1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

hiểu về thăng Long- Hà Nội

60 349 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 7,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

542-544 Lý Bí dấy binh đánh đuổi nhà Luơng lên ngôi Hoàng đế, xây dựng chù Khai Quốc, đống đô ở vùng đất thuộc Thăng Long-hà Nội ngày nay Đến khoảng năm 454–456, Hà Nội mới được ghi lại

Trang 1

THĂNG LONG

HÀ NỘI

Trang 2

1.Thời kỳ tiền THĂNG LONG

- Vua Hùng : Kinh đô dặt ở Văn Lang lúc đó Hà Nội chỉ

Trang 4

1.Thời kỳ tiền THĂNG LONG

Trong thời kỳ Bắc thuộc :

Năm 40 hai bà Trưng khởi nghĩa đánh đuổi nhà Hán, xây dựng kinh đô ở Mê Linh (xã Mê Linh, Hạ Lôi cũ, huyện Mê Linh)

Trang 6

1.Thời kỳ tiền THĂNG LONG

542-544 Lý Bí dấy binh đánh đuổi nhà Luơng lên

ngôi Hoàng đế, xây dựng chù Khai Quốc, đống đô

ở vùng đất thuộc Thăng Long-hà Nội ngày nay

Đến khoảng năm 454–456, Hà Nội mới được ghi lại là trung

tâm của huyện Tống Bình

Trang 8

1.Thời kỳ tiền THĂNG LONG

• Năm 571 Tân Mão

- Lý Phật Tử giành được chính quyền trong cả hai châu, bỏ thành Ô Diên dời đô lên ở Phong Châu

(Bạch Hạc nay thuộc Phú Thọ) , đóng đô ở Cổ Loa

602 – Nhâm Tuất

- Quân nhà Tùy sang xâm lược, Lý Phật Tử lui về tổ chức phòng ngự ở Cổ Loa.

Trang 9

1.Thời kỳ tiền THĂNG LONG

679 – Kỷ Mão

- Nhà Tùy tăng cường xây phủ thành Tống Bình

Nhà Đường đặt An Nam đô hộ phủ quản lý 12 châu, phủ lỵ đóng tại Tống Bình, Giao Châu

722 – Nhâm Tuất

- Mai Thúc Loan khởi nghĩa ở Nghệ An, sau khi

xưng đế kéo quân ra Bắc, quét sạch quân Đường ra khỏi Tống Bình Tên đô hộ Quang Sở Khách trốn

Trang 10

Đền thờ và Lăng mộ vua Mai tại chân Rú Đụn

xã Vân Diên (Nam Đàn, Nghệ An)

Trang 11

1.Thời kỳ tiền THĂNG LONG

Trang 12

1.Thời kỳ tiền THĂNG LONG

• - Phùng Hưng mất tại Tống Bình Nhân dân tôn là

Bố Cái đại vương (lăng ở đầu đường Giảng Võ,

quận Đống Đa)

Trang 14

Lăng mộ Phùng Hưng

Trang 15

1.Thời kỳ tiền THĂNG LONG

Trang 16

1.Thời kỳ tiền THĂNG LONG

866 – Bính Tuất

- Cao Biền làm tiết độ sứ, xây lại thành Đại La có 2 lớp

tường

+ Lớp tường ngoài bao quanh thành Đại La cũ là một con

đê, chu vi 2125 trượng 8 thước (khoảng hơn 7 km), cao 1 trượng 5 thước, chân rộng 3 trượng Lớp tường trong chu vi

1982 trượng 5 thước (khoảng 6km), cao 2 trượng 5 thước, chân rộng 2 trượng 5 thước, 4 mặt có tường cao 5 thước 5 tấc Có 55 lầu vọng địch, 3 hào nước và 34 con đường đi Trong thành có 5000 gian nhà

Trang 17

1.Thời kỳ tiền THĂNG LONG

931 – Tân Mão tháng chạp

- Dương Đình Nghệ tiến đánh Giao Châu, đuổi Lý Tiến về nước, chiếm giữ Đại La, khôi phục nền tự chủ từ năm 931 đến 937

Trang 19

1.Thời kỳ tiền THĂNG LONG

939 – Kỷ Hợi mùa xuân

- Sau khi đánh tan quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng (cuối năm 938), Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh).

944 – Giáp Thìn

- Ngô Quyền mất

- Loạn 12 sứ quân

Trang 20

Lăng mộ Ngô Quyền tại đường Lâm Sơn Tây

Trang 21

Thăng Long thời Lý ( 1010-1225)

1010 – Canh Tuất mùa thu, tháng bảy

- Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) dời đô từ Hoa Lư ra Đại La, đổi tên thành là Thăng Long.

+ Trong chiếu dời đô, Lý Thái Tổ đã viết: “Muôn vật cực kỳ giầu thịnh, đông vui Xem khắp nước Việt, đây là chỗ đất đẹp nhất, thật là nơi đô hội

trọng yếu để bốn phương tụ họp”.

Trang 22

Tượng đài

Lý Thái

Tổ

Trang 24

CHIẾU DỜI ĐÔ Bản phiên âm Hán-Việt : Tích Thương gia chí Bàn

Canh ngũ thiên, Chu thất đãi Thành Vương tam tỉ Khởi Tam Đại chi sổ quân tuẫn vu kỷ tư, vọng tự thiên tỉ Dĩ kỳ đồ đại

trạch trung, vi ức vạn thế tử tôn chi kế; thượng cẩn thiên

mệnh, hạ nhân dân chí, cẩu hữu tiện triếp cải Cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ Nhi Đinh Lê nhị gia, nãi tuẫn kỷ

tư, hốt thiên mệnh, võng đạo Thương Chu chi tích, thường an quyết ấp vu tư, trí thế đại phất trường, toán số đoản xúc, bách tính hao tổn, vạn vật thất nghi Trẫm thậm thống chi, bất đắc bất tỉ

Huống Cao Vương cố đô Đại La thành, trạch thiên địa khu

vực chi trung; đắc long bàn hổ cứ chi thế Chính Nam Bắc

Đông Tây chi vị; tiện giang sơn hướng bối chi nghi Kỳ địa

quảng nhi thản bình, quyết thổ cao nhi sảng khải Dân cư miệt hôn điếm chi khốn; vạn vật cực phồn phụ chi phong Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa Thành tứ phương bức thấu chi yếu hội; vi vạn thế đế vương chi thượng đô

Trẫm dục nhân thử địa lợi dĩ định quyết cư, khanh đẳng như hà?

Trang 25

Huống Cao Vương cố đô Đại La thành, trạch

thiên địa khu vực chi trung; đắc long bàn hổ cứ chi thế Chính Nam Bắc Đông Tây chi vị; tiện giang sơn hướng bối chi nghi Kỳ địa quảng nhi thản bình, quyết thổ cao nhi sảng khải Dân cư miệt hôn điếm chi khốn; vạn vật cực phồn phụ chi phong Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa Thành tứ phương bức thấu chi yếu hội; vi vạn thế đế vương chi thượng đô

Trẫm dục nhân thử địa lợi dĩ định quyết cư,

khanh đẳng như hà?

Trang 26

• Bản dịch tiếng Việt:

Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô

[5] , nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô [6]

, há phải các vua thời Tam Đại [7] ; ấy theo ý riêng

tự tiện dời đô Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn

đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có

chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài,

phong tục giàu thịnh Thế mà hai nhà Đinh , Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm

họ tổn hao, muôn vật không hợp Trẫm rất đau đớn, không thể không dời

Trang 27

Huống chi thành Đại La , đô cũ của

Cao Vương[8] , ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao

mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh

Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực

là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng

là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời

Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các

Trang 28

Ý nghĩa

• Chiếu dời đô đã thể hiện những ý tứ sâu sắc, tầm

nhìn thời đại của một vị vua Đại Cồ Việt 1000 năm

về trước khi ông chọn Đại La làm kinh đô mới để

mưu nghiệp lớn, tính kế phồn vinh, trường kỳ cho

muôn đời sau Bản chiếu nêu bật được vai trò kinh

đô Thăng Long xứng đáng là trung tâm chính trị,

kinh tế, văn hoá của quốc gia Thời gian sau đó,

Thăng Long vẫn là kinh đô của các triều Trần,

nhà Hậu Lê, nhà Mạc, Lê Trung Hưng và đang là

Thủ đô của nước

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Thăng Long

thực sự là “nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”

Trang 29

Thăng Long thời Lý ( 1010-1225)

1028 – Mậu Thìn hai nhăm tháng ba

- Dựng miếu Đồng Cổ ở bên hữu thành Đại La, định

lệ hàng năm các quan đến uống máu ăn thề trung

thành với vua vào ngày 4 tháng 4.

- Đặt cấp bậc các tăng đạo

Trang 30

Đền Đồng Cổ (Phường Bưởi, quận Tây Hồ)

Trang 31

Kinh thành Thăng Long khi đó giới hạn bởi ba con sông:

sông Hồng ở phía Đông, sông Tô phía Bắc và

sông Kim Ngưu phía Nam

Khu hoàng thành được xây dựng gần hồ Tây với cung điện hoàng gia cùng các công trình chính trị

Phần còn lại của đô thị là những khu dân cư, bao gồm các phường cả nông nghiệp, công nghiệp và thương

nghiệp Ngay trong thế kỷ 10, nhiều công trình tôn giáo nhanh chóng được xây dựng, chùa Diên Hựu phía Tây hoàng thành xây năm 1049, chùa Báo Thiên xây năm

1057, Văn Miếu xây năm 1070, Quốc Tử Giám dựng

Trang 32

Thăng Long thời Lý ( 1010-1225)

1029 – Kỷ Tị Lý Thái Tông xây lại cấm thành.

+ Trên nền điện Càn Nguyên cũ dựng lên điện Thiên An làm điện chính Hai bên là điện Tuyên Đức và Diên Phúc Trước điện Thiên An là sân rộng, 2 bên đặt gác chuông, bao quanh là hành lang và giải vũ Trước sâu rộng có điện Phụng Thiên, trên điện có lầu Chính Dương đặt người báo canh, báo khắc Phía đông có điện Thiên Khánh xây hình 8 cạnh, tiếp sau là điện

Trường Xuân, bên trên có gác Long Đồ Nối các điện Thiên

An, Thiên Khánh, Trường Xuân là các cầu Phượng Hoàng.

- Đắp thêm một lần thành đất gọi là Phượng thành

1030 – Canh Ngọ

- Dựng xong điện Thiên Khánh, kiểu bát giác để làm chỗ nghe chính sự

Trang 34

Di tích Đàn Xã Tắc 1048

Trang 36

Bài thơ "Tuyên ngôn độc lập" đầu tiên của đất nước ( 1077 )

Trang 38

Văn Miếu xưa 1070

Trang 39

Nhà Trần nối bước nhà Lý cai trị Đại Việt, kinh

thành Thăng Long tiếp tục được xây dựng,

hoàng thành được củng cố và xuất hiện thêm những cung điện mới Năm 1230, Thăng Long được chia thành 61 phường, kinh thành đông đúc hơn dù địa giới không thay đổi Giai đoạn này cũng ghi nhận sự xuất hiện của những cư dân ngoại quốc, như người Hoa, người Java và người Ấn Độ Nền kinh tế công thương nghiệp cũng sản sinh tầng lớp thị dân và Thăng Long còn là nơi quy tụ của nhiều học giả, trí thức

Trang 40

THĂNG LONG

THỜI TRẦN

1226 - 1400

Trang 41

Thăng Long thời trần ( 1226 - 1400)

Trong cuộc chiến tranh với nhà Nguyên, kinh thành

Thăng Long ba lần bị chiếm giữ nhưng đều kết thúc trong chiến thắng của Đại Việt.[19] Cuối thế kỷ 14, thời kỳ nhà Trần suy vi, một quý tộc ngoại thích là

Hồ Quý Ly thâu tóm quyền lực, ép vua Trần chuyển kinh đô về Thanh Hóa Khi Hồ Quý Ly chính thức lên ngôi, lập nên nước Đại Ngu năm 1400, kinh đô mới mang tên Tây Đô, Thăng Long được đổi thành Đông

Đô Nhưng vương triều của nhà Hồ chỉ tồn tại trong thời gian ngắn ngủi Năm 1406, nhà Minh đưa quân

Trang 42

Đền thờ Trần Nhân Tông tại Huế với đôi rồng chầu dài nhất Việt Nam

Trang 44

THĂNG LONG THỜI LÊ ,MẠC,

LÊ TRUNG HƯNG

1428 - 1788

Trang 45

Thăng Long thời Lê

Sau chiến thắng của khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Lợi thành lập nhà Lê và Đông Đô cũng lấy lại vị thế kinh thành Năm 1430, thành phố được đổi tên

thành Đông Kinh, đến 1466 được gọi là phủ

Trung Đô Hoàng thành Thăng Long dưới thời nhà Lê tiếp tục được mở rộng Bên cạnh, khu vực dân cư được chia thành 2 huyện Vĩnh

Xương và Quảng Đức, mỗi huyện 18 phường Thời kỳ này, đứng đầu bộ máy hành chính là

chức phủ doãn Thành phố tiếp tục một thời kỳ

Trang 46

Thăng Long thời Lê, Mac, Lê Trung Hưng ( 1428-1788)

Trong giai đoạn tranh giành quyền lực giữa nhà Lê,

nhà Mạc và chúa Trịnh, Thăng Long vẫn duy trì vị trí kinh đô Sự phức tạp của chính trị thời kỳ này cũng

đem lại cho thành phố một điểm đặc biệt Bên cạnh

hoàng thành của vua Lê, phủ Chúa Trịnh được xây

dựng và là trung tâm quyền lực thực sự Nhờ nền kinh

tế hàng hóa và sự phát triển của ngoại thương, đô thị Thăng Long bước vào thời kỳ phồn vinh, thu hút thêm nhiều cư dân tới sinh sống Nhà truyền giáo người

Pháp Alexandre de Rhodes ước tính dân số Thăng

Long khi đó khoảng 1 triệu người William Dampier,

nhà phiêu lưu người Anh, đưa ra con số thường được xem hợp lý hơn, khoảng 2 vạn nóc nhà

Trang 47

THĂNG LONG

THỜI TÂY SƠN

1788 - 1802

Trang 48

Thăng Long thời Tây Sơn

Mùa hè năm 1786, quân Tây Sơn tiến ra miền

quân ra Bắc Sau chiến thắng ở trận Ngọc Hồi - Đống Đa, nhà Tây Sơn trị vì Đại Việt với kinh

đô mới ở Huế, Thăng Long trở thành thủ phủ

của Bắc Thành, tức Bắc Bộ ngày nay

Trang 50

THĂNG LONG THỜI NGUYỄN VÀ PHÁP THUỘC

(1802-1945 )

1805 - Ất Sửu Tháng ba Đào vét sông Nguyệt Đức Tháng

sáu Phá bỏ Hoàng Thành cũ Xây thành mới theo kiểu vô -

băng (vauban) của Pháp Thành hình vuông (mỗi cạnh khoảng 1km) tường thành xây gạch hộp, chân thành xây đá xanh và đá ong Tường cao một trượng, một thước, dày bốn trượng, mở ra năm cửa: Đông, Tây, Bắc, Đông Nam và Tây Nam Đường vào cửa xây vòm xuyên qua tường thành dài sáu trượng bốn thước (23m) mỗi cửa có lầu canh gọi là Thú lâu, đặt lính gác ngày

đêm Ngoài thành có hào Phía trước các cửa thành có một hàng tường chắn gọi là Dương mã thành cao bảy thước năm tấc, dài hai trượng chín thước, có cửa gọi là Nhân môn Vào thành phải qua Nhân môn mới tới cửa thành Trong thành có điện Kính

Thiên dựng trên núi Nùng, thềm điện có bậc chạm rồng đá từ cung điện thời Lý còn lại - Xây gác Khuê Văn ở Văn Miếu làm nơi bình thơ.

Trang 51

Nghênh Húc (đón buổi sáng) ở hướng Đông; Hướng Minh

(hướng về ánh sáng) ở hướng Nam và Hồi Quang (trả lại tia sáng) ở hướng Tây, tất cả xây bằng gạch gốm) Có hai thang xoáy ốc đi lên cột cờ Trên ngọn có biển đề hai chữ Kỳ đài

1848 - Mậu Thân

-Tự Đức cho phá dỡ hết cung điện ở thành Hà Nội đưa các đồ chạm trổ mỹ thuật bằng gỗ, đá về Huế

1865 - Ất Sửu

Trang 54

Năm 1873 Phạm Đình Bách vẽ bản đồ Hà Nội

Trang 56

Cầu Long Biên hay cầu Đume ( 02/1902 )

Trang 58

HÀ NỘI trong thời đại Hồ Chí minh

* Kháng chiến chống pháp lần 2

-19/12/1946 toàn quốc kháng chiến

-10/10/1954 giải phóng thủ đô

-Hà Nội được hồi sinh

* Hà Nội từ năm 1954 đến 1965 ( Thủ đô đã trở thành trung tâm chihs trị,văn hóa và kinh tế quan trọng của cả nước

-Hoàn thành cải cách ruộng đất

-Tiến hành xong cải tạo công thương nghiệp tư bản tư

doanh và hợp tác hóa nông nghiệp

Trang 59

HÀ NỘI trong thời đại Hồ Chí minh

Trang 60

HÀ NỘI trong thời đại Hồ Chí minh

• Hà Nội từ 1976 đến nay

-04/1976 Hà Nội là thủ đô của cả nước

-Xây dựng Hà Nội “đàng hoàng hơn,to đẹp hơn “

-Thực hiện kế hoạch 5 năm (1991-1995)phát triển kinh

tế-xã hội nhiều mục tiêu -Từ năm 1996 đến 2000 Hà Nội tập trung các nguồn lực phát triển kinh tế Nhà nước trong

những ngành,lĩnh vực trọng yếu : tài chính ngân hàng,kết

cấu hạ tầng kinh tế xã hội, sản xuất, thương mại 1999 Hà Nội được UNESCO trao tặng danh hiệu “Năm quốc tế hòa bình – 2000 Năm 2000 Hà Nội được Đảng Nhà nước tặng danh hiệu Thủ đô anh hùng

-Hiện nay Hà Nội đang được mở rộng để xúng tầm là thủ đô của quốc gia

Ngày đăng: 23/04/2015, 05:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w