Đi u ều ước quốc tế ước quốc tế c qu c t ốc tế ế Khái niệm: Theo Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ước quốc tế ký kết giữa các quốc gia thì điều ước quốc tế được xác định là "một thỏa
Trang 13 So sánh luật quốc gia và luật quốc tế
Trình tự xd pháp luật + Không do ai ban hành
+ Đc hình thànhthông qua
sự thoả thuận của các quốc gia theo hai cách ký kết điềuước QT và thừa nhận tập quán QT
+ Do cq lập pháp ban hành+ Đc hình thành thông qua quá trình lập pháp của nhà nước
Đối tượng điều chỉnh: _Là những QHQT phát sinh
trong đời sống sinh hoạt QT giữa các chủ thể luật QT được PLQT điều chỉnh
_Chịu sự chi phối của nhà nước
_Phụ thuộc lợi ích của nhiềuchủ thể khác nhau
_Là những quan hệ vượt ra khỏi phạm vi lãnh thổ quốc gia, chịu sự chi phối của nhiều chủ thể LQT
_ là những Quan hệ xã hội phát sinh trong nội bộ phạm
vi lãnh thổ đc PLQG điều chỉnh
_ Chịu sự chi phối của ý chỉnhà nước
_ Phụ thuộc lợi ích của giai cấp lãnh đạo
_ Là những quan hệ trong phạm vi quốc gia
gia, các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập, các tổ chức liên CP và các chủ thể đặc biệt khác
Có thể là thể nhân, pháp nhân hoặc nhà nước với tư cách là chủ thể đặc biệt
Các biện pháp đảm bảo
thực hiện
Đc đảm bảo thông qua hành
vi của chính các chủ thể thông qua hình thức cưỡng chế tập thể và cưỡng chế riêng lẻ
Không có cơ quan hành pháp trong việc cưỡng chế thi hành án; cơ quan giám sát trong việc thi hành luật
Đc đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước: quân đội, cảnh sát, tòa san, nhà tù…
Phương pháp điều chỉnh các
ngành luật Chỉ có 1 pp điều chỉnh là sự thỏa thuận Có các pp điều chỉnh khác nhau
Trang 2Vấn đề 3 Nguồn của luật quốc tế
1 Khái ni m ệm
a Đ nh nghĩa ịnh nghĩa : Nguồn của pháp luật là hình thức biểu hiện của các quy phạm pháp luật
Nguồn của pháp luật biểu hiện dưới 2 dạng thành văn và bất thành văn.Liên quan đến nguồn
của LQT có nhiều cách hiểu khác nhau.
- Theo nghĩa hẹp: nguồn là hình thức chứa đựng, ghi nhận các nguyên tắc, các quyphạm pháp lý quốc tế nhằm xác định quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể khi tham giavào các quan hệ pháp lý quốc tế Theo đó, LQT gồm 2 loại nguồn cơ bản là điều ước quốc tế
và tập quán quốc tế
- Theo nghĩa rộng: nguồn của LQT là tất cả những cái mà cơ quan có thẩm quyền cóthể dựa vào đó để đưa ra các quyết định pháp luật
b C s pháp lý xác đ nh ngu n ơ sở pháp lý xác định nguồn ở pháp lý xác định nguồn ịnh nghĩa ồn
Khoản 1 điều 38 Quy chế Tòa án công lý quốc tế của LHQ quy định"Tòa án có tráchnhiệm giải quyết các vụ tranh chấp được chuyển đến tòa án trên cơ sở công pháp quốc tếtheo:
- Các công ước quốc tế chung hoặc riêng đã thiết lập ra những nguyên tắc được các bênđang tranh chấp thừa nhận
- Các tập quán quốc tế như là một chứng cứ thực tiễn chung được thừa nhận là một tiêuchuẩn pháp lý
- Những nguyên tắc pháp lý được các dân tộc văn minh thừa nhận
- các Nghị quyết xét xử và các luận thuyết của các chuyên gia có chuyên môn caonhất về luật pháp công khai của nhiều dân tộc khác nhau được coi là các phương tiện bổ trợ
để xác định các tiêu chuẩn pháp lý."
Nhận xét: Như vậy, Điều 38(1) Quy chế tòa án công lý quốc tế đã đưa ra danh sách cácnguồn truyền thống của LQT như: các công ước quốc tế chung hoặc cụ thể, tập quán quốc tế,các nguyên tắc cơ bản của LQT, các quyết định của tòa án và các bài giảng của các học giả
có chuyên môn cao Tuy vậy, Điều 38(1) chưa đề cập một cách đầy đủ các loại nguồn bổ trợcủa luật quốc tế Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, ngoài các loại nguồn đã nêu trong điều38(1) các chủ thể LQT còn thừa nhận một số các nguồn khác, có tính chất là nguồn bổ trợcho nguồn cơ bản của LQT như: Nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ, hành vipháp lý đơn phương của các quốc gia Do đó, ngoài điều 38(1), thực tiễn áp dụng nguồn củacác chủ thể LQT cũng là cơ sở để hình thành các loại nguồn của LQT
c Phân lo i ại : 2 lo i ngu n ại nguồn ồn
- Nguồn cơ bản: chủ yếu bao gồm điều ước quốc tế (nguồn thành văn) và tập quán quốc
tế (nguồn bất thành văn)
- Nguồn bổ trợ: đây là các phương tiện bổ trợ nguồn của LQT, chúng bao gồm các phánquyết của tòa án công lý quốc tế, các nguyên tắc pháp luật chung, nghị quyết của tổ chứcquốc tế liên chính phủ, hành vi pháp lý đơn phương của các quốc gia, các học thuyết của cáchọc giả danh tiếng về LQT
Trang 32 Nguồn cơ bản
a Đi u ều ước quốc tế ước quốc tế c qu c t ốc tế ế
Khái niệm: Theo Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ước quốc tế ký kết giữa các
quốc gia thì điều ước quốc tế được xác định là "một thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng vănbản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một vănkiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và với bất kể tên gọiriêng của nó là gì"
Như vậy, với tư cách là nguồn cơ bản của LQT, điều ước quốc tế là sự thỏa thuận giữacác chủ thể của LQT với nhau trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng nhằm thiết lập những quy tắcpháp lý bắt buộc gọi là những quy phạm LQT, để ấn định, thay đổi hoặc hủy bỏ nhữngquyền và nghĩa vụ đối với nhau Trong quan hệ quốc tế hiện nay, điều ước quốc tế chủ yếuđược trình bày dưới dạng thành văn, nhưng cũng một số điều ước quốc tế chỉ là thỏa thuậnmiệng - đó là các điều ước quân tử Tuy nhiên, hiện nay các điều ước quân tử hầu như rất ítxuất hiện trong quan hệ giữa các chủ thể LQT
Điều kiện để một điều ước quốc tế trở thành nguồn của LQT: Không phải tất cả các
điều ước quốc tế được ký kết đều là nguồn của LQT Một điều ước muốn trở thành nguồncủa LQT phải thỏa mãn các điều kiện sau:
- Về hình thức và nội dung: thường đc thể hiện dưới dạng văn bản , khồng phụ thuộcvào tên gọi của văn bản đó là gì Ndung đc cơ cấu theo các chương, mục, điều, khoản cụ thểnhằm ấn định thay đổi chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các chủ thể ký kết nhưg cũg k hoàntoàn bắt buộc mọi vb thỏa thuận p có từng điều khoản cụ thể ms đc coi là điều ước quốc tếVD: tuyên bố Băng Cốc 1967 về Thành lậpu Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á-ASEAN
- Chủ thể của ĐƯQT là chủ thể LQT Tư cách chủ thể kết ước là một trong những yếu
tố có ý nghĩa qđịnh giá trị pháp lý là ĐƯQT của văn bản đc ký kết
- Quá trình hình thành các vb ĐƯQT phải đc điều chỉnh bằng các quy định của LQT vàtuân thủ các quy phạm Jus cogens( 1 thỏa thuận giữa 2 chủ thể luật quốc tế nếu đc điềuchỉnh bằng luật quốc gia sẽ k có giá trị là điều ước quốc tế )
(Câu hỏi: Mọi văn bản pháp lý quốc tế đều là điều ước quốc tế? Sai Nếu văn bản pháp
lý quốc tế đó không thỏa mãn 1 trong 3 điều kiện nêu trên không phải là điều ước quốc tế) Giá trị pháp lý của điều ước quốc tế: ĐƯQT là kết quả quá trình hợp tác giữa các chủ
thể, xp từ bản chất là các thỏa thuận về ý chí của chủ thể quan hệ pháp luật quốc tế nên có
- Là hình thức pháp luật cơ bản chứa đựng các quy phạm LQT để xây dựng và ổnđịnh các cơ sở pháp luật cho các quan hệ pháp luật quốc tế hình thành và phát triển
- Là công cụ, phương tiện quan trọng để duy trì và tăng cường các quan hệ hợp tácquốc tế giữa các chủ thể
- Là đảm bảo pháp lý quan trọng cho quyền lợi và lợi ích hợp pháp của chủ thể luậtquốc tế
- Là công cụ để xây dựng khung pháp luật quốc tế hiện đại, cũng như để tiến hành hiệuquả việc pháp điển hóa LQT
Trang 4b T p quán qu c t ập quán quốc tế ốc tế ế
Khái niệm: tập quán quốc tế là những qui tắc xử sự chung, hình thành trong thực tiễn
quan hệ quốc tế và được các chủ thể của luật quốc tế thừa nhận rộng rãi là những qui tắc cótính chất pháp lý bắt buộc
- Yếu tố vật chất: sự tồn tại của thực tiễn quốc tế, các quy tăc sđc hthành trong thực tiễncác quan hệ của các quốc gia( sự lặp lại các sự kiện, hành vi pháp lý, thực tiễn ký kết thựchiện các ĐƯQT , giải quyết tranh chấp, áp dụng nghị quyết…)
- Yếu tố tinh thần: là sự thừa nhận của chủ thể LQT đối vs các quy tăc xử sự đã hìnhthành là quy phạm LQT
VD: Hành vi phóng tàu vũ trụ qua không phận của các nước láng giềng được áp dụnglặp đi lặp lại nhiều lần cộng đồng quốc tế thừa nhận là hành vi không cần xin phép và trởthành tập quán quốc tế
Phân tích khái niệm: Từ định nghĩa nêu trên, chúng ta có thể thấy tập quán quốc tế cónhững đặc điểm sau:
- Về hình thức: Quy phạm tập quán quốc tế tồn tại dưới dạng các hành vi xử sự của cácchủ thể LQT Do đó, tập quán quốc tế luôn ở dạng bất thành văn
- Về nội dung: tập quán quốc tế có nội dung là các nguyên tắc và quy phạm tập quánquốc tế, chứa đựng các quy tắc điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể LQT Quy phạm tậpquán quốc tế được cấu tạo bởi 3 bộ phận là giả định, quy định và chế tài.Giả định là nhữngyếu tố tạo nên hoàn cảnh thực tiễn Quy định là tổng thể hành vi mà chủ thể LQT thực hiện.Khả năng phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế khi các chủ thể này xử sự không đúng,hoặc không đầy đủ yêu cầu của quy phạm tập quán quốc tế là chế tài của quy phạm tập quánquốc tế
- Về chủ thể: Chủ thể của quy phạm tập quán quốc tế là chủ thể của LQT
- Quá trình hình thành: Không thông qua hành vi ký kết mà nó được hình thành trongthực tiễn quan hệ quốc tế và được sự thừa nhận của các chủ thểLQT
Các con đường hình thành tập quán quốc tế:
- Con đường truyền thống: hình thành từ thực tiễn quan hệ quốc tế
VD: Các qui định liên quan đến quan hệ ngoại giao, lãnh sự cũng hình thành từ nhu cầubang giao giữa các quốc gia trên thế giới
- Từ thực tiễn thực hiện các nghị quyết có tính chất khuyến nghị của các tổ chức quốc
tế
- Từ thực tiễn thực hiện các phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế
VD: Vụ tranh chấp giữa Nauy và Anh về quyền đánh cá trong khu vực biển ngoài khơiNauy đã hình thành nên tập quán quốc tế về cách thức xác định đường cơ sở thẳng
+ Thứ hai, tập quán quốc tế được hình thành từ thực tiễn thực hiện điều ước quốc tế củabên thứ 3
Trang 5VD: 2 quốc gia A và B thỏa thuận 1 điều ước liên quan đến việc tránh đánh thuế 2 lần,nước C thấy hợp lý nên áp dụng các quy định trong điều ước này Các quy định được C ápdụng với tư cách là quy phạm tập quán
Giá trị pháp lý của tập quán quốc tế
- Góp phần quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển các quy phạmLQT
- Điều chỉnh hiệu quả các quan hệ pháp luật quốc tế phát sinh giữa các chủ thể LQT
Điều kiện để một tập quán trở thành nguồn của LQT: Không phải qui tắc xử sự nào
hình thành trong thực tiễn quan hệ quốc tế cũng trở thành nguồn của LQT Những tập quán
là nguồn của LQT phải thỏa mãn các điều kiện sau:
- Quy tắc xử sự được coi là tập quán quốc tế phải lặp đi lặp lại nhiều lần, trong một thờigian dài liên tục và được các quốc gia thỏa thuận thừa nhận hiệu lực pháp lý bắt buộc đối vớimình
- Phải là quy tắc xử sự chung, hình thành trong quan hệ giữa các quốc gia, được cácquốc gia tuân thủ và áp dụng một cách tự nguyện
- Quy tắc xử sự đó phải có nội dung phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của LQT
Câu 1: So sánh đi u ều ước quốc tế ước quốc tế c qu c t và t p quán qu c t : v c b n có nh ng n i dung sau: ốc tế ế ập quán quốc tế ốc tế ế ều ước quốc tế ơ sở pháp lý xác định nguồn ản có những nội dung sau: ững nội dung sau: ội dung sau:
- Giống nhau: Cả tập quán quốc tế và điều ước quốc tế đều là kết quả của sự thống nhất
ý chí của các chủ thể liên quan; chúng đều hình thành từ sự thỏa thuận của các bên liên quan;đều là nguồn chứa đựng quy phạm pháp luật quốc tế; là công cụ pháp lý quan trọng để điềuchỉnh quá trình hợp tác quốc tế
tự, thủ tục Thời gian hình thành điều ước nhanh hơn, theo sát được sự vân động của cácquan hệ quốc tế
Vấn đề sửa đổi, bổ sung trong điều ước đơn giản hơn rất nhiều so với tập quán, vì điềuước tồn tại dưới hình thức văn bản
Câu hỏi đặt ra:
1 Trong cùng một vấn đề, nếu tồn tại cả điều ước quốc tế và tập quán quốc tế điềuchỉnh thì áp dụng nguồn nào? Tại sao? Về nguyên tắc, việc chọn áp dụng nguồn nào là docác bên thỏa thuận lựa chọn áp dụng Tuy nhiên, trong thực tiễn quan hệ quốc tế, nếu có sựxung đột pháp luật giữa hai loại nguồn này, các bên hữu quan thường sẽ thỏa thuận để ápdụng các quy phạm điều ước vì các quy phạm thể hiện trong điều ước quốc tế rõ ràng hơn,minh bạch hơn và mức độ ràng buộc trách nhiệm cao hơn so với tập quán quốc tế Trongđiều 38(1) Quy chế tòa án công lý quốc tế có đưa ra một trật tự áp dụng các nguồn của LQT,theo đó điều ước sẽ được áp dụng trước sau đó mới đến tập quán Điều này không tạo ra sựbất hợp lý, vì tòa án công lý quốc tế vốn không có thẩm quyền đương nhiên, mà được cácquốc gia thỏa thuận trao quyền Do đó, việc đưa tranh chấp ra giải quyết tại tòa là do sự tựnguyện đồng ý đưa tranh chấp ra giải quyết tại tòa cũng đồng nghĩa với của các bên việccác bên chấp nhận quy chế của tòa
Trang 62 Khi một tập quán được pháp điển hóa vào một điều ước thì tập quán đó có còn tồn tạivới tư cách tập quán hay không? Tập quán đó vẫn tồn tại VD: Trong vụ các hoạt độngquân sự và bán quân sự tại Nicaragoa và chống lại Nicaragoa, Tòa án quốc tế đã đưa ra nhậnđịnh (cũng có thể coi là lời giải thích cho vị trí của tập quán quốc tế trong trường hợp này)rằng "việc các nguyên tắc tập quán được pháp điển hóa hoặc được đưa vào các điều ướcquốc tế đa phương không thể nói rằng chúng đã chấm dứt tồn tại và được áp dụng như lànhững nguyên tắc của tập quán quốc tế, ngay cả với các quốc gia là thành viên của các côngước đó"
VD: nguyên tắc tự do biển cả, dù được pháp điển hóa trở thành nguyên tắc cơ bản củaCông ước Luật Biển 1982 nhưng nó vẫn tồn tại với tư cách là tập quán quốc tế
3 Trong quan hệ quốc tế hiện đại, với sự gia tăng các hình thức điều ước như hiệnnay, có khi nào tập quán mất vai trò của mình và bị thay thế hoàn toàn bằng các điều ướchay không? Điều ước quốc tế dù hiện đại đến đâu cũng không thay thế được sự tồn tại củacác tập quán quốc tế.Đây là 2 loại nguồn có sự độc lập nhất định và tồn tại trong mối quan
hệ tác động qua lại lẫn nhau Nhiều điều ước quốc tế có thời hạn 5năm, 10 năm hay nhiềuhơn, khi hết hiệu lực này điều ước không còn tồn tại, và nếu các bên vẫn muốn áp dụngnhững quy định trong điều ước mà không muốn ký kết điều ước các quy định trong điềuước được áp dụng sẽ trở thành tập quán quốc tế
3 Nguồn bổ trợ
a Nguyên tắc pháp luật chung
Đây là các nguyên tắc pháp lý được cả pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế thừanhận và được áp dụng để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia (theo điều 38(1) Quy chếtòa án công lý quốc tế) VD: nguyên tắc gây thiệt hạit hì phải bồi thường, nguyên tắc không
ai là quan tòa chính trong vụ việc của mình trong thực tiễn, nguyên tắc pháp luật chung chỉ
áp dụng sau điều ước quốc tế và tập quán quốc tế với ý nghĩa để giải thích hay làm sáng tỏnội dung của quy phạm LQT
b Phán quyết của Tòa án công lý quốc tế
- Trong đời sống quốc tế, tồn tại nhiều loại tòa án khác nhau như: Tòa án công lý quốc
tế của Liên hợp quốc, Tòa án nhân quyền Châu Âu, Tòa án luật biển, Tòa án Châu Âu Tuynhiên, khi nói đến phán quyết của tòa án với vai trò là nguồn bổ trợ của LQT, chúng ta chủyếu đề cập đến các phán quyết của tòa án công lý quốc tế
- Bản thân các phán quyết là kết quả của quá trình áp dụng pháp luật của tòa án trong quátrình giải quyết tranh chấp quốc tế, và các quyết định tài phán này chỉ có giá trị ràng buộcđối với các bên tranh chấp Điều 59 Quy chế Tòa án quy định "Quyết định của tòa án có giátrị bắt buộc chỉ đối với các bên tham gia vụ án và chỉ đối với các vụ án cụ thể đó" Sở dĩ cácphán quyết này không thể trở thành nguồn cơ bản của LQT vì các nguồn cơ bản phải đượchình thành trên cơ sở của sự thỏa thuận giữa các chủ thể LQT
- Vai trò của các phán quyết: Từ một quy tắc, quy phạm chưa được giải thích, cònchung chung, mơ hồ, khó hiểu, sau khi được các thẩm phán có trình độ và uy tín cao giảithích, các quy tắc, quy phạm LQT sẽ trở lên rõ ràng, sáng tỏ hơn Đây là đóng góp quantrọng của các phán quyết của tòa án quốc tế đối với quá trình giải thích LQT và tạo tiền đềcho sự hình thành các quy phạm mới (VD: Trong vụ tranh chấp giữa Nauy và Anh Phánquyết của tòa trong trường hợp này đã tạo tiền đề cho sự hình thành quy phạm về việc xác
Trang 7định đường cơ sở thẳng đối với các quốc gia có đường bờ biển khúc khuỷu trong quan hệquốc tế liên quan đến biển).
c Nghị quyết của các tổ chức quốc tế
- Nghị quyết: Là văn bản do các cơ quan có thẩm quyền của tổ chức quốc tế thông qua
ở đây, do LQT chỉ đề cập đến tổ chức quốc tế liên chính phủ nên các nghị quyết là nguồn bổtrợ của LQT cũng chỉ dừng lại ở các nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ, màtiêu biểu là nghị quyết của Liên hợp quốc - tổ chức quốc tế đa phương toàn cầu lớn nhất hiệnnay
- Nghị quyết của tổ chức quốc tế liên chính phủ được chia làm 2 loại:
+ Nghị quyết có giá trị bắt buộc: các nghị quyết này chủ yếu quy định các vấn đề liênquan đến các đóng góp cho hoạt động cua tổ chức những nghị quyết này sẽ là nguồn luậtđược viện dẫn đến để giải quyết các quan hệ phát sinh giữa các quốc gia thành viên của tổchức đó
+ Nghị quyết có tính chất khuyến nghị: nhằm hướng dẫn, giải thích các quy phạm LQT
và thể hiện cách nhìn của tổ chức quốc tế về một vấn đề nào đó
Câu hỏi đặt ra:
Nghị quyết của tổ chức liên chính phủ có tính chất là điều ước quốc tế và được gọi làđiều ước quốc tế hay không?Nghị quyết của tổ chức quốc tế liên chính phủ không được gọi
là điều ước quốc tế vì nghị quyết được đưa ra nhân danh một chủ thể nhất định, chứ khôngphải là sự thỏa thuận của các chủ thể Do đó, mặc dù nó có giá trị bắt buộc với các quốc giathành viên, nhưng nó không phải điều ước quốc tế
- Trong quan hệ quốc tế, các chủ thể LQT thường quan tâm đến các nghị quyết củaLiên hợp quốc vì tính chất toàn cầu của tổ chức này Lưu ý rằng, không phải mọi nghị quyếtcủa tổ chức liên chính phủ đều được xếp vào nhóm này, chỉ những nghị quyết chứa đựng nộidung liên quan đến các vấn đề kinh tế, xã hội còn những nghị quyết có tính chất gây hại
đến quan hệ giũa các quốc gia sẽ không được xếp vào nhóm này (Mọi nghị quyết của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc đều có giá trị ràng buộc với các quốc gia thành viên, ngoại trừ các nghị quyết liên quan đến hành chính và thủ tục)
d Hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia
- Đây là những hành vi thể hiện ý chí độc lập của chủ thể LQT Hành vi đơn phươngcủa các quốc gia có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức: tuyên bố, công hàm, phát biểucủa các vị lãnh đạo Nhà nước, tuyên bố chung bất cứ hành vi nào cũng làm phát sinh nghĩa
vụ đối với quốc gia đưa ra hành vi đó Những nghĩa vụ đó có thể là những nghĩa vụ mangtính chính trị, đạo đức Việc từ chối không thực hiện những cam kết đơn phương này sẽ làmgiảm sút uy tín của quốc gia trong quan hệ quốc tế Hiện nay, các hành vi đơn phương ngàycàng đóng vai trò quan trọng
- Về bản chất, hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia không được coi là nguồn củaluật quốc tế, vì nó không đảm bảo yếu tố "thỏa thuận" trong đó Tuy nhiên, nó sẽ trở thànhnguồn bổ trợ của luật quốc tế khi hành vi đơn phương này "có khả năng" tạo ra quyền vànghĩa vụ cho các chủ thể khác trong quan hệ quốc tế
VD: Thụy sỹ đơn phương đưa ra tuyên bố sẽ trở thành quốc gia trung lập vĩnh viễn
Hành vi pháp lý đơn phương của chủ thể LQT thường có các dạng sau:
- Hành vi công nhận: là hành vi thể hiện một cách minh thị hoặc mặc thị ý định xác
nhận một tình hình hoặc yêu cầu nào đó phù hợp với pháp luật
VD: Việt nam công nhận Đông Timo là quốc gia độc lập, có chủ quyền
Ngày 1/10/2008 Somali cũng tuyên bố đang tiến hành chuẩn bị các thủ tục cần
Trang 8thiết cho việc công nhận nền độc lập của hai khu vực mới ly khai khỏi Gruzia là NamOssetia và Apkhazi thông qua tuyên bố đơn phương muốn thiết lập quan hệ ngoại giao vớicác khu vực này
- Hành vi cam kết: là hành vi tạo ra các nghĩa vụ pháp lý mới bằng cách đơn phương
chấp nhận ràng buộc với một nghĩa vụ pháp lý quốc tế vì quyền lợi của chủ thể khác
VD: Tuyên bố của chính phủ Ai Cập năm 1957 về việc cho phép tàu thuyền qua lại tự
do trên kênh đào Xuy-ê
- Hành vi phản đối: là cách thức một quốc gia thể hiện ý chí không công nhận một
hoàn cảnh, một yêu cầu hoặc một thái độ xử sự của chủ thể khác Hành vi này phải đượcbiểu thị minh thị, do cơ quan có thẩm quyền tiến hành
VD: Phản đối hành vi công nhận nền độc lập của Nam Ossetia và Apkhazia từ phíaNga, đại diện của Mỹ (cụ thể là tổng thống và ngoại trưởng Mỹ) đã phát biểu công khai yêucầu Nga phải xem xét lại hành vi công nhận của mình và cho rằng việc Nga công nhận nềnđộc lập của 2 khu vực này là đi ngược lại với các qui định của pháp luật quốc tế, đồng thời
Mỹ cũng đưa ra tuyến bố rằng sẽ sử dụng quyền phủ quyết của mình để ngăn chặn mọi xử sựkhông phù hợp của Nga nhằm công nhận hoặc thiết lập quan hệ với 2 khu vực này
- Hành vi từ bỏ: là hành vi thể hiện ý chí độc lập của chủ thể tự nguyện từ bỏ các
quyền hạn nhất định
VD: Trường hợp của Thụy sỹ, hoặc Nhật bản sau chiến tranh thế giới thứ II đã tuyên bố
từ bỏ chủ quyền của mình đối với quần đảo Fonmôsa
e Các học thuyết của các học giả danh tiếng về LQT
- Các học thuyết về LQT là những tư tưởng, quan điểm thể hiện trong các công trìnhnghiên cứu, tác phẩm và kết luận của các tác giả về những vấn đề lý luận cơ bản của LQT
Do vậy, trong các học thuyết này đôi khi lại đưa ra các kiến giải góp phần làm sáng tỏ nộidung của các quy phạm pháp luật quốc tế và giúp các chủ thể LQT áp dụng chúng dễ dànghơn
- Các học thuyết của các học giả danh tiếng về LQT không phải là nguồn cơ bản củaLQT vì: chúng không phải văn bản pháp lý ràng buộc các quốc gia, không thể hiện ý chí củacác quốc gia được nâng lên thành luật; bản thân các học thuyết này không chứa đựng cácquy phạm pháp luật làm phát sinh quyền và nghĩa vụ cho các quốc gia; chúng không được ápdụng một cách thường xuyên trong quan hệ quốc tế Tuy vậy, các học thuyết này được coi lànguồn bổ trợ của LQT vì những ảnh hưởng tích cực của chúng đến quá trình phát triển củaLQT và quá trình nhận thức của con người về khoa học luật quốc tế
VD: Các luận điểm trong tác phẩm "Biển quốc tế" của tác giả Hugues Grotius có ảnhhưởng rất lớn đến quá trình xây dựng Luật biển quốc tế
4 Mối quan hệ giữa các loại nguồn
a M i quan h gi a đi u ốc tế ệ giữa điều ước quốc tế và tập quán quốc tế ững nội dung sau: ều ước quốc tế ước quốc tế c qu c t và t p quán qu c t ốc tế ế ập quán quốc tế ốc tế ế: Đây là 2 loại nguồn chính, cơ
bản của LQT, chúng tồn tại độc lập với nhau trong hệ thống nguồn của LQT (điều ước không có ý nghĩa loại bỏ hiệu lực áp dụng của tập quán; quá trình pháp điển hóa tập quán không làm mất đi tập quán đã được pháp điển hóa trong điều ước quốc tế),
nhưng giữa chúng lại có mối quan hệ tương tác, biện chứng với nhau Điều này thể hiện ở chỗ:
• Trong quá trình xây dựng quy phạm luật quốc tế
- Tập quán quốc tế có ý nghĩa là cơ sở để hình thành điều ước quốc tế thông qua quátrình pháp điển hóa Việc nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của LQT cho phép
Trang 9khẳng định rằng, nhiều quy phạm điều ước quốc tế có nguồn gốc từ quy phạm tập quán quốctế.
VD: các quy định về quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao, lãnh sự xuất phát từ nguyên tắctồn tại từ thời phong kiến là "không giết hại sứ thần", ban đầu quy định này tồn tại dưới dạngtập quan quốc tế, sau được pháp điển hóa thành điều ước
- Điều ước quốc tế là cơ sở hình thành tập quán thông qua thực tiễn ký kết và thực hiện điềuước quốc tế
VD: trường hợp bên thứ 3 áp dụng các quy phạm trong hiệp định song phương
• Trong quá trình thực hiện LQT
- Việc tồn tại điều ước quốc tế không có ý nghĩa loại bỏ giá trị áp dụng của tập quánquốc tế tương đương về nội dung Cả điều ước quốc tế và tập quán quốc tế đều được hìnhthành từ sự thỏa thuận của các chủ thể LQT, do đó chúng có giá trị pháp lý ngang nhau, cùngsong song tồn tại
VD: nguyên tắc tự do biển cả tồn tại ở cả 2 hình thức là tập quán và điều ước
- Quy phạm tập quán có thể bị thay đổi, hủy bỏ bằng con đường điều ước và ngượclại cũng có trường hợp điều ước quốc tế bị hủy bỏ hoặc thay đổi bằng con đường tập quán VD: Tập quán có nội dung trái với quy phạm Jus Cogens mới ra đời tập quán này sẽ bịhủy bỏ
VD: Xuất hiện quy phạm JusCogens mới dưới dạng tập quán điều ước bị hủy bỏ
- Tập quán có thể tạo điều kiện để mở rộng hiệu lực của điều ước quốc tế trong trườnghợp các chủ thể của LQT không phải là thành viên của điều ước nhưng có quyền viện dẫnđến quy phạm điều ước với tính chất là tập quán quốc tế áp dụng cho bên thứ ba
VD: Hiệu lực của điều ước với bên thứ 3 do viện dẫn các quy phạm của điều ước dướidạng tập quán quốc tế
Mối quan hệ trên đây khẳng định tính độc lập tồn tại của 2 loại nguồn cơ bản của LQT,đồng thời khẳng định mối quan hệ qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau giữa chúng trong các quan
hệ quốc tế
b.M i quan h gi a ngu n c b n và ngu n b tr ốc tế ệ giữa điều ước quốc tế và tập quán quốc tế ững nội dung sau: ồn ơ sở pháp lý xác định nguồn ản có những nội dung sau: ồn ổ trợ ợ
- Nguồn cơ bản: Hình thành từ sự thỏa thuận của các chủ thể LQT Nó chứa đựng cácquy phạm pháp lý quốc tế và có giá trị rang buộc đối với các chủ thể LQT
- Nguồn bổ trợ: có thể chứa đựng quy phạm pháp lý quốc tế, nhưng đa phần là khôngchứa các quy phạm Nó không được hình thành từ sự thỏa thuận, trong nhiều trường hợp nókhông có giá trị ràng buộc
Giữa nguồn cơ bản và phương tiện hỗ trợ có mối quan hệ qua lại, hỗ trợ cho nhau Điều này thể hiện ở chỗ:
- Nguồn hỗ trợ đóng vai trò là phương tiện hỗ trợ cho nguồn cơ bản, thông qua cácphương tiện này người ta xây dựng các quy phạm LQT nhanh chóng hơn
- Nguồn hỗ trợ có vai trò trong việc giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật quốc tếtrong từng trường hợp cụ thể Góp phần làm sáng tỏ các quy định của LQT, tạo tiền đề quantrọng để các chủ thể LQT có cơ hội tiếp cận và giải thích LQT theo nghĩa chung thống nhất
- Các chủ thể của LQT có thể viện dẫn các phương tiện hỗ trợ (phán quyết của tòa án)
để xác định trách nhiệm của các chủ thể liên quan
Trang 10VD: Dựa vào phán quyết của tòa án quốc tế về việc giải quyết tranh chấp giữa Thái Lan
và Campuchia liên quan đến đền Preah Vihear, Thái Lan không thể khẳng định ngôi đền đóthuộc về mình
- Một số quy phạm trước đây đã tồn tại trong nguồn hỗ trợ, tùy từng trường hợp nó cóthể trở thành nguồn cơ bản của LQT
VD: Phán quyết của tòa án quốc tế trong vụ giải quyết tranh chấp ngư trường Anh Nauy Từ phán quyết này của tòa án, rất nhiều quốc gia có đường bờ biển khúc khuỷu nhưcủa Nauy đã áp dụng phương pháp đường cơ sở thẳng để xác định các vùng biển của quốcgia mình Như vậy, ban đầu phán quyết này của tòa án quốc tế chỉ có giá trị bắt buộc đối vớicác bên tranh chấp, nhưng sau đó nó được sử dụng rộng rãi được ghi nhận trở thành tậpquán quốc tế và được cộng đồng quốc tế thừa nhận trong công ước Luật Biển
-Vấn đề 4 MQH giữa luật QG và luật QT
* Cơ sở của mối quan hệ giữa LQT và LQG
_ LQT& LQG có quan hệ biện chứng luôn tác động lẫn nhau
_ LQT là công cụ để nhà nước thực hiện chức năng đối ngọai, LQG là công cụ để nhà nước thực hiện chức năng đối nội
_Việc thực hiện chức năng đối ngoại luôn xuất phát từ thực tiễn thực hiện chúc năng đối nội,thực hiện chức năng đối ngọai sẽ tác động rất mạnh mẽ đến chức năng đối nội vì lợi ích quốc gia.
• Sự tác động qua lại giữa LQT& LQG
_LQG ảnh hưởng quyêtd định đến sự hình thành và phát triển LQT:
+LQG có trước, là nền tảng hình thành và phát triển LQT, không có LQG thì sẽ không có LQT
+Nội dung LQG chi phối nội dung LQT ( vì bản chất quá trình xây dựng các QPPLQT mà các quốc gia tiến hành thông qua phương thức thỏa thuận chính là quá trình đưa ý chí quốc gia vào nội dung của LQT)
+LQG là điều kiện để thực thi LQT
+LQG là phương tiện để chuyểN tải, thực hiện LQT Về nguyên tắc luật quốc tế không có hiệu lực trực tiếp trên lãnh thổ các quốc gia có độc lập chủ quyền, các quy phạm của nó không trực tiếp điều chỉnh quan hệ phát sinh trong nội bộ mỗi quốc gia Do đó để LQT đượcthực hiện ở từng quốc gia thì các quy phạm của nó phải được đi vào hệ thống pháp luật quốcgia theo trình tự thủ tục do quốc gia quy định ( gọi là quá trình chuyển hóa)
_LQT tác động đến LQG, thường xuyên thúc đẩy sự hoàn thiện và phát triển LQG
+LQT tác động hoàn thiện LQG thông qua nghĩa vụ thực hiện LQT& việc chuyển hóa LQT vào LQG khi quốc gia tham gia vào các điều ước quốc tế
+LQT thúc đẩy LQG phát triển theo chiều hướng ngày càng tiến bộ LQT sau khi được áp dụng ở quốc gia đã mang lại cho pháp luật quốc gia những thay đổi, bổ sung mới theo hướngngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp hơn với quy luật vận động của xã hội, tạo điều kiện cho
Trang 11pháp luật ở mỗi quốc gia cĩ thể hịa nhập vào nền văn hĩa pháp lý nĩi chung và thiết lập một
hệ thống pháp luật quốc gia phát triển ở cấp độ mới Sở dĩ như vậy là do:
Luật quốc tế là kết quả thỏa thuận giữa các quốc gia, thể hiện rất nhiều sự tiến bộ, nhiều thành tựu mới của khoa học pháp lý hiện đại Nên khi áp dụng LQT, LQG cĩ thể tiếp thu những thành tựu đĩ
Trong quá trình thực hiện LQT thì ở tùng quốc gia luơn đặt ra yêu cầu cĩ sự phù hợp giữa hai hệ thống pháp luật, do đĩ trong quá trình chuyển hĩa LQT vào LQG, LQG cĩ sự tiếp thunhững thành tựu, những khoa học pháp lý mới tiến bộ vào hệ thống pháp luật nước mình, đồng thời cũng kịp thời sửa đổi, bổ sung hay hủy bỏ những quy định đã lạc hậu, lỗi thời khơng phù hợp với thực tiến
Việc tham gia luật quốc tế, tức là mở rộng thêm quan hệ quốc tế của mỗi quốc gia, việc mở rộng quan hệ quốc tế một mặt tăng sức cạnh tranh, mặt khác nĩ tạo điều kiện để quốc gia “tiếp thu thành quả cộng đồng”, các thành quả này thực sự cĩ tác dụng thúc đẩy sự phát triển của nội luật
* Giá trị ưu tiên thi hành của LQT, LQG:
_ Cơ sở:+ Bằng quy định của LQG
+ Ngtắc tận tâm thiện chí thực hiện đưqt
+ ĐƯQT cĩ hiệu lực thấp hơn HP Vì HP là đạo luật cbản của nhà nước, khi xem xét kí kết
ĐƯ các nhf chức trách thường xem xét nĩ cĩ trái với qđịnh của HP và ngtắc cbản của LQT hay ko
+ ĐƯQT cĩ gtrị cao hơn các Vbản Luật, bộ luật, VBPL khc Trong các vb luật thường ghi: trong trường hợp quy định này trái với ĐƯQT thì áp dụng ĐƯQT
+ Đối với tập quán Qt: việc xđ vị trí khĩ khăn vì cĩ sự ko thống nhất theo khoản 3đ5lhs99 tập quán chiếm ưu thế hơn ĐƯQT ( áp dụng tập quán ưu tiên đối với các dối tượng hg quyềnmiễn trừ ngoại giao) Cịn theo k3đ4 luật TM97 thì : Trong hđồng dc thoả thuận áp dụng thương mại quốc tế , nếu tập quán ko trái luật vn thì áp dụng tập quán, như vậy tập quán lại
cĩ gtrị thấp hơn luật
_ Việc ưu tiên LQT ko xâm phạm chủ quyền quốc gia vì nĩ thực hiện chủ quyền của LQG, đảm bảo lợi ích của LQG, thể hiện ý chí của QG
Câau 5 So sánh luật quốc tế & luật quốc gia
Luật quốc tế hiện đại là tổng thể những nguyên tắc, những qui phạm pháp luật quốc tế do các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế xây dựng trên cơ sở tự nguyện & bình đẳng, thông qua đấu tranh & thương lượng nhằmđiều chỉnh mối quan hệ nhiều mặt (chủ yếu là quan hệ chính trị) giữa các chủthể luật quốc tế với nhau (trước tiên & chủ yếu giữa các quốc gia) trong nhữngtrường hợp cần thiết cần thiết luật quốc tế được bảo đảm thi hành bằng những biện pháp cưỡng chế riêng lẻ hoặc tập thểà do chính các chủ thể luật quốc tế thi hành hoặc bằng sức đấu tranh của nhân dân cùng dư luận tiến bộ Thế giới
Về đối tượng điều chỉnh pháp luật quốc gia điều chỉnh những quan hệ xã hội
phát sinh trong nội bộ phạm vi lãnh thổ , còn pháp luật quốc tế điều chỉnh
Trang 12những quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống sinh họat quốc tế giữa các chủ thể luật quốc tế.
Về chủ thể chủ thể luật quốc gia là thể nhân, pháp nhân & nhà nước tham
gia với tư cách là chủ thể đặc biệt khi nhà nước là một bên trong quan hệ, còn chủ thể của pháp luật quốc tế là các quốc gia có chủ quyền, các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập, các tổ chức liên chính phủ & các chủ thể khác
Về trình tự xây dựng Pháp Luật: việc xây dựng pháp luật & trình tự xây
đựng pháp luật của pháp luật quốc gia do cơ quan lập pháp thực hiện còn xây dựng & trình tự xây dựng pháp luật quốc tế do không có cơ quan lập pháp nên khi xây dựng các qui phạm thành văn bất thành văn chủ iếu do sự thỏa thuận giữa các chủ thể có chủ quyền quốc gia của luật quốc tế
Về biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật quốc gia có bộ máy cưỡng chế tập
trung thường trực như quân đội, cảnh sát,tòa án nhà tù…làm biện pháp bảo đảm thi hành, còn pháp luật quốc tế thì không có bộ máy cưỡng chế tập trung thường trực mà chỉ có một số biện pháp cưỡng chế nhất định mang tính tự cưỡng chế dưới hình thức riêng rẽ hoặc tập thể
Về phương pháp điều chỉnh các ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc gia
có phương pháp điều chỉnh khác nhau còn các ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc tế thì chỉ có một phương pháp điều chỉnh là sự thỏa thuận
Vấn đề 5 Các nguyên tắc cơ bản của Luật QT
1.Định nghĩa
Các nguyên tắc cơ bản của LQT được hiểu là những tư tưởng chính trị, pháp lý mang tính chỉ đạo, bao trùm, cĩ giá trị bắt buộc chung (Jus cogens) đối với mọi chủ thể LQT Trong LQT, các nguyên tắc cơ bản tồn tại dưới dạng những quy phạm Jus cogens được ghi nhận ở điều ước quốc tế và tập quán quốc tế
2 Đặc điểm
Các nguyên tắc cơ bản của LQT cĩ 4 đặc điểm sau:
- Tính mệnh lệnh chung: Biểu hiện ở chỗ:
+ Tất cả các loại chủ thể đều phải tuyệt đối tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của LQT
(VD: Hiến chương LHQ ghi nhận nguyên tắc "tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế" là nguyên tắc cơ bản của LQT
+ Khơng một chủ thể hay nhĩm chủ thể nào của LQT cĩ quyền hủy bỏ nguyên tắc cơ bản của LQT
+ Bất kỳ hành vi đơn phương nào khơng tuân thủ triệt để nguyên tắc cơ bản của LQT đều bị
Trang 13coi là sự vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế
+ Các quy phạm điều ước và tập quán quốc tế có nội dung trái với các nguyên tắc cơ bản củaLQT đều không có giá trị pháp lý
- Tính bao trùm: Nguyên tắc cơ bản của LQT là chuẩn mực để xác định tính hợp pháp của toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp lý quốc tế Đồng thời chúng được thực hiện trong tất cảcác lĩnh vực của quan hệ quốc tế giữa các quốc gia
(VD: Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác được áp dụng trong hầu hết các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa-xã hội
- Tính hệ thống: Các nguyên tắc cơ bản của LQT có mối quan hệ mật thiết với nhau trong một chỉnh thể thống nhất Biểu hiện ở chỗ: việc tôn trọng hay phá vỡ nguyên tắc này sẽ làm ảnh hưởng đến nội dung và việc tuân thủ nguyên tắc khác
(VD: Nguyên tắc "bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia" là nguyên tắc nền tảng để trên cơ
sở đó các chủ thể LQT thực hiện các nguyên tắc khác)
- Tính thừa nhận rộng rãi: Đặc trưng này thể hiện ở chỗ: các nguyên tắc cơ bản của LQT được áp dụng trong phạm vi toàn thế giới, đồng thời chúng được ghi nhận trong hầu hết các văn bản pháp lý quốc tế quan trọng như: Hiến Chương Liên hợp quốc, Hiệp ước thân thiện
và hợp tác Đông Nam Á
đặc điểm về tính mệnh lệnh chung là quan trọng nhất, tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng để các nguyên tắc cơ bản của LQT chi phối lại các nguyên tắc pháp luật chung và nguyên tắc chuyên ngành
1 Nội dung nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia: là cơ sở để trật tự thế
giới phát triển ổn định, hội nhập, tiến bộ
Đây cũng là nguyên tắc đầu tiên, làm nền tảng cho hoạt động của LHQ
_Nội dung của ngtắc: Bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia gồm các nội dung cơ bản
sau:
+ Mọi quốc gia bình đẳng về mặt pháp lý
+ Mỗi quốc gia được hưởng các quyền xuất phát từ chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ
+ Mỗi quốc gia phải có nghĩa vụ tôn trọng chủ quyền của quốc gia khác
+ Mọi quốc gia đều có quyền toàn vẹn lãnh thổ& quyền độc lập về chính trị cuả quốc gia là bất khả xâm phạm
+ Mỗi quốc gia có quyền tự do lựa chọn& phát triển chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá, xh của mình
+ Mỗi quốc gia có nghĩa vụ tuân thủ 1 cách đầu đủ& thiện chí các nghĩa vụ quốc tế của mình&chung sống hoà bình với quốc gia khác
_ Chủ quyền quốc gia:
+Chủ quyền là thuộc tính chính trị_ pháp lý không thể tách rời của quốc gia, gồm quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình& quyền độc lập cảu quốc gia trong quan
hệ quốc tế
+Trong phạm vi lãnh thổ của mình, quốc gia thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
mà không có bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài
+ Trong quan hệ quốc tế, quyền độc lập của 1 quốc gia thể hiện qua quyền tự quyết mọi vấn
đề đối nội, đối ngoại của quốc gia không có sự áp đặt từ chủ thể khác, trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của mọi quốc gia trong cộng đống quốc tế
_Ngoại lệ của nguyên tắc
Trang 14trong thực tiễn quan hệ quốc tế, các chủ thể LQT đã thừa nhận một số trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc này đó là:
-Trường hợp các quốc gia tự hạn chế chủ quyền của mình: Đây là trường hợp các quốc gia tựlựa chọn vì lợi ích của chính mình hoặc họ tự hạn chế chủ quyền của mình bằng cách trao quyền cho 1 thể chế khác (như tổ chức quốc tế, quốc gia khác ) được thay mặt mình trong các hoạt động liên quan đến lợi ích của quốc gia Trong trường hợp này, quốc gia đã tự không vi phạm nguyên tắc bình đẳng chủ quyền nguyện hạn chế chủ quyền của mình giữa các quốc gia
(VD: - Công quốc Mônacô cho phép Pháp thay mặt họ trong mọi quan hệ đối ngoại, dù nó làmột quốc gia độc lập, có chủ quyền
-Trường hợp các quốc gia bị hạn chế chủ quyền: Trường hợp này chỉ đặt ra đối với các chủ thể có hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế, và việc bị hạn chế chủ quyền là một biện pháp trừng phạt từ phía cộng đồng quốc tế đối với quốc gia họ
VD: Irắc tấn công Cô-oét năm 1990-đây là một hành vi vi phạm trắng trợn các nguyên tắc cơbản của LQT Do đó, HĐBA đã tiến hành áp dụng một loạt các biện pháp cấm vận về kinh tếđối với Irắc
2 Nguyên tắc cấm đe dọa dùng vũ lực hay dùng vũ lực
b Nội dung nguyên tắc
khái niệm "vũ lực" theo luật quốc tế hiện đại không chỉ bó hẹp trong khuôn khổ là sử dụng hoặc đe dọa sử dụng lực lượng vũ trang để chống lại chủ quyền, độc lập của quốc gia khác
mà còn mở rộng việc nghiêm cấm sử dụng các sức mạnh hay đe dọa dùng sức mạnh phi vũ trang trong quan hệ quốc tế Nội dung của nguyên tắc này như sau:
- Cấm xâm chiếm lãnh thổ quốc gia khác trái với các quy phạm của luật quốc tế;
c Ngoại lệ của nguyên tắc
Các quốc gia có quyền sử dụng lực lượng vũ trang để thực hiện quyền tự vệ hợp pháp, kể cả việc sử dụng biện pháp quân sự nhưng phải tuân thủ nguyên tắc tương xứng
- Cơ sở pháp lý: Điều 51 Hiến chương Liên hợp quốc quy định" Những biện pháp do các hộiviên thi hành trong việc thực hiện quyền tự vệ chính đáng ấy phải được báo ngay cho Hội đồng bảo an biết và không được ảnh hưởng đến quyền hạn và nhiệm vụ của Hội đồng bảo
an, mà theo Hiến chương này Hội đồng bảo an có thể bất cứ lúc nào áp dụng những hành động xét thấy cần thiết để duy trì và khôi phục hòa bình và an ninh quốc tế"
Như vậy, Hiến chương LHQ thừa nhận quyền tự vệ chính đáng của các quốc gia,
- Theo điều 51 Hiến chương Liên hợp quốc thì tiêu chí để xác định hành vi tự vệ hợp pháp là: có hành động tấn công vũ trang Nếu hành vi tự vệ xảy ra sau khi có hành động tấn công
vũ trang là tự vệ hợp pháp, nếu hành vi tự vệ xảy ra trước khi có hành động tấn công vũ trang là tự vệ bất hợp pháp
- Quyền tự vệ hợp pháp của quốc gia được thực hiện với điều kiện: quốc gia đó bị tấn công
vũ trang trước; mức độ thực hiện tự vệ phải tương xứng với hành vi vi phạm, nếu vượt quá mức độ vi phạm thì hành vi tự vệ đó không được coi là tự vệ hợp pháp
Trang 15- Ngoài các vấn đề trên, Điều 51 Hiến chương cũng quy định, quyền tự vệ chính đáng của cánhân hay tập thể chỉ được sử dụng "cho đến khi Hội đồng bảo an ấn định những biện pháp cần thiết để duy trì hòa bình và an ninh quốc tế "
Cộng đồng quốc tế có quyền áp dụng các biện pháp trừng phạt, kể cả các biện pháp quân sự đối với các chủ thể có hành vi vi phạm nghiêm trọng luật quốc tế
3 Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế
b.Nội dung nguyên tắc
- Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế được ghi nhận lần đầu tiên trong Hiến chương liên hợp quốc và được khẳng định rõ ràng trong Tuyên bố năm 1970, trong đó chỉ rõ
"mỗi quốc gia giải quyết tranh chấp quốc tế của mình với các quốc gia khác bằng phương pháp hòa bình để không dẫn đến đe dọa hòa bình, an ninh quốc tế và công bằng"
* Các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp: Điều 33 Hiến chương liên hợp quốc đã quy định cụ thể các biện pháp hòa bình mà các bên tranh chấp có thể lựa chọn, đó là các con đường : " đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án, sử dụng các tổ chức hoặc các hiệp định khu vực, hoặc bằng các biện pháp hòa bình khác tùy theo sự lựa chọn củamình" Như vậy, hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi quốc gia- thành viên của cộng đồng quốc tế Các bên có quyền tự do lựa chọn các biện pháp phù hợp nhất, sao cho mọi tranh chấp đều được giải quyết trên cơ sở luật quốc tế và nguyên tắc công bằng Thực tiễn cho thấy, phương pháp đàm phán là phương pháp thường xuyên được các quốc gia sử dụng để giải quyết các tranh chấp hoặc bất đồng với nhau
- Đây là một nguyên tắc không tồn tại bất kỳ ngoại lệ nào.
- Hội đồng bảo an Liên hợp quốc luôn phải tôn trọng biện pháp giải quyết hòa bình mà các bên lựa chọn Trong trường hợp các bên tự lựa chọn mà vẫn không giải quyết triệt để vấn đề,hội đồng bảo an có quyền kiến nghị các bên áp dụng các biện pháp khác nhằm nhanh chóng chấm dứt những mối đe dọa
c Thực tiễn vận dụng nguyên tắc
Cùng với quá trình hội nhập khu vực và quốc tế, với việc tham gia tích cực vào các tổ chức quốc tế, hiện nay cộng đồng quốc tế đang dần thừa nhận vai trò cũng như tính hiệu quả của các biện pháp giải quyết tranh chấp thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp của các tổ chức quốc tế như: EU, Asean, liên hợp quốc
4 Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác
b Nội dung nguyên tắc
* Khái niệm "công việc nội bộ" của mỗi quốc gia: công việc nội bộ của mỗi quốc gia là côngviệc nằm trong thẩm quyền giải quyết của mỗi quốc gia độc lập xuất phát từ chủ quyền của mình, đó là quyền tối thượng của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập trong quan hệ quốc
Việc can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác được thực hiện theo 2 cách là can thiệp trực tiếp và can thiệp gián tiếp
- Can thiệp trực tiếp là việc một (hoặc một nhóm) quốc gia dùng áp lực quân sự, chính trị, kinh tế và các biện pháp khác nhằm khống chế quốc gia khác trong việc thực hiện các quyền thuộc chủ quyền nhằm ép buộc quốc gia đó phụ thuộc vào mình
- Can thiệp gián tiếp là các biện pháp quân sự, kinh tế do quốc gia tổ chức, khuyến khích các phần tử phá hoại hoặc khủng bố nhằm vào mục đích lật đổ chính quyền hợp pháp của quốc gia khác hoặc gây mất ổn định cho tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của nước này
Trang 16VD: hành vi giúp đỡ tài chính, cung cấp vũ khí, huấn luyện đào tạo các băng đảng vũ trang nhằm lật đổ chính quyền của quốc gia khác
* Nội dung của nguyên tắc: Nguyên tắc này không cho phép bất kỳ quốc gia nào dù lớn hay nhỏ, dù giàu hay nghèo, dù văn minh hay lạc hậu được quyền can thiệp vào các lĩnh vực thuộc thẩm quyền riêng biệt của mỗi quốc gia, xuất phát từ chủ quyền của mình Cụ thể:
- Cấm can thiệp vũ trang và các hình thức can thiệp hoặc đe dọa can thiệp khác nhằm chống lại chủ quyền, nền tảng chính trị, văn hóa-xã hội của quốc gia;
- Cấm dùng các biện pháp kinh tế, chính trị và các biện pháp khác để bắt buộc quốc gia khácphụ thuộc vào mình;
- Cấm tổ chức, khuyến khích các phần tử phá hoại hoặc khủng bố nhằm lật đổ chính quyền của quốc gia khác;
- Cấm can thiệp vào cuộc đấu tranh nội bộ của quốc gia khác;
- Tôn trọng quyền của mỗi quốc gia tự do lựa chọn chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội không có sự can thiệp từ phía các quốc gia khác
c Ngoại lệ của nguyên tắc:
chủ thể LQT lại thừa nhận việc can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác trong các trường hợp sau:
Khi có xung đột vũ trang xảy ra trong nội bộ của quốc gia: về nguyên tắc, cộng đồng quốc
tế sẽ không có quyền can thiệp Tuy nhiên, nếu cuộc xung đột này đạt đến mức độ nghiêm trọng, và có thể gây ra mất ổn định trong khu vực, đe dọa hoà bình và an ninh quốc tế, thì cộng đồng quốc tế - thông qua Hội đồng bảo an Liên hợp quốc - được quyền can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp vào cuộc xung đột hành động này không bị coi là vi phạm nội dung của nguyên tắc "không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác"
Khi có hành vi vi phạm nghiêm trọng các quyền cơ bản của con người, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hòa bình và an ninh quốc tế
VD: Nam Phi cũ: việc thiết lập chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Apacthai Đây là công việc nội
bộ của Nam Phi Tuy nhiên, việc thựchiện chính sách phân biệt chủng tộc, thực hiện tội ác diệt chủng là vô cùng dã man, vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế về quyền con người Cộng đồng quốc tế đã lên tiếng và áp dụng các biện pháp cần thiết để "can thiệp" phù hợp vàngăn cản chính sách này của Nam Phi
Có sự thỏa thuận của các bên liên quan
5 Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác
b Nội dung nguyên tắc
Điều 55 của Hiến chương quy định, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ hợp tác với nhau, đồng thời có nghĩa vụ hợp tác với các tổ chức quốc tế nhằm mục đích thực hiện tôn chỉ, mụctiêu của chúng
* Theo Tuyên bố năm 1970 nội dung của nguyên tắc này bao gồm:
- Quốc gia phải hợp tác với các quốc gia khác trong việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế;
- Các quốc gia phải hợp tác để khuyến khích sự tôn trọng chung và tuân thủ quyền con người
và các quyền tự do cơ bản khác của cá nhân, thủ tiêu các hình thức phân biệt tôn giáo, sắc tộc, chủng tộc;
- Các quốc gia phải tiến hành quan hệ quốc tế trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, thươngmại và kỹ thuật, công nghệ theo các nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;
- Các quốc gia thành viên LHQ phải thực hiện các hành động chung hay riêng trong việc hợptác với LHQ theo quy định của Hiến chương;
Trang 17- Các quốc gia phải hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa, khoa học, công nghệ nhằm khuyến khích sự tiến bộ về văn hóa, giáo dục, phát triển kinh tế trên toàn thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển
Như vậy, khi quy định nghĩa vụ hợp tác của các quốc gia trong những vấn đề chung, Tuyên
bố năm 1970 đã đặc biệt nhấn mạnh đến sự hợp tác quốc tế nhằm thúc đẩy tư tưởng, kinh tế của các nước đang phát triển; đồng thời xác lập việc hợp tác giữa các quốc gia vừa là quyền nhưng cũng là nghĩa vụ của họ trong quan hệ quốc tế
6 Nguyên tắc dân tộc tự quyết
Trang 18b Nội dung của nguyên tắc
* "Quyền dân tộc tự quyết" được hiểu là việc một dân tộc hoàn toàn tự do trong việc tiến hành cuộc đấu tranh giành độc lập cũng như lựa chọn thể chế chính trị, đường lối phát triển đất nước Khoản 2 điều 1 Hiến chương LHQ ghi nhận "phát triển quán hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền và dân tộc
tự quyết"
nguyên tắc dân tộc tự quyết bao hàm các nội dung sau:
- Được thành lập quốc gia độc lập hay cùng với các dân tộc khác thành lập quốc gia liên bang (hoặc đơn nhất) trên cơ sở tự nguyện;
- Tự lựa chọn cho mình chế độ chính trị, kinh tế xã hội;
- Tự giải quyết các vấn đề đối nội không có sự can thiệp từ bên ngoài;
- Quyền các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc tiến hành đấu tranh, kể cả đấu tranh vũ trang
để giành độc lập và nhận sự giúp đỡ và ủng hộ từ bên ngoài, kể cả giúp đỡ về quân sự;
- Tự lựa chọn con đường phát triển phù hợp với truyền thống, lịch sử văn hóa, tín
ngưỡng, điều kiện địa lý
Tất cả các quyền nêu trên của mỗi dân tộc đều được các dân tộc và các quốc gia khác tôn trọng
7 Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế (Pacta sunt servanda)
b Nội dung nguyên tắc
nguyên tắc này bao gồm các nội dung chính sau:
- Mọi quốc gia đều có nghĩa vụ thực hiện tự nguyện và có thiện chí, trung thực và đầy đủ các nghĩa vụ điều ước quốc tế của mình: các nghĩa vụ phát sinh từ Hiến chương Liên hợpquốc; các nghĩa vụ phát sinh từ các nguyên tắc và quy phạm được thừa nhận rộng rãi của luật quốc tế; nghĩa vụ theo các đều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên
- Mọi quốc gia phải tuyệt đối tuân thủ việc thực hiện nghĩa vụ điều ước quốc tế, tuân thủ một cách triệt để, không do dự
- Các quốc gia thành viên điều ước quốc tế không được viện dẫn các quy định của pháp luật trong nước để coi đó là nguyên nhân và từ chối thực hiện nghĩa vụ của mình
- Các quốc gia không có quyền ký kết điều ước quốc tế mâu thuẫn với nghĩa vụ của mình được quy định trong điều ước quốc tế hiện hành mà quốc gia ký kết hoặc tham gia ký kết trước đó với các quốc gia khác
- Không cho phép các quốc gia đơn phương ngừng thực hiện và xem xét lại điều ước quốc tế Hành vi này chỉ được thực hiện với phương thức đình chỉ và xem xét hợp pháp theo sự thỏa thuận của các bên là thành viên điều ước
- Việc cắt đứt quan hệ ngoại giao hay quan hệ lãnh sự giữa các nước thành viên của điều ước quốc tế không làm ảnh hưởng đến các quan hệ pháp lý phát sinh giữa các quốc gia này, trừ trường hợp các quan hệ ngoại giao hoặc lãnh sự này là cần thiết cho việc thực hiện điều ước (Điều 63 Công ước Viên 1969)
c Ngoại lệ của nguyên tắc
Luật quốc tế đòi hỏi các quốc gia thực hiện tận tâm, có thiện trí và đầy đủ các nghĩa vụ của điều ước Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng cho phép các quốc gia có thể không phải thực hiện điều ước quốc tế mà mình là thành viên trong các trường hợp sau đây:
18
Trang 19Các quốc gia không phải thực hiện điều ước quốc tế nếu trong quá trình ký kết các bên có
sự vi phạm pháp luật quốc gia về thẩm quyền và thủ tục ký kết
VD: Theo pháp luật Việt Nam điều ước quốc tế chỉ được ký với 2 danh nghĩa nhà nước
và chính phủ Nếu điều ước nào được ký với danh nghĩa của các bộ, ngành không được coi là một điều ước quốc tế
Khi điều ước quốc tế có nội dung trái với Hiến chương Liên hợp quốc, trái với các nguyên tắc và quy phạm được thừa nhận rộng rãi của luật quốc tế
(VD: 2 quốc gia ký kết một điều ước quốc tế có nội dung thiết lập chính sách nhằm phân biệt đối xử giữa các sắc tộc khác nhau )
Khi có sự vi phạm nghiêm trọng của một bên cam kết thì bên còn lại có quyền từ chối thực hiện, vì nghĩa vụ theo điều ước quốc tế chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở có đi có lại
Khi xuất hiện điều khoản Rebus-sic-stantibus (điều khoản về sự thay đổi cơ bản của hoàncảnh) dẫn đến các bên không thể tiếp tục thực hiện được điều ước quốc tế (Điều 62 Công ước Viên 1969) Khi xuất hiện điều khoản này, các quốc gia có thể viện dẫn để thực hiện
1 trong 3 hành vi sau:
- Chấm dứt hiệu lực hành vi này làm mất hoàn toàn hiệu lực của điều ước quốc tế
hành vi này chỉ tạm thời
- Tạm đình chỉ hiệu lực của điều ước quốc tế làm mất hiệu lực của điều ước quốc tế
- Rút khỏi quan hệ điều ước quốc tế hành vi này không làm chấm dứt hiệu lực hoàn toàn của điều ước quốc tế Điều ước quốc tế chỉ mất hiệu lực với quốc gia viện dẫn điều khoảnRebus-sic-stantibus, nó vẫn có hiệu lực đối với các quốc gia thành viên khác của điều ước
+ Hoàn cảnh bị thay đổi được ghi nhận trong điều 62 Công ước Viên 1969 phải là cơ sở chủ yếu tạo nên sự thỏa thuận của các bên; hoàn cảnh này các bên không thể thấy trước (dự liệu trước) vào thời điểm ký kết điều ước quốc tế
+ Sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh được hiểu là: hoàn cảnh đó bị xáo trộn lớn đến mức làm biến đổi một cách cơ bản phạm vi của những nghĩa vụ mà các bên sự thay đổi này vượt ra khỏi tầm kiểm soátcủa các bên vẫn còn phải thi hành theo điều ước các bên không thể tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình trong quanhệ điều ước Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh sẽ không thể được nêu lênlàm lý do để chấm dứt hoặc rút khỏi quan hệ điều ước nếu đó là điều ước liên quan đến việc thiết lập biên giới quốc gia; hoặc sự thay đổi đó là kết quả của một sự vi phạm nghiêm trọng của chính bên nêu lên nó Trong trường hợp này, bên còn lại có thể viện dẫn chính điều khoản Rebus-sic-stantibus để giải thoát mình khỏi các nghĩa vụ trong camkết mà không bị coi là vi phạm nguyên tắc Pacta sunt servanda Tuy nhiên, việc áp dụng điều khoản Rebus-sic-stantibus phải được
thông báo cho bên kia biết
Vấn đề 6 Chủ thể của luật QT
I KHÁI NIỆM
1 Định nghĩa
19
Trang 20- Khác với các chủ thể thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật quốc gia, các chủ thể củaluật quốc tế không xuất hiện tại cùng một thời điểm với nhau.Khi tham gia vào các quan
hệ pháp luật quốc tế, do tính chất quyền năng chủ thể khác nhau nên vai trò của các chủ
thể luật quốc tế cũng khác nhau Về cơ bản, việc xác định một thực thể là chủ thể của
luật quốc tế có một số dấu hiệu sau:
- Có sự tham gia vào các quan hệ quốc tế do luật quốc tế điều chỉnh
- Có ý chí độc lập (không phụ thuộc vào các chủ thể khác) trong sinh hoạt quốc tế;
- Có đầy đủ quyền và nghĩa vụ riêng biệt đối với các chủ thể khác thuộc phạm vi điều chỉnh của luật quốc tế;
- Có khả năng gánh vác những trách nhiêm pháp lý quốc tế do những hành vi mà chủ thể
đã thực hiện gây ra
Căn cứ vào các dấu hiệu nêu trên, có thể thấy: Chủ thể luật quốc tế là những thực thể độclập tham gia vào những quan hệ do luật quốc tế điều chỉnh, có đầy đủ các quyền, nghĩa
vụ và khả năng gánh vác trách nhiệm pháp lý quốc tế từ những hành vi mà chính chủ thể thực hiện
chủ thể của luật quốc tế bao gồm: Quốc gia, tổ chức quốc tế, dân tộc đang đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết, và một số thực thể đặc biệt khác Trong đó, quốc gia được xác định là chủ thể truyền thống và phổ biến nhất của luật quốc tế
* Phân loại chủ thể LQT
Căn cứ vào nội dung quyền năng chủ thể, các chủ thể luật quốc tế được phân thành:
- Chủ thể cơ bản của luật quốc tế là quốc gia
- Chủ thể phái sinh là các tổ chức quốc tế liên chính phủ
- Chủ thể quá độ là các dân tộc đang đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết -Các chủ thểđặc biệt
II QUỐC GIA - CHỦ THỂ CƠ BẢN CỦA LUẬT QUỐC TẾ
1 Quốc gia và những yếu tố cấu thành quốc gia
một thực thể được coi là quốc gia khi đáp ứng đủ các điều kiện:
- Thứ nhất, có lãnh thổ xác định: đây là dấu hiệu cơ bản nhất hình thành quốc gia Không tồn tại lãnh thổ thì không thể có quốc gia.Lãnh thổ quốc gia được xác định là một phần của trái đất và được coi là cơ sở vật chất cho sự tồn tại và phát triển của quốc gia.Lãnh thổ quốc gia là ranh giới để xác định chủ quyền quốc gia đối với dân cư của mình.Vấn đề kích thước lãnh thổ rộng hay hẹp, địa hình thuận lợi hay bất lợi đều không có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại hay mất đi của danh nghĩa quốc gia
- Thứ hai, có cộng đồng dân cư ổn định: Theo nghĩa rộng, dân cư của một quốc gia là tất
cả những người sinh sống trên lãnh thổ một quốc gia nhất định và tuân theo pháp luật củanhà nước đó Theo nghĩa hẹp, dân cư dùng để chỉ tất cả những người có quốc tịch của quốc gia đó.Mối quan hệ pháp lý ràng buộc giữa nhà nước với cộng đồng dân cư của quốc gia chủ yếu thông qua chế định quốc tịch
- Thứ ba, có chính phủ với tư cách là người đại diện cho quốc gia trong quan hệ quốc tế Chính phủ này phải là chính phủ thực thi một cách có hiệu quả quyền lực nhà nước trên phần lớn hoặc toàn bộ lãnh thổ quốc gia một cách độc lập, không bị chi phối, khống chế
20
Trang 21bởi quốc gia khác.
- Thứ tư, có khả năng độc lập tham gia vào các quan hệ pháp luật quốc tế: "khả năng" này
có được xuất phát từ chủ quyền quốc gia khi thực hiện chức năng đối ngoại của mình
* Thuộc tính chính trị - pháp lý của quốc gia:
Khi một thực thể được tạo lên bởi bốn yếu tố trên thì nó sẽ trở thành quốc gia và đương nhiên có thuộc tính chính trị pháp lý là chủ quyền quốc gia, bao gồm 2 nội dung chính là quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình (quyền lập pháp, hành pháp
và tư pháp ) và quyền độc lập trong các quan hệ quốc tế (có đường lối đối ngoại độc lập,
tự do lựa chọn việc tham gia hay không tham gia tổ chức quốc tế hoặc thiết lập quan hệ với quốc gia khác )
2 Quyền năng chủ thể LQT của quốc gia
- Quyền năng chủ thể LQT của quốc gia là tổng thể những quyền và nghĩa vụ mà quốc gia có được khi tham gia vào quan hệ pháp lý quốc tế Quốc gia là chủ thể duy nhất có quyền năng đầy đủ khi tham gia quan hệ quốc tế, điều này thể hiện ở các quyền và nghĩa
vụ quốc tế cơ bản sau:
* Quyền quốc tế cơ bản:
- Quyền bình đẳng về chủ quyền và quyền lợi;
- Quyền được tự vệ cá nhân hoặc tự vệ tập thể;
- Quyền được tồn tại trong hòa bình và độc lập;
- Quyền bất khả xâm phạm về lãnh thổ;
- Quyền được tham gia vào việc xây dựng các quy phạm pháp luật quốc tế;
- Quyền được trở thành thành viên của các tổ chức quốc tế phổ biến
*Nghĩa vụ quốc tế cơ bản:
- Tôn trọng chủ quyền của các quốc gia;
- Tôn trọng sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ của các quốc gia khác;
- Không áp dụng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực;
- Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;
- Hợp tác hữu nghị với các quốc gia khác nhằm duy trì hòa bình, an ninh quốc tế;
- Tôn trọng nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ quốc tế;
- Tôn trọng những quy phạm Jus Cogens và những cam kết quốc tế;
- Giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng các phương pháp hòa bình
Ngoài các quyền và nghĩa vụ trên đây, các quốc gia khi tham gia quan hệ pháp luật quốc
tế có thể tự hạn chế những quyền và nghĩa vụ của mình trong những lĩnh vực và phạm vi nhất định, không trái với các quy ước quốc tế
VD: Thụy Sỹ tự hạn chế quyền và nghĩa vụ của mình khi tuyên bố theo đuổi con đường trung lập
- Cũng có trường hợp quốc gia có thể gánh vác thêm những quyền và nghĩa vụ bổ sung nhằm duy trì hòa bình và an ninh quốc tế
VD: Quyền vecto của 5 thành viên thường trực Hội đồng bảo an LHQ Ngoài những quyền và nghĩa vụ cơ bản như các thành viên khác họ cũng gánh vác thêm những quyền
và nghĩa vụ khác
Tuy nhiên, những việc làm này không nhằm mục đích đưa đến một kết quả là quốc gia
21
Trang 22tự hạn chế hay mở rộng hơn chủ quyền đã được quy định trong quy chế pháp lý của quốc gia, mà quốc gia đang thực hiện chủ quyền về đối ngoại của mình xuất phát từ ý chí tự nguyện của quốc gia trong quan hệ quốc tế
Vấn đề 7 Công nhận quốc tế
1 Khái ni m& đ c đi m công nh n qu c t : ệ giữa điều ước quốc tế và tập quán quốc tế ặc điểm công nhận quốc tế: ểm công nhận quốc tế: ập quán quốc tế ốc tế ế
_ Công nhận quốc tế có thể được quan niệm là hành vi chính trị_ pháp lý của các quốc gia
công nhận dựa trên nền tảng các động cơ nhất định( chủ yếu là động cơ chính trị_ kinh tế_ quốc phòng) nhằm xác nhận sự tồn tại của thành viên mới trong cộng đồng quốc tế, khẳng định quan hệ của quốc gia công nhận đối với chính sách, chế độ chính trị, kinh tế…của thành viên mới& ý định muốn được thiết lập các quan hệ bình thường, ổn định với thành viên mới của cộng đồng quốc tế trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống quốc tế
_Công nhận là quyền của quốc gia.( công nhận hay không công nhận không tạo ra tư cách chủ thể cho quốc gia mới mà thực chất là tuyên nhận sự tồn tại trên thực tế của các quốc gia mới Hành vi công nhận nhằm tạo điều kiện để xác lập& phát triển quan hệ giữa bên công nhận& bên được công nhận)
Thuyết cấu thành: quan niệm các quốc gia mới được thành lập chỉ có thể trở thành chủ thể của luật qt và thành viên độc lập của cộng đồng qt nếu được các qg khác chính thức công nhận
Thuyết tuyên bố cho rằng: tất cả các quốc gia mới thành lập đều là chủ thể của lqt
và điều đó được xác định thông qua bằng chứng là quốc gia này đã xh và đang còn tồn tạitrên thực tế
2.Các thể lọai công nhận quốc tế:
_ Gồm 2 thể lọai công nhận cơ bản là công nhận quốc gia mới thành lập& công nhận chính phủ mới thành lập
* Công nhận quốc gia mới thành lập:quốc gia có thể được thành lập theo 1 trong các
trường hợp sau:
_ Thành lập theo con đường cổ điển: tức là 1 tập thể con người có thể thành lập quốc gia mới 1 cách hòa bình do sự định cư trên 1 lãnh thổ vô chủ hoặc trên lãnh thổ chưa có 1 tổ chức chính trị phù hợp.( hiện nay hầu như không còn)
_ Quốc gia được thành lập do cách mạng xã hội( phổ biền ở Châu Á, Châu Phi& Mỹ latinh sau CTTG2)
_ Quốc gia được thành lập do sự phân chia 1 quốc gia đang tồn tạithành 2 hoặc nhiều quốc gia độc lập, hoặc là hợp nhất 2 hay nhiều quốc gia độc lập tàhnh 1quốc gia mới._ Các quốc gia mới được thành lập theo các trường hợp trên, không phụ thuộc thời gian, địa điểm, các đặc điểm dân cư, lãnh thổ, hình thức nhà nước…là những chủ thể mới của LQT ngay từ thời điểm mới được thành lập Sự công nhận quốc gia ở đây thực chất là công nhận chủ thể mới của LQT, tuyên bố sự tồn tại trên trường QT 1 quốc gia mới.Côngnhậnchỉ được đặt ra khi có sự xúât hiện quốc gia mới trên trường quốc tế
22
Trang 23* Công nhận Chính phủ mới thành lập:
_ Công nhận chính phủ mới có nghĩa là công nhận người đại diện hợpo pháp cho 1 quốc gia có chủ quyền trong sinh họat quốc tếchứ không phải là công nhận chủ thể mới của LQT Công nhận CP có ý nghĩa quan trọng như công nhận quốc gia mới thành lập ( Côngnhận cp mới không đồng nghĩa với công nhận quốc gia mới)
_ Hành vi công nhận chỉ được đặt ra khi có sự xuất hiện CP Defacto CP defacto gồm 2 loại: cp defacto chung cho toàn quốc và địa phương
- CP Defacto chỉ được công nhận khi đáp ứng các điều kiện:
+ CP mới phải được đông đảo quần chúng nhân dân tự nguyện, tự giác ủng hộ
+ CP mới phải có đủ năng lực để duy trì& thực hiện quyền lực quốc gia trong 1 thời gian dài
+ CPmới có khả năng kiểm sóat tòan bộ hoặc phần lớn lãnh thổ quốc gia 1 cách độc lập&
tự chủ, tự quản lý& điều hành mọi công việc của đất nước
Các thể lọai công nhận khác:gồm các đối tượng công nhận có tính chất khác nhau:
_ Công nhận dân tộc đang đấu tranh giành độc lập Đây là sự công nhận 1 quốc gia đang trong giai đọan hình thành, được tiến hành bằng việc các tổ chức lãnh đạo của các phong trào giải phóng dân tộc, những tổ chức này được thành lập trong cuộc đấu tranh nhằm giành lại độc lập hoặc xây dựng 1 quốc gia độc lập
_ Công nhận chính phủ lưu vong: làthể lọai công nhận đặc biệt, vá6n đề này được đặt ra trong thực tiễn quan hệ quốc tế trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ 2, với tiêu chuẩn được đặt ra có tính quýêt định là chính phủ đó phải được đông đảo quần chúng nhân dân ủng hộ
_ Công nhận các bên tham chíên và các bên khởi nghĩa: được đặt ra vào cuối tk19 trong các cuộc nội chiến ở Châu mỹ Những binh sĩ tham chiến nổi dậy được coi như những binh sĩ chính quy nên họ cũng sẽ được hưởng quy chế tù binh
_ Ngày nay công nhận Cp lưu vong& công nhận các bên tham chiến, các bên khởi nghĩa không có ý nghĩa thực tiễn đối với LQT hiện đại
3, Các vấn đề pháp lý về công nhận quốc tế:
* Các hình thức công nhận quốc tế: công nhậ de jure, công nhận de facto, công nhận ad
hoc
_ Công nhận de jure: là công nhận quốc tế chính thức, ở mức độ đầy đủ nhất& trong
phạm vi tòan diện nhất Công nhận de jure thường được áp dụng nhiều hơn so với công nhận de facto.Kết quả của công nhận de jure thường la các quốc gia thiết lập quan hệ ngọai giao với nhau
_ Công nhận de facto: là công nhận quốc tế nhưng ở mức độ không đầy đủ, hạn chế&
trong 1 phạm vi không tòan diện Kết quả của hình thức công nhận de facto thường là các
23
Trang 24quốc gia thíêt lập quan hệ lãnh sự.
( _quan hệ phát sinh giữa các quốc gia công nhận và bên được công nhận trên cơ sở công nhận de facto là những quan hệ quá độ tiến lên quan hệ tòan diện giữa các bên khi công nhận de jure Phạm vi quan hệ giữa các bên được xác định trên cơ sở các điều ước quốc tế
_ Sự khác nhau giữa công nhận de facto& công nhận de jure là kết quả pháp lý& động cơchính trị.Động cơ chính trị của bên côngnhận de facto thể hiện ở thái độ thận trọng của quốc gia công nhận đối với quốc gia hoặc chính phủ mới được thành lập trong nhiều vấn
đề liên quan đến tình hình, bối cảnh trong nước cũng như quốc tế)
_ Công nhận ad hoc: là hình thức công nhận đặc biệt mà quan hệ giữa các bên chỉ phát
sinh trong 1 phạm vi nhất định nhằm tiến hành 1 số công việc cụ thể, không có tính chất chính thức& quan hệ này sẽ kết thúc ngay sau khi hòan thành công vụ đó
* Các phương pháp công nhận:
_ LQT không bắt buộc cac quốc gia hay các chủ thể khác phải áp dụng cụ thể phương pháp công nhận nào Việc lựa chọn phương pháp côngn hận nào để áp dụng hòan tòan tùy thuộc vào điều kiện, hòan cảnh lịch sử cụ thể, quan hệ giữa bên côngnhận và bên được công nhận, đặc biệt là ý chí của bên công nhận.Có 2 phương pháp công nhận là công nhận minh thị và công nhận mặc thị
+ Công nhận minh thị: là công nhận quốc tế được thể hiện 1 cách rõ ràng, minh bạch,
được thực hiện bằng 1 hành vi rõ rệt, cụ thể của quốc gia công nhận trong các văn bản chính thức( công hàm ngọai giao, thông điệp,…) Công nhận de jurethường được thực hiện thông quan phương pháp minh thị
+ Công nhận mặc thị: là phương pháp công nhận được thực hiện 1 cách kín đáo, ngấm
ngầm, không được thể hiện rõ ràng, minh bạch bằng các hành vi, hành động cụ thể nào trên thực tế theo nguyên tắc “im lặng là đồng ý Thường được áp dụng đối với công nhận
de facto
_ Quốc gia có thể thực hiện sự công nhận quốc gia& chính phủ mới thành lập theo thể thức riêng lẻ, độc lập đối với các quốc gia khác hoặc theo thể thức tập thể trong mối quan
hệ hợp tác với các quốc gia khác, trong những mức độ& phạm vi khác nhau
4 Hệ quả pháp lý của công nhận quốc tế:
_ Xác nhận trên thực tế của bên được công nhận& tạo điều kiện thuận lợi cho việc thiết lập& phát triển quan hệ giữa bên công nhận và bên được công nhận trong các lĩnh vực nhất định
24
Trang 25_ Tạo điều kiện thuận lợi cho bên công nhận& bên được công nhận thực hiện các quyền&nghĩa vụ pháp lý của mình.
_ Công nhận chính thức thường dẫn đến thiết lập các quan hệ ngọai giao, lãnh sự, thương mại& các quan hệ khác
_ Công nhận quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho ácc bên được công nhận, đặc biệt là các quốc gia mới, CP mới tham gia các hội nghị quốc tế& các tổ chức quốc tế phổ cập
_ Công nhận quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho các quốc gia mới, CPmới có tư cách ký kết các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương
( Khi công nhận 1 CP mới được thành lập theo trường hợp CMXH thì quan hệ ngọai giao
đã tồn tại giữa bên công nhận và bên được công nhận sẽ được phục hồi chứ không phải thíêt lập mới quan hệ đó)
Vấn đề 8 Quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao lãnh sự
1 Khái niệm
Trong Luật quốc tế, Quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao được hiểu là những quyền ưuđãi đặc biệt mà nước nhận đại diện dành cho cơ quan đại diện ngoại giao và thành viêncủa cơ quan này đóng tại nước mình, trên cơ sở phù hợp với luật pháp quốc tế, nhằm tạođiều kiện cho các cơ quan đại diện ngoại giao và thành viên của các cơ quan này hoànthành một cách có hiệu quả chức năng của họ
Từ khái niệm, chúng ta có thể thấy:
-Đối tượng được hưởng quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao là Cơ quan đại diện ngoại
giao, thành viên của cơ quan đại diện ngoại giao và trong một số trường hợp bao gồm cảthành viên của gia đình họ
Chủ thể dành và đảm bảo các quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao cho các đối tượng trên
là nước nhận đại diện ngoại giao, trên cơ sở thoả thuận của hai bên, phù hợp với luậtpháp quốc tế
-Mục đích của những quyền ưu đãi và miễn trừ không phải là làm lợi cho các cá nhân mà
để đảm bảo cho việc hoàn thành có hiệu quả các chức năng của các đoàn ngoại giao với
tư cách là đại diện của các quốc gia Chính vì thế, trong một số trường hợp nếu không vìmục đích phục vụ cho chức năng đại diện ngoại giao, các viên chức ngoại giao cũngkhông được hưởng quyền ưu đãi này Ví dụ: Viên chức ngoại giao không được miễn trừxét xử về dân sự trong những vụ kiện liên quan đến bất động sản thuộc sở hữu riêng củangười đó, những trường hợp liên quan đến hoạt động kinh doanh thương mại vì mục đích
cá nhân của họ
Bên cạnh việc được hưởng các quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao, cơ quan đại diệnngoại giao và thành viên của các cơ quan này cũng có nghĩa vụ phải tôn trọng pháp luật,phong tục tập quán của nước nhận đại diện, không được lạm dụng quyền ưu đãi và miễn
25
Trang 26trừ này xâm hại đến các trật tự công cộng, chủ quyền hoặc can thiệp vào công việc nội bộcủa nước nhận đại diện.
Các quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao ban đầu được hình thành trên cơ sở “có đi cólại” giữa các quốc gia, về sau được pháp điển hoá và ghi nhận trong Công ước Viên
1961, mang tính ràng buộc đối với tất cả các thành viên của Công ước
Quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao bao gồm hai nội dung chủ yếu sau:
- Quyền ưu đãi và miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao
- Quyền ưu đãi và miễn trừ dành cho các thành viên của cơ quan đại diện ngoạigiao
2 Các nguyên tắc của luật ngoại giao và lãnh sự
a Nguyên tắc bình đẳng không phân biệt đối xử
b Nguyên tắc thỏa thuận
c Nguyên tắc tôn trọng quyền ưu đãi và miễn trừ của cơ quan đại diện ngoại giao ,
cơ quan lãnh sự và thành viên của các cơ quan này
d Nguyên tăc tôn trọng pháp luật và phong tục tập quán của nước tiếp nhận trong các hoạt động ngoại giao và lãnh sự
e Nguyên tắc có đi có lại
3 Nội dung quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao
a Quyền ưu đãi và miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao
Quyền miễn trừ:
- Quyền bất khả xâm phạm về trụ sở: Chính quyền nước sở tại không được phép
vào trụ sở của cơ quan đại diện ngoại giao nếu không có sự đồng ý của người đứng đầu
cơ quan đại diện ngoại giao Nước nhận đại diện có nghĩa vụ đặc biệt phải thi hành mọibiện pháp thích đáng để ngăn ngừa nhà cửa của cơ quan đại diện ngoại giao khỏi bị xâmchiếm hoặc làm hư hại, để đảm bảo an ninh cho cơ quan đại diện ngoại giao không bịquấy rối hoặc phẩm cách của cơ quan không bị xâm hại
Trụ sở cơ quan đại diện ngoại giao, tài sản trong trụ sở kể cả phương tiện đi lại của cơquan này không thể bị khám xét, trưng thu, trưng dụng, tịch biên hoặc áp dụng biện phápđảm bảo thi hành án
(Điều 22, Công ước Viên 1961)
Tuy nhiên, trụ sở của cơ quan đại diện ngoại giao không được dùng vào những mục đíchkhông phù hợp với chức năng của cơ quan này.Ví dụ cơ quan đại diện ngoại giao khôngđược phép dùng trụ sở của mình để che giấu cho các tội phạm đang bị truy nã hoặc sửdụng trụ sở và hoạt động kinh doanh, thương mại (Khoản 3, Điều 41)
- Quyền bất khả xâm phạm về hồ sơ lưu trữ và tài liệu: Hồ sơ lưu trữ và tài liệu,
giấy tờ của cơ quan đại diện ngoại giao là bất khả xâm phạm vào bất cứ lúc nào và ở đâu.Điều này có nghĩa là ngay cả khi quan hệ ngoại giao giữa hai nước bị cắt đứt hoặc có
26
Trang 27xung đột vũ trang thì quyền bất khả xâm phạm về hồ sơ, giấy tờ này vẫn được đảm bảo.(Điều 24)
- Quyền bất khả xâm phạm về bưu phẩm, thư tín ngoại giao, valy ngoại giao:
Khi thực hiện chức năng của mình, túi ngoại giao giao và thư tín ngoại giao không bị mở,không bị giữ Tuy nhiên, trong túi ngoại giao chỉ được chứa đựng các tài liệu ngoại giao
và đồ đạc dành cho việc sử dụng chính thức Với yêu cầu này thì tất cả bưu phẩm và thưtín ngoại giao cần phải được niêm phong, mang dấu hiệu bên ngoài dễ nhận biết
(Khoản 2, 3, 4 Điều 27)
- Quyền miễn thuế và lệ phí: Cơ quan ngoại giao được miễn các loại thuế và lệ phí
đối với trụ sở của mình, trừ các khoản phải trả cho các dịch vụ cụ thể; được miễn thuế và
lệ phí hải quan đối với các đồ đạc phụ vụ cho công việc chính thức của cơ quan; Cáckhoản tiền mà cơ quan đại diện ngoại giao thu được từ các hoạt động chính thức củamình cũng được miễn thuế và lệ phí (Điều 23)
Quyền ưu đãi:
- Quyền tự do thông tin liên lạc: Cơ quan đại diện ngoại giao có quyền tự do liên lạcvới chính phủ nước mình và các cơ quan đại diện khác, các lãnh sự tại bất cứ nơi nào,bằng tất cả các phương tiện hợp pháp, kể cả giao thông viên ngoại giao và các điện tínbằng mật mã hoặc bằng số hiệu Nếu được nước sở tại đồng ý, cơ quan đại diện ngoạigiao cũng có thể đặt một máy phát tín hiệu bằng vô tuyến điện (Khoản 1 Điều 27)
- Quyền treo quốc kỳ, quốc huy: Cơ quan đại diện ngoại giao và người đứng đầu cơquan đại có quyền treo quốc kỳ, quốc huy tại trụ sở của mình, kể cả nhà riêng và phươngtiện đi lại của người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao (Điều 20)
b Quyền ưu đãi và miễn trừ dành cho viên chức ngoại giao
Luật quốc tế dành cho viên chức ngoại giao những quyền ưu đãi và miễn trừ đặc biệt vàtoàn diện nhất, giúp họ có thể thực hiện một cách hiệu quả chức năng được nhà nướcmình giao cho khi công tác ở nước nhận đại diện
Quyền miễn trừ
- Quyền bất khả xâm phạm về thân thể: Viên chức ngoại giao được hưởng quyền
bất khả xâm phạm về thân thể một cách tuyệt đối họ không thể bị bắt hoặc bị giam giữdưới bất kỳ hình thức nào (Điều 29)
- Quyền bất khả xâm phạm về nơi ở, tài liệu: Nơi ở của viên chức ngoại giao
(bao gồm nhà riêng, căn hộ trong khu tập thể, phòng trong khách sạn) được hưởng quyềnbất khả xâm phạm theo quy chế ngoại giao và được bảo vệ như trụ sở của cơ quan đạidiện ngoại giao Tài liệu, thư tín ngoại giao, tài sản và phương tiện đi lại của viên chứcngoại giao cũng không thể bị kiểm soát Viên chức ngoại giao có quyền gửi những vănthư, báo cáo cho chính phủ nước mình bằng công hàm mật, ký hiệu, mã hiệu… mà không
bị chính quyền nước sở tại kiểm soát (Điều 30)
- Quyền miễn trừ xét xử về hình sự, dân sự và hành chính:
Về hình sự: Viên chức ngoại giao được hưởng quyền miễn trừ xét xử về hình sự một cáchtuyệt đối Tức là viên chức ngoại giao không thể bị bắt giam, truy tố hoặc đưa ra xét xửtrước toà án của nước nhận đại diện dưới bất kỳ hình thức nào, cho dù họ có phạm tộinghiêm trọng đến đâu (Điều 31) Trong trường hợp này, nước nhận đại diện chỉ có thể
27
Trang 28tuyên bố bất tín nhiệm đối với viên chức ngoại giao này, yêu cầu nước cử đại diện triệuhồi đương sự về nước, yêu cầu xét xử đương sự hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại… Chỉ
có chính phủ nước cử đại diện mới có quyền khước từ quyền này đối với viên chức ngoạigiao của mình Tuy nhiên, việc khước từ này phải được thể hiện một cách chính thức, rõràng bằng văn bản
Về dân sự: Viên chức ngoại giao được hưởng quyền miễn trừ xét xử, nhưng quyền nàychỉ mang tính chất tương đối mà thôi Cụ thể, họ sẽ không được miễn trừ xét xử dân sựtrong ba trường hợp sau: trong một vụ kiện liên quan đến bất động sản tư trên lãnh thổnước nhận đại diện (Trừ phi viên chức ngoại giao có bất động sản do nhân danh nước cửđại diện và để phục vụ cho đoàn ngoại giao); Trong một vụ kiện về thừa kế trong đó viênchức ngoại giao là người chấp hành di chúc, người quản lý, người thừa kế hoặc ngườihưởng gia tài theo di chúc, với tư cách cá nhân chứ không nhân danh nước cử đại diện;Trong một vụ kiện về bất kỳ một nghề tự do hoặc hoạt động thương mại gì của viên chứcngoại giao làm ngoài chức vụ chính thức của mình ở nước nhận đại diện (Điểm a, b, c,Khoản 1, Điều 31)
Về hành chính: Viên chức ngoại giao được hưởng quyền miễn trừ xử phát hành chínhmột cách tuyệt đối
Ngoài ra, viên chức ngoại giao còn được hưởng quyền miễn trừ đối với các biện pháp thihành án, trừ trường hợp họ phải chấp nhận sự tài phán liên quan đến các vụ việc dân sự
kể trên Trong trường hợp phải áp dụng biện pháp thi hành án thì việc thi hành đó phảiđược tiến hành trên cơ sở tôn trọng quyền bất khả xâm phạm về thân thể và nơi ở củaviên chức ngoại giao
Viên chức ngoại giao cũng không bị bắt buộc phải ra làm chứng trừ khi chính họ từ chốiquyền này
- Quyền được miễn thuế: Viên chức ngoại giao được miễn các khoản thuế và lệ
phí, trừ thuế và lệ phí đối với bất động sản tư có trên lãnh thổ của nước nhận đại diện,thuế và lệ phí đối với những dịch vụ cụ thể (Điều 34)
- Quyền miễn trừ hải quan: Viên chức ngoại giao được miễn thuế và lệ phí hải
quan (trừ phí lưu kho, cước vận chuyển và cước phí về những dịch vụ tương tự) đối với
đồ dùng cá nhân của họ và thành viên của gia đình họ
Hành lý cá nhân của viên chức ngoại giao được miễn kiểm tra hải quan, trừ khi có cơ sởkhẳng định rằng trong hành lý chứa đựng những đồ vật không dùng cho nhu cầu cá nhâncũng như nhu cầu của thành viên gia đình viên chức ngoại giao, hoặc những đồ vật mànước nhận đại diện cấm nhập khẩu hoặc cấm xuất khẩu (Điều 36)
- Nước nhận đại diện phải miễn cho các viên chức ngoại giao mọi tạp dịch, mọicông vụ bất luận tính chất gì và những đảm phụ quốc phòng như trưng dụng, đóng góp vàtrú quân (Điều 35)
Quyền ưu đãi
- Quyền tự do đi lại: Nước nhận đại diện phải đảm bảo cho tất cả các thành viên của
cơ quan đại diện ngoại giao được tự do di chuyển và đi lại trên lãnh thổ của mình trừtrường hợp có những luật lệ về các khu vực mà việc đi lại bị ngăn cấm hoặc có sự quyđịnh vì lý do an ninh quốc gia (Điều 26)
28
Trang 29- Quyền được bảo vệ: Nước nhận đại diện phải có những biện pháp hợp lý để bảo vệquyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhà ở, tài sản… của viên chức ngoại giao, tránh xúcphạm đến thân thể, tự do và phẩm cách của họ (Điều 29) Khi có xung đột vũ trang, nướcnhận đại diện phải tạo mọi điều kiện giúp đỡ những người được hưởng các quyền ưu đãi
và miễn trừ ngoại giao rời khỏi lãnh thổ nước đó trong thời hạn thích hợp nhất.Khi cầnthiết, nước nhận đại diện phải cung cấp những phương tiện chuyên chở phù hợp để chở
họ và tài sản của họ (Điều 44).Ngay cả trong trường hợp cắt đứt quan hệ ngoại giao giữahai nước, nước nhận đại diện cũng phải tôn trọng và bảo vệ nhà cửa cùng những tài sản
và giấy tờ, hồ sơ tài liệu của đoàn ngoại giao (Điều 45)
- Quyền ưu đãi về lễ tân: Nước nhận đại diện phải đối xử trọng thị với sự kính trọngthích đáng đối với các viên chức ngoại giao Do viên chức ngoại giao là đại diện ngoạigiao, thay mặt cho nước cử đại diện trong mọi quan hệ đối với nước nhận đại diện, do đóviệc tôn trọng đại diện ngoại giao cũng chính là sự tôn trọng chủ quyền giữa các quốc giavới nhau, tạo cơ sở cho một mối quan hệ hữu hảo, thân thiệt và hợp tác giữa hai nước hữuquan
c Quyền ưu đãi và miễn trừ dành cho những người không có thân phận ngoại giao.
Quyền ưu đãi và miễn trừ dành cho thành viên trong gia đình của viên chức ngoạigiao: thành viên gia đình của viên chức ngoại giao được hiểu là vợ hoặc chồng, con củaviên chức ngoại giao
Về cơ bản, thành viên trong gia đình của viên chức ngoại giao cũng được hưởng cácquyền ưu đãi và miễn trừ tương tự như viên chức ngoại giao với điều kiện họ sống chungmột hộ với viên chức ngoại giao và họ không phải là công dân nước sở tại (Khoản 1Điều 37)
Quyền ưu đãi và miễn từ dành cho nhân viên hành chính kỹ thuật: nhân viên hànhchính kỹ thuật và thành viên trong gia đình sống chung một hộ với họ cũng được hưởngcác quyền ưu đãi và miễn trừ gần tương đương như viên chức ngoại giao với điều kiện họkhông phải là công dân của nước sở tại hoặc không cư trú thường xuyên ở nước sở tại.Tuy nhiên, phạm vi quyền miễn trừ của họ hẹp hơn viên chức ngoại giao, cụ thể: họ chỉđược hưởng quyền miễn trừ xét xử dân sự và xử phạt hành chính trong khi thi hành công
vụ mà thôi Đồng thời, đối với quyền miễn trừ về thuế, hải quan đối với những vật dụngnhập khẩu chỉ được áp dụng đối với lần đầu nhập khẩu để bố trí chỗ ở (Khoản 2 Điều37)
Quyền ưu đãi và miễn trừ dành cho nhân viên phục vụ: Nhân viên phục vị khôngphải là công dân nước sở tại hoặc không cư trú thường xuyên tại nước sở tại thì đượchưởng quyền miễn trừ đối với: Các hành vi thực hiện trong khi thi hành công vụ củamình; các thứ thuế đánh vào tiền công thu được từ công việc của mình; các điều khoản vềbảo hiểm xã hội hiện hành ở nước nhận tại diện tại điều 33 (Khoản 3 Điều 37)
Đối với những người phục vụ riêng của các thành viên cơ quan đại diện ngoại giao màkhông thuộc nước nhận đại diện hoặc không cư trú thường xuyên ở nước nhận đại diệnthì họ được miễn các khoả thuế đánh vào số tiền công mà họ được lĩnh từ công việc của
họ, còn về tất cả các mặt khác họ chỉ được hưởng quyền ưu đãi và miễn trừ trong chừngmực được nước nhận đại diện cho phép (Khoản 4, Điều 37)
29
Trang 303 Thời điểm hưởng, kết thúc và từ bỏ quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao.
a Thời điểm hưởng
Thông thường, thời điểm hưởng quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao cũng phát sinh cùnglúc với thời điểm bắt đầu chức vụ ngoại giao Tuy nhiên, thời điểm này có thể sớm hơn,
ví dụ: Người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao được hưởng các quyền ưu đãi và miễntrừ ngoại giao ngay từ khi vào lãnh thổ nước nhận đại diện để nhậm chức, nhưng phảichờ đến khi trình quốc thư xong thì họ với chính thức bắt đầu chức vụ ngoại giao củamình
b Thời điểm kết thúc
Khi chức vụ của người được hưởng các quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao kết thúc thì
họ cũng không được hưởng các quyền này nữa.Tuy nhiên, trên thực tế thì các quyền nàythực sự kết thúc khi các thành viên của cơ quan đại diện ngoại giao rời khỏi lãnh thổnước tiếp nhận hoặc sau khi kết thúc một thời hạn hợp lý
Trong trường hợp một thành viên của cơ quan đại diện ngoại giao từ trần, những ngườitrong gia đình họ vẫn tiếp tục được hưởng những quyền ưu đãi và miễn trừ của họ chođến khi hết một thời hạn hợp lý để họ có thể rời khỏi lãnh thổ nước tiếp nhận
c Vấn đề từ bỏ quyền miễn trừ ngoại giao
Chủ thể có quyền từ bỏ quyền miễn trừ về tài phán của những người được hưởng quyềnmiễn trừ là nước cử đại diện Chính vì vậy, khi nước cử đại diện tuyên bố một cách rõràng bằng văn bản từ bỏ các quyền miễn trừ này thì các thành viên của cơ quan đại diệnngoại giao vẫn có thể bị xét xử hình sự, dân sự hoặc bị xử phạt hành chính
Nếu một người được hưởng quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao khởi kiện thì họ khôngđược hưởng quyền miễn trừ về tài phán đối với một đơn khởi tố có liên quan trực tiếp đếnđơn tố tụng đó
Sự từ bỏ quyền miễn trừ về tài phán trong một vụ kiện về dân sự hoặc hành chính khôngđược coi như bao hàm sự từ bỏ quyền đó đối với những biện pháp thi hành án, đối vớinhững biện pháp thi hành án này cần phải có một tuyên bố rõ ràng và riêng biệt
(Điều 32)
Quyền miễn trừ về tài phán của một thành viên cơ quan đại diện ngoại giao tại nước nhậnđại diện khong thể miễn cho người đó khoản quyền tài phán của nước cử đại diện
3.Quyền ưu đãi và miễn trừ lãnh sự
Quyền ưu đãi và miễn trừ của các cơ quan lãnh sự về cơ bản giống như của cơ quan đạidiện ngoại giao nhưng ở mức đọ thấp hơn
Quyền ưu đãi miễn trừ lãnh sự được quy định trong cong ước viên năm 1963
a, quy n u đãi mi n tr dành cho c quan lanh s ền ưu đãi miễn trừ dành cho cơ quan lanh sự ưu đãi miễn trừ dành cho cơ quan lanh sự ễn trừ dành cho cơ quan lanh sự ừ dành cho cơ quan lanh sự ơ quan lanh sự ự
Quền bất khả xâm phạm về chỗ ở
Quyền bất khả xâm phạm về trụ sở:
Nhà đương cục nước tiếp nhận lãnh sự không được vào phần của trụ sở
cơ quan lãnh sự mà cơ quan lãnh sự đó chỉ dùng làm nơi làm việc, trừ khi
có sự đồng ý của người đứng đầu cơ quan lãnh sự hoặc của người do người
30
Trang 31đó chỉ định hoặc Trưởng phái đoàn ngoại giao của nước cử lãnh sự Tuynhiên, trong trường hợp có hoả hoạn hoặc một tai biến gì khác cần biệnpháp bảo vệ khẩn cấp thì có thể mặc nhiên coi như người đứng đầu cơ quanlãnh sự đồng ý.
Nước tiếp nhận lãnh sự có nhiệm vụ đặc biệt phải thi hành mọi biệnpháp thích đáng để bảo vệ trụ sở cơ quan lãnh sự, chống mọi việc xâm nhậnhoặc phá hoại và ngăn ngừa mọi sự phá rối trật tự hoặc làm tổn hại đếndanh dự của cơ quan lãnh sự
Nhà cửa, đồ đạc , tài sản và các phương tiện giao thông của cơ qwuan lãnh
sự không bị trưng dụng dưới bất kỳ hình thức nào vào các mục đích quốcphòng hoặc lợi ích công cộng Nếu cần lấy để dùng vào mục đích đó thìphải áp dụng mọi cách xử lý thích hợp tránh làm cản trở việc thi hành chứcnăng lãnh sự, và phải bồi thường một cách nhanh chóng, thỏa đáng và hiệuquả cho nước cử lãnh sự
Quyền bất khả xâm phạm về Thư từ, hồ sơ và tài liệu bất cứ lúc nào và bất
cứ ở đâu
Quyền bất kể xâm phạm về hồ sơ lưu trữ và tài liêu, bất kể tg và địa điểm
Quyền tự do thông tin của cơ quan lãnh sự với chính phủ cũng như các cơquan đại diện ngoại giao và cơ quan lãnh sự khác của nước mih bất cứ lúcnào
Quyền được miễn trừ các thứ thuế và lệ phí
Quyền được treo quốc kì, quốc huy
b, quy n u đãi mi n tr dành cho các thành viên c a c quan lãnh sền ưu đãi miễn trừ dành cho cơ quan lanh sự ưu đãi miễn trừ dành cho cơ quan lanh sự ễn trừ dành cho cơ quan lanh sự ừ dành cho cơ quan lanh sự ủa cơ quan lãnh sự ơ quan lanh sự ự
+Quyền bất khả xâm phạm về thân thể trừ trường hợp phạm tội nghiêm trọng+ Quyền tự do đi lại và tiếp xúc với công dân nước mình, trừ khu vực bị cấm+ Quyền miễn trừ xét xử về hành chính và hình sự
+ Quyền từ chối cung cấp chứng cứ
+ Quyền miễn thuế đồ dùng cá nhân và miễn kiểm tra hải quan đối với hành lý cánhân
+ Miễn đăng ký ngoại kiều, giấy phép cư trú, giấy phép lao động, bảo hiểm xã hội+ Miễn các loại thuế, trừ thuế gián thu, thuế bất động sản, thuế thừa kế và thuế thunhập
Viên chức lãnh sự danh dự
VCLS danh sự có thể là công dân của nước nhận hoặc nước thứ 3 do nước cử bổnhiệm
Được hưởng một số QƯĐMT như miễn thuế, BKXF về trụ sở, tài liệu, miễn đăng
ký ngoại kiều, đóng góp cá nhân…theo thoả thuận giữa nước cử và nước nhận
31
Trang 32Thực hiện hoạt động nghề nghiệp như thương mại, khoa học kỹ thuật… là chính,hoạt động lãnh sự là phụ
Quyền miễn nghĩa vụ đóng góp cá nhân
* So sánh những điểm giống và khác nhau giữa quyền ưu đãi miễn trừ giành cho viên chức ngoại giao và lãnh sự
1, Giống nhau:
- Đều đc hưởng các quyền:
-Quyền bất khả xâm phạm về thân thể
-Quyền miễn trừ xét xử về hình sự,dân sự và xử phạt vi phạm hành chính
-Quyền ưu đãi và miễn trừ hải quan
-Quyền đc miễn trừ thuế và lệ phí
2, Khác nhau:
Quyền ưu đãi và
Quyền bất khả
xâm phạm về thân thể
Được hưởng một cáchtuyệt đối, không thể bị bắtgiam dưới mọi hình thức
Trừ 2 trường hợp:-phạm tội nghiêmtrọng theoo quy định củapháp luật nước nhận và bịbắt, bị tạm giam theo quyếtđịnh của cơ quan tư pháp cóthẩm quyền của nước này.-Phải thi hành bản ánhoặc quyết định của tòa án
đã có hiệu lực pháp luật vềhình phạt hạn chế quyền tự
do thân thể
Quyền miễn trừ
xét xử về hình sự
Được hưởng một cáchtuyệt đối
Được hưởng trong khithi hành công vụ, trừ trườnghợp phạm tội nghiêm trọngQuyền miễn trừ
xét xử về dân sự
Không được hưởng khitham gia với tư cách cánhân vào các vụ việc như:
+Bất động sản tư nhân
có trên lãnh thổ nướ nhận
+Việc thừa kế+Hoạt động thươngmại hoặc nghề nghiệp ngoàichưc năng chính thức
Trừ trường hợp liênquan đến vụ kiện dân sự vềmột hợp đồng mà viên chứclãnh sự ký kết với tư cách
cá nhân hoặc về tai nạngiao thông xảy ra tại nướctiếp nhận lãnh sự mà donước thư ba đòi bồi thườngthiệt hại
32