1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2003

17 357 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 346,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật đất đai năm 1993 (bao gồm cả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1998 và Luật sửa đổi, bổ sưng một số điều của Luật đất đai năm 2001) là một trong những đạo luật quan trọng thể hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta. Những kết quả đạt được trong việc thực hiện Luật đất đai năm 1993 là tích cực, thúc đẩy phát triển kinh tế, góp phần ổn định chính trị xã hội

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP

VỤ PHỔ BIÊN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2003

I SỰ CẦN THIẾT SỬA ĐỔI LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 1993

Luật đất đai năm 1993 (bao gồm cả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của

Luật đất đai năm 1998 và Luật sửa đổi, bổ sưng một số điều của Luật đất đai năm 2001) là một trong những đạo luật quan trọng thể hiện đường lối đổi mới của Đảng

và Nhà nước ta Những kết quả đạt được trong việc thực hiện Luật đất đai năm 1993

là tích cực, thúc đẩy phát triển kinh tế, góp phần ổn định chính trị - xã hội

Qua mười năm thực hiện Luật đất đai năm 1993, pháp luật về đất đai đã trở thành một trong những động lực chủ yếu để đưa nước ta vào nhóm những nước hàng đầu thế giới về xuất khẩu nông sản và thuỷ sản Kinh tê nông nghiệp đã thoát khỏi tình trạng tự cấp, tự túc và chuyển sang sản xuất hàng hoá; bộ mặt kinh tế- xã hội nông thôn được cải thiện Diện tích đất có rừng che phủ từ chỗ bị suy giảm mạnh, gần đây đã được khôi phục và tăng nhanh Cơ cấu sử dựng đất được chuyển đổi cùng với quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế Diện tích đất dành cho phát triển công nghiệp, dịch vụ; xây dựng kết cấu hạ tầng; xây dựng đô thị tăng nhanh, đáp ứng phần lớn nhu cầu sử dụng đất của giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Người sử dụng đất gắn bó hơn với đất đai, quyền sử đụng đất đã trở thành nguồn vốn lớn để người sử dụng đất đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh Thị trường bất động sản bao gồm quyền sử dụng đất tuy còn sơ khai nhưng đã thu hút một lượng vốn đáng kể vào đáu tư hạ tầng, chỉnh trang và phát triển đô thị, cải thiện dần về điều kiện nhà ở của nhân dân

Công tác quản lý nhà nước về đất đai đã đạt được những tiến bộ rõ rệt, hệ thống quản lý nhà nước vê đất đai được tăng cường, từng bước phân cấp và pháp huy tính tự chủ của địa phương

Tuy nhiên, trước tình hình phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội, pháp luật về đất đai đã bộc lộ rõ những hạn chế, đó là:

- Pháp luật về đất đai chưa xác định rõ nội dung cốt lõi của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước thống nhất quản lý Vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân

về đất đai của Nhà nước chưa được xác định trong luật

- Pháp luật về đất đai chưa đủ tầm giải quyết một cách có hiệu quả những vấn

đề về đất đai để đáp ứng yêu cầu đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thời kỳ mới

Trang 2

- Pháp luật về đất đai chưa thực sư theo kịp với tiến trình chuyển đội nền kinh

tế thị, trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tê có hiệu quả Luật đất đại quy định tương đối tập trung vào biện pháp quản lý hành chính và vẫn còn mang nặng tính bao cấp, trong khi các mối quan hệ về kinh tế được đề cập, điều chỉnh còn ít Chưa có đủ các chế định cần thiết về định giá đất, về điều tiết địa tô chênh lệch, về điêu tiết lợi nhuận qua chuyển nhượng quyền sử đụng đất, về bồi thường khi thu hồi đất, về đấu thầu đấu giá quyền sử đụng đất

- Pháp luật về đất đai chưa giải quyết được những tồn tại lịch sử trước đây về đất đai, cũng như những vấn đề mới nảy sinh Trong thực tế, vấn đề đòi lại nhà, đất vẫn tiếp tục xảy ra và còn có ý kiến khác nhau trong xử lý Tình trang vi phạm pháp luật, tranh chấp, khiếu nại về đất, đai vẫn tiếp tục là vấn đề bức xúc trong khi các quy định và chế tài giải quyết còn thiếu hoặc ít mang tính khả thi

- Nhiều nội đung của pháp luật về đất đai mới dừng ở mức độ quy định nguyên tắc, quan điểm mà thiếu các văn bản quy định cụ thể nên việc hiểu pháp luật

và thực thi pháp luật còn khác nhau giữa các ngành, các cấp Pháp luật về đất đai hiện hành vừa cồng kềnh vừa kém hiệu lực

Để khắc phục những thiếu sót nêu trên, thực hiện Nghị quyết số 12/2001QH11 về chương trình xây dựng luật, phập lệnh của Quốc hội khoá XI (2002 -2007), tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội Khoá XI đã thông qua Luật đất đai mới - Luật đất đai năm 2003 thay thế Luật đất đai năm 1993

II QUAN ĐIỂM VÀ NGUYÊN TẮC CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2003

1 Bảo đảm phù hợp với nguyên tắc cơ bản mà Hiến pháp đã quy định - đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, đồng thời thể chế hoá các quan điểm đã được xác định trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp

hành Trung ương Đảng khoá IX về 'Tiếp tục đổi mới chính sách, phápluật về đất

đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoạ đất nước ''

Hiến pháp là đạo luật cơ bản, đạo luật gốc của hệ thống pháp luật Mọi văn bản quy phạm pháp luật khác đều phải phù hợp với Hiến pháp, ''Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý'' là nguyên tắc được quy định tại Điều

17 và Điều 18 của Hiến pháp, quy định này đã được cụ thể hoá bằng Điều 5 Luật đất đai năm 2003

Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX Đảng ta đã vạch ra những hạn chế của pháp luật về đất đai trong thời gian qua, đồng thời chỉ rõ những nguyên nhân và đề ra các biện pháp khắc phục Các quan điểm của Đảng trong Nghị quyết nói trên đã được thể chế hoá khá đầy đủ và cụ thể trong Luật đất đai năm 2003: Ví dụ: một trong những biện pháp quan trọng mà

Đảng thấy cần phải thực hiện là: ''Đổi mới chính sách, pháp luật vềđất đai phù hợp

với đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Chủ động phát triển vững chắc thị trường bất động sản (trọng tâm là tại các đô thị) có

Trang 3

sự quản lý về điều tiết của Nhá nước, với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; không tách rời thị trường quyền sử dụng đất về các tài sản gắn liền với đất; chống đầu cơ đất đai '' Quan điểm nói trên

của Đảng ta về thị trường bất động sản đã được thể chế hoá bằng quy định tại các điều 61,62,63 của Luật

2 Kế thừa những nội đung còn phù hợp của Luật đất đai hiện hành, luật hoá một số quy định tại các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai đã được cuộc sống chấp nhận, đồng thời đưa vào Luật những nội dung mới cần sửa đổi, bổ sung nhằm tạo lập một hệ thống pháp luật, đáp ứng cho thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Những thành quả về kinh tế - xã hội đã đạt được trong thời gian qua nhờ thực hiện pháp luật về đất đai cho thấy nhiều quy định của Luật đất đai năm 1993 nói riêng, pháp luật về đất đai hiện hành nói chung là phù hợp và được cuộc sống chấp nhận, các quy định đó cần phải được tiếp tục khẳng định Quan điểm này của Đảng

đã được quán triệt sâu sắc trong Luật đất đai năm 2003, rất nhiều quy định của Luật

là sự kế thừa nội dung pháp luật về đất đai hiện hành

Quá trình chuyển đổi nền kinh tế, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cùng những thay đổi khác về kinh tế - xã hội đòi hỏi pháp luật về đất đai phải được điều

chỉnh để đáp ứng yêu cầu của thực tế cuộc sống Quan điểm của Đảng:"đưa vào Luật

những nội dung mới cần sửa đổi, bổ sung ,nhằm tạo lập một hệ thống pháp luật đáp ứng cho thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" đã được thực

hiện trong Luật đất đai năm 2003 bằng rất nhiều sửa đổi, bổ sung so với pháp luật về đất đai hiện hành (sẽ nói kỹ ở phần sau)

3 Gắn việc sửa đổi Luật đất đai với yêu cầu đổi mới việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật và cải cách nền hành chính Nhà nước

Cải cách thể chế hành chính là một nội dung quan trọng của cải cách hành chính nhà nước Một số thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp gây khó khăn cho người dân cần nhanh chóng gỡ bỏ Quy định về thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất trước đây là một ví dụ tiêu biểu của những thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp cần được gỡ bỏ đó Luật đất đai năm 2003 quy định việc đăng ký quyền sử dụng đất được thực hiên tại " Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất " Có thể nói, quy định này là minh hoạ tiêu biểu cho việc thể chế hoá quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về cải cách thủ tuc hành chính theo cơ chế ''một cửa'' trong Luật đất đai nam 2003

III NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2003

Luật đất đai năm 2003 gồm 7 chương, 146 điều Được bố cục cụ thể như sau::

- Chương I: Những quy định chung, gồm 15 điều từ Điều 1 đến Điều15)

Trang 4

- Chương II: Quyền của Nhà nước đối với đất đai và quản lý nhà nước về đất đai, gồm 50 điều (từ Điều 16 đến Điều 65)

- Chương III: Chế độ sử dụng các loại đất, gồm 39 điều (từ Điều 66 đến Điều 104)

- Chương IV: Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, gồm 17 điều (từ Điều

105 đến Điều 121)

- Chương V: Thủ tục hành chành về quản lý và sử dựng đất đai, gồm l0 điều (từ Điều 122 đến Điều 131)

- Chương VI: Thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và xử lý viphạm pháp luật về đất đai, gồm 13 điều (từ Điều 132 đến Điều 144)

- Chương VII: Điều khoản thi hành, gồm 2 điều (Điều 145 và Điều 146) Như vậy, về hình thức Luật đất đai năm 2003 không có đoạn mở đầu như Luật

đất đai năm 1993, số chương vẫn được giữ nguyên (7 chương) còn số điều

tăng thêm là 57 điều Về tên của các chương, có 4 chương vẫn giữ nguyên tên

gọi như trong Luật đất đai năm 1993, đó là: Chương I Những quy định chung;

Chương III Chế độ sử đụng các loại đất; Chương IV Quyền và nghĩa vụ của người

sử dụng đất và Chương VII Điều khoản thi hành Tên của Chương II không còn đơn thuần là ''Quản lý nhà nước về đất đai'' như trong Luật đất đai năm 1993 nữa, mà đã được bổ sung thành ''Quyền của Nhà nước đối với đất đai và quản lý nhà nước về đất đai'' Tên của Chương VI Luật đất đai năm 2003 không còn là ''Xử lý vi phạm'' như trong Luật đất đai năm 1993, mà là ''Thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại,

tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai'' Luật đất đai năm 2003 không có chương quy định riêng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài (các quy định về vấn đề này được bố trí chung vào các điều áp dụng cả cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước), thay thế vào chương này là một Chương hoàn toàn mới: Chương V Thủ tục hành chính về quản lý và sử dụng đất đai

Một thay đổi đáng chú ý là từng điều của Luật đất đai năm 2003 đều đã được đặt tên, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật lập pháp cao, tạo thuận lợi cho việc tìm hiểu, tra cứu và áp dụng

1 Chương I - Những quy định chung

Chương này gồm 15 điều, tăng 3 điều so với Chương I Luật đất đai năm 1993.

Ngoài việc tiếp tục khẳng 'định những quy định đã có trong Luật đất đai năm 1993 như các quy định về sở hữu đất đai, về quyền hạn và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên và cống dân, về phân loại đất Chương này được bổ sung thêm một số quy định mang tính định hướng quan trọng như: phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, những hành vi bị nghiêm cấm

Trang 5

Về phạm vi điều chỉnh: Theo Điều 1, Luật đất đai năm 2003 điều chỉnh 3

nhóm quan hệ về đất đai, đó là quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước; chế.độ quản lý và sử đụng đất đai; quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

Về đối tượng áp dụng: Luật được áp dụng đối với các cơ quan nhà nước thực

hiện quyền hạn và trách nhiệm đại diện chủ sở hữu toàn đần về đất đai,thực hiện nhiệm vụ thống nhất quản lý nhà nước về đất đai; với người sử đụng đất và với các đối tượng khác có liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất (Điều 2)

Về trật tự áp dụng pháp luật: Theo Điều 3, các quy định của Luật này được

ưu tiên áp dụng đối với các quan hệ về quản lý và sử dụng đất đai, chỉ trong trường hợp Luật này không quy định thì mới áp dựng các quy định của pháp luật có liên quan Riêng trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy định của Luật này thì áp đụng quy định của điều ước quốc tế đó

Điều 4 được dành riêng để giải thích một số từ ngữ trong Luật này Đây 1à việc làm cần thiết nhằm thống nhất cách hiểu về các từ ngữ được giải thích, tránh hiểu sai lệch dẫn tới việc thực hiện không đúng Luật

Điều 9 liệt kê các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước được gọi chung là ''người sử dựng đất"

Điều 11 quy định về ''Nguyên tắc sử đụng đất đai", theo đó việc sử đụng đất phải bảo đảm các nguyên tắc sau:

- Đúng quy hoạch, kế hoạch và mục đích sử dựng đất;

- Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không lám tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh;

- Trong thời hạn sử dụng, người sử dựng đất phải thực hiện các quyền, nghĩa

vụ của mình theo quy định của pháp luật

Điều 15 quy định về những hành vi bị nghiêm cấm, trong đó /bệt kê các hành

vi vi phạm pháp luật về đất đai của người sử dụng đất cũng như của người có thẩm quyền quản lý đất đai

Ngoài những quy định mới được bổ sưng nói trên, một số quy định đã có trong Luật đất đai năm 1993 cũng đã được sửa đổi, bổ sung Ví dụ: Ngoài việc tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân như trong Luật đất đai năm 1993, Luật quy định Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu Nhà nước giữ quyền định đoạt cao nhất đối với đất đai bằng việc thực hiện những quyền năng cụ thể như:

quyết đính mục đích sử dụng đất (thông qua việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất), quy đinh thời hạn sử dụng đất giao đất, cho thuê đâ't, thu hồi đất, định giá đất.

Trên cơ sở đó Luật đất đai đã quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của từng cơ quan nhà nước và của từng cấp chính quyền trong việc thực hiện nhiệm

vụ của người đại diện

Trang 6

Nhà nước có quyền hưởng lợi từ đất đai thông qua các chính sách tài chính về đất đai như: thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; thu thuế sử dụng đất, thuế thu nhập

từ chuyển quyền sử đựng đất; điều tiết phần giá trị tăng thêm từ' đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại

Nhà nước trao quyền sử dựng đất cho người sử dựng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất

ổn định; quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

Với việc làm rõ vai trò của Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, Luật đất đai đã phân định rõ ranh giới giữa quyền của chủ sở hữu đất đai với quyền của người sử dụng đất, nâng cao nhận thức của người sử dụng đất về nghĩa vụ của họ đối với chủ sở hữu đất đai Ngoài việc tiếp tục quy định về trách nhiệm cấp giấy chứng nhấn quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất, không thừa nhận việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước cách mạng qua các thời kỳ, tạo điều kiện cho người tiếp tục sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, lâm nghiệp có đất sản xuất như trong Điều 2 của Luật đất đai năm 1993, Điều 10 Luật đất đai năm 2003 còn quy định Nhà nước

có chính sách ưu đãi đầu tư, đào tạo nghề, phát triển ngành nghề, tạo việc làm cho người lao động nông thôn phù hợp với quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Luật đất đai năm 1993 phân đất ra thành 6 loại (đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư nông thôn, đất đô thị, đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng): Việc phân loại đất vừa theo tiêu chí mục đích sử chủ yếu vừa theo tiêu chí không gian dẫn đến sự đan xen, chồng chéo giữa các loại đất, gây khó khăn cho việc quản

lý, sử dụng đất đai Để tạo điều kiện cho việc quản lý vĩ mô của Nhà nước, phù hợp với tiến trình công nghiệp hoa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời tạo thuận lợi cho người sử dụng đất chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chuyển địch cơ cấu kinh tế, Luật đất đai năm 2003 phân chia đất thành 3 nhóm theo tiêu chí mục đích sử dụng, đồng thời quy định căn cứ để xác định từng loại đất Cụ thể như sau:

- Nhóm đất nông nghiệp, bao gồng các loại đất:

a) Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa, đất đồng cỏ đùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác;

b) Đất trồng cây lâu năm;

c) Đất rừng sản xuất;

d) Đất rừng phòng hộ;

đ) Đất rừng đắc dụng;

e) Đất nuôi trồng thuỷ sản;

g) Đất làm muối;

h) Đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ,

Trang 7

- Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại đất:

a) Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đơ th/;

b) Đạt xây dựng trụ sở cơ quan xây dựng công trình sự nghiệp;

c) Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh;

d) Đạt sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất xây dựng khu công

nghiệp; đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm;

đ) Đất sử đụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông, thuỷ lợi; đất xây dựng các công trình văn hoá, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao phục vụ lợi ích công cộng; đất có đi tích lịch sử - văn hoá, danh lang thắng cảnh; đất xây

dựng các công trình 'công cộng khác theo quy định của Chính phủ;

e) Đất do các cơ sở tôn giáo sử dụng;

g) Đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ;

h) Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa;

i) Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng;

k) Đất phi nông nghiệp khác theo quy đinh của Chính phủ

- Nhóm đất chưa sử đụng bao gồm các loài đất chưa xác định mục đích sử dụng đất

Nội dung quản lý nhà nước về đất đai: Trong Luật đất đai năm 1993, nội

dung quản lý nhà nước về đất đai được quy định tại Điều 13, Chương II Trong Luật này ''Nội dung quản lý nhà nước về đất đai'' được quy định tại Điều 6, Chương I Nội dung quản lý nhà nước về đất đai được bổ sung đầy đủ và hoàn chỉnh hơn Một số nội dung mới được bổ 'sung như: thống kê, kiểm kê đất đai đặc biệt là quản lý tài chính về đất đai, quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai

2 Chương II- Quyền của Nhà nước dối với đất dai và quản lý nhà nước về đất đai

Chương này gồm 50 điều (tăng 21 điều so với Chương II Luật đất đai năm 1993) quy định về quyền của Nhà nước đối với đất đai và quan lý nhà nước về đất đai, Chương có 8 mục

2.l Mục l: gồm 5 điều (từ Điều 6 đến Điều 20) quy định về việc lập và quản lý

hồ sơ địa giới hành chính, các loại bản đồ về đất đai Thẩm quyền của các cơ quan nhà nước về địa giới hành chính được quy định tại Điều 16, về bản đồ hành chính được quy định tại Điều 18, về bản đồ địa chính được quy định lại Điều 19 Điều 20 quy định về trách nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường và UBND các cấp trong

Trang 8

việc lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất Bản đồ hiện trạng sử dụng đất được lập năm năm một lần, còn bản đồ quy hoạch sử dụng đất được lập mười năm một lần

2.2 Mục 2: gồm 10 điều (từ Điều 21 đến Điều 30) quy định khá chi tiết về các

vấn đề liên quan tới việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Việc lập quy hoạch,

kế hoạch sử dụng đất như Luật đất đai năm 1993 không phù hợp với việc quản lý

đất tại đô thị Để bảo đảm sự phù hợp với việc quản lý đất đai tại đô thị và tính thống nhất trong sử dụng đất phát triển đô thị, Luật đất đai không giao cho phường, thị trấn, các xã thuộc khu vực quy hoạch phát triển đô thị lập quy hoạch sử dụng đất

mà do Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp lập quy hoạch, kế hoạch sử đung đất, đồng thời để tránh tình trạng quy hoạch ''treo'' như hiện nay, Luật quy định: Diện tích đất ghi trong kế hoạch sẽ dụng đất đã được công bố phải thu hồi để thực hiện

dự án, công trình hoặc phải chuyển mục đích sử dụng đất mà sau ba năm không được thực hiện theo kế hoạch thì cơ quan nhà.nước có thẩm quyền xét duyệt kế hoạch sử dụng đất phái điều chỉnh hoặc huỷ bỏ Điều 28 quy định cụ thể về việc công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Theo đó, trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cơ nhiệm công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết của địa phương tại trụ sở UBND Cơ quan quản lý đất đai các cấp có trách nhiệm công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương tại trụ sở cơ quan và trên các phương tiện thông tin đại chúng Việc công bố phải được thực hiện trong suốt thời gian của kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có hiệu lực Quy định này nhằm chấm dứt việc người dân không được biết về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, dẫn tới tình trạng vi phạm nghiêm trọng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất như hiện nay

2.3 Mục 3: gồm 8 điều (từ Điều 31 đến Điều 37) quy định về giao đất, cho

thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất So với các quy định của Luật đất đai năm

1993, quy định của Luật này về thẩm quyền giao đất, cho thuê đất được sửa đổi, bổ sung theo hướng tiếp tục phân cấp cho địa phương và thực hiện cải cách hành chính trong lĩnh vực đất đai Mọi việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đều được phân cấp cho chính quyền địa phương nhằm giảm bớt những công việc có tính chất sự vụ của Chính phủ, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho địa phương trong việc thu hút các dự án đầu tư, nâng cao trách nhiệm của địa phương trong, việc quản lý, sử dụng đất đai Thẩm quyền cụ thể được quy định như sau:

- Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với tổ chức; giao đất đối với cơ sở tôn giáo; giao đất, cho thuê đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài; cho thuê đất đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài

- Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân; giao đất đối với cộng đồng dân cư

Trang 9

- Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp

sử dụng đất vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn

2.4 Mục 4: gồm 8 điều (từ Điều 38 đến Điều 45) quy định về thu hồi đất Luật

đất đai năm 1993 quy định chỉ thu hôi đất khi đã có dự án đầu tư cụ thể, nay Luật

đất đai nam 2003 quy định Nhà nước thực hiện việc thu hổi đất, bồi thường, giải phóng mặt, bằng sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dựng đất được công bố hoặc khi dự

án đầu tư có nhu cầu sử dụng đất phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được

cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, nhằm để chủ động quỹ đất cho đầu tư phát triển Đồng thời, Luật đất đai năm 2003 quy định Nhà nước giao cho lổ chức phát triển quỹ đất (do Uỷ ban ngân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành lập) để thực hiện việc thu hồi đất, bồi ,thường, giải phóng mặt bằng và trực tiếp quản lý quỹ đất đã thu hồi đối với trường hợp sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dựng đất được công bố mà chưa có dự án đầu tư Luật đất đai năm 2003 quy định Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế trong trường hợp đầu tư xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các

dự án của Chính phủ Đối với các trường hợp khác mà việc quy hoạch thì nhà đầu tư được nhận chuyến nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất, không phải thực hiện thủ tục thu hồi đất Quy định như vậy là nhằm giảm

sự can thiệp bằng biện pháp hành chính và

khuyến khích sự thoả thuận giữa người có nhu cầu sử dụng đất và người có quyền sử dụng đất

Về bồi thường khi thu hồi đất, cùng vời việc quy định rõ những trường hợp

được bồi thường về đất (những người có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định) Luật đất đai năm 2003 còn quy định rõ những trường hợp thu hồi đất mà không được bồi thường tại Điều 43: Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải thực hiện các dự án tái đính cư trước khi thu hồi đất Khu tái định

cư phải có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi cũ Quy định này nhằm góp phần tháo gỡ những vướng mắc trong việc bồi thường giải phóng mặt bằng hiện nay

2.5 Mục 5: gồm 8 điều (từ Điều 46 đến Điều 53) quy định về đăng ký quyền

sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thống kê, kiểm kê đất đai

Về đăng ký đất đai, Luật đất đai năm 1993 qui định việc đăng ký quyền sử đất

thực hiện tại UBND xã, phường, thị trấn, còn Điều 46 Luật đất đai năm 2003 quy định việc đăng ký quyền sử dụng đất được thực hiện tại “văn phòng đăng ký quyền

sử dụng đất'' Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất là cơ quan dịch vụ công có chức năng quan lý hồ sợ địa chính gốc, chỉnh lý thống nhất hồ sơ địa chính, phục vụ người sử dụng đất thực hiện các quyền và nghĩa vụ Với quy định này, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về cải cách thủ tục hành chính theo

cơ chế “một cửa” đã được Luật đất đai năm 2003 thể chế hóa cụ thể, rõ ràng và dứt khoát

Trang 10

Điều 49 liệt kê đầy đủ các trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Điều 50 quy định chi tiết về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất, trong đó khoản 1 quy định về những trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không phải nộp tiền sử dụng đất

Về thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Luật đất đai năm 2003 quy định cấp nào có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất thì cấp đó có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tuy vậy, để phù hợp với tiến trình cải cách hành chính, tùy theo điều kiện cụ thể của địa phương, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thể ủy quyền cho cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

2.6 Mục 6: gồm 7 điều (từ Điều 54 đến Điều 60) quy định về giá đất và tài

chính về đất đai So với Luật đất đai năm 1993, nhiều nội dung mới đã luật hóa tương đối chi tiết

Về các khoản thu từ đất: quy định rõ có 7 nguồn thu từ đất đai, trong đó thuế chuyển quyền sử dụng đất được thay bằng thu thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất

Về nguyên tắc định giá đất: phải bảo đảm sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường; khi có chênh lệch lớn

so với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường thì phải điều chỉnh cho phù hợp

Về thẩm quyền xác định giá đất: Chính phủ quy định phương pháp xác định giá đất cho từng vùng, theo từng thời gian; trường hợp phải điều chỉnh giá đất và việc

xử lý chênh lệch giá đất liền kề giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định được công

bố vào ngày 01/01 hàng năm để người sử dụng đất thực hiện các nghĩa vụ tài chính

về đất đai trong năm đó

Luật cho phép tổ chức có điều kiện, năng lực chuyên môn làm dịch vụ tư vấn

về giá đất để thuận lợi trong giao dịch quyền sử dụng đất

Luật đất đai năm 2003 còn bổ sung quy định về đấu giá quyền sử dụng đất và đấu thầu dự án trong đó có quyền sử dụng đất nhằm khắc phục những tiêu cực trong

cơ chế xin - cho quyền sử dụng đất và để tăng thu cho ngân sách nhà nước

2.7 Mục 7: gồm 3 Điều (từ Điều 61 đến Điều 63) quy định về quyền sử dụng

đất trong thị trường bất động sản

Lần đầu tiên, Luật đất đai qui định quyền sử dụng đất được tham gia thị trường bất động sản Bước đầu, để đặt nền móng cho việc quản lý chặt chẽ thị trường bất động sản, trong đó có quyền sử dụng đất, Luật đất đai năm 2003 quy định cụ thể những đất được tham gia thị trường bất động sản, các điều kiện để đất tham gia th! trường bất động sản (Điều 61)

Ngày đăng: 26/03/2015, 08:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w