Hồi ký của nhà thơ Hữu Loan Phần 1: Mà chết người gái nhỏ hậu phương… Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ đư
Trang 1Hồi ký của nhà thơ Hữu Loan
Phần 1: Mà chết người gái nhỏ hậu phương…
Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ, bữa có bữa không ở nhà Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người.
Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi Tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường Ai cũng biết thi Tú tài thời Pháp rất khó khăn Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và… tôi – Nguyễn Hữu Loan.
Với mảnh Tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham
Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, Tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu Quốc hội khóa đầu tiên Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.
Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo
Trang 2gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi – mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: “Em chào thầy ạ!” Chào
xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết Tên em là
Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non” Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa
hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt…
Có lần tôi kể chuyện “bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai
em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ… Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa
Trang 3lên khu rừng thông Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu, nhất định đòi đi cho bằng được Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham
Kỳ đưa em lên núi chơi…
Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì Bất chợt em hỏi tôi:- Thầy có thích ăn sim không? Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ… Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim Những quả sim đen láy chín mọng.- Thầy ăn đi.Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ: –
Ngọt quá!
Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế!Cứ thế, chúng tôi ăn hết quả này đến quả khác Tôi nhìn em, em cười Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì… tím đỏ một màu sim Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!
Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến Hôm
Trang 4tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng, em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi Tôi vẫy trả và lầm lũi đi… Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó… Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa…
Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn Sau này, nghe bạn bè
kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đến ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ… Chín năm sau, tôi trở lại nhà… Về Nông Cống tìm em Hôm gặp
em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp…
Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng
hộ đối một chút nào Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm “soạn kịch bản”.Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt
đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: “Yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả” Tôi cao ráo, học giỏi, làm thơ hay… lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ
Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!
Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường
hành quân, theo Sư đoàn 304, làm Chủ bút tờ Chiến sĩ Hôm tiễn
tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại… Nếu như
Trang 5chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.
Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi nỗi đau không gì bù đắp nổi Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.
Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết
để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ Tôi như một cái xác không hồn… Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự
gì cứ nói ra, nói cho hết Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc
cứ trào ra: "Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội/Những em nàng
có em chưa biết nói/Khi tóc nàng đang xanh … [ ] …Tôi về không gặp nàng…”.
Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và chuyền tay nhau trong
suốt những năm chiến tranh Đó là bài thơ Màu tím hoa sim.
Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa
Trang 6sim tím Cho nên tôi mới viết nổi những câu: “Chiều hành quân,
qua những đồi sim / Những đồi sim, những đồi hoa sim /Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết /Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt /Và chiều hoang tím có chiều hoang biết /Chiều hoang tim tím thêm màu da diết…”
Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội,
từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi “hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi” Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạnh họe đủ điều, không chấp nhận đơn từ
bỏ kháng chiến của tôi Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!
Đến vụ Nhân văn Giai phẩm
Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân văn Giai phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đam tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cặn Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay Thơ hay thì sống mãi Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng… Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông… Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc?
Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người
vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán Bọn họ bắt giữ xe
Trang 7tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh
xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi… Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi
đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài
Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình [Ninh Bình? ] quê nó ra đọc
cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi Ngoài Yên Mô, tôi cũng có
một vài bài thơ khác được mến chuộng Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc chiếu, kể chuyện cán bộ
khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!
Phần 2: Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ…
Vợ nhà thơ Hữu Loan – Bà Phạm Thị Nhu
Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch Cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955.
Trang 8Lúc đó tôi còn là Chính trị viên của Tiểu đoàn Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố Là người có học, lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong tay gần năm trăm mẫu tư điền.
Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước Ông thấy bộ đội Sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ Tôi là Trưởng phòng tuyên huấn và Chính trị viên của Tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên Sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông
Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu
đó cho đến chết Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm
Trang 9nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén
lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường
Mai Anh Tuấn Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói.
Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi,
và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ Sự quyết định của tôi không lầm Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no… Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai , 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!
Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.
Trang 10Năm 1988, tôi “tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do Hội văn
nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do
sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự.Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, Công ty Viek VTB đột
nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi
với giá 100 triệu đồng Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa Thì cũng được đi Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên
Thơ Hữu Loan Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin
ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác , nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.
Hữu Loan
Hữu Loan, nhà thơ bất khuất
Trang 11Ảnh Văn Khoa Blog-haydanhthoigian
Thi sĩ Hữu Loan trên sân gạch trước nhà ông (2006)
Hôm nay chúng tôi xin được trình bày một ít chi tiết về cuộc đời nhà thơ Hữu Loan, từ khi ông bước vào lãnh vực thi ca để rồi sau đó không lâu chạmtrán với những nghiệt ngã mà ông phải chịu đựng suốt hơn 50 năm trong chế
độ mà ông từng hết lòng thiết tha phục vụ
Không hề cúi đầu
Hữu Loan sinh năm 1916 tại thôn Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, Thanh Hóa Ông học thành chung ở Thanh Hóa sau đó đi dạy học tư kiếm sống Tham gia cách mạng từ năm 1936, hoạt động phong trào Mặt trận Bình dân tham gia Việt Minh ở thị xã Thanh Hóa
Ông kiên cường chịu đựng nghèo khó mà không hề cúi đầu trước thế lực củanhững người trước đây là đồng chí nhưng nhìn ông với đôi mắt thù hằn lẫn ngờ vực
Năm 1943, Hữu Loan về Nga Sơn gây dựng phong trào Việt Minh ở quê ông Giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn, sau đó làm
Ủy viên văn hóa trong Ủy ban lâm thời tỉnh Thanh Hóa phụ trách các ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính trong kháng chiến chống Pháp
Trong khoảng thời gian 1956-1957, Hữu Loan tham gia Phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm Ông sáng tác những tác phẩm lên án thẳng thắn và quyết liệt đến những tiêu cực của các cán bộ nịnh hót, đố kỵ, tham nhũng hay ám hại lẫn nhau để thăng quan tiến chức
Trang 12Sau khi phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bị dập tắt vào năm 1958, nhà thơ Hữu Loan bị cải tạo vài năm, tiếp đó bị giam lỏng tại địa phương suốt nhiều chục năm không được góp tiếng nói hay tác phẩm với đời Ông kiên cường chịu đựng nghèo khó mà không hề cúi đầu trước thế lực của những người trước đây là đồng chí nhưng nhìn ông với đôi mắt thù hằn lẫn ngờ vực.
Nhà thơ Hữu Loan Photo courtesy of Talawas
Ông mất vào ngày 18 tháng 3 năm 2010 tại nhà riêng thọ 95 tuổi
Tác phẩm của Hữu Loan không nhiều trong đó gồm Màu tím hoa sim, Đèo
Cả, Yên mô, Hoa lúa, Tình Thủ đô… và tập Thơ Hữu Loan
Người không biết ông thì “Màu Tím Hoa Sim” là cầu nối dẫn họ tới nhà thơ.Với người biết ông thì bài thơ này chưa phải là đáng nói so với nhân cách của ông, một nhân cách trung thực đến cứng cỏi đáng làm tấm gương soi cho trí thức trong nhiều giai đoạn
Hữu Loan sống và đồng hành với Cách mạng từ lúc thành công cho tới khi cũng chính Cách mạng tiêu diệt niềm tin, tính tự trọng và đau đớn hơn hết là
đã làm nhiều người trở thành vô cảm trước các nỗi đau của xã hội
Người đi bộ ngược chiều
Tuy chỉ là một nhà thơ nhưng Hữu Loan đứng bật dậy không khoan nhượng với chế độ Nói theo cách nói của nhà thơ Nguyễn Thụy Kha thì Hữu Loan
là người đi bộ ngược chiều Chiều của dòng chảy thuần tính xã hội chủ nghĩa, chiều của a dua hay im lặng Chiều của muôn vàn cái ác cái xấu nay
đã trở thành bình thường và được nhiều người dửng dưng chấp nhận
Trang 13Hữu Loan không chấp nhận Hơn thế ông còn lớn tiếng phê phán, thậm chí mạt sát và sau đó chấp nhận về nhà còng lưng gánh đá nuôi con Ông chấp nhận oằn lưng dưới đá nhưng không chấp nhận cúi đầu trước những con người mà ông cho là điếm nhục, khi ngày ngày đếm đồng tiền vấy bẩn bằng
mồ hôi, nước mắt của nhân dân do vị thế mà họ nắm giữ
Nhà thơ Bùi Minh Quốc ngậm ngùi kể lại lần ông gặp Hữu Loan đầu tiên tạiLâm Đồng Lần gặp đó cũng là lần đầu nhà thơ của chúng ta rời khỏi Nga Sơn Thanh Hóa sau nhiều chục năm câm nín
“Lần đầu tiên tôi gặp anh Hữu Loan trong một giờ phút rất đặc biệt Đó là lúc khai mạc đại hội Hội Văn Nghệ Lâm Đồng.Khi tôi đang ngồi trên chủ tịch đoàn thì anh em bên ngoài đưa vào một ông già tóc bạc trắng, gầy gò
ốm yếu và giới thiệu là nhà thơ Hữu Loan đến thăm đại hội Tôi đến chào đón anh bằng cách ôm anh Sau đó tôi có làm một bài phỏng vấn anh về Nhân Văn Giai Phẩm.”
Hào khí “Đèo Cả”
Bài thơ “Đèo Cả” được Hữu Loan sáng tác vào năm 1946 cho thấy tài năng của ông đã phát lộ rất sớm Ông nhìn bạn chiến đấu đồng hành cùng với mình bằng một đôi mắt nhân bản nhưng lời thơ hùng tráng như tiếng kèn thúc quân xóa nhòa đi tất cả nỗi thường tình nhi nữ
Hữu Loan không ca tụng chiến tranh nhưng thơ ông có sức công phá mãnh
liệt của lòng yêu nước Hình ảnh những chàng trai hiên ngang “râu ngược chào nhau bên vách núi” ý thơ cổ điển lồng trong khung cảnh hiện thực đã
tăng thêm hào khí cho bài thơ lên nhiều lần
Đèo Cả!
Đèo Cả!
Núi cao ngất!
Mây trời Ai Lao
Sầu đại dương
Trang 15Gặp hùm
Lang thang!
Gian nguy
Lòng không nhạt
Căm thù trăm năm xa
Máu nghiêng sôi dào dạt
Từ nguồn thiêng
Ông cha
- Cầu xây chiến lũy ngất
Đây hình hài thiên hoa!
Trang 17Một trong những điều tôi nhớ nhất trong cuộc nói chuyện với anh là khi nói rằng tạp chí Khởi Hành quyết định trao giải cho anh thì anh nói chỉ ba chữ: Trời có mắt!
Nhà văn Viên Linh
“Năm sáu tháng trước và sau khi trao giải thưởng cho nhà thơ Hữu Loan thì chúng tôi có liên lạc trước hết là những thân nhân sau đó là những bạn
bè từ Paris về liên lạc với anh Hữu Loan, sau đó là gọi điện thoại Một trong những điều tôi nhớ nhất trong cuộc nói chuyện với anh là khi nói rằng tạp chí Khởi Hành quyết định trao giải cho anh thì anh nói chỉ ba chữ: Trời
có mắt!”
Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên kể lại những lần thăm viếng nhà thơ Hữu Loan mới đây và ông cũng không dấu được ngậm ngùi khi nghe tin nhà thơ qua đời
“Khoảng tháng 10 năm 2008 cho đến cuối năm vừa rồi tôi có nhiều dịp đến thăm nhà thơ Như một sự ngưỡng mộ, như một sự tìm kiếm Ấn tượng ban đầu khi gặp nhà thơ thì ông rất cương cường, cả về thể xác lẫn tinh thần Người ông gầy sắt seo lại nhưng rất cứng cỏi và trí nhớ thì vẫn rất tuyệt vời Ông sẵn lòng đọc thơ cho những ai đến thăm có yêu cầu…”
Ấn tượng ban đầu khi gặp nhà thơ thì ông rất cương cường, cả về thể xác lẫntinh thần Người ông gầy sắt seo lại nhưng rất cứng cỏi và trí nhớ thì vẫn rất tuyệt vời
Nhà phê bình VH Phạm Xuân Nguyên
Hữu Loan sinh ra và lớn lên tại miền Bắc nhưng tôn vinh và nhận thức cái hay trong thơ ông lại là dân chúng miền Nam Trước năm 1975, bài thơ
“Màu tím hoa sim” hình như không ai ở miền Nam mà không biết tới Tính chất bi kịch gây xúc động của câu chuyện có thực, lồng trong ngôn ngữ trữ tình lãng mạn của thi ca đã làm biết bao thanh niên miền Nam say đắm
Giờ đây người dân miền Bắc đã biết đến Hữu Loan qua những nhạc phẩm phổ từ bài thơ của các nhạc sĩ Dzũng Chinh, Phạm Duy hay Anh Bằng Miền Bắc biết và yêu ông hơn cả người miền Nam khi xưa vì vừa cảm động bởi bài thơ bất hủ vừa chia sẻ sâu sắc nỗi thống khổ của một người bị guồng máy trù dập như thế nào Rất nhiều người trong họ đã nếm qua những gì mà nhà thơ từng trải nghiệm
Trang 18Tuy vẫn quay trong sự im lặng nhưng hình ảnh bất khuất của nhà thơ hình như cũng khiến cho guồng máy chững lại trong giờ phút ông ra đi Ra đi nhưng để lại trong lòng những người yêu mến ông biết bao thổn thức.
Quý vị vừa theo dõi các văn nghệ sĩ nói về sự kính trọng của mình đối với nhà thơ Hữu Loan Kỳ tới Mặc Lâm sẽ gửi đến quý thính giả lịch sử của hai bài thơ: “Màu tím hoa sim” và “Hoa Lúa”, hai tuyệt tác mà nhà thơ Hữu Loan sáng tác cho hai người bạn tri kỷ của mình đã và sẽ mãi mãi nằm trong lòng người yêu thơ nước Việt.
Thi sĩ Hữu Loan và mối tình bất hủ
19/03/2010 20:02
- Gần đây nghe tin ông ốm nặng, bệnh thấp khớp tái phát, đau nhiều khiến ông không đi lại được Không biết đã bao lần tôi định bụng thu xếp công việc để về quê, ghé thăm ông, nhưng rồi cứ lần lữa mãi Hôm nay nghe tin ông mất (ông mất lúc 19h, ngày 18/3/2010), tôi bàng hoàng, vừa đau buồn, vừa trách cứ bản thân
Xin tạ lỗi cùng ông, tôi viết lại những kỷ niệm về ông như một lời tiễn biệt Ở nơi chín suối mong ông được bình an!
Một số phận long đong
Lần cuối cùng gặp ông cũng đã tới 6 năm rồi Ấy là khi chúng tôi cùng ông Lê Văn Chính, Giám đốc Công ty điện tử Vitek VTB (từ thành phố Hồ Chí Minh ra) vào nhà ông (dưới chân núi Văn Lỗi, làng Văn Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, cách Thành phố Thanh Hóa chừng 50km) để xin nhượng bản quyền bài thơ “Màu tím hoa sim”
Trời đứng bóng chúng tôi mới tới được nhà ông, đứng ngoài cánh cổng bằng tre gài sơ sài, tôi réo thật to: “Cụ Loan ơi!” Lát sau, ông lững thững đi ra, áo may ô ba lỗ màu cháo lòng, quần đùi lửng, tay cầm chiếc quạt mo, vỗ phành phạch mấy cái vào đùi hỏi vọng ra:
“Đứa nào đấy?” Ông nheo mắt nhìn vào mặt tôi, rồi chợt nhận ra, có
vẻ rất vui, cười sảng khoái Ông bảo: “Trừ mày ra bố bảo đứa nào dám réo tên tao oang oang như rứa”
Khi biết mục đích chuyến thăm ông lần này là Công ty điện tử Vitek VTB muốn mua độc quyền bài thơ “Màu tím hoa sim” của ông với cáigiá 100 triệu đồng, ông tỏ ra khá sửng sốt
Trang 19Nhà thơ Hữu Loan
Trang 20Ông mời chúng tôi ngồi bên cái chõng, dưới gốc cây khế ngoài vườn,rồi lặng lẽ rót rượu ra mời khách Mái tóc ông bạc trắng, để dài xõa xuống ngang vai, trước trán găm một cái bờm bằng nhựa màu huyết
dụ Bước vào cái tuổi cửu tuần rồi mà mắt ông vẫn còn tinh anh, giọng ông còn sang sảng, chỉ có điều, trông ông hơi hốc hác, những gân cổ và xương quai xanh nổi gồ cả lên, như đắp bằng thạch cao, như vạc bằng rìu
Nhấp một ngụm rượu ông nhìn vào ông Giám đốc Công ty điện tử Vitek VTB như thăm dò: “Thế các ông lấy bao nhiêu phần trăm?”
“Của cụ hết cụ ạ” - sau khi nghe ông Chính nói vậy ông cười khà khà, quạt lấy quạt để
Theo lý lịch công tác thì nhà thơ Hữu Loan sinh năm 1916, nhưng ông nói với tôi là ông sinh năm 1914 trong một gia đình tá điền
nghèo, hồi nhỏ ông không có cơ may được cắp sách đến trường nhưbao đứa trẻ cùng trang lứa, chỉ học bữa được bữa không tại nhà do người cha dạy dỗ Cha ông tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người Lên trung học, theo ban thành chung, ông cũng họctại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học
Có lần Hữu Loan kể rằng, vào khoảng năm 1938, ông vác lều chõng
ra Hà Nội đua tài, không phải là để thăng quan phát tài mà là để chứng minh cho đám con cháu nhà giàu thấy rằng con tá điền, khôngđược đến trường, vẫn đỗ cao như chơi
Đám sĩ tử kinh thành từ chỗ nhìn ông bằng “nửa con mắt” khi bước vào trường thi, đến “tròn con mắt” khi thấy tên ông trên bảng vàng Aicũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn Số người đậu trong kỳ thi
đó rất hiếm, hiếm đến nỗi sáu bảy chục năm sau người ta vẫn còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, như Nguyễn Đình Thi, Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn, Đỗ Thiện và Hữu Loan
Có thể nói cuộc đời ông là một bi kịch lớn Hữu Loan tham gia Mặt trận bình dân năm 1936, rồi tham gia Việt Minh ở thị xã Thanh Hóa (nay là TP Thanh Hóa) Trước năm 1945, ông từng là cộng tác viên trên các tập san văn học xuất bản tại Hà Nội Sau Cách mạng tháng Tám, ông được cử làm Ủy viên Văn hóa trong Ủy ban Hành chính lâm thời tỉnh Thanh Hóa Theo Hữu Loan kể lại thì một lần tại cuộc họp của Ủy ban hành chính ông đã nhảy lên bàn đấm thẳng vào mặt
Trang 21một tay "giữ “túi cơm, manh áo” của kháng chiến, đã ăn bớt ăn xén của anh em lại còn phát biểu láo” Hữu Loan bỏ về quê đi cày Mến
mộ tài danh cái “gã giang hồ mà lịch duyệt” ấy nên lưỡng quốc
Tướng quân Nguyễn Sơn đã mời ông vào phục vụ trong Đại đoàn
Người con gái trong “Màu tím hoa sim”
Trong sự nghiệp sáng tác của mình Hữu Loan viết không nhiều Trong số khoảng trăm bài thơ của ông mà tôi biết, thực tình mà nói, tôi vẫn coi “Đèo cả” là một tuyệt tác của ông Tuy nhiên bài thơ mà nhiều người biết đến nhất và ông nổi tiếng vì nó lại là bài “Màu tím hoa sim” Và gần như cuộc đời thăng trầm của ông cũng gắn với bài thơ này
Theo nhà thơ Hữu Loan thì đây là bài thơ ông khóc người vợ xấu số của mình là Lê Đỗ Thị Ninh Xung quanh câu chuyện này đã được kể
và viết rất nhiều và không ít người đã thêu dệt cho nó ly kỳ
Trong nhiều năm quen biết và qua nhiều lần trò chuyện cùng ông cả trong lúc “trà dư tửu hậu”, ông đã kể cho tôi nghe về người vợ xấu sốcủa ông Tôi cũng đã về tận Nông Cống (Thanh Hóa) nơi Lê Đỗ Thị Ninh bị dòng nước cuốn đi và “sinh ra” cho người đời một khúc bi ca bất hủ Tôi cũng đã lần tìm tới những người thân của bà Ninh để được nghe về cuộc đời ngắn ngủi của bà
Nhà thơ Hữu Loan kể: “Vào khoảng năm 1932-1933, tôi được gia đình cho lên thành phố Thanh Hoá để theo học trung học
Ở Thanh Hoá thời bấy giờ có hai hiệu sách rất nổi tiếng Một hiệu có tên là Hà Thành Đây là hiệu sách của ông Trương Khâm, khi ấy là huynh trưởng hướng đạo sinh Hà Thành Còn hiệu sách thứ hai là hiệu Hoà Yên của bà Tham Kỳ (tức bà Đái Thị Ngọc Chất) ở 48 phố Lớn (Trần Phú hiện nay) Bà Chất là vợ ông Lê Đỗ Kỳ, kỹ sư canh
Trang 22nông, có lúc làm Thanh tra canh nông Đông Dương; sau này từng làm Chủ tịch huyện Đông Sơn, rồi huyện Nông Cống, Thanh Hoá, là đại biểu Quốc hội khoá đầu tiên của nước Việt Nam DCCH Sau này ông Kỳ đưa cả gia đình ra Hà Nội sinh sống Lũ học sinh chúng tôi thường ra hiệu sách của bà Tham Kỳ để mượn đọc”
Bà Đái Thị Ngọc Chất là người rất yêu văn chương, thấy Hữu Loan nhà nghèo nhưng lại ham học nên rất quý Bà thường “đàm đạo” thơ văn với Hữu Loan Phần vì trọng tài, phần vì nể phục tư chất thông minh và khảng khái của chàng trai nên bà Chất bàn với chồng mời Hữu Loan về làm gia sư cho 3 người con trai của mình
Trong bài thơ “Màu tím hoa sim”, Hữu Loan viết rất thật: “Nhà nàng
có ba người anh đi bộ đội ” Người con trai cả của ông bà Tham Kỳ
là Lê Hữu Khôi, tham gia kháng chiến chống Pháp, hy sinh (năm 1954) chỉ vài giờ trước khi đơn vị của ông bắt sống tướng De Castri, hoàn thành thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử Người con thứ hai là Lê Đỗ Nguyên, chính là Trung tướng Phạm Hồng Cư, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam
Người con trai thứ ba mà Hữu Loan làm gia sư là Lê Đỗ An, sau này lấy tên là Nguyễn Tiên Phong, nguyên Bí thư Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (nay đã mất) Lê Đỗ Thị Ninh là cô con gái kế tiếpcủa vợ chồng ông Tham Kỳ
“Các em nàng có em chưa biết nói ” “Người em chưa biết nói mà nhà thơ Hữu Loan nói tới trong bài thơ chính là em Lê Thị Như Ý, sau này là giáo viên, hiện đã nghỉ hưu tại Hà Nội” - Trung tướng Phạm Hồng Cư cho chúng tôi biết
Khi Hữu Loan đến làm gia sư trong nhà ông bà Tham Kỳ thì ông đã
18 tuổi (Hữu Loan sinh năm 1916) còn Lê Đỗ Thị Ninh còn là một cô
bé vài ba tuổi Ông đã viết rất thực: “Yêu nàng như tình yêu em gái” Ông coi Lê Đỗ Thị Ninh như em gái thật
“Nhưng hình như ngay từ lúc tôi bước chân tới nhà bà Tham Kỳ thì
bà cụ đã có ý gán Ninh cho tôi Bà rất quý tôi, dành cho tôi nhiều ưu
ái Tôi ở trong nhà một thời gian thì dọn đi vì bà không chịu lấy tiền nhà, nhưng khi tôi ngã ốm thì bà lại đưa về nhà nuôi Lê Đỗ Thị Ninh khi ấy còn nhỏ nhưng đã rất có cá tính Nàng không thích lụa là mà
Trang 23chỉ thích mặc áo vải Như duyên tiền định, mặc dù trong nhà không ítngười làm, nhưng nàng vẫn thường tự rút quần áo của tôi phơi ngoàisân” – Hữu Loan cho biết trong lần trò chuyện với chúng tôi
Khi Lê Đỗ Thị Ninh lớn lên đi học thì Hữu Loan đã trở thành thầy dạy Pháp văn tại một trường tư thục ở Thành phố Thanh Hoá Hàng ngày
bà Tham Kỳ cho xe kéo tay đưa cô Ninh đi học, sau đó đưa Hữu Loan đến trường Lê Đỗ Thị Ninh học đến lớp 5 thì Nhật ném bom nên đành phải thôi học
Trung Tướng Cư nhớ lại: “Em Ninh là một cô bé hiền thục và chăm làm lắm Bố tôi chuyển ra Hà Nội làm ở Bộ Canh nông, ba anh em chúng tôi ra Hà Nội học rồi tham gia cách mạng Mẹ và em Ninh phải
về ấp Thị Long (Nông Cống, Thanh Hoá), nơi gia đình chúng tôi có mấy mẫu ruộng, đồng thời cũng là để nuôi bà ngoại tôi bị ốm nặng nằm liệt (tai biến mạch máu não) Mẹ tôi phải túc trực bên bà nên mọi chuyện như làm ruộng, nuôi gà, chăn vịt đều dồn hết lên vai
em Ninh”
Tuy nhiên chuyện chỉ mới dừng ở đấy, bởi vì đối với Hữu Loan
khoảng cách tuổi tác giữa hai người quá lớn (16 tuổi) và ông vẫn coi Ninh như em gái
Mối tình bất hủ
Sau cách mạng Tháng Tám, Hữu Loan trở thành Uỷ viên văn hoá trong Uỷ ban hành chính lâm thời tỉnh Thanh Hóa, phụ trách 4 ty: giáo dục, thông tin, công chính và thương chính Khi khai mạc “Tuần
lễ vàng”, ông viết và đọc một bài diễn văn hùng hồn khiến nhiều người dân, trong đó có cô Lê Đỗ Thị Ninh lúc ấy đã 15 tuổi, vô cùng xúc động, đã bỏ tất cả vòng tay, hoa tai vàng ra để hiến cho cách mạng
Khoảng năm 1947 Hữu Loan làm chủ bút báo “Chiến sỹ” đóng ở miền Trung, dưới quyền có Vũ Cao, tác giả bài thơ “Núi đôi” nổi tiếng
và Nguyễn Đình Tiên, tác giả cuốn “Chân dung tướng nguỵ Sài Gòn”.Nguyễn Đình Tiên là cậu họ của Lê Đỗ Thị Ninh
Một lần trên đường từ Thanh Hoá vào đơn vị Nguyễn Đình Tiên đã nói với Hữu Loan: “Tao thấy con bé Ninh đem va ly quần áo của mày
ra phơi và chải đấy” Hữu Loan ngồi im lặng Nguyễn Đình Tiên nói
Trang 24thêm: “Hình như chị Kỳ muốn gả nó cho mày” Hữu Loan gạt đi: “Nó còn nhỏ quá, tao coi nó như em gái mình, lấy làm sao được mà lấy” Nguyễn Đình Tiên mắng át đi: “Mày lạc hậu lắm Chị Kỳ dành cho mày mà mày lại không nhận là mày bạc lắm” Hữu Loan vẫn phân vân Nguyễn Đình Tiên bồi thêm: “Thôi được rồi để tao thu xếp cho”
Sau đó Hữu Loan nhận được thư của bà Tham Kỳ gửi vào Ngày mùng 6 tháng hai (âm lịch) năm 1948, đám cưới của Hữu Loan và Lê
Đỗ Thị Ninh được tổ chức tại ấp Thị Long Đám cưới đúng như Hữu Loan tả trong thơ: “Tôi mặc đồ quân nhân/ đôi giày đinh/ bết bụi đất hành quân/ nàng cười xinh xinh/ bên anh chồng độc đáo” Hữu Loan nghỉ phép ở bên người vợ trẻ được một thời gian, trong đó có ít ngàyhai vợ chồng về thăm quê ông ở Nga Lĩnh, Nga Sơn Hữu Loan kể rằng có lần hai vợ chồng đi chơi với nhau ở phố Thanh Hóa, Hữu Loan 33 tuổi, để râu ria rậm rạp tự thấy mình già, đi bên cạnh người
vợ mới 17 tuổi thì ngượng nên cứ cố ý tụt lại sau Người vợ trẻ kéo ông đi cạnh mình rồi bảo: “Em thích có người chồng già như anh”
Sau “tuần trăng mật”, Hữu Loan từ biệt người vợ trẻ trở lại đơn vị lúc
ấy đang đóng quân ở Thọ Xuân (Thanh Hóa), cách nhà chừng 100 cây số Thỉnh thoảng chủ nhật Hữu Loan tranh thủ về thăm vợ Hạnh phúc của họ thật ngắn ngủi, gần 4 tháng sau ngày cưới, ngày 29 tháng 5 (âm lịch) năm 1948, Lê Đỗ Thị Ninh bị chết đuối tại ấp Thị Long khi đang giặt ở sông Chuồng
“Gió sớm thu về/ rờn rợn nước sông…” Con sông dữ, mùa nước lũ
ở vùng núi Nưa nước cuồn cuộn đổ về, nàng ra sông giặt, trượt chânngã và bị nước cuốn đi “Tôi về/ không gặp nàng / Má tôi ngồi bên
mộ con đầy bóng tối/ chiếc bình hoa ngày cưới/ thành bình hương/ tàn lạnh vây quanh” Khó hình dung nổi nỗi đau của Hữu Loan khi nghe tin vợ mất, nàng còn quá trẻ: “Tóc nàng xanh xanh/ ngắn chưa đầy búi /Em ơi giây phút cuối/ không được nghe nhau nói/ không được nhìn nhau một lần”
Nhà thơ Vũ Cao sau này kể lại: “Hôm ấy ngồi trong một quán nhỏ ở Thanh Hóa, anh báo cho tôi biết cái tin đột ngột: Lê Đỗ Thị Ninh vừa mất Bàn tay anh cầm cốc nước run lên bần bật, nước bắn tung tóe xuống bàn, mặt anh tái xanh…”
Trang 25Và rồi ba người anh của nàng cũng bàng hoàng Trung tướng Phạm Hồng Cư kể: “Vào thời gian em Ninh mất tôi và anh Khôi đang ở mặt trận, còn chú Lê Đỗ An (tức Nguyễn Tiên Phong) thì đang công tác ở Trung ương đoàn Năm 1949 tôi được điều về làm ở phòng chính trị Cục quân huấn của Cục Chính trị Bộ quốc phòng (nay là Tổng Cục chính trị), trong một lần đi họp có gặp anh Võ Trí Sơn, bạn thân của anh Hữu Loan, đồng thời cũng là người bạn của gia đình chúng tôi Anh Sơn bảo: “Em Ninh chết rồi, em chết đuối” Tôi choáng váng Anh Sơn bảo tiếp: “Nó lấy Hữu Loan đấy” Lúc bấy giờ tôi mới biết
em Ninh đã lấy nhà thơ Hữu Loan” Đúng như Hữu Loan viết trong bài thơ: “Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc/ biết tin em gái mất/ trước khi em lấy chồng”
Hữu Loan viết “Màu tím hoa sim” năm 1949, khi đang dự chỉnh huấn
ở Nghệ An Ông viết liền một mạch, xong trong vòng hai tiếng đồng
hồ, gần như hoàn chỉnh luôn, sau này ông chỉ sửa thêm rất ít Nó là một phần của cuộc đời Hữu Loan, mà có thể lại là phần đẹp và buồn nhất, nên cho dù ông viết rất thật, rất mộc mạc, nói như Vũ Bằng là
“không có gọt rũa, không có văn chương gì cả”, hay như Vũ Cao
“không có chữ nghĩa gì cả”, nhưng lại có sức lay động tột cùng và có sức sống mãnh liệt ngay cả trong những giai đoạn mà tác giả và tác phẩm không được thừa nhận
Nhà thơ Hữu Loan và người vợ sau,
bà Phạm Thị Nhu
Sau này ông kết duyên và sống trọn đời với người vợ thứ hai là bà Phạm Thị Nhu “Bà ấy cũng là một người phụ nữ sâu sắc Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé vào mỗi buổi chiều