Trong thời gian thực tập tốt nghiệp của mình, bên cạnh việc tìm hiểu về mạng máy tính, em thấy việc thiết kế và mô phỏng một mạng trong thực tế là một điều không đơn giản về mặt công ngh
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU 3
CHƯƠNG 1. MẠNG MÁY TÍNH 4
1.1 Khái quát về mạng máy tính 4
1.1.1 Lịch sử phát triển của mạng máy tính 4
1.1.2 Định nghĩa 4
1.1.3 Phân loại mạng 5
1.1.4 Mạng toàn cầu Internet 8
1.2 Thiết kế và hoạch định một mạng 8
1.2.1 Một số dịch vụ cơ bản trên mạng 9
1.2.2 Xu hướng tích hợp các dịch vụ trong mạng hiện nay 10
CHƯƠNG 2. PHẦN MỀM THIẾT KẾ VÀ MÔ PHỎNG MẠNG BOSON NETSIM TM 13
2.1 Phần mềm thiết kế và mô phỏng mạng Boson NetSim 13
2.1.1 Tổng quát về phần mềm Boson NetSim 13
2.1.2 Giao diện của chương trình 14
2.1.3 Các lệnh cơ bản của Boson NetSim 16
2.2 Các module của phần mềm Boson NetSim 18
2.2.1 Boson NetSim 18
2.2.1.1 Stand Alone Labs 19
2.2.1.1.1 Các lab có trong module Stand Alone Labs 19
2.2.1.1.2 Thực hành bài Lab 13RIP 24
2.2.1.2 Sequential Labs 29
2.2.1.2.1 Các lab có trong moduel Sequential Labs 29
2.2.1.2.2 Thực hành bài Lab 5TFTP 30
2.2.1.3 Scenario Labs 32
2.2.1.3.1 Các bài lab có trong moduel Scenario Labs 32
2.2.1.3.2 Thực hành bài Lab 22VLANs và Lab 23 DeletingVLANs 33 2.2 Phần mềm mô phỏng và thiết kế mạng Boson Network Designer 37
2.2.1 Giới thiệu về phần mềm Boson Network Designer 37
2.2.2 Thực hành thiết kế, cấu hình mạng bằng Boson NetSim 38
2.2.2.1 Yêu cầu 38
2.2.2.2 Thực hiện 39
CHƯƠNG 3. TỔNG KẾT VÀ HƯỚNG NGHIÊN TIẾP THEO 47
3.1 Mạng máy tính và sự hỗ trợ của các phần mềm mô phỏng 47
3.2 Hướng nghiên cứu sắp tới trong đồ án tốt nghiệp 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Trang 2Trong thời đại bùng nổ về công nghệ thông tin như hiện nay, mạng và Internet đã trở thành một phương tiện và một nhu cầu không thể thiếu đối với mỗi con người. Mạng
và Internet cũng đã trở thành 1 trong những thước đo quy chuẩn thể hiện trình độ phát triển của 1 quốc gia bên cạnh nhiều yếu tố cơ bản khác. Thấy rõ được sự cần thiết cũng như tầm quan trọng của việc tiếp cận với những xu thế phát triển chung của thời đại, bản thân em nhận thấy những kiến thức của mình còn hạn hẹp, chưa có được nhiều những kiến thức nền tảng cũng như nâng cao về mạng. Trong thời gian thực tập tốt nghiệp của mình, bên cạnh việc tìm hiểu về mạng máy tính, em thấy việc thiết kế
và mô phỏng một mạng trong thực tế là một điều không đơn giản về mặt công nghệ cũng như về thiết bị, chính vì vậy, các phần mềm hỗ trợ mô phỏng mạng là một công
cụ rất hữu ích không chỉ đối với những nhà quản trị mạng, mà còn với những người quan tâm đến mạng máy tính và đặc biệt có ích rất lớn đối với những sinh viên có thể thực hành qua các thiết bị ảo mà phần mềm cung cấp
Trang 31.1.Khái quát về mạng máy tính.
1.1.1 Lịch sử phát triển của mạng máy tính.
Lịch sử phát triển của mạng máy tính khá phức tạp. Nó liên quan đến nhiều nơi, nhiều vùng, nhiều người trên khắp thế giới trong nhiều năm. Sau một thời gian dài với sự ra đời của nhiều những phát minh mới đã làm hiện đại hoá dần chiếc máy vi tính.
Đến đầu những năm 70, hệ thống thiết bị đầu cuối của IBM ra đời cho phép mở rộng khả năng tính toán của các trung tâm máy tính đến các vùng ở xa. Đến giữa những năm 70, IBM đã giới thiệu một loạt thiết bị đầu cuối được thiết kế cho lĩnh vực ngân hàng, thương mại. Thông qua dây cáp mạng, các thiết bị đầu cuối có thể truy cập cùng một lúc đến một máu tính dùng chung. Đến năm 1977, cồn ty Datapoint Corporation
đã tung ra thị trường hệ điều hành mạng của mình là “Attache Resource Computer Network” (Arcnet) cho phép liên kết các máy tính và các thiết bị đầu cuối lại bằng
dây cáp mạng, và đó chính là hệ điều hành mạng đầu tiên.
1.1.2 Định nghĩa
Mạng máy tính là một tập hợp các máy tính được nối với nhau bởi đường truyền theo một cấu trúc nào đó và thông qua đó các máy tính trao đổi thông tin qua lại cho
nhau.
Hình 1.1: Mô hình mạng cơ bản nhất
Nói một cách cơ bản, mạng máy tính là hai hay nhiều máy tính được kết nối với nhau theo một cách nào đó sao cho chúng có thể trao đổi thông tin qua lại với nhau. Mạng máy tính ra đời xuất phát từ nhu cầu muốn chi sẻ và dùng chung dữ liệu. Không có hệ thống mạng máy tính thì dữ liệu trên các máy tính độc lập muốn chia sẻ với nhau phải
Trang 4thông qua các trung gian, điều này gây bất tiện cho người dùng. Các máy tính được kết nối mạng với nhau cho phép nhiều khả năng ứng dụng được thực thi:
1.1.3.1 Phân loại mạng theo phạm vi
v Mạng toàn cầu (Global Area Network GAN) : kết nối máy tính trên phạm vi khắp các châu lục của trái đất. Kết nối này được thực hiện thông qua mạng viễn thông và vệ tinh.
v Mạng diện rộng (Wide Area Network WAN) : kết nối các máy tính trong nội
bộ các quốc gia hay giữa các quốc gia trong 1 châu lục. Thông thường kết nối này được thực hiện thông qua mạng viễn thông. Các WAN có thể được kết nối
với nhau để tạo thành GAN.
Hình 1.2:Mạng diện rộng WAN
v Mạng đô thị (Metropolitan Area Network MAN): kết nối các máy tính trong phạm vi một thành phố. Kết nối này được thực hiện thông qua môi trường truyền tốc độ cao (50100 Mbit/s) với phạm vi nhỏ hơn 50km
Trang 5Hình 1.3: Mạng đô thị MAN
v Mạng cục bộ (Local Area Network LAN): kết nối các máy tính trong phạm vi hẹp, nhỏ hơn 1km. Kết nối được thực hiện thông qua môi trường truyền tốc độ cao ví dụ cáp đồng trục hay cáp quang. LAN thường được sử dụng trong nội
bộ một cơ quan, tổ chức, trường học……Các LAN có thể kết nối với nhau
thành các WAN.
Hình 1.4: Mạng cục bộ LAN
1.1.3.2 Phân loại theo cách thức kết nối mạng
v Mạng dạng BUS (Bus Topology): Trong mạng dạng BUS, các máy tính được nối vào một đường dây truyền chính (bus). Đường truyền chính này được giới hạn bởi hai đầu bởi một loại đầu nối đặc biệt gọi là terminatorr (dùng để nhận biết là đầu cuối để kết thúc đường truyền tại đây). Mỗi trạm được nối vào Bus
qua một đầu nối chữ T (T_connector) hoặc một bộ thu phát (transceiver).
Hình 1.5Cấu trúc mạng dạng BUS
Trang 6v Mạng dạng sao (Star Topology): Ở dạng sao, tất cả các trạm được nối vào một thiết bị trung tâm (HUB) có nhiệm vụ nhận tín hiệu từ các trạm và chuyển tín hiệu đến trạm đích. Trong trường hợp cáp hỏng thì chỉ riêng một trạm không hoạt động, còn nếu trung tâm chuyển mạch bị hỏng thì toàn mạng cũng sẽ bị
hỏng.
Hình 1.6Cấu trúc mạng dạng Sao
v Mạng dạng vòng (Ring Topology) : Các máy tính được liên kết với nhau thành một vòng tròn khép kín. Thông tịn truyền đi trong mạng theo một hướng. Đầu phát của trạm này sẽ là đầu thu cảu trạm tiếp theo. Như vậy trường hợp mạch vòng nếu bị đứt hoặc một trạm bị lỗi thì mạng vòng Ring cũng không hoạt
động.
Hình 1.7Cấu trúc mạng dạng vòng
v Mạng dạng hỗn hợp : trong thực tế tuỳ theo yêu cầu và mục đích cụ thể ta có thể thiết kế mạng kết hợp các dạng sao, vòng, tuyến để tận dụng các điểm mạnh của mỗi mạng.
o Phân loại theo phương thức xử lý thông tin bên trong mạng.
Có hai phương thức xử lý thông tin trong mạng là: xử lý tập trung và xử lý phân tán.
v Phương thức xử lý tập trung (mạng ClientSever)
Trang 7v Phương thức xử lý phân tán (mạng ngang hàng peer –topeer)
o Phân loại theo phương thức kết nối mạng.
v Với phương thức “điểmđiểm”, các đường truyền riêng biệt được thiết lập để nói các cặp máy tính lại với nhau. Mỗi máy tính có thể truyền và nhận trực tiếp
dữ liệu hoặc có thể làm trung gian lưu trữ những dữ liệu mà nó nhận được rồi sau đó chuyển tiếp dữ liệu đi cho một máy khác để dữ liệu đó đạt tới đích.
v Với phương thức ”điểm nhiều điểm”, tất cả các trạm phân chia chung một đường truyền vật lý. Dữ liệu được gửi đi từ một máy tính sẽ có thể được tiếp nhận bởi tất cả các máy tính còn lại, bởi vậy cần chỉ ra địa chỉ đích của dữ liệu
để mỗi máy tính căn cứ vào đó kiểm tra xem dữ liệu có phải dành cho mình
không, nếu đúng thì nhận còn nếu không thì bỏ qua.
1.1.4. Mạng toàn cầu Internet.
Mạng toàn cầu Internet là một tập hợp bao gồm rất nhiều mạng trên khắp thế giới. Mạng Internet bắt nguồn từ một thử nghiệm của Cục quản lý các dự án nghiên cứu tiên tiến (Advanced Reasearch Projects Agency ARPA) thuộc Bộ quốc phòng Mỹ,
đã kết nối thành cồn các mạng máy tính cho phép các trường đại học và các công ty tư nhân tham gia vào các dự án nghiên cứu.
Về cơ bản, Internet là một liên mạng máy tính giao tiếp dưới cùng một bộ giao thức TCP/IP (Transmission Control Protocol/Internet Protocol). Giao thức này cho phép mọi máy tính trên mạng giao tiếp với nhau một cách thống nhất giống như một ngôn ngữ quốc tế mà mọi người sử dụng để giao tiếp với nhau hàng ngày. Số lương máy tính kết nối mạng và số lượng người truy cập vào mạng Internet trên toàn thế giới
ngày càng tăng lên nhanh chóng.
1.2 Thiết kế và hoạch định một mạng
Trong thời đại ngày nay, việc triển khai những hệ thống mạng máy tính là một việc làm rất cần thiết và quan trọng. Với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, cuộc sống của con người đã gắn liên với mạng, với internet và người ta gọi thời đại này là thời đại số, cuộc sống số.
Ngoài việc chia sẻ thông tin đơn thuần giữa các máy tính trong một hệ thống mạng,
sự ra đời của mạng máy tính và việc liên kết giữa các mạng máy tính một cách rộng
Trang 8rãi và hầu khắp, tạo nên một hệ thống mạng toàn cầu như hiện nay đã mở ra rất nhiều những ứng dụng cũng như các dịch vụ tích hợp trên nền công nghệ mạng. 1.2.1 Một số dịch vụ cơ bản trên mạng
+ Dịch vụ truy nhập từ xa Telnet
Telnet cho phép người sử dụng đăng nhập từ xa vào hệ thống từ một thiết bị đầu cuối nào đó trên mạng. Với Telnet người sử dụng hoàn toàn có thể làm việc với hệ thống từ xa nào đó như thể họ đang ngồi làm việc ngay trước màn hình của hệ thống. Kết nối Telnet là một kết nối TCP dùng để truyền dữ liệu với các thông tin điều khiển.
+ Dịch vụ Gopher
Trước khi Web ra đời, Gopher là dịch vụ rất được ưa chuộng. Gopher là một dịch vụ chuyển tệp tương tự FTP, nhưng nó hỗ trợ người dùng trong việc cung cấp thông tin về tài nguyên. Client Gopher hiển thị một thực đơn, người dùng chỉ việc lựa chọn cái mà mình cần. Kết quả của việc lựa chọn được thể hiện ở một thực đơn khác. Gopher bị giới hạn trong các kiểu dữ liệu. Nó chỉ hiển thị
dữ liệu dưới dạng mã ASCII mặc dù có thể chuyển dữ liệu dạng nhị phân và hiển thị nó bằng một phần mềm khác.
+Dịch vụ WAIS
WAIS (Wide Area Information Serves) là một dịch vụ tìm kiếm dữ liệu. WAIS thường xuyên bắt đầu việc tìm kiếm dữ liệu tại thư mục của máy chủ, nơi chứa toàn bộ danh mục của các máy phục vụ khác. Sau đó WAIS thực hiện tìm kiếm
Trang 9nhiều loại dữ liệu khác nhau như văn bản ASCII, PostScript, GIF, TIFF, E mail….
+Dịch vụ World Wide Web
World Wide Web (WWW hay Web) là một dịch vụ tích hợp, sử dụng đơn giản
và có hiệu quả nhất trên Internet. Web tích hợp cả FTP, WAIS, Gopher. Trình duyệt Web có thể cho phép truy nhập tất cả các dịch vụ trên.
Tài liệu WWW được viết bằng ngôn ngữ HTML (HyperText Markup Language) hay còn gọi là ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản. Siêu văn bản là văn bản bình thường cộng thêm một số lệnh định dạng. HTML có nhiều cách liên kết với các tài nguyên FTP, Gopher sevr, WAIS server và Web server. Web server là máy phục vụ Web, đáp ứng các yêu cầu về truy nhập tài liệu HTML. Web server trao đổi các tài liệu HTML, bằng giao thức HTTP (HyperText Transper Protocol) hay còn gọi là giao thức truyền siêu văn bản.
Trình duyệt Web (Web client) là chương trình để xem các tài liệu Web. Trình duyệt Web có thể thực hiện các công việc khác như ghi trang Web vào đĩa, gửi Email, tìm kiếm xâu ký tự trên trang web, hiển thị tệp HTML nguồn của trang Web. Hiện nay có rất nhiều trình duyệt Web được sử dụng như Internet Explorer, Netscape, Opera, Mozilla Firefox…
+Dịch vụ thư điện tử (Email)
Dịch vụ thư điện tử là một dịch vụ thông dụng nhất trong một hệ thống mạng
dù lớn hay nhỏ. Thư điện tử được sử dụng rộng rãi như một phương tiện giao tiếp hàng ngày trên mạng nhờ tính linh hoạt và phổ biến của nó. Từ các trao đổi thư tín thông thường, thông tin quảng cáo, tiếp thị, đến những công văn, báo cáo hay kể cả những bản hợp đồng thương mại, chứng từ,… tất cả đều được trao đổi qua thư điện tử. Một hệ thống thư điện tử được chia làm hai phần, MUA (Mail User Agent) và MTA (Message Transfer Agent).
1.2.2 Xu hướng tích hợp các dịch vụ trong mạng hiện nay
Với vài trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển cũng như tiến bộ của xã hội. Với những bước phát triển vượt bậc của công nghệ số hiện nay, xu hướng tích hợp các dịch vụ tiện ích trên mạng đang là một vấn đề mang tính thời sư và nóng hổi hiện nay. Công nghệ thay đổi từng phút, từng giây, bên cạnh việc có được những
Trang 10vụ và đáp ứng những nhu cầu và đòi hỏi của con người. Sự tiện lợi cũng như các tính năng mà mạng mang lại cho con người ngày càng được thể hiện một cách rõ nét vai trò không thể thiếu của nó đối với đời sống và sư phát triển của con người. Tích hợp các công nghệ trên nền mạng điện tử hiện nay đã, đang và sẽ được phát triển với nhiều loại hình khác nhau, điển hình hiện nay là một số dịch vụ sau:
+Dịch vụ VolIP
VolIp (Voice over IP) đúng nhe tên gọi của nó,”truyền tài giọng nói qua mạng”. Đây là một phương thức gửi thông tin thoại trực tiếp thông qua mạng Internet. Về
cơ bản, nó không có gì khác so với cách thực hiện cuộc gọi trao đổi thông tin thoại thông thường bằng hình thức điện thoaị vô tuyến và hữu tuyến hiện có, tuy nhiên, VolIP có nhiều điểm tiến bộ hơn. VolIp cho phép kết nối từ PC tới PC, từ PC tới điện thoại, từ điện thoại tới PC và từ điện thoại tới điện thoại, Với dịch vụ này, người sử dụng có thể giảm chi phí cuộc gọi so với các cách gọi thông thường vì không phải chi trả những khoản phí cho đường dây cũng như nhiều trung gian khác. Chất lượng dịch vụ cũng ổn định và tốt hơn, trễ trên đường truyền tải, tình trạng mất tín hiệu nhỏ hơn 5%. Dịch vụ này hiện đang được phổ biến rộng rãi. +Dịch vụ IPTV
IPTV (Internet Protocol TeleVision) là dịch vụ truyền tải truyền hình hoạt động trên Internet. Một điểm quan trọng là IPTV không phải là dịch vụ public Internet
mà nó mang tính private. Các nhà cung cấp dịch vụ sẽ chắc chắn về chất lượng dịch vụ (QoS) cho khách hàng của mình. Trong một mạng IPTV, tín hiệu truyền hình được ưu tiên ở mức cao nhất. Dịch vụ IPTV đòi hỏi 1 bộ phát tối ưu cho những chương trình mang tính thời gian thực. Khi dùng IPTV, ngoài việc có thể xem các kênh truyền hình khác nhau (tương tự như khi dùng dịch vụ truyền hình cáp), NSD có thể xem phim theo yêu cầu (videoondemand) theo phương thức chọn lựa phim trong danh sách có sẵn
+Dịch vụ Video Conference.
Hội nghị truyền hình (Video Conference) là dịch vụ được triển khai và sử dụng dựa trên các công nghệ mạng truyền thông như IP (Internet Protocol), ATM
Trang 11• Hội nghị, giao ban, trao đổi công việc của các đơn vị có vị trí địa lí cách xa nhau.
• Dạy và học trực tuyến từ xa theo mô hình học trên mạng (ELearning)
• Chăm sóc y tế từ xa: người bệnh có thể được khám bệnh, chẩn đoán hay thậm chí phẫu thuật gián tiếp từ các chuyên gia y tế tại những nơi rất xa
• Các công việc và lĩnh vực yêu cầu trao đổi thông tin, hình ảnh, âm thanh thời gian thực khác.
Khả năng di động Giải pháp đuợc kết cấu đơn giản, gọn nhẹ và tận dụng được phần lớn các thiết bị văn phòng. Do vậy, có thể di chuyển dễ dàng từ nơi này đến nơi khác.
Thiết lập cuộc họp nhanh chóng và sử dụng dễ dàng Giao diện phần mềm điều khiển trong giải pháp thân thiện với người sử dụng.
+Các dịch vụ trực tuyến thực hiện qua Internet
Trong đời sống hiện nay, Internet đã trở thành một công cụ đắc lực phục vụ cho các như cầu của con người, giảm thiểu được rất nhiều những chi phí về mặt tiền bạc, cũng như thời gian, làm cho thông tin trở nên nhanh chóng và hữu dụng hơn.
Có rất nhiều dịch vụ trực tuyến được thiết lập và triển khai thông qua Internet như bán hàng trực tuyến, nghe nhạc trực tuyến, game trực tuyến……
Trong tương lai gần, rất nhiều các dịch vụ sẽ được xây dựng trên nền IP và có thể nói vui rằng, loài người đang số hoá cùng với công nghệ
Trang 12CHƯƠNG 2: PHẦN MỀM THIẾT KẾ VÀ MÔ
2.1. Phần mềm thiết kế và mô phỏng mạng Boson Netsim TM
2.1.1 Tổng quát về phần mềm Boson Netsim TM
Boson Netsim TM là một phần mềm mô phỏng mạng cho phép người dùng thiết kế và xây dựng những hệ thống mạng và chạy mô phỏng trên máy tính. Đã có rất nhiều chương trình mô phỏng mạng nhưng chúng không đưa ra cho người dùng thấy được
rõ những gì thực sự đang diễn ra trong mạng.
Công nghệ gói ảo của Boson cho phép tạo ra những gói mạng riêng rẽ được định tuyến và chuyển mạch thông qua mạng mô phỏng, cho phép phần mềm Netsim xây dựng nên những bảng định tuyến ảo riêng biệt cho mối giao thức mạng khác nhau thay vì phải xây dựng mô phỏng cả một mạng thực. Chính công nghệ này cho phép những người dùng có thể có thể phát triển được nhiều những ý tưởng thiết kế của mình.
Chứng chỉ Cisco CCNA TM là một kết quả mà nhiều người muốn đạt được khi sử dụng chương trình này. Phần mềm Netssim có đầy đủ nội dung của CCNA®ICND(640 811) AND CCNA®INTRO (641821)/ ICND TM 2.0. Những bài lab này sẽ hướng dẫn cho người dung có thể cấu hình cho router và switch trong nhiều bối cảnh khác nhau. Sau khi hoàn thành 1 bài lab, người dùng có thể tự xây dựng những lab theo yêu cầu của riêng mình. Với tính khả thi trong việc hướng dẫn và cho phép tự xây dựng, thiết
kế mạng, phần mềm Netsim thực sự có hiệu quả hơn việc sử dụng các router và switch thực, nó cho phép người dùng vẫn thực thi được mạng mà không cần phải có thiết bị thực tế.
Chứng chỉ Cisco CCNP TM là một chứng chỉ tiếp theo của CCNA TM . Netsim cũng có rất nhiều các chủ điểm trong chương trình CCNP TM như ISDN, Catalyst 5002, Fast Ethernet, Routing, Switching, Access….Phần mềm Boson Network Designer TM cho phép người dùng có thể thiết kế và hoạch định cho một mạng. Với rất nhiều công cụ
hỗ trợ, người dùng có thể cấu hình cho Router,lưu cấu hình và tải chúng lên router thực
Trang 13Các giao thức định tuyến bổ sung là một trong những yêu cầu tương đối khó mà người dùng có thể gặp phải.,phần mềm này sẽ cho phép người dùng có thể tạo ra một đường dẫn ảo hoặc kiểm trả mạng và so sánh những điểm khác biệt trong kết quả thu được trước khi thực thi các giao thức như EIGRP, RIP hay OSPF.
Khi trong mạng của bạn xảy ra sự cố, bạn có thể tạo một phiên bản ảo mạng của bạn bằng chương trình Boson Network Designer TM và giải quyết các sự cố mà không cần phải tháo gỡ hệ thống.
Phần mềm Netsim là một phần mềm linh hoạt và hữu ích cho phép bạn thực hiện nhưng mô phỏng mạng với nhiều dữ liệu khác nhau đồng thời xử lý các sự cố xảy ra
trong hệ thống mạng.
2.1.2 Giao diện của chương trình.
Sau khi cài đặt phần mềm, bạn cho chạy chương trình. Trước khi chạy chương trình chính, Boson Lab Navigator sẽ cho phép bạn lựa chọn các lab theo ý muốn sau khi
chọn được 1 lab thích hợp, bạn chọn Load Lab.chương trình NetSim chính sẽ hiện ra.
Thanh công cụ Menu File
Trang 17· Stand Alone LABs
Cho phép người dùng thực hiện những bài lab đơn thuần, mang tính thực hành với những câu lệnh cơ bản và đơn giản cho từng chủ đề khác nhau. Các bài lab cũng là độc lập với nhau
· Sequential LABs
Đưa ra cho người dùng những bài lab mang tính “tuần tự”. Tức là người dùng sẽ phải thực hiện tuần tự từng bài lab một, xong bài trước, mới được load bài tiếp theo
· Scenario LABs
Bao gồm những bài lab cơ bản với mục đích giới thiệu với người dùng về công nghệ một cách đơn giản nhất. Những bài lab này được thiết kế để đưa ra cho bạn thấy được đầy đủ những cú pháp lệnh cơ bản cần thiết để thực thi.
Để có thể thực hiện được những bài lab này thì địa chỉ ip và subnet sẽ được xác định như nhau cho tất cả các thiết bị trong toàn bộ các bài lab. Điều này giúp cho người dùng sẽ tập trung được vào những câu lệnh mới trong từng bài lab. Những bài lab này được thiết kế để thực hiện một cách độc lập. Điều
đó có nghĩa là người dùng có thể làm bất kỳ một bài lab nào, không cần theo tuần tự. Tốt nhất là người dùng nên load các bài lab từ lab navigator, hoàn
Trang 18thành bài lab, grade lab, sau đó mới load bài lab tiếp theo. Như vậy người dùng sẽ phải lặp các câu lệnh của mình cho những thiết bị như nhau trong
Trang 19Cú pháp để đặt địa chỉ IP cho các giao tiếp là ip address ipaddress địa chỉ
15. Trong một mạng RIP, mỗi router quảng bá toàn bộ bảng RIP của nó tới các router lân cận 30s/lần. Khi các router nhận được các bảng thông tin RIP từ các router lân cận, chúng sẽ sử dụng thông tin đó để cập nhật bảng định tuyến của mình và sau đó gửi bảng cập nhật này tới các lân cận. Quá trình này được lặp bởi mỗi router và kết quả là các trạng thái được đề cập đến giống như trong một mạng hội tụ, trong tất cả các router đều có định dạnh trong giao thức liên mạng
Trang 20IGRP quyết định chọn đường dựa vào băng thông và độ trễ của các đường liên kết trong mạng.
Trang 21PPP là một giao thức kép có thể được sử dụng trong nhiều môi trường vật lý như cáp xoắn hay cáp quang hoặc trong truyền thông vệ tinh. Nó sử dụng phương thức đóng gói HDLC để đóng gói gói tin.
CHAP (ChallengeHandshake Authentication Protocol) là một thủ tục có tính bảo mật cho việc kết nối vào hệ thống hơn là phương thức PAP(Password Authentication Procedure).CHAP làm việc như sau: Sau khi kết nối được thiết lập, server sẽ gửi 1 thông điệp “thử thách” cho bên yêu cầu kết nối. Bên yêu cầu kết nối sẽ đưa ra một giá trị. Nếu giá trị này đúng với thông điệp “thử thách” ban đầu thì thông tin xác minh được xác nhận, còn nếu khác thì kết nối
TFTP server trân PC1 bằng lệnh copy runningconfig tftp. tiến hành nhập địa
chỉ IP của TFTPserver và tên file cấu hình mà chúng ta sẽ cất trên server. Sau
Trang 22khi thực hiện sao lưu thành công, ta có thể cheeck lại bằng lệnh show tftp configs trên PC1.
19. Loading Router Configurations
Bài lab này hướng dẫn cách nạp cấu hình vào router. Khi đã có file cấu hình được sao lưu trên TFTP server, ta có thể nạp lại cấu hình cho router bằng cách
copy ngược lại file cấu hình từ FTFP server về Router bằng lệnh copy tftp runningconfig, sau đó nhập địa chỉ IP của TFTP server và tên file sao lưu.
IPX gồm có 80 bit địa chỉ, trong đó 32 bit đầu để chỉ ra địa chỉ mạng và 48 bit sau để chỉ địa chỉ nút mạng. Địa chỉ mạng được chọn bởi quản trị mạng, còn địa chỉ nút mạng được lấy từ đỉa chỉ MAC của cổng giao tiếp. Địa chỉ IPX
Switch có chứa đầy đủ các thiết bị phần cứng giống như 1 PC bao gồm CPU, RAM và IOS. Một switch có thể hoạt động theo những cách giống như 1 router. Có thể kết nối qua các cổng giao tiếp, telnet với nó qua địa chỉ IP v.v
Switch sử dụng 1 số lệnh mà router sử dụng.
24. Introduction to Basic Switch Commands
25. Introduction to Frame Relay
26. Frame Relay Hub and Spoke Topology
Trang 24với từng yêu cầu khác nhau đối với từng loại mạng mà người quản trị mạng có thể lựa chọn như RIP, IGRP, EIGRP…. Trong module Stand Alone Labs có một số bài lab về định tuyến, ở đây, em đưa ra bài lab thực hiện định tuyến RIP và xử lý sự cố xảy ra trong định tuyến RIP (Lab 13 và Lab 14 ).
RIP là giao thức định tuyến động với định tuyến động, router có thể tự động cập nhật và thay đổi việc định tuyến theo sự thay đổi của hệ thống mạng theo vectơ khoảng cách được sử dụng rộng rãi. mặc dù RIP không có những khả năng và đặc điểm tối ưu như những giáo thức định tuyến khác nhưng nó dựa trên những chuẩn mở
và sử dụng nên vẫn được các nhà quản trị mạng ưa dùng. Do đó RIP là một giao thức tốt để người học về mạng bước đầu làm quen.
Bước 1: Load bài Lab 13RIP từ Boson Lab Navigator. Trong bài lab này có 3 Router được sử dụng : Router 1, Router 2 và Router 4.Ta thực hiện cấu hình đại chỉ IP cho các giao tiếp trên router.