tạo Trong các máy trắc địa, gương phẳng thường được sử dụng để thu ánh sáng thiên nhiên hoặc ánh sáng đèn đưa vào các bộ phận bên trong của máy thông qua các hệ thống lăng kính, thấu kí
Trang 1Ứ sùpuvouymn | DUY QUYNH
NHA XUAT BAN XAY DUNG
Trang 2BUI DUY QUYNH
THỰC HÀNH MAY TRAC DIA
NHA XUAT BAN XAY DUNG
HÀ NỘI - 2013
Trang 3LOI NOI DAU
Trắc địa có một vai tro quan trong déi vdi nén kinh té quéc dan va
quốc phòng nói chung, đặc biệt đối uới các ngành xây dựng cơ bản, Trắc
địa luôn giữ uị trí quan trong hàng đâu Những tài liệu, số liệu trắc địa luôn là những cơ sở ban đầu để giải quyết những nhiệm uụ kỹ thuật cụ thể từ khâu khảo sát thiết kế, quy hoạch, thi công xây dựng cho đến khai thác sử dụng công trình Để có những số liệu chính xác đó thì không thể
thiếu các loại máy trắc địa Thục hành máy trắc địa là môn học trong chương trình đào lạo các chuyên ngành Trắc địa xây dựng, Địa chính uà
Trắc địa hạ tầng đô thị thuộc ngành Kỹ thuật Trắc địa của trường Đại
để có được các kết quả đo đạc một cách chính xác nhất
Cuốn sách Thực hành máy trắc địa được biên soạn gồm các chương như sau:
Chương 1 Ứng dụng quang học trong máy trắc địa
Chương 2 Máy hình tĩ
Chương 3 Kiểm nghiệm uà hiệu chỉnh máy kinh uĩ
Chương 4 Máy thuỷ bình
Chương 5 Kiểm nghiệm uà hiệu chỉnh máy thuỷ bình va mia
Cuối tài liệu là phụ lục uê các loại máy trắc địa uà phụ lục huớng dẫn
sử dụng máy trắc địa điện tử LEICA CCR 405
Đây lò tài liệu biên soạn lên đầu, nên trong nội dụng của tài liệu khó tránh khỏi những khiếm khuyết Chúng tôi kính mong nhận được những
phê bình, góp Ý của đồng nghiệp uà bạn đọc để tài liệu hoàn chỉnh hơn
Các ý kiến góp ý, phê bình xin gửi uê Bộ môn Trắc địa, trường Đại học
Xây dụng, Bð đường Giải Phóng, Hè Nội
Tác giả
Trang 4Chương 1
ỨNG DỤNG QUANG HỌC TRONG MAY TRAC DIA
1.1 GUONG PHANG, LANG KINH, THẤU KÍNH
1.1.1 Gương phẳng
1 Khái niệm
Gương phẳng là một mặt phẳng nhắn bóng (một tấm thuỷ tỉnh phẳng, mặt
kim loại) có tính chất phản xạ hầu như hoàn toàn ánh sáng chiếu vào nó
2 Ảnh của nguồn sáng đi qua gương phẳng
gương phẳng GG Điểm sáng
đó phát ra những tia sáng SA,
SB, SC dén dap vào mật
gương phẳng và phan xa theo
phuong AD, BE, CF tạo
Trong các máy trắc địa, gương phẳng thường được sử dụng để thu ánh
sáng thiên nhiên hoặc ánh sáng đèn đưa vào các bộ phận bên trong của máy thông qua các hệ thống lăng kính, thấu kính cung cấp ánh sáng cho việc hiện giá trị trên bàn độ lên bộ phận đọc số Đôi khi gương phẳng được
bố trí nghiêng một góc 459 để tạo thành một mặt phản xạ toàn phần
Trang 5gọi là cạnh Một mặt thứ ba ACC?A" đối diện và song song với cạnh gọi là
đáy Góc phẳng của nhị diện do hai mat tạo ra gọi là góc chiết quang @ (góc khúc xạ)
A © abolà tiết diện thẳng của lãng kính
Hình 1.2 Lăng kính
2 Đường đi của một tỉa sáng đơn sắc di qua một lăng kính
Tà chiếu một tia sáng đơn sắc DE tới mặt thứ nhất AB của làng kính
EF là pháp tuyến của AB ở điểm E, tia sáng khúc xạ và truyền trong thuỷ tinh theo huéng EL Gap mat thứ hai của lăng kính, nó khúc xạ theo phương L.P về phía đáy BC của lăng kính Tia tới DE và tia ló LP lập thành một góc ð gọi là góc lệch Độ lớn của góc lệch phụ thuộc vào góc chiết quang @ của lăng kính
Trong các máy quang học, lãng kính được ứng dụng rộng rãi vì góc
chiết quang không bị sai lệch, gá lắp đễ dàng, chắc chắn, ít bị hao mất
ánh sáng trong khi gương phẳng hao từ 6% đến 10% ánh sáng, việc gia
Hình 1.3 Khúc xạ qua lăng kính
Trang 6công dễ dàng, đại bộ phận ứng dụng theo nguyên lý phản xạ toàn phần nên mặt phản xạ không cần phải mạ bạc Lãng kính có tác dụng sau:
- Làm thay đổi hướng đi của ánh sáng
~ Đảo chiều ảnh và tách các tỉa sáng cùng trong một đường đi
3 Một số lăng kính thường dùng trong máy trắc địa
* Lang kinh vuông góc
Lãng kính phản xạ toàn
phần hay còn gọi là lãng kính
vuông góc có tiết diện là một
hình vuông cân Nếu dùng
giống như hai gương phẳng
đặt giao nhau, bất kỳ góc tới
to hay nhỏ, tỉa ló vấn giữ
đúng vị trí song song với
hướng cũ, ảnh quay đi 180°
Hình 1.4 Lăng kính phản xạ toàn phân
Là một lăng kính hình vuông cắt bổ phần góc vuông bằng thiết diện ABCD Các mặt tới, mặt ló và mặt phản xạ được mài bóng, các mặt khác
mài mờ Tỉa tới và tia ló vẫn song song với nhau, không đổi hướng Tia tới sau khi vào lăng kính bị khúc xạ chiếu lên mặt đáy, bị mặt đáy phản xạ lên
Trang 7mat 16; qua 2 lần khúc xạ tỉa sáng vẫn theo hướng cũ khi vào mà tách rời khỏi lăng kính, ảnh bị đảo ngược Vì mặt nghiêng và mặt đáy làm thành góc 459 (lớn hơn góc giới hạn) nên không phải mạ bạc Lăng kính hình thang có đặc tính cơ bản đó là khi quay quanh một trục song song với tỉa tới một góc x thì ảnh của vật thể cố định sẽ quay một góc gấp 2x
Tuy nhiên, trong
ADD'A' là mặt tới, BCB°C' là mặt ló AD//BC AB//DC tạo thành góc
459 với tỉa tới, cho nên hai mặt ABCD và A'B°C'D' không cần phải mạ
bac Bén mat AA’D’D, ABB’A’, BCC’B’ va CC’D’D dugc mài bóng
Lãng kính hình chữ nhật lệch
Lăng kính hình chữ nhật lệch có tiết điện hình thoi, cho ảnh thuận và không
bị đảo ảnh cả chiều đứng lẫn chiều nằm
Tĩa tới song song với tia ló, cách một
khoảng bằng chiều dài lăng kính AD Lăng kính hình chữ nhật lệch được
ứng dụng trong các bộ phận truyền ảnh của máy kinh vĩ và các máy móc quang, học khác, và chủ yếu dùng để dịch chuyển
tỉa sáng đi một góc không lớn lắm
* Lãng kính hình mái hiện Lăng kính hình mái hiên là lăng
kính vuông góc biến thành sau khi cắt
bỏ bớt ở mặt đáy tạo thành các mặt AEGH và EDFG Ding 2 mat phan xa ABCDE và BCFGH hợp nhau thành
Trang 8một góc 909 để thay thế tác dụng của hai
gương phẳng phản xạ Tia sang di theo các
điểm 1 2 3 4, tia sáng và tia ló ngược nhau
một góc 909 Tác dụng cũng giống tác dụng
của lãng kính vuông góc, chỉ khác là ảnh
hoàn toàn đảo ngược; còn lãng kính vuông
góc thì cho ảnh đảo một chiều
Lang kính mái hiên được ứng dụng rộng
rãi trong các máy ngắm, máy quan sát và các
máy quang học khác Tùy theo yêu cầu cụ thể
mà lãng kính mái hiên được chế tạo hình dạng
khác nhau cho phù hợp
* Lắng kính hình nêm
Là lãng kính tam giác có góc chiết quang
rất nhỏ Tia tới và tỉa ló đi qua các điểm 1 2 3
4 lập thành một góc rất nhỏ gọi là góc lệch
Góc lệch phụ thuộc vào chiết suất thuỷ tỉnh
Lãng kính hình nêm dùng trong máy quang
học để làm lệch một góc rất nhỏ, đôi khi dùng
làm kính báo vệ vật kính của máy trắc địa
* Lăng kính năm góc
Lãng kính năm góc có hai mặt phản xạ
CDEE và MNOP, giao tuyến của hai mặt phan
xạ gọi là cạnh của lãng kính năm góc Mặt tới
ABPO và mặt ló ABCD giao nhau một góc
909, Tia tới chiếu thẳng góc vào tới ABOP rồi
vào lãng kính mà không bị khúc xạ và chiếu
lên mat CDEF; sau khi bị phản xạ lại chiếu tới
mặt OPMN Từ OPMN bị phản xạ, tỉa sáng ra
thẳng góc với mặt ló nên không bị khúc xạ
mà truyền thẳng ra khỏi lăng kính
Vì ở mặt phản xạ chùm tỉa tới tạo góc tới
là 22,59 (nhỏ hơn góc giới hạn) nên ở các mặt
này phải mạ bạc phản xạ Loại lăng kính này
cho ta ảnh thuận nhưng quay đi góc 909 Tia
Trang 9tới và tia ló giao nhau 909, Khi lăng kính quay xung quanh một trục thẳng góc với vật thì góc này không thay đổi Đây chính là ưu điểm lớn của lăng kính năm góc, vì vậy dùng lăng kính năm góc đặt tại vị trí phản xa cuối cùng của hệ thống quang học trong máy kinh vĩ, là vị trí đảm bảo cho tỉa tới thẳng góc với tia ló Tuy nhiên, lăng kính năm góc còn được sử dụng trong các vị trí khác nhau của máy quang học để quay chùm tia sáng một góc 90° và cho ảnh thuận
* Hệ thống lăng kính truyền ảnh
Là một hệ thống lăng kính truyền ảnh hay còn gọi là lãng kính Boro, gồm hai lăng kính vuông góc lắp đối diện mặt huyền với nhau Mặt huyền lang kính này chứa tỉa tới thì mặt huyền lăng kính kia chứa tia ló Hai mặt
phẳng thẳng góc nhau của lãng kính là hai mặt phần xa Hệ thống lăng
kính này cho ta ảnh đảo ngược hoàn toàn Lăng kính truyền ảnh được ứng dụng trong ống nhòm kép để đảo ảnh cho ta ảnh cùng chiều với vật, đồng thời giữ cho kích thước của ống kính không dài quá
Trang 10Đặc tính: truyền ánh sáng, cho ta ảnh thật hay ảnh ảo, bán kính mặt cầu càng lớn thì độ khúc xạ càng nhiều Với quy luật đó cho ta tổ hợp các thấu
kính để tạo được những chùm sáng theo ý muốn Trường hợp mặt kính
không phải là mặt cầu mà có hình dáng parabol thì gọi là thấu kính phi mật cầu
Thấu kính được ứng dựng rộng rãi trong đời sống hàng ngày như kính
lúp, ống nhóm, máy trắc địa Trong máy trắc địa, thấu kính chiếm vai trò
quan trọng xem như bộ phận cấu tạo chủ yếu của hệ thống quang học như ống kính, kính hiển vi
Tuỳ theo hình đạng của các mặt giới hạn, người ta phân biệt ra các loại thấu kính:
a) Thấu kính hội rụ: là thấu kính ở giữa dày hơn cạnh, hầu hết các trường hợp đều cho ảnh thật
b) Thấu kính phân kỳ: là thấu kính ở giữa mỏng hơn cạnh, hầu hết cho ảnh ảo
Trang 112 Sự khúc xạ của một tia sáng qua thấu kính
a) Tia sáng tới song song với trục b) Các tia sáng đi qua
quang học ÓÓ2 khi qua thấu kính quang tâm Ó của thấu kính hội tụ tại tiêu điển F" không bị khúc xạ
©) Một chùm sáng gâm những tia sáng d) Qua một thấu kính phân kỳ mỏng,
song song với trục phụ di qua thấu cde tia sáng song song với trục chính, kính hội tụ Ở giao điểm của trục phụ sơn khi khúc xạ qua thấu kính phân kỳ
về tiêu diện F” như là xuất phát qua tiêu điểm F
Hình 1.13 Sự khúc xạ của tía sáng qua thấu kính
12
Trang 12Hình 1.14 Hệ thống lăng, thấu kính trong máy kính vĩ
series mark3 2CD, 28, 2SG
Trang 13
Hình 1.15
Hệ thống lăng, thấu kính trong máy kinh vĩT15
Hình 1.16
Hệ thống lăng,
thấu kính trong
máy kinh vĩ T30
Trang 14
Hình 1.17 Hệ thống lãng, thấu kính trong mây Kinh vĩ T2
15
Trang 151.2 UNG DUNG QUANG HỌC ĐỂ TỰ ĐỘNG BUA TRỤC NGAM
NAM NGANG
Việc ứng dụng quang học để tự động đưa trục ngắm nằm ngang là dựa vào tính chất tự cân bằng của cơ cấu đặc biệt là con lắc Dây treo con lắc trùng với phương của trọng lực luôn song song với phương dây dọi và gọi
là Compensator (nghĩa là cân bằng, bù trừ)
Nguyên lý hoạt động của bộ phận tự cân bằng Compensator như sau:
a) Compensator b) Compensator ¢) Compensator
là cánh tay đòn là ống thuỷ dài là con lắc lăng kính
Hình 1.18 Sự khúc xạ của tia sáng qua thấu kính
Trường hợp như hình (a) là ống kính nằm ngang, số đọc O¡ ở trên mia
| sẽ qua quang tâm kính vật (4) và rơi vào tâm O của màng dây chữ thập
Ở hình (b) là trường hợp ống kính bị nghiêng đi một góc nhỏ e, khi số đọc
O, duge tao anh tai O’, còn tâm O của lưới chữ thập sẽ trùng với số đọc tại O; trên mia Điều đó có nghĩa là tâm của lưới chỉ chữ thập đã dịch chuyển khỏi trục nằm ngang một đoạn OO"
Theo hình vẽ ta có OO" = f.tge = s.tg nhưng vì e, rất nhỏ nên có thể coi fe = s.B
Như vậy, nhiệm vụ của Compensator là phải đưa O trùng với O' thì tâm của lưới chữ thập phải dịch chuyển đi một lượng fe hoặc làm khúc xạ thay đổi hướng đi của tia ngắm để ảnh O\ rơi đúng vào tam O
Hình 1.19 Sử dụng con lắc lăng kính là hé théng Compensator
Trang 1920
Máy kinh vĩ Dahlta 010A Máy kinh vĩ Theo 010A
Trang 2122
Trang 22
Chương 2
MÁY KINH VĨ
2.1 NGUYÊN LÝ CẤU TẠO MÁY KINH VĨ
Máy kinh vĩ là dụng cụ trắc địa, chủ yếu dùng để đo góc, ngoài ra còn
đo khoảng cách và đo cao
2.1.1, Phân loại máy kinh vĩ
* Phân loại theo nguyên lý cấu tạo
1 Máy kinh vĩ - vành độ bằng kim loại, đọc số trực tiếp trên vành độ nhờ du xích bằng mắt thường hoặc kính lúp
Máy TT5, Zuho - Nhật
Hình 2.1 Máy kinh vĩ vành độ bằng kim loại
2 Máy kinh vĩ quang học - vành độ bằng thủy tỉnh, vị trí đọc số được truyền lên cửa số có thang vạch chuẩn qua hệ thống lang kính Đọc số trên
cửa số nhờ kính lúp
Máy Theo 020, 3T5KP, Wild T16
ze Hình 2.2 Máy kinh vĩ quang học
23
Trang 233 Máy kinh vĩ điện tử: thông qua bộ đếm trên vành độ, số đọc hiện trên màn hình
Máy T110, DT7C, T100
Hình 2.3 Máy kinh vĩ điện tử
* Phản loại máy kinh vĩ theo độ chính xác
Trang 24máy kinh vĩ kỹ thuật mạ = > 60”
Máy Theo 080 - Đức, STNO-
Pháp, T.30- Liên Xô, Tranxit 50- Mỹ
2.1.2 Sơ đô nguyên lý máy kinh
khắc trên bàn độ ngang (4) được lăng
kính phản xạ (7) đưa ngược lên qua hai
thấu kính (8) và (9) đến thang chuẩn
Hình 2.7 Máy kinh vĩ Theo 080
đọc số quang học (10) Sau đó hình ảnh của vạch khắc trên bàn độ ngang (4) và thang đọc số (10) nhờ lăng kính khúc xạ (11) truyền vào ống kính hiển vi Nhờ có lãng kính (12) và kính mắt (13) của ống kính hiển vi và dựa vào vạch chuẩn hoặc thang đọc số (10) mà ta có thể đọc được giá trị hướng ngang trên bàn độ ngang (4) Hình ảnh của bàn độ đứng (14) và
thang đọc số (10) cũng được truyền đồng thời vào ống kính hiển vi nhờ hệ thống lăng kính (3), (15), (16), (17), (18) và (11)
25
Trang 25* Đọi tâm quang học
Hệ thống quang học của ống dọi tâm quang học gồm kính vật của dọi
quang học (24), lang kính (25), kính điều ảnh (26) và kính mắt (27)
26
Trang 262.1.3 Cấu tạo các bộ phận cơ bản của máy kinh vĩ quang học
1 Các trục cơ bản của máy kinh vi
Bàn độ đứng
Trục ống thủy
Hình 2.9 Các trục cơ bản của máy kinh vĩ
27
Trang 272 Các bộ phận cơ bản của máy Theo 020
Hình 2.10 Máy kinh vĩ Theo 020
Các bộ phận chính:
5 Ốc điều chỉnh kính mắt 14 Ống kính đọc số
6 Ốc điều chỉnh kính vật 15 Gương chiếu sáng bộ phận đọc số
8 Oc ham trục quay máy TỰ Ống thuỷ tròn
10 Ốc hãm trục quay ống kính _ 19 Ốc cân bằng máy
11 Ốc vi động đứng 20 Định tâm quang học
3 Các bộ phận cơ bẩn của máy kinh vĩ
a) Ong kinh
Sơ lược về lịch sử ống kính máy trắc địa: Vào năm 1608, Lippessheim nhà chế tạo kính đeo mắt người Hà Lan đã phát minh ra kính viễn Vọng nhưng lúc đó vẫn chưa được thịnh hành Đến năm 1610 ở Ý, Calilec đã chế tạo ra kính LuneteCalilec và từ đó về sau kính viễn vọng mới bắt đầu được ứng dụng rộng rãi Năm 1611 Kepler chế tạo được kính thiên văn đơn giản
Từ 1660-1760 Huygens và Ramsden lân lượt chế tạo được các kính mắt tổ hợp khác nhau và khi đó ống kính mới dân được nâng cao Sau một thời 28
Trang 28gian khá dài, kính viễn vọng đều được chế tạo ra kiểu điều quang ngoài Đến 1909 nhà chế tạo máy trắc địa Thụy Sỹ Wild đã sáng chế được kính viễn vọng điều quang trong, ống kính có sự cải tiến rất lớn Nhưng các tính năng của ống kính như: độ phóng đại, độ sáng, khả năng phân ly và khả năng ngắm thường khống chế lẫn nhau, do đó việc cải tiến để nâng cao tính năng chung của ống kính rất khó khăn Hiện nay, các máy trắc địa đều
dùng ống kính điều quang trong
theo trục ngắm CC của ống kính Ông trụ thứ ba được gắn với hệ kính mắt
(7) Trục ngắm CC đi qua quang tâm của kính vật (2), kính điều quang (5)
và kính mắt (7) cùng với giao điểm của màng dây chữ thập (6) Ống kính
điêu quang trong khác với ống kính điều quang ngoài ở chỗ: kính vật và
kính gắn lưới chữ thập được gắn cố định ở thân ống kính, giữa chúng có đặt một thấu kính phân kỳ di động đóng vai trò “kính điều quang” Khi
van ốc điều quang, kính phân kỳ sẽ đi động, làm thay đổi khoảng cách
giữa kính vật và ảnh thật (hình 2.11) tới khi ảnh thật trùng với mặt phẳng
dây chữ thập thì qua kính mắt ta sẽ thấy ảnh ảo A”B” lớn hơn vật ngắm
29
Trang 29tụ quang và các kính với độ phóng đại không lớn lắm Để đạt được chất lượng ảnh tốt trong hệ thống kính quang học như kính vật cũng như giảm bớt khó khăn trong quá trình chế tạo, sửa chữa, những loại kính này làm
bằng thuỷ tỉnh quang học có hệ số chiết suất khác nhau Các kính này được lắp ghép với nhau, giữa các lớp kính là các lớp đệm bằng vòng kim loại hoặc bằng giấy thiếc
Tuy nhiên, việc ghép các kính lại với nhau lại gây nên hiện tượng hao hụt ánh sáng khi đi qua các kính Để giảm hiện tượng này, người ta đã nghiên cứu thành công phương pháp màng giảm phản xạ Chính vì thế mà chúng ta thấy các kính có màu xanh, màu tím hoặc màu xanh tím đó chính là kính đã được mạ một lớp rat mong Oxit Sillic-SiO, để tăng thêm
độ sáng trong các hệ thống kính quang học
30
Trang 30Hình 2.13 Hệ thống thấu kính, lăng kính trong ống kính
Vì vậy sau khi ánh sáng đi qua một môi trường kính thì bị chia ra làm
3 thành phần:
+ Phần phản xạ trở lại;
+ Phần bị kính hấp thụ;
+ Phần còn lại sau khi bị khúc xạ và đi qua thấu kính ra ngoài Hệ
số hao hụt ánh sáng nhiều hay ít tuỳ theo loại kính, nhưng thông thường
từ 0,2 - 2%
Qua nghiên cứu người ta thấy trong một ống kính viễn vọng loại cũ không có màng giảm phản xạ thì lượng ánh sáng bị mất đi từ 50% - 60%, thậm chí có trường hợp mất đi 70%
Hiện nay, có các phương pháp mạ màng giảm phản xạ như sau:
+ Dùng axit yếu cho tác dụng vào mặt kính: axit acetic -
CHạCOOH 0,5%; axit nitric - HNO; 0,5%; axit hydrochloric HCI 0,5%
+ Phương pháp hoá học, thuỷ phân một số chất hoá học làm thành
31
Trang 31màng mỏng trên kính Dùng dung dịch ethyl silicate thuỷ phân để thu được axit sHixit HaSiO¿, rồi làm ôxy siHic tách khỏi axit silixit và lắng xuống bám chặt vào kính
+ Phương pháp vật lý, trong chân không cho kim loại hoá hơi rồi
Có hai đây chỉ cơ bản là dây chỉ
đứng và dây chỉ ngang tạo thành
chữ thập Giao điểm của chúng là
điểm chuẩn để ngắm mục tiêu khi
đo Độ chính xác của lưới chữ thập Hình 2.14
được quyết định bởi các yếu +ưới chữ thập và các ốc hiệu chỉmh
+ Khoảng cách của cặp dây đo khoảng cách trên dây chữ thập
phải đảm bảo đúng bằng hệ số K của máy
Nếu lưới chữ thập có:
+ Sai s6 dai > 0,1mm va sai số góc > 5` là độ chính xác thấp
+ Sai số dài từ 0,01 - 0,1 mm và sai số góc từ 1'+5' là độ chính xác
+ Sai số dài từ 0,001 - 0,01mm và sai số góc từ 1”+1" là độ chính
xác cao
Hiện nay có một số phương pháp chế tạo lưới chữ thập như sau:
+ Loại lưới chữ thập tự căng bằng tơ nhện,
+ Loại lưới chữ thập tự căng bằng dây bạch kim 0,02mm
+ Khắc trên kính
+ In ảnh trên kính, là phương pháp được dùng phổ biến hiện nay
vì nó phù hợp cho các linh kiện sản xuất hàng loạt,
32
Trang 32Tấm kính khác lưới chữ thập này sẽ được cố định bởi bốn ốc điều chỉnh xung quanh
Tuỳ thuộc vào chức năng của từng loại máy mà lưới chữ thập có các đạng khác nhau
4d) Nguyên lý cấu tạo của dây do khoảng cách
Trong ống kính của máy kinh vĩ cũng như của phần lớn các loại máy trắc địa khác, trên lưới chữ thập người ta tạo một cặp dây chỉ ngắn đối xứng qua chữ thập (dây giữa): đó là cặp đây do khoảng cách
Trục quay (VV) của máy
Hình 2.16 Nguyên lý cấp dây do khoảng cách
Khoảng cách ngang D được tính theo công thức:
Trang 33Khoảng cách ngang Dẹ tính từ tam giác Ftg:
Góc trong máy kinh vĩ cố định và thường được chế tạo sao cho cotgB/2 : 2 = K (K hệ số của cặp đây đo khoảng cách), thông thường để
dễ tính toán người ta thường chế tạo K=100 hoặc K=200
e) Ong thuỷ dài là một ống thuỷ tỉnh hình ống, nếu cắt doc thay mat trong có dạng một cung tròn Tuỳ theo độ nhạy ống thuỷ mà bán kính R của cung đo khác nhau, thường R=3m +200m Trên mặt ống thuỷ dài có khắc vạch, cách đều các điểm giữa Khoảng cách giữa các vạch khắc là 2mm Độ nhạy của ống thuỷ dài là góc ở tâm cung dài 2mm có bán kính cong R:
„2mm „
cũng tuỳ theo từng loại máy khdc nhau, cé thé tir 1’+2’ dén 4’+5° O một
vài loại máy đo đạc thiên văn độ nhạy đến 1” Một ống thuỷ tốt không những phụ thuộc vào chất lượng thuỷ tỉnh làm thân ống mà phần lớn còn
đo độ tỉnh xảo trong lòng ống quyết định, cho nên việc mài độ cong đó rất khó khăn và công phu Ngoài ra, tuỳ theo độ nhạy mà chọn dung dịch lỏng cho vào ống thuỷ: thường dùng ête hoặc cồn tuyệt đối bơm đầy rồi dùng cách chườm nóng cho ête trào ra, để còn lại một ít bọt khí nhỏ gọi là bọt thuỷ, thường thì bọt khí có độ đài bằng 0,3+0,4 chiều dài thân ống (khi nhiệt độ ở 209C) rồi hàn kín ống lại
Tor prea)
Trang 34Tuy nhiên ở những nơi có điều kiện chênh lệch quá nhiều, người ta chế tạo một đầu nhỏ ở đầu dùng ống thuỷ để điều chỉnh chiều dài bọt khí Thân ống thuỷ được lắp trong một ống kim loại, hai đầu của ống kim loại được
thiết kế có các ốc điều chỉnh để nâng hạ hiệu chỉnh cũng như các ốc để gắn cố định vào mấy
Ngoài mặt ống thuỷ được chia khắc vạch với khoảng cách 2mm một gọi là khoảng chia ống thuỷ Vạch chính giữa S của các khoảng chia đó gọi là điểm O của ống thuỷ Vì thường nhìn hai đầu ống thuỷ để xác định
vị trí nên ít khi người ta khắc tất cả khoảng chia Trường hợp đó ta xem điểm O của ống thủy là tâm đối xứng của các vạch ở hai phía Tiếp tuyến
LL với cung ab của mặt trong ống thuỷ tại điểm S gọi là trục của ống thuỷ
? Ống thuỷ tròn
Ống thuỷ tròn có cấu tạo như hình vẽ 2.18 Ngoài cùng là vỏ bằng kim loại bảo vệ, bên trong ống thuỷ tỉnh chứa cồn nguyên chất hoặc ête và chứa
ít bọt tạo thành bọt thuỷ có đường kính từ 3+5mm Mặt trên của bọt thuỷ
tròn hình chỏm cầu có bán kính r = 0,5m, trên chỏm cầu người ta khắc hai
vòng tròn đồng tâm Khi tâm của bọt thuỷ nằm giữa vòng tròn thì trục của bọt thủy trùng với phương của dây đọi
Do bán kính của mặt cầu là khá nhỏ nên độ nhạy kém từ 3'+8”, đo đó
ống thuỷ tròn thường được dùng để cân bằng sơ bộ Vỏ của ống thuỷ tròn làm bằng kim loại để lắp vào máy, ống thuỷ tròn thường có 3 ốc điều chỉnh
tạo thành 3 đỉnh của tam giác đều, cũng có khi không có ốc điều chỉnh mà được cân và gắn chặt ngay tir lúc sản xuất tại xưởng
35
Trang 358) Trục của máy
Trục quay máy thường làm bằng đồng
hoặc bằng thép, tuỳ theo từng loại máy mà
trục có hình đạng kích thước khác nhau cho
thích hợp Việc sản xuất các hệ thống trục là
quá trình gia công tỉnh chế rất phức tạp, độ
tinh xảo yêu cầu rất cao Hình đáng của trục
có nhiều kiểu như: hình côn suốt, côn 2 mặt,
hình trụ Đối với các trục đứng thì phải đảm
bảo các yêu cầu chính sau:
+ Thân trục phải nhắn, tròn, nếu là
hình trụ thì phải thật thẳng và tiết diện ở bất
cứ đoạn nào cũng đều phải bằng nhau
Nếu là hình côn thì hai nấc côn cũng như
trục trong và ngoài phải đồng tam
+ Ổn định trong lúc quay máy,
không đảo, không lắc Thân trục không dài
quá làm giảm thấp trọng tâm của máy
+ Bảo đảm máy quay nhẹ nhàng,
trơn tru, không vấp váp, rít hay xộc xệch
Tuỳ theo cấu tạo, trục đứng có một số
dang như sau:
* Hệ thống trục I
Trục quay máy và bàn độ ngang gắn liền
với nhau Trục có dạng hình côn ngược, ở
giữa có chỗ lõm để giảm ma sát và dự trữ một
lượng đầu Loại trục này được sử đụng cho
các dòng máy do Pháp chế tạo
* Hệ thống trục II
Là loại trục cấu tạo đơn giản và đễ đặt
trục quay máy, độ bàn chính xác, trục quay
máy và trục của bàn độ ngang hoàn toàn cách
ly nhau, hơn nữa trục quay ổn định, vững
vàng Loại trục này được các hãng Nikon của
Nhật chế tạo cho máy NT-2CD, NT-2BD
Trang 36* Hệ thống trục [ÍI
Trục quay máy cho vào lồng trục bàn độ
ngang, đặc điểm của loại trục này là rất
khít, nhẹ nhàng, thích ứng cho máy kinh vĩ
loại nhỏ có ống kính ở giữa, nhược điểm là + —
trục quay máy dễ bị bàn độ ngang truyền sự
rung động Các loại máy Theo 10A, 20A
Là loại trục có dạng hình trụ thẳng có độ chính xác rất cao Loại trục
này có nhiều ưu điểm nên phần lớn các máy trắc địa hiện nay hay dùng
Trục được làm bằng thép đặc biệt và gia công rất tỉnh xảo Với loại trục này, mặt tiếp xúc của thân trục chỉ để giữ cho trục quay vững vàng, mà hoàn toàn không có lực nén nào cả Loại trục này sử dụng được lâu mà không bị mòn, để trục quay được nhẹ nhàng và giảm sức tải trọng của Hục người ta chế tạo đỉnh trục có dang mũi nhọn hoặc dùng vòng bị đỡ trục Ngoài ra, có thiết bị điều chỉnh trục lên xuống bằng vít hay nhíp lò xo Với loại trục này thì lớp đầu không bị nén giữa thân và lỗ trục nên lớp dầu được giữ lâu dài, không gây rít và khô dau
Thân và lỗ trục đều làm bằng thép tốt, hệ số giãn nở rất nhỏ, lại được
xử lý đặc biệt, độ tỉnh xảo gia công cao do đó cho phép máy hoạt động bình thường trong những điều kiện khí hậu chênh lệch rất lớn (-50%C đến
Bên trong bàn độ ngang là một đĩa tròn đồng tâm với bàn độ, trên đó khắc vạch chuẩn đọc số gọi là vòng đọc số Vòng đọc số tách rời và chuyển động độc lập sơ với vòng bàn độ, vạch chuẩn đọc số chỉ vào giá trị nào của bàn độ thì đó là giá trị số đọc trên bàn độ Vòng đọc số gắn liên
37
Trang 37với trục ống kính, do đó khi quay máy trong mật phẳng nằm ngang thì vòng đọc số cũng quay theo, còn vòng bàn độ ngang thì đứng yên
lành yom 30 00
mặt phẳng nằm ngang đi qua trục quay ống kính Khi tia ngắm nằm
ngang đọc được số đọc là 09 hoặc 909 Mặt khác, cách đánh số trên bàn
độ đứng không thống nhất cho mọi loại máy, tuỳ theo cách đo góc thiên đỉnh hay góc nghiêng chúng có thể được đánh số liên tục từ 09 đến 3609 thuận chiều hoặc ngược chiều kim đồng hồ, hoặc không liên tục mà đối xứng từ 09 đến 909
Trang 38- Màn hình đọc số bàn độ của một số loại máy kinh vĩ
Máy kinh vĩ Theo 020
Hz: 357° 4’ May kinh vi dién tir Leica T100 Vz: 92° 5’ V: 95° 46’ 20” H: 89° 59° 20”
onan
Hình 2.25 Bộ phận đọc số của máy kinh vĩ
2.1.4 Máy kinh vĩ điện tử
1 Cấu tạo máy kinh vĩ điện tử T100
Máy kinh vĩ điện tử có cấu tạo về cơ bản giống với máy kinh vĩ quang học Điểm khác biệt là các số đọc trên bàn độ ngang và bàn độ đứng được
mã hoá và thể hiện trên màn hình đọc số mà không phải đoán đọc như máy
kinh vĩ quang cơ
39
Trang 398 Ốc điều ánh 17 Ốc hãm trục quay máy
9 Ốc điều chỉnh dây chữ thập 18 Ống thuỷ tròn
2 Bàn độ điện tử mã hoá của máy kinh vĩ điện tử
Bàn độ mã hoá được mô tả trên hình 2.27 bao gồm 1 bóng đèn Z„ một
tụ điện, hai đi-ôt quang điện A và B và hệ thống lãng, thấu kính PI, P2, W,
Trang 40n=4, cho 16 vùng mã đánh số từ 0 đến 15 Có thể hiểu mỗi vùng mã là một
khoảng chia bàn độ Với hình 2.27b thì ta có khoảng chia bàn độ sẽ là
3609/2"=3609/16=22.59
Vì phía trên bàn độ có đèn chiếu sáng Z va hai di-6t quang điện A và
B, khi ánh sáng đi qua khoảng trắng sẽ tạo ra dòng quang điện mạnh, đi qua khoảng đen tạo ra quang điện yếu Nếu gán cho trạng thái có ánh sáng
đi qua là 1 và ngược lại ứng với Ô ta sẽ tạo ra mỗi vùng mã ứng với con số đếm trong hệ 2 Nối các vùng mã với máy đếm điện tử và giải mã ta sẽ nhận được giá trị góc đo hiển thị thông qua màn hình hiện số hoặc ghi vào
Lạ gắn với chuyển động của bộ phận ngắm
Bàn độ được chia thành m rẻ quạt có khoảng cách bằng nhau, và có khoảng cách góc là œọ gọi là chu kỳ chia Mỗi rẻ quạt lại chia thành 2 nửa sáng và tối để ánh sáng đi qua hoặc cản ánh sáng lại khi bàn độ chuyển động, giá trị vạch khắc bị Lạ và Lạ quét cho ra dòng quang điện ứng với
4I