được xây dựng trên những khu đồi cao) Diện tích cácagora khoảng 5% diện tích đất thành phố Những agora tiền kỳ có hình dạng bất quytắc nhưng từ cuối thế kỷ 4 TCN trở đi, nó có dạng hình học nhất định và được bao vâybởi các hàng cột thức hai tầng Ở giữa agora có đặt bàn thờ và tượng thần Các agoraquan trọng có thể kể ra là agora ở Miletos (Μίλητος),), Megalopolis (Μεγαλοπολη),
Loại đền cổ nhất có dạng hình chữ nhật, lối vào chính ở cạnh ngắn và có hai cột
ở chính cạnh ngắn này, gọi là dạng cột đôi ở hiên (Distyle); ví dụ như ngôi đền
thờ thần Themis ở Rhamnus
Loại đền cổ thứ hai có dạng như trên, nhưng có thêm hai cột ở cạnh ngắn phía
sau nữa, gọi là dạng cột đôi ở hiên cả hai đầu; ví dụ đền
thờ Artemis ở Eleusina (Ελεύσινα)
Loại đền giống loại đền thứ nhất, nhưng thay vì hai cột mà là bốn cột ở phía
trước, gọi là dạng hàng cột mặt trước hay hàng cột hiên (Prostyle); ví dụ ngôi
đền ở Selinus (Σελινοΰς),)
Loại đền giống loại đền thứ hai, nhưng có bốn cột ở cạnh ngắn phía trước và
bốn cột ở cạnh ngắn phía sau, gọi là loạihàng cột cả hai đầu (Amphi-Prostyle)
(tiền tố "amphi" có nghĩa là "cả hai phía")
Loại đền hình tròn, vành ngoài có hàng cột vòng quanh gọi là nhà tròn có hàng
cột bao quanh (Tholos); ví dụ Tholos ởEpidaurus (Ἐπίδαυρος),).
Trang 9 Loại đền hình chữ nhật có tường chịu lực là chính, nhưng mặt ngoài tường ghép
thêm các cột, gọi là loại đền có các hàng cột giả bao quanh hay bổ trụ bao
quanh (Pseudo-Peripteral); ví dụ đền thờ thần Zeus ở Olympia (Ολυμπία).
Loại đền hình chữ nhật có một hàng cột chạy ở vành ngoài chu vi công trình,
gọi là loại đền có các hàng cột bao quanh(Peripteral); ví dụ đền
Hephaestos (hay Theseio - Θησείο) và đền Parthenon (Παρθενώνας),)
ở Athena (Αθήνα, Athína), đềnPaestum
Loại đền hình chữ nhật, có hai hàng cột chạy bao xung quanh công trình, có tên
gọi là đền Dipteral; ví dụ đền Olympeion ở Athena, đền
thờ Apollo ở Miletos (Μίλητος),)
Mặt bằng đền thờ Hy Lạp cổ đại được tạo thành bởi ba thành phần
chính: pronaos (tiền sảnh), naos (gian thờ) và pathenon(phòng để châu báu) Ngoài ra, trong một số đền còn có thêm opisthodomos (hậu sảnh).
Vẻ đẹp của đền đài Hy Lạp cổ đại gắn liền với sự ra đời và phát triển của các loại thứccột
3.2.3 Sự hình thành và phát triển của các loại thức cột
Thức cột là hệ thống tỷ lệ và hình thức trang trí cột, là
cách người Hy Lạp cổ đại tìm kiếm đến cái đẹp lý tưởng Có 3
loại thức cột cơ bản trong kiến trúc Hy Lạp: cột Doric, cột
Ionic và cột Corinth Những thức cột Hy Lạp đã mang đến cho
kiến trúc một hình thức, một sức sống, chịu đựng được thử
thách của thời gian, biểu trưng cho vẻ đẹp trong sáng, khỏe
mạnh và tinh tế của kiến trúc cổ điển Thức cột Hy Lạp được
xem như biểu tượng của kiến trúc cổ điển
Thức cột Doric:
Thức cột Doric, có hậu thân là thức cột Toscan, là thức cột cổ nhất và đơn giảnnhất trong hệ thống các thức cột cổ điển Thức này được hình thành từmột trụ thẳng đứng phình to ở đáy Nói chung, thức cột này không
có phần đế cột (base) lẫn không có phần đầu cột (capital) Vẻ đẹp
thức cột này thường được so sánh với vẻ đẹp khỏe mạnh của người
đàn ông cường tráng, do nó được sử dụng ở tầng dưới cùng của đấu
trường Coliseum và có khả năng chịu lực cao nhất Tỷ lệ đường
kính cột trên chiều cao cột khoảng 1:4
Thức cột Ionic:
Thức cột Ionic mang dáng dấp nữ tính, mảnh dẻ và giàu tính
trang trí hơn cột Doric Nguồn gốc cột Ionic làIonia, thuộc địa của Hy
hình 3.1
hình 3.2
Trang 10Lạp Cột Ionic có 24 gờ sống đứng trong khi cột Doric chỉ có 20 gờ, tỷ lệ đường kính
cột trên chiều cao cột là 1:9 Ngoài ra, cột này có thêm đế cột (base) ở phía dưới và đầu cột có hình đệm nhỏ, phía trên có hình xoắn ốc loe ra rồi cuộn vào trong ( volute).
Các dầm ngang của cột Ionic được phân vị theo chiều ngang thành ba dải Các ngôiđền có cột này là đền Artemis ở Ephesus (Έφεσος),), đền thờ Apollo
Epikourios ở Bassae (Βασσές),, Bassaes), đền Erecteyon ở Athena.
Thức cột Corinth:
Thức cột Corinth ra đời sau hai cột trên, vào khoảng thế kỷ thứ 5 trước Côngnguyên, có đường nét mảnh mai, giàu trang trí, đầu cột có nhiều chi tiết hoa lệ, giống
như một lẵng hoa kết hợp cùng với mấy tầng là phiên thảo diệp (acanthe) Thức cột
này do kiến trúc sư Callimachus sáng tạo ra Cột này có ưu điểm hơn hai cột trên là đốixứng nhiều chiều và có thể cảm nhận được trong không gian Có thể thấy công trình sửdụng loại cột này tại đền Olympeion ở Athena và đền Apollo ở Bassae
Các loại cột trên sau này được người La Mã cổ đại kế thừa và phát triển, đồng thờisáng tạo thêm hai loại thức cột mới làToscan và Composite
3.3 Kiến trúc La Mã cổ đại
Kiến trúc La Mã cổ đại đã áp dụng kiến
trúc Hy Lạp bên ngoài cho các mục đích riêng của
họ, tạo ra một phong cách kiến trúc mới Người
La Mã đã hấp thụ ảnh hưởng của Hy Lạp, rõ ràng
trong nhiều khía cạnh liên quan chặt chẽ đến kiến
trúc, ví dụ, điều này có thể được nhìn thấy trong
phần giới thiệu và sử dụng các Triclinium trong
các villa La Mã làm nơi và cách thức ăn uống
Người La Mã, tương tự như vậy, đã vay mượn các
nước láng giềng của họ và cha ông Etruscan đã
cung cấp cho họ với vô số kiến thức cần thiết cho
các giải pháp kiến trúc tương lai, chẳng hạn như hệ
thống thuỷ lực và xây dựng các vòm
3.3.1 Bối cảnh thiên nhiên - Xã hội
Đầu thế kỷ thứ VIII trước CN, bán
đảo Italia được chia làm 3 vùng: vùng
Tây Bắc thuộc dân tộc Etruscan, vùng
Trung thuộc người La tinh, và vùng phía Nam thuộc dân gốc Hy Lạp.Đến giữa thế kỷ thứ VIII, liên minh các "quốc gia thành bang" ra đời,đứng đầu là quốc gia thành bang Etruria, mở đầu thời kỳ Vương
hình 4
hình 5
Trang 11quốc, lấy thủ đô là Roma Xã hội các yếu tố như sự giàu có và mật độdân số cao tại các thành phố buộc người La Mã cổ đại khám phá mới(kiến trúc) các giải pháp của riêng mình Việc sử dụng các mái vòm
và khung vòm cùng với một kiến thức âm thanh vật liệu xây dựng, ví
dụ, cho phép họ để đạt được những thành công chưa từng có trongviệc xây dựng áp dụng các cấu trúc để sử dụng công cộng Ví dụ nhưcác cầu cạn dẫn nước của Roma, các phòng tắm của Diocletian vàcác Phòng tắm của Caracalla, các đại giáo đường và đấu trường LaMã
4 KIẾN TRÚC PHƯƠNG TÂY TRUNG ĐẠI
4.1 Kiến trúc thời Trung cổ
4.1.1 Kiến trúc tôn giáo
Các kiến trúc phổ biến là nhà thờ
4.1.2 Kiến trúc quân sự
Các kiến trúc thế tục (phi tôn giáo)
còn tồn tại chủ yếu là phục vụ cho quân
sự, quốc phòng Cụ thể là đáng chú ý nhất
là lâu đài có các tính năng tấn công từ bên
trong và phòng thủ từ bên ngoài
Ở châu Âu, lâu đài có nguồn gốc trong thế kỷ thứ 9 và 10, sau sự sụp đổ của đếchế Karolinger Lãnh thổ của đế chế này dần được phân chia giữa các lãnh chúa vàhoàng tử, vương hầu, các dòng họ quý tộc và hình thành các thái ấp, lãnh địa Những
vị quý tộc này sở hữu những mảnh đất đó và xây dựng lâu đài để kiểm soát các khuvực xung quanh để phòng thủ, bảo vệ những tài sản thuộc sở hữu của họ
Mặc dù nhiệm vụ quân sự là rất quan trọng nhưng những lâu đài thường được sử dụngnhư là nơi trú ngụ và cũng là trung tâm quản lý hành chính và biểu tượng quyền lựccủa cá nhân, dòng họ đó Lâu đài đô thị được sử dụng để kiểm soát dân chúng địaphương và các tuyến đường giao thông quan trọng, và lâu đài nông thôn thường đượcxây dựng biệt lập với các ngôi làng và có chức năng phòng thủ, bảo vệ những vùng đấtđai màu mỡ
Ban đầu, nhiều lâu đài được xây dựng từ đất và gỗ, nhưng do nhu cầu phòngthủ và kỹ thuật phát triển cũng như chi phí bỏ ra nhiều nên lâu đài được xây cất bằng
đá để tăng tính vững vàng, đường bệ Mặc dù thuốc súng được du nhập vào châu Âutrong thế kỷ 14, nó đã không ảnh hưởng đáng kể đến xây dựng lâu đài cho đến thế kỷ
15 vì hỏa lực của binh chủng này còn quá yếu không thể làm suy suyễn những bứctường lâu đài kiên cố
hình 6
Trang 12Nhưng đến khi pháo binh đã trở nên đủ mạnh để có thể xuyên thủng và phá hủybức tường đá thì lâu đài dần phải cải tiến để chống chọi Trong khi lâu đài vẫn tiếp tụcđược xây dựng vào thế kỷ 16, kỹ thuật mới được bổ sung trong việc xây dựng để đốiphó với lửa pháo và như vậy, sự thay đổi tính chất và kết cấu dần biến lâu đài từ mộtnơi cư trú thành một tòa thành phục vụ cho các hoạt động quân sự Kết quả là, lâu đàithực sự đã được thay thế bởi các pháo đài.
Từ thế kỷ 18 trở đi, có một sự thay đổi mới trong việc xây dựng những lâu đài, vớiviệc xây dựng các mô hình lâu đài lãng mạn của kiến trúc Gothic và không có mụcđích quân sự
4.2 Kiến trúc La Mã ( Roman )
4.2.1 Ra đời và phát triển
Một thời gian sau khi Đế chế La Mã sụp đổ, các nhà
nước Đông và Tây Âu lâm vào một thời kì đen tối, các nhà
nước phong kiến được thành lập trong đó có sự ra đời của
triều đại Karolinger Năm 800, khi Charlemagne đăng
quang hoàng đế, đế quốc này tồn tại được một thời gian
ngắn cho đến khi bị người Normandes xâm lược (từ năm
843 đến năm 911)
Nền kiến trúc Trung và Tây Âu thế kỷ 11 và thế kỷ 12 có
tên gọi là kiến trúc Roman, hay phong cách Roman Kiến
trúc Roman trải dài trên một bình diện rộng, phát triển chủ
yếu ở các nước Tây Âu và Trung Âu, gồm Pháp, Anh, Ý, Bỉ,
Hà Lan, Tây Ban Nha khi các thành phố đã bắt đầu gượng
dậy nhưng bộ mặt kiến trúc nhiều công trình còn thô sơ
Nến văn hóa đô thị lúc bấy giờ không khác xa với văn hóa
lãnh địa nông thôn trước đó ít lâu, vì các tầng lớp dân đô thị
cũng vừa mới ở nông thôn ra, họ đã là các thế hệ thị dân đầu
tiên
Tuy vậy, từ thế kỷ 10, nông nghiệp và thủ công nghiệp đã phục hồi và phát triển,người dân đã xây nhà không chỉ bằng gỗ, mà còn bằng gạch, đá, để "xây nhà nhưngười La Mã cổ đại"
Hơn mười quốc gia dân tộc ở Trung Âu và Tây Âu đã chính thức tiến vào xã hộiphong kiến, với nền kinh tế tự nhiên và trật tự xã hội tương đối ổn định
4.2.2 Đặc điểm và loại hình kiến trúc
Vào giai đoạn Roman tiền kỳ, mái nhà được làm bằng gỗ và rất dễ cháy nên thời
kỳ này không còn để lại nhiều vết tích cho đời sau Thời gian tiếp theo, kiến trúc
Hình 7.Bên trong nhà thờ Saint-Saturnin
Hình 8.Bên trong nhà thờ Saint-Saturnin
Trang 13Roman dần dần tiến thêm một số bước mới, để nhận biết được kiến trúc Roman ta cóthể căn cứ những đặc điểm sau:
Chịu ảnh hưởng của kiến trúc La Mã cổ đại và kiến trúc Byzantine, do một sốkhu vực của kiến trúc Roman nằm trong biên giới đế chế La Mã trước đây
Kiến trúc có số lượng không nhiều, nằm rải rác ở các địa phương
Loại hình kiến trúc không đa dạng, phần lớn là kiến trúc tôn giáo như nhà thờ,
tu viện và các nhà ở và công trình kiến trúc có tính phòng thủ của giai cấpphong kiến
Kiến trúc không có quy mô lớn và cầu kỳ như kiến trúc La Mã cổ đại Phầnnhiều công trình có mặt ngoài thô ráp, ít yếu tố trang trí, kiến trúc nặng nề, sửdụng cửa đi và cửa sổ kích thước nhỏ
Về kết cấu, sử dụng nhiều cuốn cửa trụ, vòm nôi và vòm bán cầu, các loại máivòm được làm bằng đá và kĩ thuật còn hạn chế nên mặt bằng kiến trúc các bộphận thường chỉ là vuông, tròn hoặc hình chữ thập La tinh
Phía Tây nhà thờ Roman thường nổi bật lên hai hay nhiều tháp cao, những thápnày có hình trụ tròn hoặc có dáng hình học, trong khi đó ở phía Đông thân nhàthờ được cắt bằng một cánh ngang
Bàn thờ được đặt ở phía Đông của nhà thờ để hướng về phía Jerusalem và tầnghầm mộ đặt dưới thành phần này của kiến trúc
Kỹ thuật xây tường, xây cuốn có sống và xây cột trụ dần dần làm cho kiến trúc trở nêntốt hơn Tường đá dày, các lớp vữa còn dày, cửa sổ mở nhỏ và ít ánh sáng, một mặt thểhiện trình độ xây dựng chưa chín muồi nhưng mặt khác lại phù hợp với tư tưởng cấmdục của tôn giáo Sự phát triển của kỹ thuật kết cấu của kiến trúc Roman là dựa trêntay nghề của những người thợ dân gian Do kỹ thuật xây dựng còn hạn chế nên đặcđiểm của các nhà thờ Roman là khá thấp, chiều cao tối đa thường không quá 20 m
Cùng với việc dùng nhiều các loại hình kết cấu thường, cuốn có sống và cột, kiếntrúc Roman lại không nhất quán trong việc dùng thức cột