1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thủ tục phá sản tổ chức tín dụng

12 506 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài 5: Thủ tục phá sản tổ chức tín dụng I.Đặt vấn đề: Tổ chức tín dụng là một loại doanh nghiệp đặc biệt, thể hiện các đặc điểm, bao gồm: nội dung hoạt động hoạt động với tư cách là m

Trang 1

Đề tài 5: Thủ tục phá sản tổ chức tín dụng I.Đặt vấn đề:

Tổ chức tín dụng là một loại doanh nghiệp đặc biệt, thể hiện các đặc điểm, bao gồm: nội dung hoạt động (hoạt động với

tư cách là một trung gian tài chính trong nền kinh tế); cách thức hoạt động (có thể có rất nhiều tài khoản phục vụ cho hoạt động của mình và đồng thời phải quản lý một số lượng tài khoản hết sức lớn của khách hàng); khả năng tác động của sự đổ vỡ của một tổ chức tín dụng đến nền kinh tế (diễn

ra nhanh, ảnh hưởng rộng và tác động lâu dài) Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt (phá sản) của các tổ chức tín dụng được quy định mang tính đặc thù trong Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Bảo hiểm tiền gửi và các văn bản pháp luật có liên quan khác Trong khi đó, Luật Các tổ chức tín dụng quy định về phá sản tổ chức tín dụng, tại Điều 155 dẫn chiếu một cách chung chung đến pháp luật về phá sản Hơn nữa, việc phục hồi đối với tổ chức tín dụng được áp dụng theo thủ tục kiểm soát đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước trước khi tiến hành thủ tục phá sản.

Do vậy, Luật Phá sản 2014 đã dành một chương riêng (Chương VIII), từ Điều 97 đến Điều 104 quy định về thủ

Trang 2

tục phá sản đối với tổ chức tín dụng Đây là quy định hoàn

toàn mới so với quy định của Luật Phá sản 2004.

II.Thủ tục phá sản tổ chức tín dụng

1.

Về nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với TCTD

A Thời điểm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

Khác với thủ tục phá sản doanh nghiệp thông thường, Luật phá sản 2014 quy định rõ việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với TCTD chỉ thực hiện sau khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) có một trong những văn bản sau đây và TCTD vẫn mất khả năng thanh toán:

1 Văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt

2 Văn bản chấm dứt áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán

3 Văn bản không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán

Quy định này phù hợp với quy định của Luật các TCTD 2010.Theo đó, khi TCTD có nguy cơ mất khả năng chi trả hoặc khả năng thanh toán, NHNN sẽ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp kiểm soát đặc biệt đối với TCTD đó; và việc

mở thủ tục phá sản đối với TCTD sẽ được thực hiện khi

Trang 3

TCTD không có khả năng khôi phục được khả năng thanh toán và NHNN có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc văn bản không áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán

Như vậy, quy định về thời điểm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với TCTD theo Luật phá sản 2014 đảm bảo việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản chỉ được thực hiện khi TCTD thực sự không còn khả năng phục hồi, tránh trường hợp TCTD bị nộp đơn yêu cầu phá sản khi chưa thực sự lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, từ đó gây tâm lý hoang mang, ảnh hưởng tới hoạt động của TCTD đó nói riêng và hệ thống các TCTD nói chung

B Đối tượng có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu

mở thủ tục phá sản (Điều 98 Luật phá sản 2014)

Luật phá sản 2014 quy định rõ những người có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản TCTD, bao gồm:

1 Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn mà TCTD không thực hiện nghĩa vụ thanh toán

2 Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công

Trang 4

đoàn cơ sở nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, các khoản nợ khác đến hạn đối với người lao động mà TCTD không thực hiện nghĩa

vụ thanh toán

3 Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi TCTD mất khả năng thanh toán; Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi TCTD mất khả năng thanh toán trong trường hợp Điều lệ TCTD quy định

4 Thành viên hoặc người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hợp tác xã mất khả năng thanh toán

Luật phá sản 2014 cũng quy định rõ nghĩa vụ của TCTD nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản TCTD sau khi NHNN có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà TCTD vẫn mất khả năng thanh toán

Trang 5

Ngoài ra, Luật phá sản 2014 cũng quy định trường hợp TCTD không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, NHNN

có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với TCTD đó

2 Về thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với TCTD (Điều 99 Luật phá sản 2014)

Để phù hợp với quy định về thời điểm nộp đơn yêu cầu

mở thủ tục phá sản, Luật phá sản 2014 quy định: Tòa án nhân dân thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản TCTD khi

đã có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán của NHNN mà TCTD vẫn mất khả năng thanh toán

Điều 5 NĐ05/NĐ-CP/2010 quy định:

1 Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân cấp tỉnh) có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với tổ chức tín dụng đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh đó

2 Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của tổ chức tín dụng có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có thẩm

Trang 6

quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với tổ chức tín dụng có vốn đầu tư nước ngoài đó

3 Về hoàn trả khoản vay đặc biệt (Điều 100 Luật phá sản 2014)

Theo quy định tại Điều 151 Luật các TCTD 2010, TCTD lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả, đe dọa ổn định của

hệ thống các TCTD, TCTD có nguy cơ mất khả năng chi trả

do các sự cố nghiêm trọng khác thì được vay đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước và các TCTD khác Khoản vay đặc biệt được ưu tiên hoàn trả trước tất cả các khoản nợ khác, kể cả các khoản nợ có tài sản bảo đảm của TCTD

Trên cơ sở tính chất của khoản vay đặc biệt và phù hợp với quy định tại Luật các TCTD 2010, Luật phá sản 2014 đã quy định rõ khoản cho vay đặc biệt được hoàn trả cho Ngân hàng Nhà nước và TCTD khác trước khi thực hiện việc phân chia tài sản còn lại của TCTD phá sản theo quy định

Như vậy, để phù hợp và thống nhất với tinh thần quy định

của Luật Các tổ chức tín dụng và đảm bảo những đặc thù trong phá sản các tổ chức tín dụng, Luật Phá sản 2014 bổ sung quy định về hoàn trả khoản vay đặc biệt tại Điều 100 Theo đó, tổ chức tín dụng được vay đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tổ chức tín dụng khác theo quy định

Trang 7

của Luật Các tổ chức tín dụng mà bị tuyên bố phá sản thì phải hoàn trả khoản vay đặc biệt này cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tổ chức tín dụng khác trước khi thực hiện phân chia tài sản theo quy định của Luật Phá sản 2014

Quy định này nhằm đảm bảo tính ổn định, an toàn trong hoạt động của các ngân hàng Bởi vì, hệ thống các ngân hàng hoạt động liên quan chặt chẽ và có thể gây ảnh hưởng dây chuyền đến nhau Do đó, quy định này góp phần chặn đứng những cuộc phá sản dây chuyền có thể dẫn đến sự sụp đổ của hệ

thống các ngân hàng có liên quan đến nhau, gây ảnh hưởng

đến nền kinh tế chung của đất nước

4 Về thứ tự phân chia tài sản (Điều 101 Luật phá sản 2014)

Do đặc thù của hoạt động ngân hàng, thứ tự phân chia tài sản trong phá sản TCTD cũng khác với doanh nghiệp thông thường Để bảo đảm quyền lợi cho đối tượng gửi tiền tại TCTD và tổ chức bảo hiểm tiền gửi đã chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền, Luật phá sản 2014 quy định các khoản tiền gửi, khoản tiền tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải trả cho người gửi tiền tại TCTD phá sản được ưu tiên chi trả trước các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản

nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo

Trang 8

đảm không đủ thanh toán nợ Theo đó, thứ tự phân chia tài sản trong phá sản TCTD được thực hiện theo thứ tự như sau:

1 Chi phí phá sản;

2 Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã

ký kết;

3 Khoản tiền gửi; khoản tiền tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải trả cho người gửi tiền tại TCTD phá sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi và hướng dẫn của NHNN;

4 Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không

có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ

Trường hợp giá trị tài sản không đủ để thanh toán các khoản nợ nêu trên, các đối tượng thuộc cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ

5 Về việc trả lại tài sản nhận ủy thác, nhận giữ hộ khi

TCTD bị tuyên bố phá sản và thanh lý tài sản phá sản

(Điều 102 Luật phá sản 2014)

Trang 9

Theo quy định hiện hành, các TCTD được thực hiện hoạt động nhận ủy thác, giữ hộ, quản lý, bảo quản tài sản Theo đó, khách hàng chuyển giao tài sản cho TCTD giữ hộ, quản lý hộ theo hợp đồng cung cấp dịch vụ của TCTD hoặc chuyển giao tài sản cho TCTD theo hợp đồng ủy thác Tài sản này không được tính là tài sản của TCTD mà phải trả lại cho chủ tài sản khi TCTD bị phá sản

Do đó, Điều 102 Luật Phá sản 2014 quy định: trong

thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định tuyên bố TCTD phá sản, chủ sở hữu tài sản ủy thác cho TCTD, gửi TCTD giữ hộ, giao TCTD quản lý thông qua hợp đồng ủy thác, giữ hộ, quản lý tài sản phải xuất trình giấy tờ chứng minh quyền sở hữu và hồ sơ, giấy tờ liên quan với cơ quan thi hành án dân sự để nhận lại tài sản của mình

6 Về giao dịch của TCTD trong giai đoạn kiểm soát đặc biệt (Điều 103 Luật phá sản 2014)

Điều 59 Luật phá sản 2014, quy định về giao dịch bị coi vô hiệu nhằm ngăn chặn trường hợp doanh nghiệp cố tình tẩu tán tài sản trước phá sản, đảm bảo quyền lợi cho các chủ nợ của tổ chức bị phá sản Tuy nhiên, đối với TCTD trong giai đoạn kiểm soát đặc biệt, các giao dịch TCTD được thực hiện dưới sự kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước là

Trang 10

NHNN và đều là những giao dịch cần thiết cho việc đảm bảo khả năng thanh toán của TCTD

Do đó, Điều 103 Luật phá sản 2014 quy định giao dịch

của TCTD thực hiện trong giai đoạn NHNN áp dụng biện pháp kiểm soát đặc biệt hoặc áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán dưới sự kiểm soát của NHNN sẽ không áp dụng quy định về giao dịch vô hiệu quy định tại Điều 59 của Luật phá sản 2014

7 Về quyết định tuyên bố TCTD phá sản (Điều 104 Luật phá sản 2014)

Theo quy định của Luật các TCTD 2010, khi TCTD có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán, NHNN sẽ xem xét áp dụng thủ tục kiểm soát đặc biệt đối với TCTD Trong quá trình áp dụng thủ tục kiểm soát đặc biệt, NHNN áp dụng nhiều biện pháp để phục hồi hoạt động bình thường của TCTD nhưng TCTD không phục hồi được, NHNN có văn bản gửi Tòa án để phá sản

Do đó, khi mở thủ tục phá sản đối với TCTD, Luật

phá sản 2014 quy định Tòa án không áp dụng thủ tục Hội nghị chủ nợ và thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản lập xong danh sách

Trang 11

chủ nợ, danh sách người mắc nợ, bảng kê tài sản của TCTD, Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố TCTD phá sản

Quy định này nhằm đẩy nhanh tiến độ giải quyết phá sản TCTD, đảm bảo quyền và lợi ích cho các chủ nợ của TCTD và phù hợp đặc thù của TCTD

Luật phá sản 2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015, được kỳ vọng sẽ hạn chế đến mức thấp nhất những hậu quả

do phá sản gây ra, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ kinh tế trước những rủi ro trong kinh doanh

Trang 12

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Luật phá sản 2014

2 Giáo trình luật thương mại

3 Nghị định 22/2015 NĐ-CP

Ngày đăng: 01/04/2015, 08:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w