1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

NGUYÊN NHÂN THANH TRIỀU ĐỘNG BINH

57 91 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay chỉ còn có cách là sai sứ sang cáo cấp với nhà Thanh, xin họ dàn quân sát biên giới nước ta, để hỏi cái tội của quân Tây Sơn gây việc binh đao và bọn người trong nước theo giặc,

Trang 1

NGUYÊN NHÂN THANH TRIỀU ĐỘNG BINH

Nguyễn Duy Chính

Trang 2

Lời mở đầu

Nếu hỏi một người Á Đông nào về sử Trung Hoa, gần như ai cũng biết đến Tào Tháo gian hùng, Khổng Minh mưu trí, Lưu Bị hiền đức, Quan Vũ trung nghĩa Hình ảnh về những nhân vật này không phải do sử liệu cung cấp mà do một cuốn tiểu thuyết chương hồi – Tam Quốc Chí của La Quán Trung Ảnh hưởng đó không phải chỉ thấm vào một tầng lớp bình dân mà rất đông thành phần trí thức cũng bị ảnh hưởng Mao Trạch Đông nói rằng chiến thuật, chiến lược của ông đều do các bộ truyện Tàu cung cấp, không phải

do học tập lý thuyết Marx-Lenin

Những ấn tượng đó mạnh mẽ hơn bất cứ bộ chính sử nào khiến nhiều huyền thoại được người ta tin là thật Không hiếm người bỏ cả đời để đi tìm Bát Trận Đồ hay tái tạo mộc ngưu lưu mã và người ta vẫn nghĩ rằng ra trận chỉ cần một viên tướng khoẻ là đủ, đánh nhau như xem đá gà, mỗi bên bắt độ một con, bên nào thắng thì thu tiền, bên thua phải móc túi ra trả Những số liệu cũng rất tròn, 10 vạn, 20 vạn, 50 vạn quân như một đàn gia súc, bất kể đến sinh hoạt xã hội, đời sống kinh tế, khả năng kỹ thuật, cơ sở tổ chức của thời đại đó

Thực tế chắc chắn không đơn giản như thế Lẽ dĩ nhiên, nếu một nhà nghiên cứu nghiêm túc nào dựa theo bộ Tam Quốc Chí của La Quán Trung để vẽ lại các chiến dịch cuối đời Hán sẽ bị phản bác ngay – một lẽ dễ hiểu đây chỉ là sản phẩm tưởng tượng được hình thành không phải do tài liệu mà do thuật đi, thuật lại trong nhiều thế kỷ, thêm bớt cho ly kỳ bởi những “thuyết thư tiên sinh” nôm na ra là người kể chuyện kiếm tiền độ nhật nơi trà đình tửu quán rất thịnh hành ở Trung Hoa trong những thế kỷ trước Người ta có thể kể cho vui lúc trà dư tửu hậu nhưng không ai lại dựa vào đó để tin rằng một tiếng hét bạt vía một đoàn quân, ra trận với hai tiểu đồng đẩy xe, phe phẩy quạt lông khăn cuộn hay phóng ngựa sang lấy đầu tướng địch trở về chén rượu chưa kịp nguội rồi đem ra áp dụng trên thực tế

Vậy mà có một cuốn tiểu thuyết chương hồi tương tự như thế đã được dùng làm chân kinh để viết sử nước ta, một thứ kinh điển “bất khả tư nghị” Ngô Thì Nhậm ung dung, trí tuệ, Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân khinh địch vô mưu, Tôn Sĩ Nghị tham ăn, hiếu sắc gần như là những thực tế “không thể đảo ngược” Từ khuôn mẫu tạo hình sẵn, các nhà nghiên cứu chỉ cần tô điểm thêm là đủ, có quá lố cũng không sao, miễn là không đi ngược lại những điều sách viết Cuốn sách đó không những được dân chúng tìm đọc mà còn được cả triều đình tham cứu, rồi đến ngày nay trở thành những sự thật lịch sử Nếu có những mâu thuẫn thì người ta dùng cuốn tiểu thuyết để tấn công lại, dù đối phương có đưa ra tài liệu hay chứng cớ rõ ràng Hiếm có biên khảo nào không trích một vài đoạn để dẫn chứng, kể cả những câu chuyện “phòng the” giữa Nguyễn Huệ và Ngọc Hân mà ngay cả kẻ thị thần chắc cũng không am tường được như thế

Cuốn sách ấy là Hoàng Lê Nhất Thống Chí của nhà họ Ngô viết về giai đoạn cuối đời Lê sang đến đầu nhà Nguyễn Khổ một điều, nếu không lấy tài liệu trong những loại sách dân gian như thế thì người ta sẽ không thể dựng lại giai đoạn này huy hoàng như mong muốn, như chỉ thị Người viết khi còn nhỏ cũng đã mê say cuốn tiểu thuyết chương hồi –

Trang 3

hay lịch sử tiểu thuyết, lịch sử ký sự tuỳ theo từng tác giả – Hoàng Lê Nhất Thống Chí này và cũng bị ảnh hưởng khá nặng nề Thế nhưng đến một lúc nhìn ra đây chỉ là một cuốn sách viết để mua vui, người nghiên cứu phải có can đảm gạt bỏ những chi tiết được miêu tả một cách chủ quan thiếu căn cứ, đối chiếu với những tài liệu khác có cơ sở, để giai đoạn lịch sử này được nhìn lại cho ăn khớp với các quốc gia khác – mà cũng nhất quán với chính sử Việt Nam trước và sau thời Tây Sơn

*

* * Sử sách trước đây có một mẫu số chung về khởi thủy của việc quân Thanh sang nước ta:

Nguyên vua Chiêu Thống đã mấy lần toan sự khôi phục, nhưng không được, phải nương náu ở đất Lạng Giang; còn bà Hoàng-thái-hậu thì đem hoàng tử sang Long-châu kêu van với quan Tàu, xin binh cứu viện Bấy giờ quan tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị dâng biểu tâu với vua Càn Long nhà Thanh, đại lược nói rằng: “Họ Lê là cống thần nước Tàu, nay bị giặc lấy mất nước, mẹ và vợ Tự quân sang cầu cứu, tình cũng nên thương Vả nước Nam vốn là đất cũ của nước Tàu, nếu sau khi cứu được nhà Lê, và lại lấy được đất An Nam, thực là lợi cả đôi đường”

Vua Càn Long nghe lời tâu ấy sai Tôn Sĩ Nghị khởi quân bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Quí Châu, Vân Nam, đem sang đánh Tây Sơn

Đoạn sử trên đây trích từ Việt Nam Sử Lược (Trần Trọng Kim, 1971, q II tr.130) nhưng VNSL cũng chỉ chép theo Khâm Định Việt Sử “ Lưỡng Quảng tổng đốc Tôn Sĩ Nghị và Quảng Tây tuần phủ Tôn Vĩnh Thanh hội họp ở Nam Ninh Thái hậu đưa nguyên tử đến yết kiến ở trong sân, gào khóc xin cứu viện ” (KDVSTGCM-XLVII tập II, tr 837)

Riêng Hoàng Lê Nhất Thống Chí của Ngô Gia Văn Phái thì lại chép là Lê Duy Kỳ chủ mưu sai Lê Duy Đản và Trần Danh Án “ áo rách, nón mê ” sang cầu viện khiến người sau buộc cho con cháu nhà Lê cái tội “ rước voi về giày mả to å”

Đản tiến lên nói:

- Hiện nay những kẻ thần dân theo giặc, đem hết tình hình nước nhà nói với

chúng, cho nên mình sắp mưu toan việc gì, thế nào chúng cũng biết trước Thậm chí có kẻ còn đưa giặc đến để bức bách nhà vua Ngày nay chỉ còn có cách là sai sứ sang cáo cấp với nhà Thanh, xin họ dàn quân sát biên giới nước ta, để hỏi cái tội của quân Tây Sơn gây việc binh đao và bọn người trong nước theo giặc, làm cho bọn giặc không thể ở yên, mà lũ phản nghịch cũng có phần sợ Như vậy, thì lòng mộ nghĩa của người ta mới được bền vững mà mưu cơ khôi phục mới khỏi bị tiết lộ và khỏi bị phá rối

Vua cho là phải, bèn sai thảo bức thư, đưa trước cho viên Tổng Đốc Lưỡng Quảng, đại lược nói rằng:

Trang 4

Vì vậy nay xin bẩm rõ nguyên do, mong rằng quan lớn thương tình kẻ ở xa, đề đạt giúp cho xét đến tấm lòng kính thuận của các đời trước nhà tôi, và thương đến nỗi khổ yếu ớt, lang thang của tôi, xin hãy truyền cho đem quân tới sát bờ cõi, đánh kẻ có tội, dẹp yên loạn lạc để gây dựng lại nước tôi 1

Trong biến động này, mẹ Lê Duy Kỳ, vợ góa của thái tử Lê Duy Vĩ (tức thái hậu) đươc miêu tả như một người đàn bà mưu trí có đầu óc khôn ngoan, tính toán, luôn luôn can thiệp vào triều chính, chủ động nhiều việc lớn :

Kịp khi ấy, Thái hậu ở Cao Bằng về, vừa tới Kinh, thấy vua chỉ thích làm những việc báo ân báo oán trái với phép thường như vậy, bèn nổi giận nói:

- Ta phải trèo đèo lội suối khó nhọc vất vả, mới xin được quân sang đây

Phỏng chừng nhà nước chịu được mấy phen ơn, thù phá hoại như thế? Nếu cứ cách ấy mà làm thì trị sao được thiên hạ? Gái già này lại đến làm đứa lưu vong mất thôi?

Rồi Thái hậu gào khóc, không chịu vào cung (Hoàng Lê Nhất Thống Chí tr 365) Thực ra, âm mưu xâm chiếm nước ta không phải do một người đàn bà gào khóc rồi Thanh triều mủi lòng, lại không phải vì Lê Duy Kỳ sai người chạy sang “bán nước” mà chỉ là một phù hợp ngẫu nhiên với một số dự tính nằm trong kế hoạch bành trướng của Trung Hoa, đáp ứng đúng tham vọng cá nhân của vua Cao Tông và Tôn Sĩ Nghị nên Thanh triều đã chủ động can qua Việc phù Lê chỉ là cái cớ, mà việc gào khóc xin cứu viện lại chỉ là một sự kiện tưởng tượng Không riêng gì thái hậu nhà Lê hay vương phi họ Nguyễn, hầu như chúng ta không tìm thấy một người đàn bà nào của cái triều đình mục nát này đã tham dự trong những trò chơi quân sự hay chính trị, kể cả công chúa Ngọc Hân

Hầu như tất cả đám người “tị nạn chính trị” kia hoàn toàn không có điều kiện để chủ động trong những dự tính, nếu có chăng là thoạt kỳ thủy nhà nho Nguyễn Huy Túc muốn nhờ Trung Hoa thanh viện để xin cho nhà Lê được giữ một mảnh Cao Bằng như thời nhà Mạc, còn Lê Duy Kỳ khi sai người cầm biểu sang Trung Hoa thì chỉ làm nhiệm vụ “hợp thức hóa” kế hoạch của Tôn Sĩ Nghị vì lúc đó nhà Thanh đã chuẩn bị sẵn sàng để đem quân sang nước ta

Rất có thể chính Tôn Sĩ Nghị đã sai Lê Quýnh về mớm lời cho Lê Duy Kỳ và chính vì thế mà sau này Lê Quýnh là người công phẫn hơn cả, quyết liệt hơn cả nhất định không chịu gióc tóc, thay áo theo lệnh nhà Thanh Thái độ của ông có thể coi như một phản kháng tiêu cực hay một hình thức ăn năn về tội lỗi của mình

Khi gạt qua những chi tiết đã làm cho sự việc thành ra rối ren, nguyên nhân cuộc chiến trở nên minh bạch hơn và “tội” của nhà Lê – tuy không hoàn toàn triệt tiêu – nhưng không còn là chủ động, chủ mưu

1 Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Lê Nhất Thống Chí tr 321-2

Trang 5

Tìm hiểu tiền nhân, hậu quả của việc Thanh đình động binh, đặt sự kiện vào trong bối cảnh chính trị chung của Trung Hoa bên cạnh dã tâm của Tôn Sĩ Nghị và vua Cao Tông, chúng ta không những soi sáng được một thời kỳ và cũng hiểu thêm được tâm sự uất nghẹn của di thần nhà Lê khi phải ở lại bên Tàu Chúng ta cũng đánh giá lại được công tác ngoại giao sau chiến tranh và cục diện chung của vùng Đông Nam Á một cách nghiêm chỉnh hơn

Trang 6

TỔNG QUÁT

Tình hình miền Bắc nước ta cuối đời Lê ngày càng trở nên tồi tệ Sau khi quân Trịnh thua ở Phú Xuân chính quyền Đàng Ngoài kiệt quệ càng lúc càng chông chênh khiến cho Nguyễn Huệ đem quân ra thẳng Bắc Hà mà không gặp một lực lượng phòng ngự nào đáng kể Trước đây vua Lê vẫn dựa vào chúa Trịnh trong mọi việc hành chánh và quân sự, đến nay khi họ Trịnh bại vong, nhà Lê quả thực chỉ còn cái nước trống không

như vua Lê đã thú nhận

Miền Bắc vào những năm cuối cùng của nhà Lê là một khu vực nghèo khổ, nhiều nơi bị mất mùa, đói kém Theo lá thư của

Lefro gửi cho Bandin thì “ mùa này tháng 10 (âm lịch) năm 1788 đã bị mất vì đại hạn vào mùa hè năm trước Gạo cũ còn lại của mùa trước thì bị vơ vét vào kho lương địch thành thử ngay cả lái buôn cũng chết đói [có cả bệnh dịch nữa] ”2 Người dân lại còn bị tham quan nhũng nhiễu, sưu cao thuế nặng nên có làng chết mất đến một nửa hay ba phần tư, những người còn lại thì bị bắt lính cả Những tỉnh địa đầu như Thanh Nghệ còn bi đát hơn Tình hình đó không phải chỉ một vài tháng mà kéo dài nhiều năm khiến chúng ta hiểu được rằng trong hoàn cảnh nhiễu nhương, người dân gần như không còn biết gì đến những thay đổi thượng tầng mà chỉ mong đợi một chính quyền ít hà khắc

Theo số liệu do Li Tana thu thập và phỏng đoán, vào đầu thế kỷ 19, 11 đạo ở miền Bắc có tổng cộng 9,445 xã 578,400 suất đinh.3 Cũng theo Li Tana, dân số miền Bắc ước lượng khoảng từ 5 đến 6 triệu người (tr 171) trong khi dân số miền Nam chỉ chừng non

1 triệu (tr 159 – 160) Những con số này dĩ nhiên không tuyệt đối chính xác nhất là ở Đàng Trong một số đông dân chúng thuộc các sắc tộc thiểu số vốn dĩ thần phục chúa Nguyễn trên danh nghĩa nhưng giữ sinh hoạt kinh tế, văn hoá riêng, sống du canh di chuyển luôn luôn nên không có con số chính xác Cũng vì thế, quân đội của chúa Nguyễn có thể chỉ bằng 1/4 quân chúa Trịnh như giáo sĩ Cristophoro Borri miêu tả4

nhưng quân số của Tây Sơn lại lớn hơn nhiều, ngoài lực lượng trú phòng họ thường điều động được nhiều vạn quân mỗi khi có chiến tranh

Lực lượng nhà Tây Sơn cũng không phải thuần tuý lấy từ các khu vực do chúa Nguyễn kiểm soát – vốn chỉ là vùng đồng bằng dọc theo duyên hải, chủ yếu là người Kinh mà còn sử dụng được các dân tộc thiểu số và vương quốc lân cận kể cả các sắc dân ở Nam

2 Đặng Phương Nghi, Triều đại vua Quang Trung dưới mắt các nhà truyền giáo Tây phương (Một Nhóm Học Giả, Một Vài Sử Liệu về Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ) tr 234

3 Li Tana, Nguyễn Cochinchina: Southern Vietnam in the Seventeenth and Eighteenth Centuries tr 171

4 Cristophoro Borri, Tường Trình Về Khu Truyền Giáo Đàng Trong 1631 tr 50

Trang 7

Lào, Chân Lạp, Chăm Ngoài ra họ cũng thu dụng một số lớn thương nhân trên biển trong đó chủ yếu là dân Trung Hoa lưu lạc sang các vùng Đông Nam Á Hình thức tập hợp đó cũng phù hợp với tính chất toàn vùng khi đối chiếu với những biến cố xảy ra trong cùng thời gian đó Mỗi khi đến nơi nào, họ cũng vơ vét tất cả tài lực, vật lực, nhân lực để dùng vào chiến tranh nên luôn luôn có một quân số đông đảo hàng chục vạn

Có thể nói, cuối thế kỷ thứ 18, toàn cõi Việt Nam bị một cuộc khủng hoảng chính trị nặng nề khi hình thức triều đình cũ không đáp ứng được những thay đổi về kinh tế và kỹ thuật Miền Bắc, trong nhiều năm bị cô lập và không thuận tiện trong việc giao thông, thương mại nên sức mạnh kinh tế đã chuyển dần xuống phương nam John Crawfurd, một nhà quí tộc Anh trong chuyến du hành tới Việt Nam năm 1822 (thời Minh Mạng) đã nhận định rằng gần như toàn bộ những thành phố quan trọng của Việt Nam đều nằm dọc theo bờ biển ở Đàng Trong trong đó gồm có Hà Tiên, Saigon, Nha Trang, Phú Yên, Qui Nhơn, Hội An (Faifo), Đà Nẵng (Tourane), Huế.5 Trong thời kỳ đó, chúa Nguyễn lại chỉ tập trung vào việc chống nhau với chúa Trịnh và có mưu đồ trở thành một quốc gia độc lập, không phải thần phục nhà Lê (dù chỉ trên danh nghĩa) nên chỉ đưa ra một số cải cách hình thức cho khác với Đàng Ngoài nhưng bản chất vẫn là một mô hình phong kiến không khác gì đối phương

Phong trào Tây Sơn trước đây vẫn được đánh giá như một hình thức nông dân khởi nghĩa nhưng nếu đưa lăng kính lên một vị trí khác, chúng ta có thể coi như một biến chuyển tổng hợp hơn là tương tranh nội bộ của quốc gia Việt Nam

Với những tài liệu mới, nhà Tây Sơn không chỉ đại diện cho người Việt mà có rất nhiều tương đồng, vay mượn của văn minh Đông Nam Á, trong đó sức mạnh bản địa được khai thác rộng rãi hơn, từ trang bị võ khí tân tiến của Âu Châu, cách sử dụng hải quân của Đàng Trong đến đội tượng binh của các sắc dân miền núi Trong cơn sốt vỡ hạt đó, chúng ta thấy rằng không phải chỉ Việt Nam mới có những biến chuyển mãnh liệt mà các lân bang cũng có những đột phá tương tự, đáng kể nhất là Xiêm La và Miến Điện, chưa nói đến các quốc gia hải đảo Nếu chúng ta tin rằng lịch sử luôn luôn chuyển đổi qua lại giữa phân và hợp thì vùng Đông Nam Á cũng đi từ những vương quốc nho nhỏ vỡ tan ra rồi sau đó một số thế lực chủ chốt tập hợp lại Phân tranh và thống nhất chỉ là hai giai đoạn của cùng một vấn đề và có những ưu, khuyết điểm riêng của nó

Nhìn vào mặt tiếp nhận tiến bộ mới, trong khi một số quốc gia khác đã kịp thời thay đổi và du nhập văn minh thế giới thì riêng nước ta những thử thách đó bị chựng lại sau khi nhà Tây Sơn bị tiêu diệt Triều Nguyễn tuy khai thác được ưu điểm của Đàng Trong chiến đấu giành quyền lực nhưng khi hoà bình và thống nhất rồi lại quay trở về mô hình Trung Hoa để ổn định xã hội khiến cho hậu nhân chỉ nhìn thấy một cuộc tương tranh, nội chiến mà quên đi tính đột phá của thời kỳ này

5 John Crawfurd, Journal of an Embassy to the Courts of Siam and Cochin China tr 510

Trang 8

Không phải chỉ ở đầu thế kỷ 19 nước ta mới xuất hiện một chính quyền đánh mất những cơ hội phát triển nghìn năm một thuở và cố gắng triệt tiêu những nỗ lực kinh tế, văn hoá của những triều đại cũ, phủ nhận những thay đổi của bên ngoài, bưng tai bịt mắt trước xu thế mới Lịch sử muôn đời được lập lại dù tên gọi có khác nhưng bản chất vẫn y nguyên

I THẾ TƯƠNG TRANH LÊ – TÂY SƠN

A/ Danh nghĩa Phù Lê diệt Trịnh

Anh em Nguyễn Nhạc khi khởi nghiệp chỉ có tham vọng thay thế chúa Nguyễn ở Đàng Trong làm chủ một phương, thành một quốc gia hoàn toàn tách biệt sánh vai với miền bắc Như chúng ta đã thấy, khi tiếp xúc với phái đoàn của người Anh để mưu tính một liên minh quân sự, Nguyễn Nhạc đã đề cập đến chủ trương của ông là “muốn kiểm soát

toàn bộ bán đảo bao gồm vương quốc Cambodia tới tận Xiêm La, những tỉnh thuộc Đàng Trong cho tới tận cùng phía bắc nay đang ở trong tay của Đàng Ngoài” 6 Rõ ràng tham vọng của người anh cả trong ba anh em Tây Sơn chỉ là thay thế vai trò của chúa Nguyễn và tiếp tục con đường Nam Tiến để bành trướng thế lực sang các nước ở Đông

Nam Á Việc đưa quân ra Bắc “phù Lê diệt Trịnh” do Nguyễn Hữu Chỉnh xúi giục

Nguyễn Huệ là điều mà ông không tiên liệu được

Ông chủ trương bãi bỏ chế độ vừa có vua lại có chúa và trao thực quyền lại cho nhà Lê để xây dựng một quốc gia láng giềng không đe dọa, xóa đi thế đối nghịch trong quá khứ để có hòa bình Tính toán của ông không phải là không có lý vì thời kỳ đó hai bên ngăn cách đã mấy trăm năm, sinh hoạt, phong tục tập quá nhiều khác biệt, nhân dân không ưa đã đành mà sĩ phu cũng chẳng thần phục, việc chiếm Bắc Hà sẽ tạo nên một gánh nặng, tốt hơn hết là trả nước lại cho nhà Lê để rảnh tay diệt nhà Nguyễn cho hết hậu hoạn Để nhà Lê cai trị cũng tạo nên một lá chắn cho vương quốc Quảng Nam không bị cái nạn bắc xâm đe dọa trực tiếp, góp phần vào sự ổn định của một khu vực nội chiến lâu ngày và giải quyết một số mâu thuẫn cũ vốn dĩ làm vấn đề thêm phức tạp 7

6 He was then pleased to disclose some of his future designs to me They were no less than to subdue the

Kingdom of Cambodia with the whole penisula as far as Siam, and the Provinces belonging to Cochin China to the north now in the hands of the Tonquinese (Alastair Lamb: 1970 tr 100)

7 Nhãn quan của Nguyễn Nhạc không hẳn là vô căn cứ vì dân chúng Bắc Hà khi đó không – hay ít nhất

cũng chưa - có cảm tình với những người ở “nước Quảng Nam”, cũng không phải vì hành vi đem quân ra

dẹp họ Trịnh mà biết ơn họ Đó là chưa kể thành phần quan lại, sĩ phu và cả chính tông thất nhà Lê khi thấy một phủ chúa bị dẹp bỏ rồi thì thế nước trở thành chênh vênh, giềng mối trở nên lệch lạc Tâm lý lệ thuộc vào chúa Trịnh mấy trăm năm qua không phải một sớm một chiều mà có thể gột rửa Có lẽ khi Nguyễn Huệ ra bắc đánh đổ họ Trịnh, nhiều người vẫn nghĩ rằng ông sẽ là một thứ chúa mới (chính Nguyễn Huệ cũng có thể có tâm lý đó khi không bằng lòng với tước công và từ tâm lý bất mãn lúc đầu ông đã nảy ra ý định muốn làm vua luôn cả xứ bắc như trong những lá thư gửi Nguyễn Thiếp) nhưng vì tình thế thay đổi nên hoang mang, không biết trông cậy vào ai Nhân sĩ Bắc Hà thoạt tiên có thể bằng lòng với việc Nguyễn Huệ dẹp họ Trịnh, trả nước lại cho vua Lê giương cao ngọn cờ chính thống nhưng

Trang 9

Giấc mộng của Nguyễn Nhạc đã hoàn tất khi ông làm vua một cõi, có riêng một triều đình ở Qui Nhơn mà người ngoại quốc gọi là nước Chàm, xem như hậu thân của vương

quốc Chiêm Thành Rất có thể cuộc khởi nghĩa “nông dân” kia sở dĩ thành công vì anh

em Tây Sơn đã đáp ứng đúng cái ước vọng của những người mong mỏi khôi phục lại một đế quốc đã mất, triều đình mà ông thành lập theo như những chứng kiến của người Âu Châu chỉ là một dạng tù trưởng lớn, đứng đầu nhiều bộ lạc nhỏ Việc Nguyễn Huệ tự ý ra đem quân ra Bắc Hà khiến vua Thái Đức hốt hoảng nên ông đã vội vàng đem

500 thân binh ngày đêm rong ruổi ra Thăng Long để đích thân giải quyết vấn đề

Ngược lại, Nguyễn Huệ có tham vọng thay thế chúa Trịnh làm một thứ “tướng quốc”

cho nhà Lê và ông đã bằng lòng với việc vua Lê nhận ông làm phò mã.8 Việc khẳng định rằng hai nước chỉ có tương quan ngoại giao mà không có liên hệ chính trị của Nguyễn Nhạc đã cắt đứt mọi tính toán của Nguyễn Huệ và khi hai anh em cùng về nam ắt hẳn đã xảy ra nhiều tranh chấp mãnh liệt

Theo sử nước ta, ngay khi đến kinh đô, Nguyễn Nhạc vẫn xác định chủ trương xây dựng một đất Bắc độc lập, dưới quyền cai trị của nhà Lê

Sau đó vài ngày, Văn Nhạc sai người xin với nhà vua (Chiêu Thống) cùng nhau hội kiến Nhà vua xin cắt đất để khao quân Văn Nhạc nói: “Tôi tức giận về nỗi họ Trịnh uy hiếp ức chế, nên đứng ra làm việc tôn phò Nếu đất đai không phải

Quân của Nguyễn Văn Nhạc về đến Nghệ An, lúc ấy có Lê Hân, trước kia quản lãnh cơ Hậu Thắng, và Lê Đình Hoan trước kia quản lãnh cơ hữu Oai, chiêu mộ hợp tập binh phu xã Nộn Liễu, huyện Nam Đường, đón đường chẹn nơi hiểm yếu, đánh chặn ngang ở núi Đại Huệ Giặc (tức quân Nguyễn Nhạc) tung quân tràn lên núi để đi qua, dân binh thua to, bị giặc giết hết, mười phần chết đến tám chín phần.

8 KDVSTGCM -Chính Biên – Quyển XLVI chép về việc Nguyễn Huệ ra Bắc vào yết kiến vua Lê Hiển

Tông như sau:

Trước đây họ Trịnh chuyên giữ chính quyền trong nước, một người dân, một tấc đất đều không do quyền triều đình Nay Văn Huệ vào triều yết, bèn xin ngày cử hành nghi lễ đại triều, dâng sổ sách binh và dân để tỏ rõ ý nghĩa nhà vua nhất thống và Nguyễn Huệ tôn phò Đến nay, nhà vua cố gượng dậy,

ra ngự điện Kính Thiên nhận lễ, rồi ban hành chiếu thư về việc nhất thống để bá cáo cho trong kinh, ngoài trấn biết Lại sách phong Văn Huệ làm Nguyên Soái Phù Chính Dực Vận Uy Quốc Công Sau khi Văn Huệ nhận sách phong, bèn nói riêng với Hữu Chỉnh rằng: “Ta cầm vài vạn quân, đánh một trận mà bình được Bắc Hà, một tấc đất, một người dân, đều là của ta, nếu muốn xưng đế hay xưng vương việc gì mà ta không làm được? Còn như sắc mệnh nguyên soái quốc công đối với ta có hơn kém gì? Bầy tôi Bắc Hà lại muốn dùng danh vị hão để lung lạc ta hay sao? Đừng tưởng ta là người mọi rợ được chức tước ấy bèn lấy làm vinh dự đâu!” Hữu Chỉnh biết ý Văn Huệ không mãn nguyện, bèn bí mật khuyên nhà vua đem công chúa Ngọc Hân gả cho, Văn Huệ rất bằng lòng.

Trang 10

của nhà Lê, thì một tấc tôi cũng không để, nhưng nếu là đất đai của nhà Lê, thì một tấc tôi cũng không lấy” Lại ước hẹn đời đời làm láng giềng, giao hiếu với nhau Nhà vua tin là phải, xin Văn Nhạc ở lại ít lâu để giúp đỡ, Văn Nhạc giả vờ nhận lời, sai Hữu Chỉnh chọn ngày lành cử hành đủ nghi lễ bái yết Thái Miếu 9

Hoàng Lê Nhất Thống Chí cũng chép về việc ấy như sau:

Hôm sau chúa Tây Sơn sai bầy phủ đường làm ba chỗ ngồi: chiếc sập của chúa Tây Sơn kê ở chính giữa, phía tả là ghế Hoàng Thượng, phía hữu là ghế của Bình, hai bên hai hàng giáp sĩ đứng hầu, nghi vệ cực kỳ nghiêm chỉnh

Lễ này theo lệ hai vua gặp nhau không ai phải lạy ai

Xa giá Hoàng thượng vào đến cửa phủ, chúa Tây Sơn cắt viên quan hầu ra đón Hoàng thượng đi bộ vào trước bệ, chúa Tây Sơn ở sập xuống đất và đứng ra phía cạnh sập tỏ ý kính lễ, rồi sai Bình xuống dưới thềm nghênh tiếp và mời Hoàng thượng vào ghế Mọi người ngồi đoạn, chúa Tây Sơn hỏi:

- Tự hoàng xuân thu năm nay bao nhiêu?

Một viên tụng thần đáp thay Hoàng thượng rồi tiếp:

- Đấng quốc quân họ Lê chúng tôi gặp phải họ Trịnh tiếm quyền cướp thế, mũ

giáp lộn ngược đã lâu May nhờ Thánh thượng là bậc trí (chí) nhân đại nghĩa, sai tướng ra quân, vì đấng quốc quân chúng tôi mà chỉnh đốn lại nếp hoàng đồ Hiện nay đất cát nhân dân nước Nam đều do Thánh thượng gây lại Nếu như thánh chỉ sẵn lòng thu nhận một vài quận quốc làm món khao thưởng quân lính thì đấng quốc quân chúng tôi xin vâng mệnh

Chúa Tây Sơn đáp:

- Tôi nghe ngày xưa đức Thái Tổ mở mang ra nước Nam Việt, công đức thật là

tầy trời Tuy tôi ở lánh trong phía biển Nam, song cũng là đất của đức Thái Tổ khai thác Tôi vì giận kẻ cường thần hiếp chế nhà vua nên phải làm việc tôn phù Nếu là đất của họ Trịnh, một tấc tôi cũng không để, nhưng là đất của nhà Lê, thì một tấc tôi cũng không lấy Tôi nghĩ quí quốc mới dẹp xong, còn có nhiều việc cần phải sửa sang nên phải ra đây giúp đỡ Sau khi bốn phương bình định, anh em tôi lại về nước tôi Chỉ mong Tự hoàng nhức nhổ giềng mối triều đình, giữ yên bờ cõi, để cùng nước tôi đời đời kết nghĩa láng giềng, đó là phúc của hai nước 10

Theo miêu tả, chúng ta cũng thấy được Nguyễn Nhạc đã không coi Lê Duy Kỳ ngang hàng với mình mà chỉ xem như ngang với Nguyễn Huệ Ông cũng đối xử ra vẻ trịch

9 KDVSTGCM-Chính Biên - Quyển XLVI

10 Ngô Thời Chí, Hoàng Lê Nhất Thống Chí tr 117-8

Trang 11

thượng khi hỏi tuổi vì biết Lê Duy Kỳ lúc đó tuổi chỉ đáng con mình Cuộc gặp gỡ này dù sao cũng khiến cho vua Lê bẽ bàng và cũng có thể ngầm thù ghét nhà Tây Sơn

B/ Bắc Nam điều ước

Sau khi nhận định tình hình, chúa Tây Sơn chuyển sang đòi hỏi ba vấn đề:

- Hợp thức hóa việc kết thân giữa “hai nước” bằng cuộc hôn nhân Nguyễn

Huệ – Ngọc Hân (có nghĩa là Nguyễn Huệ không nhận tước Nguyên Soái

Uy Quốc Công của nhà Lê ban cho mà chỉ là hoàng đệ của vua Thái Đức lấy con vua Hiển Tông),

- Chiếm lấy tất cả các kho tàng ở Thăng Long (dưới danh nghĩa lấy của họ Trịnh) đem về Nam để trả công phù Lê,

- Bắc Hà phải cắt đất từ Nghệ An trở vào cho vua Thái Đức lấy cớ đây là quê gốc của họ,

Ba yêu sách trên đều chủ yếu là để tăng cường và củng cố thế lực của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ vẫn đóng vai trấn ngự biên cương, có chăng là vùng đất ông cai trị nới

rộng ra tận Nghệ An và có thêm một người vợ lẽ làm “chiến lợi phẩm” Trong tình

trạng suy yếu của miền Bắc, ba đòi hỏi trên đều bắt buộc phải thỏa mãn Anh em Nguyễn Nhạc lập tức vơ vét các kho tàng rồi bí mật rút về, không đợi vua Lê bàn bạc với quần thần để thương thảo tìm một biện pháp khác Để xoa dịu mối bất bình của em, khi trở về Nguyễn Nhạc lập tức phong cho Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương trông coi từ Thuận Hoá đổ ra nhưng người em thứ chưa hài lòng và mối mâu thuẫn càng gay gắt

đưa tới cuộc chiến “nồi da xáo thịt” một thời gian ngắn sau đó

Qua biến cố này, cái nhìn của người Bắc Hà về nhà Tây Sơn đã thay đổi rất nhiều Tuy vua Lê thoát khỏi được vòng kiềm tỏa của họ Trịnh nhưng tình hình mới cũng không

khá hơn, nếu không nói là tệ hơn trước Anh em Nguyễn Nhạc không còn là “cứu tinh” của nhà Lê mà trong tâm khảm của đa số sĩ phu họ chỉ còn là một bọn “mọi” từ xa tới

cướp bóc, tuy có sức mạnh về quân sự nhưng lại kém văn hóa Nhiều chứng cớ từ thư từ các giáo sĩ đến văn thơ của giới đọc sách miền Bắc khẳng định điều này

Nguyễn Hữu Chỉnh, trước đây được coi như có công mượn sức người ngoài để trừ

quyền thần họ Trịnh, nay bỗng thành một loại “cõng rắn cắn gà nhà” Tình thế khiến

cho ông rơi vào thế rất bất ổn nên khi nghe tin anh em Tây Sơn không còn ở Thăng Long nữa, ông hốt hoảng chạy theo

Đến sáng, Hữu Chỉnh mới biết, vội vàng, không biết thi thố thế nào, bèn cùng vài chục thủ hạ cướp lấy một chiếc thuyền buôn đi theo đuôi giặc Người đô thành tranh nhau dùng gạch ngói để ném, Hữu Chỉnh tự tay đâm vài người mới được thoát thân … 11

11 KDVSTGCM, quyển XLVI

Trang 12

Khi đuổi kịp quân Tây Sơn, anh em Nguyễn Nhạc đã cho Nguyễn Hữu Chỉnh ở lại Nghệ An với Nguyễn Duệ Việc anh em Tây Sơn chiếm mất khu vực phương nam từ Nghệ An đổ vào là một khoản hóc búa nên Lê Duy Kỳ đã nhiều lần muốn chuộc lại, kể cả sai sứ bộ Trần Công Xán vào Phú Xuân để thương lượng nên bị đục thuyền mà chết Do đó, chúng ta có thể hiểu được vì sao hai bên giằng co qua lại cho tới khi quân Thanh kéo sang

Trước đây người ta vẫn xem cuộc tình duyên Nguyễn Huệ – Ngọc Hân như một mối lương duyên trai tài, gái sắc, thuyền quyên sánh với anh hùng Tuy nhiên, nếu bỏ qua những thêm thắt để tiểu thuyết hóa, nhìn vào những nguyên nhân và hậu quả chính trị của vấn đề, chúng ta có thể có cái nhìn khác hơn

Khi vua Hiển Tông gả con cho Nguyễn Huệ, triều đình nhà Lê đang ở vào thế hết sức chông chênh Thế lực chủ yếu của miền Bắc là họ Trịnh thì nay đã hoàn toàn bị tan rã, các quan lại địa phương không còn phủ chúa nên quay sang phù Lê, nhưng chỉ chân trong chân ngoài, không hết sức, trên danh nghĩa vua Lê làm chủ Bắc Hà nhưng thực tế là bơ vơ không nơi nương tựa Biết mình sắp chết, vua Lê Hiển Tông lo sợ cơ nghiệp rồi nay sẽ vào tay ngoại tộc nên tương kế tựu kế, gả Ngọc Hân để ràng buộc viên tướng Tây Sơn, dùng hôn nhân đẩy Nguyễn Huệ phải tôn phù chính thống Việc đó khiến cho Nguyễn Huệ dùng dằng không dám cướp ngôi một cách trắng trợn, gây ra nghi án mà người ngoài bịa ra là công chúa Ngọc Hân có ý muốn thay ngôi trừ nhị vào tay Lê Duy Cẩn

Đến khi Nguyễn Nhạc ra Bắc Hà, ông không để cho em mình trở thành một chướng ngại làm hỏng kế hoạch chia đôi cương vực, dứt khoát theo đúng dự tính của ông là tự thân giữ miền Nam còn miền Bắc ra sao cũng được Ông cũng nhân dịp này xóa nốt cái liên hệ cố hữu của chúa Nguyễn ở Đàng Trong vẫn coi vua Lê như là chủ của cả nước (mà chính Nguyễn Huệ khi ra mặt tôn phù đã xác định vị trí thần tử đó) nên thẳng thắn cắt đứt mọi ràng buộc, bắt em trở về Nam Đó là lý do tại sao Nguyễn Nhạc phải gấp rút kéo một nhóm quân nhỏ chạy hộc tốc ra Thăng Long và có thái độ hết sức khó hiểu (vua Lê ra đón, ông không gặp)

C/ Mâu thuẫn Nguyễn Nhạc – Nguyễn Huệ

Thực tình mà nói, phần Thuận Hoá ra tới Nghệ An Nguyễn Nhạc chia cho Nguyễn Huệ

quả đúng là “vừa xương vừa xẩu”, nghèo nàn ít tài nguyên, tự tồn cũng đã gay go nói gì

đến phát triển Làm chúa khu vực này có nghĩa là ông sẽ phải lệ thuộc vào người anh về nhiều mặt không thể tiến xa hơn được nữa Chính vì cái thực tế đau lòng đó mà Nguyễn Huệ đã giữ hết các kho tàng châu báu chiếm được không giao lại cho anh để chứng tỏ ông muốn xây dựng một thế đứng riêng khi có cơ hội Việc xung đột cũng khiến ông ngả về Bắc Hà nhiều hơn và càng khiến cho Nguyễn Huệ khao khát việc làm chủ toàn thể miền Bắc để làm căn cứ địa Trong thế mất còn ông phải thanh toán bất cứ ai có thể trở thành một đối thủ, từ Nguyễn Hữu Chỉnh đến Vũ Văn Nhậm, Lê

Trang 13

Duy Kỳ và đưa đến cuộc động binh năm 1787 đánh nhau với Nguyễn Nhạc Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện viết:

Nhạc đã đắc chí, ngày càng dâm ô, bạo ngược, giết Nguyễn Thung, lại thông dâm với vợ Huệ, người đều chê là xấu Việc đi xâm lấn miền Bắc, của báu ở phủ chúa Trịnh, về cả tay Huệ, Nhạc đòi không cho Huệ muốn lấy cả đất Quảng Nam, Nhạc cũng không cho, mới thành ra cừu thù hiềm khích nhau Huệ bèn truyền hịch kể tội ác của Nhạc, đến nỗi bảo Nhạc là giống sài lang chó lợn Hịch văn có câu nói rằng: “Tội không gì lớn là giết vua”, sao có thể một sớm kinh (khinh) suất can không nghe thì đổi ngôi, thực quan hệ đến sự yên nguy muôn đời” 12

Chính sử nước ta chép rất sơ sài về biến cố này Việc dấu kín những hoạt động là một đặc tính quan trọng trong hành tung của Tây Sơn, khiến cho hậu nhân hay thêm thắt những suy đoán của mình để giải thích và lâu dần trở thành những chứng liệu lịch sử.13

Cũng theo DNCBLT, Nguyễn Huệ đem quân vào vây Qui Nhơn cả mấy tháng, đắp núi đất để đặt súng lớn bắn vào thành, đạn to như cái đầu khiến Nguyễn Nhạc phải khóc mà nói với Nguyễn Huệ:

- Nồi da xáo thịt, lòng em sao nỡ thế! 14

Về việc này, nhiều giáo sĩ có mặt tại Việt Nam cũng chép, chẳng hạn như Doussin ở Thuận Hoá viết như sau:

Nhạc có hai em Một em đã đi Kẻ Chợ mà không nói gì với anh, đã muốn làm vua phần đất nầy Y để Nhạc trở về Quý-phủ (Quy Nhơn; Nhạc đã theo Huệ ra Thăng-long rồi cùng về Phú-xuân) là nơi y cư ngụ; rồi liền sau đó bảo toàn dân suy tôn mình làm Đức Chúa Nhạc được tin, không vừa ý, hăm doạ em, nhưng không những người em quyết không lui, mà còn cử một đạo quân sáu vạn, đem vào đánh Nhạc ở Quý-phủ Nó vào đó từ ngày lễ Tro (trước lễ Phục-sinh thuộc đạo Cơ-đốc) Chúng nó đã đánh nhau hai lần Người ta đồn rằng Đức Chúa đã mất nửa quân rồi Thế tỏ rằng y bị bối-rối, mà y bắt buộc ai cũng phải đi đánh Thật là khổ! Dân bị lầm than đang mong đợi Chúa Nguyễn hơn khi nào cả (Thư-

khố Mission Etrangère Paris 746)15

12 DNCBLT, tập 2 tr 531-2

13 Nhà Tây Sơn cũng quá ngắn ngủi nên chưa có một Quốc Sử Quán đúng nghĩa, những gì được ghi lại đa số là dã sử, những tài liệu truyền khẩu phần nhiều bị bóp méo như bất cứ một triều đại mới nào vừa xuất hiện Những lần tiêu hủy qui mô, do triều đình cũng có, do sự hoang mang sợ hãi của dân chúng cũng có,

do hoàn cảnh chiến tranh cũng có đã khiến cho những gì chúng ta có ngày hôm nay giả nhiều, thật ít tạo thành những đám mây mù ngày càng dày đặc Tới gần đây, trong chủ trương của nhà cầm quyền Việt Nam muốn hào quang hóa giai đoạn này, người ta lại càng ra sức tô vẽ những điều không có thật.

14 DNCBLT, q 2 tr 532

15 La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn tập II tr 1375

Trang 14

Sau đó anh em giảng hòa Tranh chấp tuy chấm dứt nhưng Nguyễn Nhạc phải nhường đất Quảng Nam cho Nguyễn Huệ, chỉ còn làm chủ từ Quảng Ngãi đổ vào khiến thế lực suy yếu hẳn Đây là khởi đầu cho giai đoạn mà nước ta chia làm ba phần, gần như ba nước riêng biệt, miền bắc gọi là An Nam như sắc phong của Trung Hoa (mặc dù ta vẫn tự xưng là Đại Việt), miền Trung gọi là Đàng Trong, hay nước Chàm như người Âu Châu đặt tên, còn miền Nam có tên là Đồng Nai Việc Nguyễn Huệ đem quân tấn công vào Qui Nhơn khiến sau đó hai anh em cầm chân nhau và Nguyễn Nhạc không còn quan tâm tới việc củng cố thực lực ở phương nam, tạo khoảng trống cho Nguyễn Ánh từ Xiêm La về chiếm lại phần đất từ Gia Định trở vào16 Cũng vì anh em giữ miếng với nhau như thế, Nguyễn Huệ không thể đích thân ra bắc giải quyết những vấn đề nội trị và cũng là một trong những lý do khiến cho nhà Thanh tin chắc rằng chỉ cần có cớ đem quân sang nước ta là sẽ đạt thắng lợi Thế lưỡng đầu thọ địch của Nguyễn Huệ cũng khiến cho ông phải áp dụng chiến thuật thần tốc, bí mật, hư hư thực thực mà sau này người ta hay tô điểm cho thêm phần huyền bí Tài nguyên hạn hẹp cũng khiến cho ông phải đánh mau, đánh mạnh, dùng số đông để áp đảo đối phương, định ngày giờ sít sao trong những trận tử chiến

II/ TÌNH HÌNH BẮC HÀ

Trong suốt hai trăm năm Bắc Hà có vua lại có chúa, đa số sĩ phu dân dã chỉ biết có chúa mà không biết tới vua nên ngay khi được trao quyền bính vào tận tay, nhà Lê cũng không biết xoay trở ra sao Một số đông quan lại trước nay chỉ biết phục tòng phủ chúa ngựa quen đường cũ, trong cơn bối rối lại nghĩ ngay đến việc đi tìm con cháu họ Trịnh để tôn phù Theo Trần Trọng Kim, tình hình sau khi anh em Tây Sơn rút đi như

sau:

Bấy giờ quyền bính ở đất Bắc hà về cả vua nhà Lê, thật là cái cơ hội ít có để lập lại cái nền tự chủ của nhà Lê, nhưng tiếc vì vua Chiêu Thống không có tài quyết đoán, mà đình thần bấy giờ không có ai là người biết kinh luân: hễ thấy có giặc thì bỏ chạy, giặc

đi rồi thì kéo nhau ra bàn ngược bàn xuôi, người thì định lập lại nghiệp chúa, kẻ thì muốn tôn phù nhà Lê … 17

Đến khi con cháu họ Trịnh đánh lẫn

16 Theo lá thư của ông Sérard gửi ông Letondal đề ngày 17 - 7 – 1791 thì vào khoảng tháng 3 năm 1791, khi vợ vua Quang Trung mất, Nguyễn Nhạc đã tưởng lầm là Nguyễn Huệ từ trần nên đem quân ra toan

lấy Phú Xuân và phải quay về khi biết em ông còn sống (Đặng Phương Nghi: Triều Đại vua Quang

Trung dưới mắt các nhà truyền giáo Tây Phương, Một Vài Sử Liệu về BBV Nguyễn Huệ, tr 264)

17 Trần Trọng Kim, sđd tr 123

Trang 15

nhau, vua Lê phải phong vương cho họ, bị áp bức quá lại phải vời Nguyễn Hữu Chỉnh từ Nghệ An ra Nguyễn Hữu Chỉnh lúc đó cũng làm chúa một cõi Thanh Nghệ, trên danh nghĩa vẫn là thần tử nhà Lê nhưng đang bị Tây Sơn kiềm tỏa nên manh nha tách

ra để thành một lực lượng độc lập Việc Lê Duy Kỳ vời Cống Chỉnh ra dẹp loạn có thể coi như bằng lòng đưa ông ta lên vị trí cố mệnh đại thần, nếu không bằng thì cũng chẳng kém họ Trịnh xưa mấy tí Tình thế đó vô hình chung đã đẩy Cống Chỉnh vào thế phải quay lưng với Tây Sơn và cũng khiến Lê Duy Kỳ phải dựa vào quân Thanh Nghệ của họ Nguyễn để có cơ tồn tại Việc Nguyễn Hữu Chỉnh trừ được giặc đối với Nguyễn Nhạc là một điềm tốt trong khi thanh thế lừng lẫy của Bằng Quận Công lại trở thành một mối lo cho Nguyễn Huệ khiến ông phải sai Vũ Văn Nhậm ra bắt, một hành vi có thể coi như công khai xác định quyền bảo hộ đất Bắc

Dưới nhãn quan của vua Chiêu Thống và đám quan lại èo uột của ông, việc quân Tây Sơn tấn công ra bắc lần thứ hai là một xâm phạm chủ quyền chứ không còn là hành vi hộ giá của một ông rể họ Nếu trước đây khi Nguyễn Huệ ra Bắc tỏ ý tôn Lê và làm một vài cử chỉ khiến người Bắc Hà tin tưởng thì những lần sau quân Tây Sơn đã ngang nhiên can thiệp một cách tự chuyên khiến người ta không khỏi hoang mang

Khi Nguyễn Hữu Chỉnh đại bại, vua Lê bỏ chạy sang Kinh Bắc (Bắc Ninh), sai bọn Lê Quýnh đem tông thất trong đó có cả Hoàng thái hậu, Hoàng phi, Hoàng tử chạy lên Cao Bằng nương náu nơi những thổ quan còn trung thành với nhà Lê, bản thân nhà vua chạy sang Yên Thế Tình hình rối loạn lúc đó đã được giáo sĩ người Việt là Thomas Diên ghi nhận như sau:

Trong tình trạng hiểm nghèo đó, vì sợ rơi vào tay Tiết chế (Vũ Văn Nhậm), ông (Nguyễn Hữu Chỉnh) không làm gì khác hơn là rút lui một cách kín đáo vào đêm

6 và 7 tháng giêng để trở về hoàng thành Người ta kể rằng khi tới nơi thấy nhà Vua, ông liền kêu lên rằng: “Bloi ơi là Bloi! Nhà Lê mất rồi!” rồi ông cầm lấy

tay nhà Vua Cả hai vừa khóc vừa xuống một chiếc thuyền chở họ đi ẩn tại “xứ Boc” hay “Xứ Bắc” 18

Tướng Tây Sơn là Nguyễn Văn Hòa đem binh đuổi đánh, bắt được Nguyễn Hữu Chỉnh đem về Thăng Long Cha con Nguyễn Hữu Chỉnh,

18Đặng Phương Nghi: Vài tài liệu mới lạ về những cuộc Bắc Tiến của Nguyễn Huệ (Một Vài Sử Liệu về

BBV Nguyễn Huệ tr 178)

Trang 16

kẻ bị giết, người bị bêu đầu

Biến cố này cũng đặt cho chúng ta một câu hỏi là quan điểm, hay ít nhất cũng là một thái độ, của Ngọc Hân công chúa ra sao? Nếu đúng như Hoàng Lê Nhất Thống Chí miêu tả thì bà chắc chắn phải biết và rất có thể cũng đồng ý (nếu không xúi bẩy) Nguyễn Huệ đem quân ra diệt Nguyễn Hữu Chỉnh (nghĩa là diệt Lê Duy Kỳ, cháu gọi bà bằng cô) để đưa ông anh Lê Duy Cẩn19 (黎維瑾), người mà ngay từ khi vua cha Lê Hiển Tông từ trần, bà đã tìm cách ủng hộ lên nối ngôi, suýt nữa gây ra một vụ tranh chấp quyền hành trong vấn đề kế nghiệp

Tuy nhiên có thể đây chỉ là một câu chuyện được bịa đặt ra để giải thích thái độ của Nguyễn Huệ mà thực tế Ngọc Hân công chúa không dám làm gì cả Khi lấy chồng cô mới 16 tuổi, còn quá nhỏ để tham gia vào việc triều chính Nền giáo dục phong kiến chắc chắn chỉ dạy cho cô tuân phục cha, tuân phục chồng nên khi thành gia thất, có lẽ cô công chúa trẻ kia chỉ đành cam phận lẽ mọn, giương mắt nhìn chồng tiêu diệt cả dòng họ nhà mình Chúng ta cũng đặt câu hỏi là mối nhân duyên công chúa Ngọc Hân và Nguyễn Huệ có thực sự tốt đẹp như tiểu thuyết hay chỉ là một món quà trao đổi để

mua sự tôn quân của Nguyễn Huệ, bị gả bán cho “thằng Mán thằng Mường”20 như dân gian mai mỉa

Dù gì chăng nữa thì cuộc tình duyên của người con gái Bắc Hà cũng chỉ là phương thuốc tạm thời vì khi vua Lê Hiển Tông vừa nằm xuống thì Nguyễn Huệ đã can thiệp mạnh bạo vào việc lập tự quân gây ra những biến động đưa đến việc sau này anh em

ông vua trẻ phải xuất bôn tìm đường khôi phục Bài “Ai Tư Vãn” mà trước nay người ta

cho rằng do công chúa Ngọc Hân viết khi Nguyễn Huệ từ trần cũng có thể không phải

do bà sáng tác mà là một người khác làm thay.21

Thực tế vai trò của bà rất mờ nhạt trong suốt triều đại Quang Trung, hành trạng được tô điểm và bóp méo bởi Hoàng Lê Nhất Thống Chí, rồi sau này nhiều người phóng đại khiến cho chúng ta không còn nhìn ra được sự thật nữa Sau khi Nguyễn Huệ chết đi, chúng ta không còn thấy bà xuất hiện và gần như hoàn toàn biến mất nảy sinh ra cái

nghi án “con vua mà lấy hai chồng làm vua” làm đề tài cho nhiều người tranh cãi Ngọc

Hân công chúa cũng may mắn đứng ngoài – hay không được dự phần vào - những tranh

19 Chử Cẩn nguyên viết với bộ Kỳ nhưng chúng tôi không tìm thấy trong database nên dùng tạm với bộ Ngọc (tất cả tên những người trong hoàng tộc nhà Lê đều viết với bộ Kỳ cả)

20 Người ta vẫn cho rằng câu cao dao “Tiếc thay cây quế giữa rừng, Để cho thằng Mán thằng Mường nó

leo” là chỉ công chúa Huyền Trân nhưng thể thơ lục bát đời Trần chưa hình thành nên nhiều nhà nghiên

cứu cho rằng hai câu này nói về việc vua Lê gả Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ Theo một số tài liệu, khi

Nguyễn Huệ ra Bắc, giới sĩ phu vẫn gọi lén ông là “thằng mọi đen” (hắc tử) như trong lời tâu của Phan

Khải Đức mặc dù có thể ông không phải là người thiểu số.

21 Theo lời Sở Cuồng Lê Dư nói với GS Hoàng Xuân Hãn thì bài Ai Tư Vãn chỉ là do một người tên Nhi

soạn thay (Thuỵ Khuê, Nói Chuyện Với Hoàng Xuân Hãn & Tạ Trọng Hiệp tr 117-8)

Trang 17

chấp trong triều đình Quang Trung.22 Chỉ biết bà biến mất rất âm thầm, không hiểu chết trước hay sau khi nhà Tây Sơn bị diệt vong tùy theo từng tài liệu

Nhiều chi tiết cho ta thấy trong tình trạng rối ren, tông thất nhà Lê cũng có nhiều phe phái và kết thúc bằng những thảm kịch, chẳng hạn ba vị hoàng thúc bị giết vứt xuống giếng ở trong cung hẳn vì đã không đứng chung một phe với Lê Duy Kỳ Sĩ phu và quan lại cũng nghiêng qua ngả lại, không đồng nhất Người Bắc Hà đa số ngần ngại không dám ra cộng tác với quân Tây Sơn vì chưa có gì rõ rệt, cũng không ai biết rõ

những người trong “nước Quảng Nam” kia rồi sẽ đối xử với họ ra sao Cái gương

Nguyễn Hữu Chỉnh còn sờ sờ đó Những người còn một số quyền hành tại địa phương

thì dĩ nhiên chọn con đường “cần vương” mà

chúng ta thấy nổi lên khắp nơi như trong biên

khảo Phe Chống Đảng Tây Sơn ở Bắc với tập Lữ Trung Ngâm (Hoàng Xuân Hãn, tập II, tr

1245-1332) Những văn quan thì cố tìm cách trốn tránh ngoại trừ một số người chạy ra cộng tác với tân triều đóng vai trung gian chiêu dụ nhưng không hoàn toàn thành công Khi Ngô Văn Sở báo tin Vũ Văn Nhậm có ý chuyên quyền, Nguyễn Huệ lập tức kéo quân từ Phú Xuân ra bắt Nhậm giết đi rồi ủy thác cho Ngô Văn Sở và các tướng lĩnh ở lại trấn thủ Thăng Long, sau đó dẫn binh quay về Chúng ta có thể coi đây là một cuộc thanh trừng nội bộ chớp nhoáng khiến Nguyễn Nhạc trở tay không kịp và dĩ nhiên cũng rất kín đáo khiến cho sự thật xảy ra thế nào không ai biết chắc

Vũ Văn Nhậm là con rể của Nguyễn Nhạc, trước đây vốn dĩ là một tì tướng thân cận của Nguyễn Huệ nhưng từ khi hai anh em bất hòa, vị thế của ông này trở nên nguy hiểm Lẽ dĩ nhiên, trong vai con rể, ông không thể không nắm vững chủ trương của nhạc phụ và vì thế chúng ta không lấy làm lạ khi ông trừ được Nguyễn Hữu Chỉnh rồi, thay vì hỏi ý kiến Nguyễn Huệ để xin giải pháp, Vũ Văn Nhậm lại tự ý đưa Sùng

22 Điển hình nhất là cuốn Hoàng Lê Nhất Thống Chí gần như vơ hết công lao về cho người Bắc nhưng nếu xét kỹ trong suốt thời kỳ Quang Trung, Cảnh Thịnh giới đọc sách của Lê triều để lại vẫn chỉ được coi như những công dân hạng hai và về sau khi nhà Tây Sơn sụp đổ, phần lớn lại ra đầu phục nhà Nguyễn Họ cũng không bị trừng trị nặng nề như các tướng lãnh Tây Sơn mà phần lớn chỉ bị trách phạt

nhẹ Đại Nam Thực Lục chép rằng: “Các thượng thư giặc là Ngô Nhậm, Nguyễn Gia Phan, Phan huy Ích

đến hành tại chịu tội Vua cho là sắp có cuộc bang giao mà bọn Nhậm vốn là bầy tôi cũ của triều Lê, đã quen công việc, Huy Ích lại từng là sứ thần của giặc đi sang nước Thanh, bèn hạ lệnh cho ở ngoài để phòng hỏi đến (tr 505) Vua cho rằng giặc Tây Sơn đã diệt, sai gửi thư sang Tổng đốc Lưỡng Quảng nước Thanh hỏi về việc bang giao nên làm thế nào; sai Thiêm sự Lại bộ là Lê Chính Lộ, Thiêm sự Binh bộ là Trần Minh Nghĩa đợi mệnh ở Nam Quan Lại cho rằng nước nhà mới dựng, muốn tiếp sứ nhà Thanh ở cửa ải, để làm lễ tuyên phong cho đỡ phiền phí, đem việc ấy hỏi Ngô Nhậm và Phan Huy Ích, họ đều nói việc như thế từ trước chưa nghe bao giờ Bèn thôi (tr 510)

Trang 18

Nhượng Công Lê Duy Cẩn (tức ông Hoàng Tư, chú của Lê Duy Kỳ) lên làm giám

quốc, một hành vi “kỳ đà cản mũi” những toan tính của Nguyễn Huệ Trước kia Nguyễn

Huệ e ngại Cống Chỉnh một thì nay lại phải đề phòng Vũ Văn Nhậm đến hai ba, nếu như Nguyễn Nhạc đem quân tấn công từ phương nam thì họ Vũ trở thành một lưỡi dao

ở sau lưng kề trên cổ Thành ra Nguyễn Huệ phải tiên hạ thủ vi cường Cái chết của họ Vũ vì lẽ đó chứ chẳng phải vì Ngô Văn Sở ghen ghét hay Nguyễn Huệ úy kỵ như ngoại sử miêu tả Giết Vũ Văn Nhậm cũng khẳng định rằng từ nay tình nghĩa anh em không còn nữa, Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc nay thành tử đối đầu nên khi Nguyễn Huệ từ trần, Nguyễn Nhạc ra điếu tang cũng không được

Tuy nhiên việc Lê Duy Kỳ biến mất khiến cho Nguyễn Huệ lúng túng, dự tính tôn ông lên làm vua của Ngô Thì Nhậm lại không được người Bắc Hà tán thành23 nên sau cùng ông đành chấp nhận giải pháp cũ của Vũ Văn Nhậm trước đây, bằng lòng để Lê Duy Cẩn (hay Cận) làm giám quốc, một chức vụ có tính thay mặt vua Lê để điều hành chính sự Mặt khác ông ra lệnh cho Ngô Văn Sở tìm cách tiêu diệt tận gốc rễ tàn quân và dư đảng nhà Lê, truy sát thân nhân của Lê Duy Kỳ để trừ hậu hoạn Chính vì thế mà thái hậu và một số tông thất phải liều mạng vượt sông chạy sang Long Châu

Trong suốt thời gian đó, miền bắc ở trong thế tranh chấp giữa Tây Sơn và nhà Lê, Nguyễn Huệ muốn lên làm chúa thay thế họ Trịnh (nếu không nói rằng thay hẳn nhà Lê như trong thư gửi Nguyễn Thiếp), còn đa số quan lại miền bắc thì lại muốn được cai trị bởi một triều đình độc lập Dân chúng dĩ nhiên chịu lép một bề, thành phần sĩ phu thì tâm lý dao động, những người ra cộng tác với nhà Tây Sơn phần lớn miễn cưỡng, không ít người bị ép buộc

Ninh Tốn lúc trước trốn tránh không chịu ra, Huệ bắt em là Hương Công lôi ra chém đi để cho Tốn sợ, sau Ninh Tốn mới ra, cũng cho làm quan, không được bao lâu vì có bệnh xin về 24

Phương pháp “chiêu hiền đãi sĩ” đó chắc chắn không thể nào đắc thể và chúng ta cũng

thấy rằng Nguyễn Huệ không tìm được nhân tài thực sự, ít nhất trong giai đoạn đầu, và

cái chính quyền của ông vẫn chỉ là một loại “ủy ban quân quản”, cơ chế hành chánh

vẫn dựa vào cái khung hình ọp ẹp của chúa Trịnh để lại

A/ Các thế lực Cần Vương Nói đến các thế lực tại miền Bắc có điều kiện đối kháng với nhà Tây Sơn, chúng ta có

thể nhắc đến những lực lượng “tàn dư” của vua Lê, của họ Trịnh và những thổ hào

phần lớn sống tại vùng trung du sát với núi non.25 Tại Yên Thế có Dương Đình Tuấn,

23 Xem thêm Ngô Thì Nhậm, biên khảo của Nguyễn Duy Chính

24 DNCBLT, tập 2 tr 544

25 Đại đa số các địa phương miền Bắc lúc đó đều đã qui thuộc nhà Tây Sơn, chỉ riêng một số vùng như châu Hoan, châu Diễn (tức vùng Thanh Hoá, Nghệ An) và một số trấn Sơn Nam, Sơn Tây, Hải Dương, Kinh Nam, Kinh Bắc, Tuyên Quang, Hưng Hoá vẫn còn một số thổ hào, hưởng ứng cần vương nổi lên

Trang 19

vốn dĩ là một tay “anh chị” ở Lạng Giang, nay hưởng ứng Cần Vương được phong làm

Bình Khấu tướng quân Trần Quang Châu, Trần Đĩnh, Hoàng Xuân Tú ở Chí Linh Trần Quang Châu được phong là Định Vũ Hầu Ở Thanh Hoa26 có con cháu nhà Lê là Lê Duy Trọng, Lê Duy Phác Hoàng đệ Lê Duy Chi (em vua Chiêu Thống) thì dấy lên

ở Tuyên Quang, Thái Nguyên Ngoài ra còn vô số các nhóm nhỏ mỗi người làm chủ một cõi

Quân Tây Sơn thì vẫn còn ở tình trạng trấn giữ, chưa hình thành một bộ máy hành chánh đến mọi địa phương Đại quân chỉ tập trung ở một số vị trí huyết mạch chứ không trải mỏng đến từng thôn xóm Mặc dù Nguyễn Huệ cố tuyển mộ gấp rút một đoàn quân địa phương để bổ xung lực lượng, đa số quân trú đóng ở miền Bắc vẫn là quân đem từ miền Nam ra mà khác biệt về tiếng nói, phong tục, cách sinh hoạt chưa có thể một sớm một chiều khắc phục được.27 Ngoài ra, chúng ta cũng phải kể đến thành phần Hoa kiều sinh sống trên đất nước Việt Nam, phần lớn là giới con buôn vào ra theo đường sông, cư ngụ dọc theo các trục lộ giao thông, tương đối nắm vững tình hình luôn luôn sẵn sàng nổi dậy tiếp tay với đạo quân ngoại nhập của Tôn Sĩ Nghị

B/ Hoàng tộc xuất bôn

Khi quân Tây Sơn truy nã Nguyễn Hữu Chỉnh, tông thất nhà Lê chạy tứ tán khắp nơi Theo sử triều Nguyễn, vua Lê sai Lê Quýnh và mười người trong họ theo hầu Quốc Mẫu họ Nguyễn và cung quyến đến Cao Bằng dựa vào Đốc Trấn Nguyễn Huy Túc rồi

(Trang Cát Phát (莊吉發): Thanh Cao Tông Thập Toàn Võ Công Nghiên Cứu (清高宗十全武 功研究) tr

346 và tr 353)

26 lúc này chưa đổi thành Thanh Hoá vì chưa kiêng tên bà Hồ Thị Hoa, vợ vua Minh Mạng

27 Nguyễn Huệ cũng không trải quân lẫn vào các thôn xóm, phần sợ bị tiêu diệt, phần khác vì phương pháp điều binh nếu cần có thể di chuyển thật nhanh Thành thử quân của ông chỉ đóng ở các đình chùa, miếu mạo luôn luôn sẵn sàng nhổ trại không xây dựng hệ thống phòng ngự kiên cố.

Trang 20

đưa thơ sang Long Châu (龍州) cầu cứu nhà Thanh.28 Thực ra, sự việc không giản dị như thế

Theo tài liệu của nhà Thanh, vào tháng 12 năm Càn Long thứ 52 ( 1787), cựu thần nhà Lê là Địch Quận Công Hoàng Ích Hiểu (迪郡公黃益曉),Hoan Trung Hầu Phạm Đình Quyền (懽忠侯范廷權) bảo hộ gia quyến vua Lê, nam nữ cả thảy hơn 200 người chạy lên Lạng Sơn nhưng bị thổ mục ở đó là Quyển Trâm (卷簪) toan bắt giữ làm con tin nên cả bọn phải chạy đến xã Bác Sơn, huyện Võ Nhai nương náu Đốc trấn Cao Bằng là Nguyễn Huy Túc (阮輝宿) nghe tin vội chạy đến nghinh đón, có Trường Phái Hầu Lê Quýnh (長派侯黎囧29), cậu vợ vua Lê là Nguyễn Quốc Đống (阮國 棟) và Mai Trung Hầu Nguyễn Đình Mai (梅忠侯阮廷枚) đi theo bảo hộ.30

Các phiên mục ở Cao Bằng như Bế Nguyễn Trù (閉阮儔), Bế Nguyễn Sĩ (閉阮仕) cùng tướng Tây Sơn là Cúc Hoán31 (菊渙) đem quân tới Bác Sơn truy nã, Nguyễn Huy Túc phải dẫn cả bọn bỏ chạy, đến ngày mồng 4 tháng 5 năm Mậu Thân (1788) thì tới được Bác Niệm (博 淰) giáp giới với tỉnh Quảng Tây Ở vùng này không có cửa ải nào

đi qua Trung Hoa, lại bị quân Tây Sơn do Hoán Nghĩa Hầu32 dẫn 300 người đuổi tới rất gắt Ngày 12 tháng 5, lúc giờ Dậu, cả bọn bầy tôi quyến thuộc nhà Lê chạy được đến bên ngoài ải Đẩu Áo (斗奧) thuộc Long Châu tỉnh Quảng Tây Đẩu Áo cách Long Châu 120 dặm, phía đông bắc Thuỷ Khẩu quan, bên ngoài là một khe suối làm biên giới chia cắt nước ta với Trung Hoa.33

28 Trước đây, thành Thăng Long thất thủ, Chiêu Thống đế sai bề tôi hầu cận là Lê Quýnh cùng vài mươi

người họ tông thất theo quốc mẫu họ Nguyễn và cung quyến đến Cao Bằng, nương tựa đốc trấn là Nguyễn Công Túc rồi đưa thư chỉ doanh cho Long Bằng yêu cầu tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị mang binh đến cứu viện (DNCBLT, q 2 tr 545)

Lưỡng Quảng tổng đốc Tôn Sĩ Nghị và Quảng Tây tuần phủ Tôn Vĩnh Thanh hội họp ở Nam Ninh Thái hậu đưa nguyên tử đến yết kiến ở trong sân, gào khóc xin cứu viện (KDVSTGCM – CB q XLVII, tr

837)

29 Chữ Quýnh nguyên có bộ Nhân đứng ở bên trái nhưng chúng tôi không tìm ra nên dùng tạm

30 Hoàng Xuân Hãn chép Nguyễn Quốc Đống là anh vợ Lê Duy Kỳ (La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn,

tập II tr 875) Nguyên văn trong tài liệu của nhà Thanh là thê cữu (妻舅).

31 Sử ta chép làm 2 người Cúc và Hoán nhưng theo tước vị Hoán Nghĩa Hầu thì dường như chỉ có một người mà thôi.

32 Hoán Nghĩa Hầu (煥義侯) là tước hiệu của Trần Danh Bính nhưng cũng có thể là Cúc Hoán (菊渙) Mặc dù hai chữ hoán này viết khác nhau nhưng vào thời đó tên người và tước vị thường có liên hệ, chẳng hạn Minh Vũ Hầu Vũ Đình Minh, Hiệp Đức Hầu Nguyễn Phúc Hiệp, Hào Lương Hầu Nguyễn Hữu Hào,

Kỷ Thiện Hầu Trần Văn Kỷ (Xem thêm Văn Khắc Thời Tây Sơn ở Huế của Lê Nguyễn Lưu, UBND Thành Phố Huế – Hội Khoa Học Lịch Sử Thừa Thiên Huế: Phú Xuân Thuận Hoá Thời Tây Sơn, Huế

12/2001 tr 160-186)

33 Theo Lê Quýnh trong Bắc Hành Tùng Ký thì chỗ này có tên là bến Phất Mê (Hoàng Xuân Hãn: sđd tr

876)

Trang 21

Theo lời khai của Nguyễn Huy Túc gửi lên Tôn Sĩ Nghị trong tấu thư của họ Tôn trình lên vua Càn Long thì tất cả đám di thần quyến thuộc nhà Lê ở bên kia sông kêu la cầu cứu nhưng vì truy binh đã đuổi đến sau lưng nên Nguyễn Huy Túc và đồng bọn phải cõng đám đàn bà trẻ con lội qua con rạch Những người không qua được đều bị quân Tây Sơn giết chết

Theo tấu thư của Tôn Sĩ Nghị thì ngay khi đó, hai viên tiểu quan nhà Thanh là thông phán Trần Tùng và hộ đô ti Trần Hồng Thuận đang đi tuần ở ngoài ải, được viên biện mục là Hoàng Thành Phượng và ải mục Trâu Thăng nghe tiếng kêu cứu thông báo cho biết nên vội vàng đem quân đến xem xét tình hình, còn đang tra vấn thì hơn trăm binh của Tây Sơn từ bờ khe bên kia định vượt sông cướp lại nhưng thấy quân Thanh đông hơn nên phải rút lui Tuy nhiên theo lời thuật lại của chính Lê Quýnh thì đám tòng vong nhà Lê sau khi qua được con suối thì lên được đỉnh núi, do thổ dân đưa đường phải đi hái rễ cây, ăn quả rừng cho đỡ đói sống tạm mấy ngày Khi tin đưa tới quan quân nhà Thanh thì thông phán (Trần Tùng) mới tới gặp34 Có lẽ Tôn Sĩ Nghị muốn tránh tiếng là việc tuần phòng biên giới không chu đáo nên đã tâu lên là quan binh nhà Thanh chạy tới uy hiếp khiến quân Tây Sơn phải rút lui, thực tế lực lượng đi tuần không thể nào đông đến hàng trăm người và cũng không điều động nhanh chóng đến như thế Qua được đất Trung Hoa, tất cả bọn tòng vong nhà Lê chỉ còn 62 người, trong đó có thái hậu mẹ Lê Duy Kỳ là Nguyễn (thị) Ngọc Tố (阮玉素) và vương phi là Nguyễn (thị) Ngọc Đoan (阮玉端)35, vương tử là Lê Duy Thuyên (黎維詮)36 So sánh với số lượng hơn 200 người tông thất nhà Lê chạy lên Cao Bằng ta thấy khoảng hơn 150 người đã bị giết hay mất tích37 Tất cả được đưa qua Thuỷ Khẩu Quan để vào Trung Quốc và được Trần Tùng tìm phòng ốc cho nghỉ tạm ở Long Châu Nguyễn Huy Túc lúc đó mới đem mọi việc của nước Nam loạn lạc thế nào, Thăng Long bị mất ra sao trình lên cho quan nhà Thanh dịch ra như sau:38

34 La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập II tr 876-7

35 Tên thực là Nguyễn thị Kim, GS Hoàng Xuân Hãn viết là Nguyễn thị Ngọc Thuỵ, theo tờ trình của Nguyễn Huy Túc thì là Ngọc Đoan Hai chữ Thuỵ (瑞) và Đoan (端) rất giống nhau Không biết chữ nào đúng.

36 Cung Trung Đáng(宮中檔), hòm số 2727, bao số 218: Theo tờ trình của Tôn Vĩnh Thanh đề ngày 1 tháng 6 năm Càn Long thứ 53 (1788), số hiệu 54179 và tờ trình của Tôn Sĩ Nghị ngày mồng 4 tháng 6 năm Càn Long thứ 53, số hiệu 54199, tờ trình của Tôn Vĩnh Thanh ngày 13 tháng 6, số hiệu 54285 (Trang Cát Phát, sđd tr 359)

37 Con số có thể lớn hơn nữa vì hơn 200 là tông thất nhà Lê lúc ban đầu, về sau có thêm bọn Nguyễn Huy Túc, Lê Quýnh không biết bao nhiêu Tính theo tỉ lệ số người bị Tây Sơn bắt giết là đa số, những người còn sống sót chỉ là thành phần quan trọng nhất được bảo vệ mà thôi.

38 Quân Cơ Xứ, Nguyệt Triệp Bao, hòm số 2778, bao 163, số hiệu 39031, bản sao tờ trình của di mục nước An Nam đề ngày 12 tháng 5 năm Càn Long 53 (1788)

Trang 22

Đốc đồng phủ Cao Bằng nước An Nam là Nguyễn Huy Túc, cùng với Trường Phái Hầu Lê Quýnh, Địch Quận Công Hoàng Ích Hiểu phụng mệnh thân mẫu của quốc vương là Nguyễn thị Ngọc Tố kính cẩn trình lên phân phủ họ Trần đất Long Châu, Quảng Tây, tuần phủ họ Trần đất Doanh Khổn, Long Bằng cùng xem xét:

Nguyên ngày mồng 2 tháng chạp năm ngoái, thổ tù đất Quảng Nam Nguyễn Nhạc là bên ngoại (nguyên văn thích là người liên quan vì hôn nhân chứ không phải do máu huyết) của nước chúng tôi, còn có tên là Văn Bình (ở đây nhầm Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc), năm ngụy Thái Đức thứ 11, bọn chúng vốn không phải họ Nguyễn, cũng không phải họ Nguyễn phụ chính (tức chúa Nguyễn trong Nam), em của y là Nguyễn Huệ, ngụy xưng là Thượng Công, sai ngụy tiết chế là Nguyễn Nhậm đem mấy vạn quân thẳng đến kinh thành, quốc vương nước tôi lãnh binh các đạo chống giữ đánh thắng được địch mấy lần

Tháng ba năm nay, Nguyễn Huệ đem quân đến tiếp viện, quốc vương phải lánh nạn ở hạ lộ Sơn Nam Bọn chúng tôi đưa vương mẫu, vương tử, vương phi đến trốn tránh ở Na Lữ, đất Cao Bằng

Ngày mồng chín tháng 5, man binh bất ngờ đến cướp trại, truy sát rất gấp, không nơi chạy trốn, bọn chúng tôi phụng mệnh mẹ của tự tôn (tức Lê Duy Kỳ) chạy đến quí hạt Trộm nghĩ vua Lê nước tôi nhiều đời phụng sự thiên triều, vẫn mong được thánh thiên tử chăm lo dạy dỗ Nay gặp phải biến cố này nên cố bỏ đất mà chạy đến đây, mong được quí đài chiếu cố, trình lên thượng hiến, tâu lên mọi việc, cũng mong trời che đất chở không gì là không dung chứa, đoái hoài đến cả kẻ ở phương nam là mẹ con của quốc vương chúng tôi Lê Duy Kỳ đều được thương xót, có nơi nương tựa, sống nốt tháng ngày, đợi khi quốc vương nhờ uy đức thiên triều lại trở về được kinh đô, khi đó đón trở về nước, dương danh chí nhân thịnh đức của thiên hoàng đế thì cũng là do quí liệt đài thương xót mà ban cho, nay trình lên

Càn Long năm thứ 53, ngày 12 tháng 5, ở đây chỉ viết đơn không vì ấn chương đốc trấn đã bị truy binh cướp mất, không thể đóng dấu được Đốc đồng Nguyễn Huy Túc cúi lạy, võ thần vệ Trường Phái Hầu Lê Quýnh cúi lạy, chính thủ hiệu Địch Quận Công Hoàng Ích Hiểu cúi lạy

IV/ TOAN TÍNH CỦA THANH ĐÌNH

A/ Sơ khởi

Việc nhà Thanh đem quân sang nước ta không chỉ giản dị như nhiều sử gia Việt Nam miêu tả Chính sách bành trướng và đối ngoại của nhà Thanh sẽ được chúng tôi đề cập đầy đủ hơn trong một biên khảo khác, mỗi thời kỳ có những đặc tính khác nhau và tương đối nhất quán, không phải chỉ do xúc cảm cá nhân hay tham vọng nhất thời mặc dầu vua Cao Tông và tổng đốc Tôn Sĩ Nghị đóng một vai trò quan trọng trong chiến dịch này Tuy nhiên, việc điều động binh mã đều có tính toán và nếu không nắm vững

Trang 23

được nguyên nhân thì khi giải thích và miêu tả hậu quả trở nên rối rắm Đó chính là việc mà từ trước đến nay nhiều nhà nghiên cứu bị lúng túng và phải vin vào những lý

do rất “ấu trĩ” để che lấp sự mù mờ Lỗi lầm đó bắt nguồn từ việc cả tin vào một cuốn

tiểu thuyết chương hồi hình thành từ sự tưởng tượng của vài nhà nho, đến việc sử nhà Nguyễn thiếu chân xác để rồi gần đây vì những mục tiêu chính trị lại càng cố sức ra

công “vẽ rắn thêm chân”, huyền sử hoá một giai đoạn lịch sử

Chúng ta thấy rằng tới lúc này tông thất nhà Lê chỉ trông cậy vào quan lại địa phương tại Long Châu, Doanh Khổn để xin nương náu qua ngày, hoàn toàn chưa có chủ tâm xin cứu viện Tuy nhiên sau khi trình lên, tình hình trở nên phức tạp vì lại phù hợp với một sở nguyện của Tôn Sĩ Nghị mà chúng ta sẽ phân tích thêm ở sau

Lá thư viết ngày 12 tháng 5 nhưng đến đầu tháng 6 năm Càn Long thứ 53 (1788) tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh 39 mới nghe trình lên rằng ở phủ Thái Bình có gia quyến vua Lê nước Nam chạy sang lánh nạn Đề đốc Quảng Tây là Tam Đức 40 (三德) lúc đó đang ở tại Tả Giang lo việc di chuyển quân sĩ vừa thắng trận trở về (chiến tranh dẹp loạn nhóm Thiên Địa Hội Lâm Sảng Văn (林爽文) ở Đài Loan) nên ngay ngày mồng 3 đã tới ngay Long Châu để xem xét tình hình

Long Châu là một thị trấn nhỏ ở sát biên giới, khí hậu oi bức, ma thiêng nước độc, vừa ngại gia quyến nhà Lê không hợp thuỷ thổ, lại sợ quân Tây Sơn có thể tấn công qua biên giới bắt giữ nên Tam Đức liền thương nghị với tổng binh Tả Giang là Thượng Duy Thăng, đưa cả bọn lên Nam Ninh (thủ phủ của tỉnh Quảng Tây) Tổng Đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị vội vàng đem tình hình tâu lên vua Càn Long, một mặt ra lệnh cho Thượng Duy Thăng đem quân đến Long Châu phòng ngự

Thượng Duy Thăng liền phái 1000 quân đến phối hợp với quân sĩ trú đóng ở Long Châu, chia nhau canh giữ các nơi Ngày mồng 4 tháng 6, Tôn Sĩ Nghị từ Triều Châu lên đường sang Long Châu để quan sát tình hình, sợ quân chưa đủ sức nên bí mật sai Tam Đức điều thêm mấy ngàn binh sĩ sẵn sàng tiếp ứng nếu quân Nam tràn qua Biên giới tỉnh Quảng Tây tiếp giáp với nước ta có ba cửa, từ trên xuống dưới là Thuỷ Khẩu Quan (水口), Bình Nhi Quan (平而) và Trấn Nam Quan (鎮南) Trấn Nam Quan – mà ta gọi là ải Nam Quan - là cửa chính, luôn luôn có trọng binh trấn giữ Sứ thần nước ta mỗi khi sang Tàu đi theo con đường này Hai cửa ải kia nhỏ hơn, chỉ là đường cho dân

39 người Vô Tích, tự Hoành Độ (宏度), hiệu Xuân Đài (春臺), đỗ cử nhân đời Càn Long giữ chức tuần phủ Quảng Tây Khi Lâm Sảng Văn nổi lên ở Đài Loan, ông cũng tham gia việc tiễu trừ Trong chiến dịch đánh nước ta, Tôn Vĩnh Thanh trông coi hậu cầu, đôn đáo lo việc tiếp vận quân nhu, khí giới, cung cấp phu phen, thuyền ngựa Theo sử chép vì ông ta bôn ba nơi rừng sâu núi thẳm nên bị nhiễm chướng khí thành bệnh mà chết nhưng vì không ở tại trận tiền, không được liệt vào những người hi sinh tại An Nam nhưng cũng vì chiến dịch Nam chinh mà từ trần.

40 Thuộc Nhương Hồng Kỳ, từng đánh Miến Điện, Kim Xuyên, lập nhiều công lao được giữ chức tổng binh Hưng Hán, Thiểm Tây Sau làm đề đốc tỉnh Quảng Tây, bệnh chết trước khi đem quân đánh Đại Việt.

Trang 24

chúng hai nước qua lại Tôn Sĩ Nghị sợ thất thố nên lại sai Tả Giang Trấn điều thêm

300 quân, chia ra mỗi cửa ải đặt thêm 100 người canh gác ngày đêm

Theo những tài liệu của nhà Thanh còn để lại, cũng như trong Bắc Hành Tùng Ký41 là truyện Lê Quýnh kể đầu đuôi việc sang Tàu thì không thấy nhắc đến việc mẹ vua Lê kêu khóc xin cứu viện mà chỉ đề cập đến việc bị quân Tây Sơn đuổi bắt nên phải chạy sang Tàu nương náu, xin được dung chứa nơi đất khách quê người Chúng ta cũng thấy là sử triều Nguyễn (và nhất là Hoàng Lê Nhất Thống Chí) có nhiều chỗ cho rằng thái hậu (mẹ vua Chiêu Thống) cũng là một người đàn bà tham dự vào quốc sự khá nhiều – quân sự cũng như chính trị – nhưng có lẽ do người đời thêu dệt Việc gia đình họ Lê chạy sang Long Châu rõ ràng là một việc ngoài ý muốn, cũng chưa hẳn đã có bụng nhờ quân Thanh về lấy lại nước Chi tiết duy nhất về việc muốn nương tựa vào Trung Hoa là của Nguyễn Huy Túc mà Hoàng Xuân Hãn đề cập đến trong một tập thơ của ông:

Nghe tin vua bỏ kinh mà sợ Xin theo người xưa giữ đất Bắc Bốn châu liền nhau đều đất hiểm Ai bảo rằng từ xưa nay không thể dấy nền vua ở đó Trung quốc đồng lòng với ta thì ắt ta còn Đánh từ phía bắc đó là bổn phận tôi để báo đền ơn vua một phần nào Trộm nghĩ rằng Vũ-nhai gần nơi khói lửa Chẳng bằng trấn Cao-bằng địa hình xa sâu 42

Theo tình hình lúc đó, khi bị quân Tây Sơn truy bức, Lê Duy Kỳ và gia quyến mỗi người một ngả, vua Lê chạy về mạn Mục Sơn (Yên Thế) tìm đường khôi phục43, thái hậu và gia quyến chạy lên Cao Bằng Như vậy khi đón gia quyến vua Lê, Nguyễn Huy Túc cũng chỉ muốn dựa vào thế hiểm trở của Cao Bằng để mưu tìm đường khôi phục theo cách của nhà Mạc thời trước yêu cầu nhà Thanh can thiệp cho họ một mảnh đất nương náu, truyền tử lưu tôn, tuyệt nhiên không phải để tìm cách sang Tàu cầu viện Tuy nhiên vì bị quân Tây Sơn truy sát, đành phải liều chết vượt sông sang đất Tàu Do đó, bản tâm vua Lê cũng như thái hậu không chủ trương đi qua cầu viện nhà Thanh mà chính là do Tôn Sĩ Nghị mớm lời để cho Lê Duy Kỳ dâng biểu cầu cứu như chúng ta sẽ thấy sau này

Ngày 19 tháng 6 năm Càn Long thứ 53 (1788), vua Cao Tông ra dụ dịch ra như sau: 44

Lưỡng Quảng tổng đốc Tôn Sĩ Nghị tâu lên, tiếp theo căn cứ vào lời bẩm của Tả Giang Trấn thì thân quyến tự tôn nước An Nam chạy qua nội địa nên ta đã ra lệnh cho tùy nghi lo liệu, lại sai người đến ngay Long Châu, xem xét tình hình để

41 La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập II tr 865-937

42 La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập II tr 876

43 Nói là khôi phục chứ thực ra là lẩn trốn cho khỏi bị bắt Tình hình lúc đó rất bi đát, việc trốn tránh tính từng ngày, nhà vua chỉ còn có vài ba người hầu cận ở bên cạnh, và chắc chắn không khỏi có những tin đồn ông đã chết.

44 Thanh Cao Tông thuần hoàng đế thực lục, q 1307, tr 9, Càn Long năm thứ 53, tháng 6 ngày Canh Tuất,

ỷ tín thượng dụ (Trang Cát Phát: 348-9)

Trang 25

tâu lên cho rõ ràng Việc này trước đây khi Tôn Vĩnh Thanh tâu lên, trẫm sợ rằng viên tri phủ đó không có chủ kiến nên lập tức giáng chỉ ra lệnh cho Tôn Sĩ Nghị lập tức tra xét lo liệu

Hiện nay viên tổng đốc kia chưa đợi dụ chỉ đã khởi trình đến trước rồi, như thế thực là biết việc nặng nhẹ, không thẹn là kẻ đại thần ở biên cương, thật đáng khen ngợi Trong tấu triệp của Tôn Vĩnh Thanh trước đây, chưa biết tung tích của tự tôn Lê Duy Kỳ đang ở đâu, mà chạy sang đến hơn sáu chục người thì có liên hệ thế nào? Ta đã từng ra lệnh tra xét cho thấu đáo, rồi tâu ngay lên cho ta Nay cứ theo như lời tâu của Tôn Sĩ Nghị, lúc đầu cứ tưởng có cả Lê Duy Kỳ đi theo Thế nhưng nếu ví thử Lê Duy Kỳ đích thân dẫn quyến thuộc sang nội địa thì cớ gì lại phải ra lệnh cho di quan Nguyễn Huy Túc đứng tên, còn bọn thổ tù Nguyễn Nhạc kia sau khi công phá Lê thành, thấy Lê Duy Kỳ bôn đào nên dẫn binh truy sát Nếu cả nước đã bị họ Nguyễn chiếm mất rồi, ắt Lê Duy Kỳ mang quyến thuộc theo, tuy không quá 60 người, nhưng lẽ nào đi đường không lo liệu tính toán gì mà đến được nội địa?

Lê Duy Kỳ nay đã đến Long Châu nên truyền dụ cho Tôn Sĩ Nghị đến đó tận mặt hỏi Lê Duy Kỳ xem việc họ Nguyễn nổi loạn ra sao, hai bên vì cớ gì gây hấn, gặp nạn chạy sang nội địa cốt lo bảo toàn tính mạng mẹ con mà phải bỏ đất cho họ Nguyễn Y bỏ nước chạy sang đây rồi, trong nước thần tử có ai lo chuyện diệt giặc khôi phục để nghinh đón mẹ con y về hay không, xem chủ kiến y thế nào? Nêáu như Lê Duy Kỳ cũng không biết rõ ràng thì nên hỏi bọn Nguyễn Huy Túc để cho rõ tình hình nước đó ngõ hầu theo tình hình mà trù biện Theo ý trẫm thì vì quẫn bách mà tự tôn nước đó chạy sang nội địa, tuy trình lên không có giọng muốn xin quân cứu viện, nhưng nếu trấn mục nước đó có thể tụ tập dân binh, tảo trừ hung nghịch đón tự tôn về thì thế là tốt nhất Còn như họ Nguyễn đã chiếm được cả địa phương ở Lê thành nhưng các nơi khác vẫn thuộc họ Lê, các trấn mục không diệt được họ Nguyễn nhưng việc đã định vẫn có thể sắp xếp cho ổn thỏa để nghinh đón tự tôn thì đất nước của nhà Lê cũng chưa đoạn tuyệt, cũng không cần phải hưng sư cho lớn chuyện làm gì

Còn như họ Nguyễn công phá Lê thành xong chiếm hết nước An Nam, con cháu nhà Lê bị giết hại thì tự tôn nước đó không còn nước mà trở về An Nam thần phục bản triều, rất là cung thuận, nay bị cường thần soán đoạt phải chạy sang đây nếu như ta bỏ qua không lý đến thật không phải là cái đạo tồn vong nên phải tập trung binh lực kể tội sang chinh thảo

Trẫm nay đã định đoạt rồi, lại truyền dụ cho Tôn Sĩ Nghị, tuân theo dụ chỉ trước đây, xem két kỹ lưỡng thêm nữa, trù biện cho chín chắn, cứ theo tình thực mà nhanh chóng tâu lên ta sẽ đợi tới khi đó sẽ hạ chỉ để cho biện lý Còn về phần thân thuộc của Lê Duy Kỳ thì nên sắp xếp cho ổn thỏa, cung cấp thêm chớ nên

Trang 26

hẹp hòi, còn như các nơi cửa quan thì điều động một nghìn binh sĩ phân bố ra trấn đóng

Ngặt vì binh lính không có nhiều, e rằng bọn phỉ thấy quan quân ít ỏi đâm ra coi thường thì hãy điều động thêm các nơi chung quanh hai ba nghìn lính nữa, phân bố quan ải để làm thanh viện, đề đốc Tam Đức là người từng chinh chiến lâu năm, nên sai y đến đây thống lãnh, hợp với việc đàn áp tra xét, không cần phải lo

gì nữa Còn Tôn Sĩ Nghị sau khi nghe bẩm báo, lập tức lên đường đến ngay thật đúng như ý trẫm, hịch văn cũng thật là đắc thể, ngoài những điều trẫm đã nói cũng không có gì khác, nay thưởng thêm cho một đôi hà bao lớn, một đôi hà bao nhỏ để tưởng lệ

Cứ theo những tấu thư của Tôn Sĩ Nghị còn lưu trữ cũng như một số mật dụ mà sau này quân Tây Sơn bắt được thì bản tâm Tôn Sĩ Nghị lúc đầu chỉ muốn doạ cho Nguyễn Huệ phải từ bỏ Thăng Long, giao quyền lại cho Lê Duy Kỳ Theo tờ trình của họ Tôn đề ngày 19 tháng 6 năm Càn Long thứ 53 (1788) thì y tin rằng một khi hư trương thanh thế, truyền hịch đem quân sang đánh nước Nam, lúc đó ắt những người đã theo Tây Sơn sẽ nổi lên chống lại, và nhà Thanh không phải hao quân tổn tướng mà vẫn đạt được thắng lợi.45

Còn theo sử triều Nguyễn thì Tôn Sĩ Nghị tâu lên vua Càn Long “tự hoàng nhà Lê

đương phải bôn ba, đối với đại nghĩa, ta nên cứu viện Vả lại An Nam là đất cũ của Trung Quốc, sau khi khôi phục nhà Lê, ta nhân đó đặt lính thú để đóng giữ Thế là vừa làm cho nhà Lê được tồn tại, vừa chiếm lấy được An Nam: thật là làm một chuyến mà được hai lợi”.46

Xét tài liệu cả hai phía, chúng ta có thể cho rằng Tôn Sĩ Nghị vì muốn được vua Cao Tông chuẩn y kế hoạch đem quân sang nước ta nên đã mập mờ không tâu rõ việc Lê Duy Kỳ không có mặt trong đám tòng vong khiến cho ông vua già tin chắc rằng khi vua Lê về nếu có sự hậu thuẫn của quân Thanh sẽ được dân chúng nổi lên hưởng ứng Tuy vua Cao Tông cũng đưa ra nhiều biện pháp khác nhau nhưng chủ yếu vẫn muốn vua tôi nhà Lê đóng vai trò chính chiến đấu chống với Tây Sơn (dùng người Việt đánh người Việt), quân Thanh chỉ hỗ trợ rồi tìm cách kiềm chế cả hai bên

Sau khi biết rằng Lê Duy Kỳ không có trong đám tòng vong, tình hình trở nên phức tạp Ngay cả tông thất và đám tòng vong nhà Lê lưu lạc sang Quảng Tây, cũng không ai biết Lê Duy Kỳ đang ở đâu, còn sống hay đã chết Chính vì thế, nhà Thanh cũng phân vân không biết xử trí thế nào cho phải phép Việc ngang nhiên nghe một bề rồi đem quân sang nước ta chưa biết sẽ đi đến đâu và cũng không có chính nghĩa (dù chỉ là giả)

45 nguyên văn theo tấu thư là “điếu phạt chi sư vị động, hưng kế chi nghiệp khả thành” (弔伐之師未

動,興繼之業可成 ) quân điếu phạt chưa cần ra tay thì công việc làm cho kẻ mất nghiệp kia được trở lại đã thành rồi.

46 KDVSTGCM – Chính Biên, quyển XLVII (47)

Trang 27

như thời nhà Hồ, quân Minh đưa Trần Thiêm Bình về nước Chính vì thế, việc đầu tiên Tôn Sĩ Nghị phải làm là tìm ra tung tích vua Lê cho được danh chính ngôn thuận trước khi có thể xin vua Càn Long chấp thuận cho động binh

B/ Thanh triều hăm dọa động binh

Nguyễn Huệ cũng hay biết tin này nên sai quan trấn thủ Văn Uyên (文淵) là Hoàng Đình Cầu (黃廷球) và Nguyễn Đình Liễn (阮廷璉) đem lễ vật lên tiến cống, trên từ biểu ký tên là Nguyễn Quang Bình (阮光平)47 Tuy chưa biết rõ tình hình ra sao nhưng Tôn Sĩ Nghị cũng hư trương thanh thế để dò xem phản ứng của quân Tây Sơn thế nào Ngày mồng 1 tháng 7 năm Càn Long thứ 53 (1788), Tôn Sĩ Nghị đích thân đến trấn Nam Quan ra lệnh cho hộ tân thái hiệp Vương Đàn (王檀) đứng trên cửa quan, lớn tiếng đọc bản hịch kết tội đại lược dịch ra như sau:

Hỡi Nguyễn Nhạc kia, ngươi có dạ soán nghịch, quan tổng đốc nghe được nên đã đích thân đến đây, đang tâu lên đại hoàng đế để điều động mười vạn quan binh các tỉnh Vân Quí Xuyên Quảng Phúc Kiến chia ra các đường sang tiễu trừ Nếu Nguyễn Nhạc ngươi biết hối tội mà nghinh đón chủ cũ về thì được bảo toàn tính mạng, chớ có mong đem cống vật mà mua chuộc thiên triều

Đại hoàng đế ta hành sự còn hơn cả ba đời đế vương thuở trước, muốn cho vạn đời sau ngưỡng mộ, lẽ nào lại đi nghe lời lật lọng đổi thay của nghịch thần các ngươi để làm loạn phép vua Còn bọn di mục các ngươi vốn dĩ là quan họ Lê, nay trở mặt đi thờ kẻ thù, thay chúng đến cửa quan cầu khẩn, quả thực không biết liêm sỉ là gì, đáng lẽ bản chức tâu lên đem các ngươi ra chính pháp, có điều thương các ngươi chức quan nhỏ bé, chẳng đáng trừng trị, mau mau quay về hiểu dụ Nguyễn Nhạc, hoạ phúc chỉ trong chớp mắt, kỳ hạn nay đã đến rồi 48

Vương Đàn đọc xong liền ném hịch văn qua bên ngoài tường để cho quân Tây Sơn nhặt được Lê Duy Kỳ vốn dĩ có ba anh em cùng cha khác mẹ, người lớn nhất là tự tôn Lê Duy Kỳ, người kế tiếp là Điền Quận Công Lê Duy Lứu (佃郡公黎維鎦), sau nữa là Lạn Quận Công Lê Duy Chỉ (蘭郡公黎維祗)49 Trong khi Lê Duy Kỳ còn đang lẩn trốn, nay chỗ này, mai chỗ khác thì hai người em khởi binh chống lại nhà Tây Sơn Lê Duy Lứu nổi lên ở Tuyên Quang, Hưng Hoá, Lê Duy Chỉ nổi lên ở Thái Nguyên, Kinh

47 Trang Cát Phát, sđd tr 353

48 Cung Trung Đáng, hòm số 2778, bao 162, số 38897, bản sao tấu thư của Tôn Sĩ Nghị đề ngày mồng 8 tháng 7 năm Càn Long 53 (1788) Theo ghi chú của Trang Cát Phát thì ngay từ giờ phút này Nguyễn Huệ đã đổi tên là Nguyễn Quang Bình chứ không phải đến sau khi thắng trận dâng biểu cầu phong mới dùng tên này như trong Thanh Sử Cảo, Thanh Đại Thông Sử, Thánh Vũ Ký đã chép.

49 Chữ Điền nguyên có bộ ngọc 玉, chữ Lạn cũng có bộ ngọc, chữ Lứu bộ kỳ 礻, có sách dịch là Trứu, chúng tôi chưa biết cách tạo chữ không có trong database nên tạm gác lại Chư lứu một bên bộ kỳ (礻), một bên chữ do (由), các sách nhà Thanh như Thánh Vũ Ký, Thanh Đại Thông Sử chép nhầm thành tụ 袖 (bộ y nghĩa là tay áo)

Trang 28

Bắc Khi thành Tuyên Quang bị thất hãm, quân Tây Sơn đuổi bắt được Lê Duy Lứu ở Đô Long (都龍) đem về Thăng Long chém đầu Lê Duy Chỉ chạy lên Ba Phùng (波篷)

bị thích khách chém trúng đùi nhưng may nhờ dân chúng bảo vệ nên chạy thoát

Sau khi đọc những tấu chương của quan lại địa phương, vua Càn Long ra lệnh cho Quân Cơ Xứ nghiên cứu tình hình, đến ngày mồng 5 tháng 7 năm Càn Long 53, A Quế trình lên dịch ra như sau: 50

Thần quì đọc rồi, ngẩng lên thấy lối hoàng thượng phủ ngự ngoại di quả là hết sức mềm mỏng với kẻ ở xa Thiết nghĩ An Nam tuân phục thiên triều, cực kỳ cung thuận Nay vì bọn thổ tù Nguyễn Nhạc ỷ mạnh làm loạn, chiếm cứ Lê thành, tự tôn nước này là Lê Duy Kỳ bị ép phải xuất bôn thành thử quyến thuộc của y mới chạy qua nội địa Khi tấu thư của tuần phủ Tôn Vĩnh Thanh đến, (hoàng thượng) đã ra lệnh cho y để ý lo liệu, cung cấp cho nơi ăn chốn ỡ, an trí mọi việc, lại sợ Tôn Vĩnh Thanh một mình lo toan không có chủ kiến nên đặc mệnh sai Tôn Sĩ Nghị chạy đến sắp xếp, chuẩn bị quan binh, đem tới cửa ải trấn áp, một mặt hịch dụ nước kia, để tăng gia thanh thế cho Lê Duy Kỳ, việc hoạch định chu đáo, cơ trí như thế thần tạm suy diễn ra thực hết sức khâm phục

Nước An Nam kia ở nơi phương nam xa xôi nóng nực, từ khi kiến quốc tự đời Tống đến nay, họ Nguyễn, họ Lý, họ Trần, họ Lê qua mấy đời soán đoạt tranh chấp lẫn nhau Đời Vĩnh Lạc nhà tiền Minh, nhân vì Lê Quí Ly cướp ngôi nhà Trần nên đã ba lần sang dẹp loạn, mất đến hơn chục năm, ngặt vì dân nước đó tính tình phản phúc, nên cũng phải bỏ về nhân vì họ Trần vô hậu, khi Lê Lợi cầu phong liền sách lập trở lại

Về sau hai họ Lê Mạc tranh giành nhiều năm, triều ta uy đức tràn đầy nên nước đó khuynh tâm thần phục, triều cồng không dứt Nhưng họ Lê không tự phấn chấn lên được, bị cường thần chế ngự, hiệu lệnh lại không ban bố xuống được toàn cõi, nguy cơ từ đó mà ra Nay Lê Duy Kỳ bị Nguyễn Nhạc bức bách phải bôn đào, theo lời bọn di mục Nguyễn Huy Túc thì tự tôn nay chạy về một giải Sơn Nam mưu tính chuyện khôi phục

Nếu như lòng người còn nhớ đến triều đại cũ, Lê Duy Kỳ có thể tụ tập binh dân tiễu trừ được Nguyễn Nhạc, thu phục Lê thành, nghinh đón quyến thuộc trở về Hoặc giả tuy Lê Duy Kỳ hiện đang trốn tránh, các di mục cũng có thể đón tự tôn mưu tính việc khôi phục, theo như thánh dụ đợi cho đến lúc mọi sự đã định, lúc đó sẽ đón quyến thuộc về nước, không cần phải hưng sư làm cho lớn chuyện Còn như tất cả nước An Nam đã bị Nguyễn Nhạc chiếm đóng rồi, đợi cho Tôn Sĩ Nghị tra xét rõ ràng tin tức của Lê Duy Kỳ, tâu lên, nặng hay nhẹ, gấp rút hay thư thả, khi đó phải làm gì ắt thánh minh sẽ có biện pháp

50 Trang Cát Phát, sđd tr 350, Quân Cơ Xứ, nguyệt triệp bao, hòm 2778, bao số 162, số hiệu 38886, tấu chương của A Quế ngày mồng 5 tháng năm Càn Long 53 (1788)

Ngày đăng: 20/04/2015, 01:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Hoàng Văn Hoè (dịch): Đại Việt Quốc Thư (Saigon: Bộ Giáo Dục – Trung Tâm Học Liệu 1972) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt Quốc Thư
15. Hoàng Xuân Hãn: La Sơn Yên Hồ, tập II (Hà Nội: nxb Giáo Dục 1998 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: La Sơn Yên Hồ, tập II
Tác giả: Hoàng Xuân Hãn
Nhà XB: nxb Giáo Dục
Năm: 1998
16. Hummel, Arthur W. (chuû bieân) Eminent Chinese of the Ch’ing Period (1644- 1912) do (清代名人傳略) (Taipei: Ch’eng Wen Publishing Company, 1970) in lại theo bản của chính phủ Mỹ (Washington 1943) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Eminent Chinese of the Ch’ing Period (1644-1912)
Tác giả: Hummel, Arthur W
Nhà XB: Ch’eng Wen Publishing Company
Năm: 1970
17. Lại Phúc Thuận( 賴福順 ): Càn Long Trọng Yếu Chiến Tranh Chi Quân Nhu Nghiên Cứu (乾隆重要戰爭之軍需研究) (Đài Bắc: Quốc Lập Cố Cung Bác Vật Vieọn, 1984) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Càn Long Trọng Yếu Chiến Tranh Chi Quân Nhu Nghiên Cứu
Tác giả: Lại Phúc Thuận
Nhà XB: Quốc Lập Cố Cung Bác Vật Vieọn
Năm: 1984
18. Lamb, Alastair: The Mandarin Road to Old Hue (London: Chatto & Windus, 1970) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Mandarin Road to Old Hue
19. Le Livre de Paris : Les Grands Dossiers de L’illustration L’indochine – 1995 20. Leõ Kieọt(藜傑): Thanh Sử (清史) (Trung Quốc Cận Đại Sử quyển thượng)(Hương Cảng: Hải Kiều xuất bản xã, 1964) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Sử (清史) (Trung Quốc Cận Đại Sử quyển thượng)
Tác giả: Leõ Kieọt(藜傑)
Nhà XB: Hải Kiều xuất bản xã
Năm: 1964
21. Lê Đông Phương ( 藜東方 ): Tế Thuyết Thanh Triều ( 細說清朝 ) (quyển thượng) (Đài Bắc: Truyện Ký Văn Học Xã, 1987) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Teá Thuyeát Thanh Trieàu
22. Lưu Gia Câu ( 劉家駒 ): Thanh Sử Bính Đồ ( 清史拼圖 ) (Đài Bắc: Viễn Ảnh 2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Sử Bính Đồ
23. Majumdar, R.C.: Champa, history & Culture of an Indian Colonial Kingdom in the Far East 2 nd -16 th Century A.D. (Gyan Publishing House: New Delhi 1985) 24. Một Nhóm Học Giả: Một Vài Sử Liệu về Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ (ĐạiNam, Cali. 1992) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Champa, history & Culture of an Indian Colonial Kingdom in the Far East 2 nd -16 th Century A.D
Tác giả: R.C. Majumdar
Nhà XB: Gyan Publishing House
Năm: 1985
25. Ngô Gia Văn Phái: Hoàng Lê Nhất Thống Chí bản dịch Nguyễn Đức Vân – Kiều Thu Hoạch (Hà Nội: nxb Văn Học, 2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Lê Nhất Thống Chí
Nhà XB: nxb Văn Học
26. Ngô Thời Chí: Hoàng Lê Nhất Thống Chí (bản dịch Ngô Tất Tố 1969) (Saigon: Phong trào Văn Hoá, 1969 tái bản) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Lê Nhất Thống Chí
27. Nguyễn Lương Bích – Phạm Ngọc Phụng: Tìm Hiểu Thiên Tài Quân Sự của Nguyễn Huệ (nxb QĐND Hà Nội 1971) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm Hiểu Thiên Tài Quân Sự của Nguyễn Huệ
Nhà XB: nxb QĐND Hà Nội 1971)
28. Paludan, Ann: Chronicle of the Chinese Emperors (New York: Thames & Hudson 1998) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chronicle of the Chinese Emperors
29. Peers, Chris, Christa Hook: Late Imperial Chinese Armies 1520-1840 (London: Reed International Book Ltd 1997) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Late Imperial Chinese Armies 1520-1840
30. Peterson, Willard J. (ed.): The Cambridge History of China – Vol. 9 (Part I) The Ch’ing Dynasty to 1800 (Cambridge University Press 2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Cambridge History of China – Vol. 9 (Part I) The Ch’ing Dynasty to 1800
Tác giả: Willard J. Peterson
Nhà XB: Cambridge University Press
Năm: 2002
31. Phạm Ngọc Phụng: Tổ Tiên Ta Đánh Giặc (Hà Nội: nxb Quân Giải Phóng, 1975) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ Tiên Ta Đánh Giặc
Nhà XB: nxb Quân Giải Phóng
32. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn: Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục tập II, Trung tâm KHXH và Nhân Văn Quốc Gia, Viện Sử Học (Hà Nội: nxb Giáo Duùc 1998) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục tập II
Nhà XB: nxb Giáo Duùc 1998)
33. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn: Đại Nam Thực Lục, tập Một (Hà Nội: nxb Giáo Dục 2001) bản dịch Viện Sử Học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam Thực Lục, tập Một
Nhà XB: nxb Giáo Dục 2001) bản dịch Viện Sử Học
34. Spencer, Jonathan D.: In Search for Modern China (N.Y. : W.W. Norton & Co. 1990) Sách, tạp chí
Tiêu đề: In Search for Modern China
35. Steinberg David J. (ed.): In Search of Southeast Asia (University of Hawaii Press 1987) Sách, tạp chí
Tiêu đề: In Search of Southeast Asia

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w