Tính chất cháy được và khả năng hóa hợp dễ dàng với nhiều kim loại làm cho lưu huỳnh có vị trí ưu đãi đối với các nhà giả km thuật thời Trung cổ... Lịch sử ghi nhận năm tìm ra oxi là 177
Trang 1LƯU HUỲNH (S)
Là nguyên tố phi kim thứ hai được biết từ thời rất xa xưa Trong thiên nhiên, nhiều nơi
đã có những mỏ lưu huỳnh Đó cũng là lí do đề con người sớm biết lưu huỳnh
Lưu huỳnh tự sinh được thấy ở những nơi gần các núi lửa hoạt động Các khí thoát ra từ miệng núi lửa thường là những hợp chất lưu huỳnh, nên có giả thuyết cho rằng lưu huỳnh tự sinh là kết quả của phản ứng giữa các chất khí đó
2H2S + SO2 → 3S + 2H2O Ngoài ra, sự hoạt động lâu bền của các vi sinh vật trong đất cũng là nguyên nhân tạo thành lưu huỳnh tự sinh Những mỏ lưu huỳnh này thường ở xa núi lừa và không có chứa tạp chất selen Lí do đáng tin cậy ở chỗ, trong quá trình hoạt động để chyển các hợp chất sunfua thành lưu huỳnh, các vi sinh vật đã tránh không đụng đến selen, môt chất độc đối với chúng
Váo thời Hôme (khoảng thế kỉ 12-9 trước CN), những người cổ Hi Lạp đã biết đớt lưu
cái mùi và màu xanh của ngọn lửa lưu huỳnh có thể xua đuổi được ma quỷ
Thời Trung cổ đã biết dùng lưu huỳnh vá hợp chất của lưu huỳnh để điều chế sản phẩm
vá chữa bệnh ngoài da Thuốc súng có tên “lửa Hi Lạp” mà người Hi Lạp năm670 đã đốt cháy chiến thuyền của Ai Cập, có thành phần (lưu huỳnh, han diêm tiêu) và tỉ lệ gần như thuốc súng ngày nay
Tính chất cháy được và khả năng hóa hợp dễ dàng với nhiều kim loại làm cho lưu huỳnh
có vị trí ưu đãi đối với các nhà giả km thuật thời Trung cổ
Trang 2OXI (O) (1774)
Một ngà đáng ghi nhớ: 1 tháng 8 năm 1774
Đó là ngày mà nhà hóa học Anh Pritxli phát hiện ra oxi
Nhưng ai xứng đáng được ghi nhận tìm ra oxi?
Câu hỏi này mỗi quốc gia trả lời một cách khác nhau với đầy đủ những chứng cớ, tự hào
Người Trung Quốc cho rằng ngay từ thế kỉ 8, nhà triết học Trung Quốc Mao Hoa đã biết rằng không khí có hai thứ khí, khí thứ nhất có tính chất cháyđược và thở đươc Người Ý thì tự hào rằng chính nhà họa sĩ và bác học nổi tiếng của họ là Lêôna dơ Vinxi (1452-1519) đương thời đã nói đến không khílà một hỗn hợp hai khí trong đó chỉ có một khí dùng để thở và đốt cháy Đến lượt người Pháp thì ủng hộ cho Lavoadiê, người Anh thì ủng hộ cho Pritxli và người Thủy Điển thì chỉ biết có Sile (C.Scheele) mới là người phát hiện ra oxi đầu tiên
Tóm lại, không nước nào chịu thua ước nào! Cuộc tranh luận về quyền tác giả khám phá
ra oxi đã kéo dài 200 nămmới tạm yên Nhưng có một điều mà mọi người đều nhất trí rắng sự ra đời của oxi là cài móc lịch sử lớn lao của hóa học, là một cuộc cách mạng trong hóa học Hóa học có được một ngôn ngữ riêng, có giả thuyết và định luật riêng, từ chỉ sau khi oxi chính thức ra đời
Lịch sử ghi nhận năm tìm ra oxi là 1774 và tác giả gồm có hai người của hai nước khác nhau: Prixli, người Anh và Sile, người Thụy Điển – tên La Tinh chính thức của khí này
là “oxygenium”, do nhà hóa học Pháp Lavoadiê đặt ra năm 1779, vay từ hai chữ Hi Lạp
“oxus”có nghĩa là axit và “gennao” có nghĩa là sinh ra.Trước đó, khí này có rất nhiều tên gọi khác nhau: không khí tinh khiết, khôn khí dễ thở, không khí đã mất nhiên tố; không khí lửa; không khí sống…
Trang 3Trước tiên chúng ta chú ý đến công trình của Pritxli Ngày 1/8/1774, ông lấy một ít hợp chất thủy tinh màu đỏ (chúng ta hiểu đó là HgO) cho vào ống nghiệm, rồi dùng thấu kính (do ông sáng chế ra) để đốt nóng Ông nhận thấy có chất khí bốc ra và thủy ngân óng ánh xuất hiện Tình cờ lúc ấy có một cây nến đang cháy Pritxli đưa chất khí này gần cây nến cháy sáng rực chưa từng thấy, àm ông vô cùng ngạc nhiên nhưng không thể nào giải thích nổi
Ngày nay, chúng ta hiểu rằng thủy ngân oxi (HgO) có màu đỏ, dưới tác dụng của nhiệt,
bị phân hủy ra khí oxi và thủy ngân kim loại
Các em học sinh cần lưu ý rằng đây là trường hợp đặc biêt; chỉ có vài oxi kim loại (như
oxit kim loại bao giờ cũng dễ dàng hơn)
Vào thời gian trên, tại Thủy Điển , nhà hoa học Sile cũng đã tìm ra oxi bằng nhiều cách: nung nóng sanpêt (chúng ta hiểu điều đó là phản ứng sau đây:
cất hỗn hợp sanpêt với axit sunfuric Ông gọi khí mới là “không khí lửa”
Bản luận văn này mãi đến 1777 mới xuất bản nếu căn cứ vào năm xuất bản thì rõ ràng rắng Slile không thể được chấp nhận là đồng tác giả với Pritxli Tuy nhiên đã có một chứng cứ khác bảo đảm rằng nhà hóa học Thụy Điển đã tìm ra ít nhất ba tháng trước nhà hóa học Anh
Chứng cứ đó là: 1775 một nhà hóa học Thủy Điển khác tên là Becman (T Bergman) đã công bố một bài báo nói về sự khám phá ra ‘không khí lửa” (oxi) bởi nhà hóa học Sile Như vậy, vấn đề công bố trên tạp chí, nhất là tạp chí chuyên ngành, là cơ sở pháp lí để giữ bản qyền tác giả
Trang 4Bây giờ nói đến nước Pháp Năm 1774, trên một tờ báo, nha hóa họa Baiyăng (P.Bayen)cho rằng có một dòng khí, nặng hơn không khí thường , đã dính vào kim loại trong quá trình nung Ông đã thu được dòng khí đó khi nhiệt phân hợp chất của thủy ngân Ông còn nói thêm rằng khí này có thể biến kim loại thủy ngân thành hợp chất màu
đỏ (chúng ta hiểu răng đó là HgO)
Đáng tiếc, ông không tiếp tục đề tài của mình Ở Pháp còn một nhà hóa học nữa, tên tuổi rất quen thuộc đối với chúng ta, đó là Lavoadiê; vào thời gian này cũng đang nghiên cứu nguyên nhân tăng khối lượng của kim loại khi nung Nhà bác học Pháp này đã nghi ngờ
về tính khoa học của thuyết nhiên tố
Ông đã nghiên cứu một số chất khí cháy trong không khí và nhận định rằng không khí không phải là một vât thể đơn giản Trong không khí có phần duy trì sự cháy Phần không khí duy trì sự cháy là chất khí thuận lợi nhất cho sự hô hấp
Đến tháng 4 năm 1775, Lavoadiê đã đọc một bản báo cáo trước Viện Hàn lâm khoa học Pari, trong đó ông tuyên bố đã khám phá ra oxi, ông viết rằng oxi được tìm ra đồng thời bởi Prtxli, Sile và ông
Tuy nhiên về phương diện pháp lí, người ta chỉ thừa nhận Pritxli và Sile mà thôi Lí do
là tháng 10 năm 1774, hai tháng sau khi làm thí nghiệm đốt thủy ngân oxi (và cả
mà ông đã làm
Cho dù Lavoadiê không được công nhận là công đầu trong việc tìm ra nguyên tố oxi, nhưng toàn thế giới đều công nhận công lao vô cùng to lớn của Lavoadiê trong việc tìm
ra nguyên tố có tầm quan trông hang đầu
Lavoadiê ý thức được hơn ai hết vai trò của nguyên tố này Có được oxi trong tay, Lavoadiê đã giải thích đúng đắn sự tăng khối lượng của kim loại khi nung Ông đã thức
Trang 5tỉnh các nhà hóa học thế giới cuối thế kỉ 18, làm cho họ tự nguyện từ bỏ thuyết nhiên tố
và công nhận một thuyết mới về sự cháy tức là thuyết oxi
Cây cối là bguồn cung cấp oxi lớn lao nhất cho khí quyển Con số tính được là vào khoảng 400 000 triệu tấn / năm
ứng sau đây:
6CO2 + 6H2O → C6H12O6 + 6O2
Chúng ta cần biết ơn cây xanh nhường nào, thế mà có những em thanh thiếu niên chặt phá cây không chút lòng thương!
Trang 6SELEN (Se) (1817)
Bộ ba lưu huỳnh, selen, telu gọi là họ chancogen, thuộc phân nhóm chính nhóm VI Lưu huỳnh vì có ở trạng thái tự sinh nên đã được loài người biết từ thời Thương cổ Nhẽ ra nguyên tố phi kim selen được tìm ra sớm hơn nhiều, sớm hơn cả telu mới phải, bởi vì nó thường có lẫn trong khoáng vật của lưu huỳnh và trong mỏ lưu huỳnh
Sự thật thì ngược lại Chỉ đến năm 1718 nhà hóa học Thủy Điển Becdeliut mới tìm ra được selen trong bã thải của nhà máy điều chế axit sunfuric
Tháng 9 năm 1817, Becdeliut cùng người trợ lí của mình là Gan (G.Gahn) đi kiểm tra nhà máy sản xuất axit sunfuric Hai ông quan sát thấy trong axit vừa điều chế có một kết tủa hơi có màu Đưa kết tủa đốt trên ngọn đèn hàn thì nó biến thành những hạt có ánh chì và có mùi củ cải tía
Quan niệm của một số nhà hóa học thời ấy cho rằng đó là dấu hiệu của nguyên tố telu, bởi vì telu là một nguyên tố tương tự với lưu huuỳnh đã được tìm ra từ cuối thế kỉ 18 Phân tích kĩ nhiều lần kết tủa, Becdeliut kết luận rằng trong kết tủa có chứa một kim loại chưa biết, tính chất của nó giống với tính chất của telu
Kết quả việc nghiên cứu kết tủa và môt số tính chất của nguyên tố đã được công bố trên
tạp chí “Niên gím hóa học và vật lí” Ông đề nghị đặt tên cho nguyên tố mới là selen,
theo tiếng Hi Lạp có nghĩa là Mặt Trăng (vệ tinh của Trái Đất)
Cùng nhóm với telu, nguyên tố này có những tính chất tương tự và được dùng làm tế bào quang điện và để nắn dòng điện xoay chiều
Những máy ảnh hiện đại có bộ phận đo ánh sáng làm bằng selen
Trang 7TELU (Te) (1782)
Nhóm VI của bảng HTTH có 2 phân nhóm Phân nhóm phụ: Cr, Mo, W được tìm ra cuối thế kỉ 18
Phân nhóm chính gồm có O,S,Se,Te,Po
Trong nhiều sách giáo khoa, người ta quên gọi bộ ba nguyên tố: luu huỳnh, selen và telu
là họ chancogen, để chỉ 3 nguyên tố này trong nhóm VI Chữ “chalcos” theo tiếng Hi Lạp có nghĩa là vỏ Qủa Đất Nói là họ hang cũng đúng, bởi vì chúng giống nhau về tính chất hóa học Hơn nữa selen, telu là vệ tinh của lưu huỳnh Cả ba điều là nguyên tố phi kim
Đáng tiếc, selen trốn quá kĩ sau lưu huỳnh và telu, (mãi đến đầu thế kỉ 19 mới xuất hiện), thành thử họ chancogen tuy rất gần về tính chất huyết thống, nhưng tuổi tác lại rất
xa nhau!
Telu coi như có ba lần được cấp giấy khai sinh Lần thứ nhất là vào năm 1782, một lĩ sư
mỏ nước Áo tên là Mulơ (F Muller), về sau đổi tên Von Râysentêin (Baron von Reichenstein) đã phân tích hóa học một thứ quặng trắng được tìm thấy ở nước Áo và đã tách được những hạt kim loại, trông có vẻ giống như antimony Sau một năm nghiên cứu tiếp tục, ông cho rằng đó là một kim loại chưa biết
Để vững lòng tin, ông đã gửi một mẫu quặng để tham khảo ý kiến nhà khoáng vật học nổi tiếng Thủy Điển Becman
Mẫu quặng quá bé, không đủ để kết luận Thời gian trôi …
Ngày sinh thứ hai là 25-1-1798 Tại viện Hàn lêm khoa học Beclin, nhà hóa học Đức Claprot đã thong báo về việc tìm ra từ quặng màu trắng ( đã nói ở trên) một nguyên tố mới mà ông gọi là telu Tiếng La Tinh “tellus”có nghĩa là “ Quả Đất”
Trang 8Thật tình mà nói, Claprot đã nhận mẫu quặng của Mule đưa, nhưng ông cho rằng ông mới xứng đáng là người tìm ra nguyên tố telu!
Có lẽ cũng nên nói đến một người nữa có liên quan đến việc tìm ra nguyên tố telu Đó là nhà hóa học và thực vật học Kitâyben (P.Kiteibel) người Hunggari Năm 1789, ông nhận được một khoáng vật của một người đồng nghiệp
Lúc đầu người ta tưởng rằng đó là khoáng vật molipđenit có chứa bạc, nhưng Kitâyben
đã tách ra được một nguyên tố mới Đáng tiếc, ông đã không công bố sự phát hiện của ông mà chỉ mô tả những gì mình tìm thấy được qua thư từ trao đổi với một số bạn đồng nghiệp, trong đó có nhà khoáng vật Áo tên là Etxnơ (F.Estner)
Trong một thời gian dài, telu được coi như một kim loại Năm 1832, sau khi tìm ra được selen, Becdeliut cho thấy sự rất giống nhau giữa lưu huỳnh, selen và telu
Từ đó trở đi, telu được đưa vào danh sách những phi lim
Là một phi kim, telu cho những hợp chất trong đó nó thể hiện mức oxi hóa -2, +4 và +6
Nó có giá trị trong những ngành kĩ thuật hiện đại Những hợp chất của nó với kim loại, những telurua, có tính chất bán dẫn và có độ nhậy cao đối với các loại bức xạ Vì thế chúng được làm ống kính truyền hình,
Kim loạn chì có pha them telu sẽ có được những tính chất mới như bền cơ học, bền hóa học Trộn với thủy tinh nó làm tăng chiết xuất của thủy tinh
Trang 9POLONI (Po) (1898)
Nguyên tố này chiếm ô 84 Tính chất của nguyên tố này được Menđeleep tiên đoán
1870, căn cứ vào vị trí của nó trong cùng nhóm với lưu huỳnh, selen và tellu Theo ông, khối lượng nguyên tử của nó khoảng 212 (con số thực tế 209) Những tính chất khác của nguyên tố và hợp chất của nó cũng gần giống với những tiên đoán của Menđeleep
Tuy nhiên phương pháp hóa học thong thường đã nói trước đây không áp dụng được để phát hiện ra nguyên tố này, bởi vì nó thuộc dòng dõi của những nguyên tố phóng xạ tự nhiên
Liền sau khi Beccơren khám phá ra hiện tượng phóng xạ, nhà nữ vật lý và hóa học Balan Mari Sklađôpska (1867-1934) (Marie Sklodowska), vợ của giáo sư Pie Quy – ri (Pierre Curie) (1859-1906), bắt tay nghiên cứu một cách có hệ thống hiện tượng này Bởi vì tia phóng xạ có khả năng ion hóa không khí, nên bà đã dùng máy điện nghiệm (electroscop)
để đo Bà muốn biết, ngoài urani ra còn có những chất nào khác tương tự về tính chất như urani không
Đề tài luận án tiến sĩ của bà đã được thực hiện theo hướng này Bà phát hiện quặng urani thiên nhiên có tính phóng xạ gấp nhiều lần so với oxit nguyên chất của nó Bà bắt đầu tách quặng ra thành nhiều phân đoạn và xác định tính phóng tính phóng xạ của chúng Lúc này Pie Quy – ri cùng cộng tác với bà Phân đoạn tách với bitmut sunfua có tính phóng xạ gấp 400 lần so với urani Vì rằng bitmut sunfua tinh khiết không có tính phóng
xạ, nên bà đưa ra giả thuyết rằng trong phân đoạn này chắc phải có một nguyên tố phóng
xạ mạnh tồn tại dưới dạng hợp chất
Tại cuộc hợp của viện Hàn lâm khoa học Pari ngày 18 tháng 7 năm 1898, ông bà Quy-ri
đã đọc bảng báo nhan đề “ về một chất phóng xạ mới có chứa trong quặng urani” Thuật ngữ “tính phóng xạ”lần đầu tiên được đưa ra trong bảng báo cáo này, để nhấn mạnh nguyên tố được tìm ra bằng một phương pháp mới Họ đề nghị đặt tên nguyên tố là poloni, có nghĩa là nước Balan (Pologne, tiếng Pháp để chỉ nước Balan)
Trang 10Trước đây phương pháp quang phổ được dùng để nhận biết nguyên tố mới với lượng vô cùng bé , thì từ giờ trở đi có thêm một phương pháp mới, phương pháp đo độ phóng xạ,
để nhận biết nguyên tố mới với lượng ít ỏi như vậy,
Tất nhiên, lúc đầu hai nhà khoa học này đã nhầm khi cho bimut và poloni có tính chất hóa học giống nhau Poloni là một nguyên tố phóng xạ, nên càng khó nghiên cứu tính chấtcủa nó Vì vậy một số người bi quan cho rằng đó chẳng qua là bimut có lẫn dấu vết của những chất phóng xạ
Đến năm 1902, nhà hóa học Đức Macvan (W Marckwald) đã dùng 2 tấn quặng urani để thu phân đoạn bitmut và bằng phương pháp hóa học đã tách được một chất có tính
phóng xạ mạnh mà ông gọi là telu phóng xạ - Theo ông, nguyên tố mới này đặt trong
nhóm VI, nó có khối lượng nguyên tử lớn hơn bitmut, vào khoảng 210
Cuộc tranh luận khoa học nổi lên về bản chất của poloni và telu phóng xạ Nhiều nhà khoa học đứng về phe của ông bà Quy-ri
Cuối cùng, sự so sánh cho thấy telu phóng xạ chính là poloni Quyền tác giả của ông bà Quy-ri đối với nguyên tố poloni được thế giới xác nhận Đến năm 1912 thì nguyên tố này chính thức chiếm ô 84 trong bảng các nguyên tố hóa học Cho mãi đến năm 1946 mới điều chế ra được kim loại poloni
Poloni có chu kì bán hủy 138 ngày Nó phát ra tia α
Trang 11
CROM (Cr) (1797)
Bản thân kim loại crom có màu trắng bạc, nhưng điều thú vị ít có là những hợp chất của crom có màu sắc rất khác nhau
Có người sẽ tự hỏi, hợp chất thiên nhiên của crom có màu sắc đẹp, tại sao mãi đến những năm cuối cùng của thế kỉ 18 nguyên tố đó mới được tìm ra? Hay là trữ lượng của
nó quá ít trên Trái Đất?
Theo đánh của các nhà địa chất, crom là mnguyên tố dồi dào của vỏ Trái Đất Một số quặng crom đã được biết khá sớm Màu sắc bao giờ cũng là nguyên tố gây chú ý đầu tiên, nhưng nguyên nhân chủ yếu là không dễ tách kim loại này Ngay việc tách nó dưới dạng oxit cũng ngoài khả năng của các nhà hóa học thời bấy giờ
Quặng crom thường gặp là khoáng vật crocoit mà thời bấy giờ có tên gọi là quặng chì đỏ
Có thể nói ngay ở đây rằng tác giả tìm ra crom là nhà hóa học Pháp Vôcơlanh, trong 2 năm liền ông đã tìm ra 2 nguyên tố: crom(1797) và berili (1798)
Trước đó cũng đã có một số nhà hóa học phân tích quặng crocoit Chẳng hạn, năm 1766 nhà hóa học Đức Leman (I.Lehmann) đã dùng axit clohiiđric tác dụng lên khoáng vật và thu được một dung dịch màu ngọc bích rất đẹp, nhưng ông kết luận đó là muối chì có chứa tạp chất
Sau đó sự phân tích thành khoáng vật crocoit được lập lại nhiều lần, nhưng kết quả thu được mâu thuẫn nhau Mãi đến năm 1797, Vôcơlanh quyết định nghiên cứu lại khoáng vật crocoit một cách tường tận hơn và có tính đến những kinh nghiệm của những người
đi trước
Để không rơi vào sự mô tả quá dài, chúng tôi trình bày các thao tác thí nghiệm của