đổi mới giáo dục tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án, đồ án, bài tập lớn về tất cả các lĩnh vực kinh tế, ki...
Trang 1CHƯƠNG I: DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
2 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3 phạm vi nghiên cứu
4 Mục tiêu nghiên cứu
5 Những phương pháp nghiên cứu của đề tài
6 Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài
Trang 2CHƯƠNG I: DẪN NHẬP
Sách giáo khoa lớp 6 đã được triển khai đại trà đang ở năm thứ hai theo tinh thần Nghị quyết 40/2000/QH10 ngày 9.12.2000 của Quốc Hội về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông:”Xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa mới phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và thế giới”
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Theo chiều dài hơn 50 năm phát triển sự nghiệp giáo dục nước ta từ 1945 đến nay đã trải qua 3 cuộc cải cách lớn Lần thứ nhất vào năm 1950, dấu ấn là hệ thống giáo dục 9 năm, cuộc cải cách lần thứ hai diễn ra năm 1956 với sản phẩm hệ thống giáo dục 10 năm nhưng chỉ thực hiện ở miền Bắc do đất nước
bị chia cắt Cải cách lần thứ 3 được manh nha từ cuối những năm 60 và đến năm 1981 thì bộ chương trình cải cách sách giáo khoa được thông qua(chương trình Sách giáo khoa đang dùng) Đặc biệt sau Đại Hội Đảng lần VII, ngành giáo dục đã liên tục đổi mới và thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh kinh tế - chính trị - xã hội của đất nước và gần đây nhất là việc thay đổi và cho áp dụng trên phạm vi cả nước bộ SGK mới lớp 1,2, 6, 7 theo nghị quyết 40/2000/QH10 về “ Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông” và theo quyết định số 03/ 2002/ QĐ- BGD&ĐT ngày 24/1/2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo Đây là sự thay đổi lớn nhất trong ngành giáo dục kể từ 1981
Việc thay đổi SGK là yêu cầu bắt buộc của quá trình phát triển giáo dục Thực tiễn phát triển giáo dục cho thấy việc thay đổi SGK là tất yếu khách quan theo một chu kỳ 10- 12 năm Cùng với sự phát triển vũ bão của khoa học kỹ thuật, sự phát triển của kinh tế xã hội, lượng tri thức nhân loại ngày càng tăng, lựơng tri thức phổ thông ngày thêm phát triển thì nội dung sách giáo khoa cũng phải thay đổi, cập nhật để theo kịp những thay đổi ấy Ngoài ra, đất nước
ta trên con đường công nghiệp hoá- hiện đại hoá, nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai rất lớn mà trong khi đó học sinh học trong nhà trường phổ thông quá nặng, lý thuyết quá nhiều, bằng cấp nhiều nhưng vẫn thất nghiệp… Như vậy sự thay đổi sách giáo khoa là tất yếu và phù hợp với hoàn cảnh đất nước và sự phát triển lịch sử
Trang 3Trên thực tế sách giáo khoa không là công trình hoàn chỉnh khi ra đời, nó là một công trình khoa học đặc biệt, là một công trình khoa học sư phạm đòi hỏi tác giả phải đầu tư tâm sức vài ba năm biên soạn, thực nghiệm, chỉnh sửa và hoàn thiện … Như vậy, người giáo viên phải mất 1, 2 năm mới có thể làm chủ được nội dung, phương pháp dạy của sách giáo khoa đó Trong khi đo,ù sự chuẩn bị cho giáo viên với sách giáo khoa mới khá cập rập với một đợt tập huấn một tháng trong hè (rõ hơn chỉ vài ngày) Thiết bị dạy học thiếu trầm trọng, độ chính xác cao không được đáp ứng cả về số lượng lẫn chất lượng Đội ngũ GV có chất lượng thiếu mà còn phải dạy chéo môn … Như vậy, còn rất nhiều khó khăn cho nhiều giáo viên trong việc tự tìm tòi ra phương pháp dạy mới và xây dựng kĩ năng cần thiết để có một phương pháp dạy hiệu quả theo đúng như Luật Giáo dục phổ thông: “phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh” (điều 24.2) Mà chương trình đổi mới SGK đặc biệt chú trọng đến việc đổi mới phương pháp dạy học theo chiều sâu Sự thành công của việc đổi mới chương trình SGK phụ thuộc rất nhiều vào nhân tố người thầy với phương pháp giảng dạy mới nhằm đạt mục tiêu đổi mới giáo dục Như vậy, người thầy đóng vai trò then chốt trong sự thành công của chương trình SGK mới
Ngay khi bộ sách giáo khoa (SGK) mới lớp 6 ra đời và triển khai giảng dạy đại trà trong cả nước, ngay lập tức nhiều làn sóng dư luận của những nhà chuyên môn, nhà giáo, phụ huynh, … lên tiếng về những điểm được và chưa được của nội dung sách Ngay cả những giáo viên được chuẩn bị nhưng cũng không khỏi lúng túng và thấy khó vì bên cạnh việc làm chủ SGK mới phải còn thay đổi cách soạn giáo án, phương pháp dạy học, phải tự làm đồ dùng phục vụ tiết dạy của mình theo đúng mục tiêu của phương pháp dạy sách mới là phải đi kèm với đồ dùng dạy học … Trong khi đó từng bài giảng, con số, câu cú trong sách cũ vốn là những điều đã ăn sâu vào máu của những giáo viên từ lâu Với SGK cũ, không cần soạn giáo án, không cần xem bài trước cũng dạy được vì văn bản ấy quá quen thuộc Nhưng khi tiếp cận với SGK mới họ phải thay đổi quá nhiều thứ, phải bỏ quá nhều thứ họ vốn dĩ quen thuộc Với những giáo viên trẻ năng động rất dễ dàng thay đổi vì phương pháp dạy học của sách mới rất phù hợp những giáo viên trẻ năng động vì nó đòi hỏi sự linh hoạt, khả năng sáng tạo trong từng tiết dạy, không tiết nào giống tiết nào, không lớp nào giống lớp nào Nhưng với những giáo viên lâu năm vốn bảo thủ,
Trang 4chỉ đạo, người cầm cương giờ đây họ phải thay đổi suy nghĩ ấy để trở thành người hướng dẫn còn học sinh mới là trung tâm của tiết hocï; Vì thế, khi tiếp cận với sách mới là điều không dễ dàng với họ
Với chương trình SGK khung như hiện tại, bước đầu thay đổi diện mạo của nền giáo dục truyền thống nặng lý thuyết, ít thực hành; coi trọng vai trò người thầy hơn người học; tôn trọng tâm sinh lý người học; đảm bảo cho HS phát triển toàn diện; phát huy truyền thống dân tộc nhưng vẫn phù hợp với nhu cầu đất nước trong công cuộc công nghiệp hoá – hiện đại hoá Khi bàn về vấn đề SGK mới, dư luận mới chỉ đánh giá, đưa những giải pháp cải tiến nội dung cho phù hợp hơn nhưng dư luận cũng chưa công bằng khi quên đi vai trò người thầy trong cuộc, quên đi việc họ cảm nhận như thế nào, suy tư gì, khó khăn như thế nào … thì hầu như rất ít được bàn tới Trong cả một “rừng thách thức”, các nhà Quản lí mong các GV đạt những yêu cầu cơ bản của đổi mới giáo dục phổ thông và chính GV là người bứt phá qua giai đoạn khởi động sẽ vào một guồng quay mới năng động hơn, hiện đại hơn Để đạt những mục tiêu ấy, người giáo viên vẫn đang từng ngày thay đổi và khắc phục những khó khăn trong quá trình dạy sách mới
Để đạt được điều ấy, những giáo viên là những người quyết định cho thành công của bộ SGK mới, vẫn phải còn đối mặt nhiều với những khó khăn để làm chủ sách bên cạnh những thuận lợi không nhiều
Ngoài ra, trên cơ sở lý luận, giáo dục còn có thể nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau và giáo dục cũng có thể nghiên cứu dưới góc độ Xã hội học vì bản thân giáo dục cũng là một hiện tượng của xã hội, vì thế nó cũng cần sử dụng những kiến thức và kết quả thực nghiệm của những ngành khoa học độc lập khác Đứng dưới góc độ Xã hội học Giáo dục, bộ môn này một mặt nghiên cứu mối quan hệ xã hội giữa thiết chế giáo dục với các hiện tượng xã hội khác ngoài giáo dục (giáo dục với gia đình, giáo dục với sự phân công lao động xã hội, …) Mặt khác, nó nghiên cứu mối quan hệ phát sinh trong bản thân nghành giáo dục Vì khoa học giáo dục chủ yếu nghiên cứu những hành động giáo dục trong phương thức hoạt động tại trường lớp Đó là vì giáo dục theo phương thức trường lớp là biểu hiện rõ nét nhất và tập trung nhất Mặt khác giáo dục là hoạt động có tổ chức, hệ thống, có kế hoạch, … nên nó vừa đòi hỏi, vừa tạo ra những điều kiện nghiên cứu các đặc điểm và quy luật để có căn cứ cho hiệu quả giáo dục tăng lên cũng như để tìm ra các căn cứ khoa học hay quy luật Vì vậy, giáo dục phải sử dụng thành tựu của nhiều khoa học có liên quan đến giáo dục, trong đó có khoa học xã hội học
Trang 5Đứng dưới góc độ Xã hội học tôi muốn góp một cái nhìn, một tiếng nói để hiểu rõ hơn về người giáo viên họ nghĩ gì, cảm thấy gì về bộ sách mới này
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU:
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu và mô tả những thuận lợi và khó khăn của giáo viên lớp 6 trong chương trình SGK mới
2.2 Khách thể nghiên cứu:
Là các GV đang dạy lớp 6 tại 2 trường ở 2 vùng khác nhau
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Do thời gian và khả năng còn nhiều hạn hẹp, nên vấn đề thực nghiệm không thể thực hiện trên bình diện rộng hơn Cho nên, với phạm vi của đề tài chỉ tiến hành thực nghiệm ở 4 trường THCS đại diện cho hai khu vực thành thị và nông thôn về những thuận lợi và khó hăn của giáo viên khi dạy sách mới 4 trường THCS là trường Ngô Quyền, Lữ Gia ở TP Hồ Chí Minh và trường THCS Thăng Long, Trường THCS Gia Kiệm ở Thống Nhất - Đồng Nai
4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
4.1 Mục tiêu chung:
Cần nhấn mạnh rằng, mục tiêu nghiên cứu của bài luận văn này không đi sâu vào nội dung sách giáo khoa lớp 6 phù hợp chưa hay còn thiếu sót mà tập trung tìm hiểu và mô tả những thuận lợi và khó khăn khi dạy sách mới về việc thay đổi cách thiết kế bài giảng, tự làm đồ dùng dạy học, đổi mới phương pháp
… cuả giáo viên lớp 6 ở hai vùng khác nhau
4.2 Mục tiêu cụ thể:
Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn và những yếu tố ảnh hưởng đến những thuận lợi và khó khăn của giáo viên khi dạy sách giáo khoa mới như cách thay đổi cách thiết kế bài giảng, những phương pháp giảng dạy chủ động, đồ dùng dạy học …
Khối lượng công việc của giáo viên trước và sau giờ dạy tăng hay giảm
so với lúc trước như việc soạn giáo án, khối lượng bài chấm, số tiết trong
Trang 6 Giáo viên ở thành thị nông thôn có những thuận lợi nào? Khó khăn nào? Có chịu nhiều sức ép công việc không?
Phải chăng các giáo viên không thiếu phương pháp nhưng thiếu những điều kiện để vận dụng những phương pháp ấy như cơ sở vật chất, mặt bằng chung của học sinh và cả phía giáo viên
Giáo viên trẻ và giáo viên lâu năm có gặp những thuận lợi và khó khăn như nhau không?
5 NHỮNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI:
5.1 Phương pháp thu thập thông tin:
Phương pháp thu thập thông tin có sẵn:
Nguồn thông tin và tư liệu phục vụ cho đề tài được thu thập từ Thư viện và Phòng Tạp chí trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Tâm Lý Giáo dục trường Đại học Sư Phạm TP HCM (280 An Dương Vương – Q 5); Thư viện khoa học Tổng hợp (67 Lý Tự Trọng – Q.1); Thư viện Khoa học Xã hội (38 Lý Tự Trọng – Q.1) và một số thông tin được truy cập trên webside: www.edu.net.vn của Bộ Giáo dục và Đào tạo Tất cả những thông tin này được tổng hợp thành những tư liệu phục vụ cho bài viết thêm phong phú
Phương pháp thu thập thông tin định lượng bằng bảng hỏi với giáo viên lớp 6 (khoảng 80 phiếu)
75 bảng hỏi đã được phát ra cho 75 giáo viên lớp 6 tại 4 trường THCS: trường THCS Ngô Quyền (Q TB), trường THCS Lữ Gia(Q.11) – đây là hai trường trong phạm vi Thành phố Hồ Chí Minh và 2 trường thuộc huyện Thống Nhất – Đồng Nai là trường THCS Thăng Long và trường THCS Gia Kiệm Tất cả những phiếu này được mã hoá và xử lý bằng phần mềm SPSS, câu hỏi mở thì mã hoá riêng để trở thành câu trả lời đóng
Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân (8 học sinh lớp 6, 12 giáo viên trẻ mới ra trường, giáo viên lâu năm và Ban giám hiệu bốn trường)
Những thông tin thu được từ những cuộc phỏng vấn sâu sẽ tiến hành gỡ băng và đây là những thông tin định tính sử dụng trong đề tài nhằm làm phong phú và sâu hơn
5.2 Phương pháp xử lý:
Trang 7- Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý dữ liệu định lượng (những câu hỏi mở sẽ được mã hoá thành các biến vàxử lý như câu hỏi đóng.)
- Phỏng vấn sâu sẽ tiến hành gỡ băng và sử dụng trong phân tích kết quả thực nghiệm
5.3 Phương pháp chọn mẫu:
Sở dĩ chọn mẫu là 75 vì cỡ mẫu này không thể định trước mà phụ thuộc số giáo viên lớp 6 ở 4 trường khảo sát như thế nào và thực tế thì số giáo viên lớp
6 của 4 trường không nhiều, nhưng thiết nghĩ đâylà cỡ mẫu nhỏ đại diện cho một tổng thể nhỏ nên nó hoàn toàn có thể mang tính đại diện Một phần khác cũng do khả năng còn hạn hẹp và phạm vi một luận văn cử nhân không thể đòi hỏi một cỡ mẫu mang tính đại diện cao, (nếu thế cần có nhiều mẫu hơn) Mẫu chọn là mẫu thuận tiện theo các tiêu chí sau:
Là giáo viên đang trực tiếp giảng dạy lớp 6
Số năm đứng lớp (Giáo viên mới ra trường và giáo viên lâu năm.)
Chủ yếu là GV các môn: toán, lý, sinh, ngoại ngữ, ngữ văn, sử, địa và giáo dục công dân
6 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:
Những thuận lợi:
Đa số các giáo viên và Ban giám hiệu các trường đều nhiệt tình giúp đỡ, các em học sinh lớp 6 và nhất là được các bạn cùng lớp quan tâm và động viên và nhất là sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy Vũ Quang Hà
Những khó khăn:
Đầu tiên là những khó khăn của tác giả khi khả năng còn hạn chế mà phải tự thực hiện một đề tài Ngoài ra, đây là một đề tài còn quá mới mẻ nên số tư liệu có thể tham khảo quá ít Đây cũng là một đề tài mang ít nhiều tính chuyên môn về giáo dục mà ngay bản thân tác giả cũng còn bỡ ngỡ và ít am hiểu tường tận
Kế đến là Ban giám hiệu các trường cũng còn hơi e dè, có những công cụ không thực hiện được như việc quan sát một lớp học cụ thể, cho học sinh tập trung làm thảo luận nhóm vì theo thầy phỏng vấn giáo viên là đủ rồi Ngay cả
Trang 8Do thời gian thực hiện đề tài cùng lúc với thi cử nên các giáo viên rất bận rộn Họ không có thời gian rảnh để ngồi cho mình hoàn thành bảng hỏi nếu phỏng vấn trực tiếp mà bảng hỏi được Ban giám hiệu phát xuống rồi các giáo viên mang về nhà Vì thế, có nhiều câu hỏi không thu được thông tin vì giáo viên họ bỏ qua, nhất là câu hỏi mở
Cũng do bảng hỏi được phát xuống từ ban giám hiệu nên số bảng hỏi thu về có trường ít hơn, do giáo viên quên không mang theo hay không trả lời Những trường hợp như vậy thường phải quay lại năn nỉ để làm thêm phiếu thăm dò
Trang 9
CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Vài nét về lịch sử giáo dục Việt nam qua 3 cuộc cải cách lớn
2 Sơ lược lịch sử nghiên cứu của đề tài
3 Lý thuyết nghiên cứu ứng dụng trong đề tài
4 Các khái niệm công cụ
5 Mô hình phân tích vấn đề
6 Giả thuyết nghiên cứu
Trang 10CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ GIÁO DỤC VIỆT NAM QUA 3 CUỘC CẢI CÁCH LỚN:
1.1 Cuộc cải cách giáo dục lần nhất và giai đoạn xây dựng nền giáo dục dân tộc và dân chủ:
Sau cách mạng tháng 8 thành công, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vẫn giữ hệ thống học và bậc học như cũ, trung học đệ nhất cấp vẫn kéo dài 4 năm
Nhưng sau khi Chính phủ ban hành thành lập Nha bình dân học vụ và dần dần phát động phong trào khắc phục nạn dốt trong nhân dân
Đến 1950, Trung ương Đảng và Chính phủ quyết định tiến hành cải cách giáo dục lần thứ nhất đã nêu rõ nền giáo dục thi hành hệ thống giáo dục 9 năm và chương trình giảng dạy mới Mặc dù thời gian chuẩn bị ngắn ngủi, nhưng cuộc cải cách nêu rõ giáo dục là một công cụ của một giai cấp nhất định, vì vậy không có giáo dục trung lập Một nền giáo dục dân chủ nhân dân và phù hợp lợi ích của nhân dân, do dân và vì dân trên cơ sở các nguyên tắc dân tộc – khoa học – đại chúng
Phương châm giáo dục thời kỳ này học phải đi đôi với hành, phải bồi dưỡng tinh thần dân tộc, lòng yêu nước và ý chí căm thù giặc Còn về cơ cấu giáo dục, do nhu cầu trong chiến tranh, phải rút ngắn lại số năm cho hợp lý Cụ thể: cấp 1 gồm 4 năm, cấp 2 gồm 3 năm và cấp 3 chỉ còn 2 năm Đây chính là hệ thống giáo dục hệ 9 năm
1.2 Cuộc cải cách lần hai và giai đoạn xây dựng Chủ nghĩa Xã hội (CNXH) ở miền Bắc (1954 - 1975):
Miền Bắc sau cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi và hoàn toàn giải phóng, cũng lúc này miền Bắc có hai nền giáo dục phổ thông song song tồn tại Hệ thống giáo dục 9 năm và hệ thống giáo dục 12 năm Vì vậy, việc thống nhất 2 hệ thống giáo dục thành hệ thống giáo dục 10 năm này rất cần thiết trong hoàn cảnh mới
Tháng 8 – 1956, Chính phủ thông qua chính sách cải cách nền giáo dục lần hai với mục tiêu giáo dục “đào tạo và bồi dưỡng thế hệ thanh niên và thiếu nhi thành những người phát triển mọi mặt, thành những lao động tốt , … phục vụ công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc và sự nghiệp thống nhất nước nhà” Cuộc cải cách này là một bước đi cơ bản ban đầu quan trọng của quá trình xây dựng giáo dục XHCN lấy chủ nghĩa Mác – Lenin làm nền tảng Hệ thống giáo dục này bao gồm: cấp 1 có 4 năm, cấp 2 có 3 năm, cấp 3 có 3 năm học
Trang 111.3 Cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba và sự thống nhất giáo dục trong cả nước(1975 - 1985):
Trước ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ở nước ta có 2 hệ thống giáo dục trong cả nước Miền Bắc là mô hình giáo dục của Liên Xô và miền Nam trường lớp theo mô hình Phương Tây, chủ yếu là của Pháp, Mỹ Như vậy, nhhiệm vụ giáo dục hiện nay quan trọng nhất là xây dựng nền giáo dục thống nhất trong cả nước theo định hướng XHCN
Tháng 12 – 1976, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV của Đảng thông qua quyết định tiến hành cải cách giáo dục lần thứ 3 và được triển khai từ 1979 và xác định được một hệ thống giáo dục tương đối hoàn chỉnh thống nhất trong cả nước từ mầm non cho đến sau đại học Hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm được thiết kế thống nhất trong cả nước và việc biên soạn sách giáo khoa mới theo tinh thần cải cách (gọi là cải cách sách) ở lớp 1 và được thực hiện theo cách “cuốn chiếu”: mỗi năm tiếp theo thực hiện thay sách thêm một lớp, bắt đầu từ năm học 1981 –1982 và hoàn thành cho cả hệ thống 12 năm vào năm học 1992 – 1993 Đây chính là lần đầu tiên các trường phổ thông trong cả nước dạy chung một bộ sách giáo khoa Sách giáo khoa cải cách giáo dục sau một số lần điều chỉnh có nhiều tiến bộ hơn và được dạy đến năm 2000 trước khi tiến hành thay sách trong cả nước vào năm học 2002 – 2003
2 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CỦA VẤN ĐỀ:
2.1 Sơ lược tình hình thực hiện đổi mới chương trình sách giáo khoa:
Từ sau Cách mạng tháng 8, đất nứơc ta tiến hành 3 cuộc cải cách lớn Trong đó, cuộc cải cách thứ 3 được chuẩn bị từ những năm cuối thập kỉ 60
Năm học 1981 – 1982, chương trình cải cách giáo dục phổ thông (theo Nghị quyết 14/NQ ngày 11.1.1979 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng – khoá 4) được triển khai Đến năm học 1992 –1993, đã thay xong sách giáo khoa lớp 6 theo cách cuốn chiếu từ lớp 1 đầu tiên Lần đầu tiên, sau nhiều thập kỷ, các trường phổ thông trong cả nước dùng chung một bộ sách giáo khoa Sau đó, những đợt điều chỉnh sách giáo khoa được tiến hành, được dùng cho đến năm 2000 Tuy có nhiều ưu điểm nhưng bộ sách cũng đang bộc lộ những hạn chế và bất cập
Từ năm học 1997 – 1998, song song với việc triển khai Dự án Giáo dục tiểu học (do Chính phủ Việt nam kí kết với Ngân hàng Thế giới, thực hiện từ ngày 31.1.11994 đến 30.9.2001) thì Ban chỉ đạo xây dựng chương trình và sách giáo khoa, sách giáo viên cũng được thành lập
Trang 12Tháng 5 – 9.1998, Dự án hỗ trợ kỹ thuật TA.2690 VIE được đưa ra lấy ý kiến của 326 cán bộ chỉ đạo Sở, Phòng giáo dục và giáo viên THCS ở các địa phương cùng 63 cán bộ các Vụ, 100 cán bộ các Viện, trường sư phạm và một số nhà khoa học, nhà sư phạm tiêu biểu Dự thảo chương trình được đăng tải toàn văn trên tạp chí Giáo dục trung học, gởi về tất cả các trường THCS trong cả nước để lấy ý kiến của giáo viên
Thágn 9.1998 – 3.1999, hoàn thiện văn bản chương trình sách giáo khoa mới
do Viện khoa học Giáo dục tổ chức dưới sự tham gia của nhiều nhà khoa học,
sư phạm ở các cơ quan khác nhau
Tháng 4 – 6.1999 , 15 Hội đồng thành lập theo Quyết định GD&ĐT.TCCB tổ chức để tiến hành thẩm định chương trình sách giáo khoa mới
1334/QĐ-Ngày 8.7.1999, ban hành chương trình thí điểm Trong vòng 2 năm thí điểm, ban chỉ đạo đã tổ chức lấy ý kiến đánh giá và góp ý của các nhà sư phạm, nhà khoa học, giáo viên, phụ huynh …
Tháng 4.2002, triển khai báo cáo, tập huấn các cán bộ các Sở, Phòng và toàn thể giáo viên
Năm học 2002 – 2003, chương trình sách giáo khoa lớp 6 mới được triển khai đại trà trong cả nước, việc tổ chức thu thập thông tin và ý kiến được tổ chức thường xuyên Cho đến nay, bộ sách giáo khoa mới của lớp 6 đã vừa mới kết thúc năm dạy thứ hai của mình trong toàn quốc
2.3 Sơ lược những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài:
3 LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG TRONG ĐỀ TÀI:
3.1 Cách tiếp cận hệ thống:
“Hệ thống là các tập hợp có trật tự bên trong (hay bên ngoài) của các yếu tố có liên hệ với nhau (hay tác động lẫn nhau)” (1) Hay như “hệ thống, tức là một tổng thể gồm nhiều yếu tố (bộ phận) quan hệ và tương tác với nhau và với môi trường xung quanh một cách phức tạp”(2) Song đúng như V.P.Cuzơmin nhận xét: “dù cho khái niệm hệ thống được xác định theo nhiều hướng khác nhau, thì người ta vẫn thường hiểu rằng, hệ thống là một tập hợp những yếu tố
Trang 13liên hệ với nhau, tạo thành sự thống nhất ổn định và tính chỉnh thể, có những thuộc tính và những quy luật tích hợp”(3) Như vậy, một hệ thống là một nhóm của các thành phần tác động lẫn nhau, hoạt động trong một mục đích chung, có khả năng phản ứng như một tổng thể với những kích thích bên ngoài Nói một cách khác hệ thống là một phức hệ có tổ chức, tiếp cận theo hướng hệ thống là cách nghiên cứu và xử lý với các phức hệ có tổ chức
Cách tiếp cận hệ thống bao quát mọi lĩnh vực, cơ khí, tin học, sinh học, hay kinh tế xã hội Một hệ thống được định nghĩa là tổng thể phức hợp gồm nhiều yếu tố liên quan với nhau và mỗi biến động của một yếu tố nào đó đều tác động đến những nhân tố khác và đồng thời cũng tác động lên toàn bộ hệ thống
Giáo dục không chỉ là một thiết chế mà còn là một hệ thống hoàn chỉnh có tính toàn vẹn, có các mối liên hệ chức năng chặt chẽ, có mục đích, tổ chức và đối tượng Bên cạnh đó, trong từng bộ phận của hệ thống giáo dục cũng có những mối liên hệ tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau Khi bất cứ một bộ phận nào đó thay đổi sẽ kéo theo hàng loạt những thay đổi của những bộ phận trong cùng một hệ thống đó
Tiếp cận hệ thống có ý nghĩa khi chỉ rõ việc thay đổi sách giáo khoa sẽ kéo theo hàng loạt thay đổi về phương pháp dạy học, công việc trước và sau giờ dạy của giáo viên, những kì thi, những lần bồi dưỡng giáo viên… và hiệu quả giảng dạy cũng có thể tăng cao hơn hay thấp hơn nếu như sức ép công việc của giáo viên không thay đổi
Thuyết cấu trúc - chức năng của T parsons:
Theo thuyết này mỗi cấu trúc sẽ đảm nhận một chức năng riêng biệt Cấu trúc này phù hợp để vận hành tương thích với các hệ thống khác chức năng và sự hỗ trợ các hệ thống khác Với Oâng, một “chức năng là một phức hợp các hoạt động trực tiếp hướng tới sự gặp gỡ một nhu cầu hay những nhu cầu của hệ thống (1)” với lược đồ nổi tiếng AGIL:
A: sự thích nghi – một hệ thống phải đáp ứng và thích ứng với các nhu cầu môi trường bên ngoài và làm cho môi trường thích nghi lại với các nhu cầu của nó Cũng như thế, hệ thống giáo dục phải thích ứng với những nhu cầu thay đổi của xã hội về sự phát triển bền vững trong tương lai cần những con người của khoa học kỹ thuật, bởi vậy ngay từ hôm nay, khi bắt đầu xã hội có những thay đổi về nhu cầu thì hệ thống giáo dục cũng bắt đầu thay đổi để thích nghi với hoàn cảnh mới và nhu cầu mới
Trang 14G: đạt được mục tiêu – một hệ thống phải xác định và đạt được mục tiêu cơ bản của nó Hệ thống giáo dục ngay từ những ngày đầu đã xác định được mục tiêu trong hoàn cảnh mới và sự thay đổi sách chính là sự cụ thể hoá mục tiêu
cơ bản đó hơn
I: hoà hợp – một hệ thống phải điều hoà các mối quan hệ tương tác của các yếu tố bên trong Hệ thống giáo dục cũng phải đảm nhận chức năng này, sự thay đổi của sách giáo khoa tự bản thân nó kéo theo và hoà hợp với yếu tố khác như người giáo viên Người quản lý …
L: sự tiềm tàng – hệ thống giáo dục phải cung cấp và ***
Như vậy, sách giáo khoa đảm nhận những chức năng cụ thể và riêng biệt trong hệ thống giáo dục Nó vừa đảm nhận chức năng giáo dục vừa đảm nhận việc đào tạo con người cho tương lai đất nước Sản phẩm của giáo dục chính là nguồn nhân lực cho đất nước Vì thế, giáo dục luôn có một ý nghĩa quan trọng cho sự phát triển bền vững Muốn thế, sách giáo khoa, một phần quan trọng của hệ thống giáo dục cũng phải cùng đảm nhận chức năng giáo dục và đào tạo con người và để đảm nhận chức năng này thì SGK cũng phải thay đổi để phù hợp với hệ thống giáo dục Sự thay đổi sách giáo khoa là phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội, khoa học cũng như năng lực học sinh ngày càng cao và đa dạng
Lý thuyết chức năng về sự phân tầng:
Sự bùng nổ giáo dục đòi hỏi sử dụng một cách có hiệu quả để phát triển kỹ năng người học, nó yêu cầu phải có những cuộc cải cách giáo dục để khai thác nguồn lực phục vụ cho sự phát triển xã hội Họ xem sự phân tầng xã hội là một đặc trưng tất yếu của xã hội và giáo dục là điều kiện tiên quyết để phát triển xã hội Như vậy, hệ thống giáo dục phải đảm nhiệm 3 chức năng lớn: Thứ nhất, hệ thống giáo dục là phương tiện chủ yếu phát triển khả năng người học và nguồn nhân lực trong tương lai
Thứ hai, hệ thống giáo dục phải đảm bảo chức năng phân hoá nghề nghiệp, nghĩa là định vị người học vào những vị trí tương thích với cơ cấu được đào tạo
Thứ ba, hệ thống giáo dục phải đảm nhận chức năng cố kết xã hội vì vậy bất cứ sự thay đổi nào – dù nhỏ của giáo dục cũng phải hướng đến mục tiêu phục vụ cho mọi đối tượng và phục vụ như nhau
Mặc dù lý thuyết này bị phê phán khi quá đề cao về một xã hội của những người tài năng và cho rằng sự phân tầng xã hội là tất yếu do xã hội cần những
Trang 15người tài năng giữ những trọng trách và địa vị ấy lại do giáo dục quyết định Nhưng mặt khác, lý thuyết này cho một cái nhìn khác về chức năng của hệ thống giáo dục và những thay đổi của nó là bước đầu cho sự phát triển xã hội trong tương lai, thiết nghĩ sự thay đổi đầu tiên chính là sự cải cách giáo dục mà việc thay sách là một trong những yếu tố trước nhất
4 KHÁI NIỆM CÔNG CỤ:
4.1 Khái niệm sách giáo khoa:
Sách giáo khoa là sự cụ thể hoá đầy đủ và rõ ràng của nội dung và mục tiêu giáo dục Sách giáo khoa còn thể hiện một mức độ cơ bản phương pháp giáo dực Đây là công cụ quan trọng của người dạy và người học
Chất lượng của sách giáo khoa nói lên chất lượng của nền giáo dục
Ơû nước ta quy định sách giáo khoa là bắt buộc chung cho các cấp học phổ thông trong cả nước và quyền lựa chọn hay biên soạn chỉ dành cho từng trường và từng giáo viên đối với cấp bậc đại học, chuyên nghiệp và sau đại học, tuy có thể có sách giáo khoa mẫu cho một số môn học Tuy nhiên với cấp bậc phổ thông thì việc biên soạn sách giáo khoa được thực hiện và biên soạn bởi một hội đồng các nhà khoa học và sau khi thí điểm thành công sẽ được triển khai đại trà trong cả nước
4.2 Khái niệm phương pháp và phương pháp giáo dục:
Có thể hiểu phương pháp là một hệ thống bao gồm một nhiều quy tắc có tác dụng hướng dẫn một loại hành động cụ thể nào đó để đạt được mục tiêu đã định Như thế, khi nói đến phương pháp là phải nói đến một loại hành động cụ thể tương ứng và nói tới mục đích của hành động đó Mọi hành động đều được xác định bởi đối tượng mà nó phải tác động vào và bởi mục tiêu trong việc làm biến đổi đối tượng đó Đối tượng hay mục tiêu hành động khác nhau đòi hỏi những phương pháp khác nhau
Trong khi đó, vấn đề phương pháp giáo dục là một vấn đề được nghiên cứu nhiều nhất trong giáo dục và cho tới nay vẫn còn nhiều ý kiến chưa thống nhất một định nghĩa rõ ràng và thống nhất Sở dĩ như vậy là do tính chất phức tạp và đa dạng của phương pháp nói chung và phương pháp giáo dục nói chung
Như vậy, có thể tạm định nghĩa phương pháp giáo dục là việc người học đã được xác định và người dạy phải sử dụng những phương thức giáo dục cụ thể như những kỹ năng, kỹ xảo, tức những năng lực hay phẩm chất đạo đức làm cho người học tiếp thu một cách tốt nhất nội dung giáo dục Nghĩa là
Trang 16phương pháp chính là một hệ thống tác động liên tục của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động và thực hành của học sinh giúp học sinh lĩnh hội vững chắc các thành phần cuả nội dung giáo dục nhằm đạt mục tiêu đã định
Phương pháp giáo dục luôn luôn được đặt trong mối quan hệ với các thành tố khác của quá trình giáo dục, trước hết đó là mối quan hệ : mục tiêu – nội dung – phương pháp hay mục tiêu – nội dung – phương pháp – phương tiện – những điều kiện khác
Phương pháp giáo dục gồm có phương pháp dạy và phương pháp học, vì dạy và học là hai quá trình gắn liền nhau của phương pháp giáo dục Mỗi phương pháp dạy đòi hỏi một phương pháp học tương ứng Cả hai phương pháp này thì bao giờ phương pháp dạy cũng có vị trí chủ đạo đối với phương pháp học, vì phương pháp học hướng dẫn, quy định phương pháp học và phương pháp học phải thích nghi với phương pháp dạy
Trong giáo dục, còn sử dụng nhiều phương pháp khác để đạt mục tiêu giáo dục Tuy nhiên, phương pháp dạy và phương pháp học là 2 phương pháp chủ đạo trong hoạt động giáo dục
4.3 Khái niệm cải cách giáo dục và đổi mới chương trình sách giáo khoa:
Chương trình là văn bản pháp quy, quy định nội dung, phương pháp, hình thức dạy học các môn cụ thể, quy định thời gian dạy học và những yêu cầu cần đạt để hướng tới mục tiêu của từng cấp học Như vậy, khi nói đến đổi mới chương trình sách giáo khoa có nghĩa là đổi mới mục tiêu sách giáo khoa và phương pháp dạy học
Khi nói đến cải cách giáo dục thường người ta liên tưởng đến ngay một sự thay đổi cơ bản và to lớn một cách toàn diện của cả một hệ thống giáo dục Cải cách giáo dục tức là thay đổi hình thức, mục tiêu, nội dung sách, cơ chế quản lý … của nền giáo dục một nước Tuỳ vào điều kiện và tình hình cụ thể của mỗi thời kỳ lịch sử mà mục tiêu, hình thức giáo dục khác nhau Ngay trong nền giáo dục Việt nam cũng đã trải qua 3 cuộc cải cách lớn làm thay đổi cả một hệ thống giáo dục nước nhà
Còn những đợt cải cách, chỉnh sửa hay thay đổi sách giáo khoa thì đây chưa đủ để trở thành một cuộc cải cách giáo dục mà đơn giản chỉ là một sự chỉnh sửa, bổ sung cái thiếu trên cái khung đã có sẵn làm cho sách giáo khoa ngày càng hoàn thiện hơn mà thôi
Từ năm học 1981 – 1990 diễn ra những cuộc thay sách từ tiểu học tới trung học phổ thông nhưng đến nay mới có sự thay đổi chương trình sách giáo khoa mới
Trang 17bắt đầu từ lớp 1 và lớp 6 Đợt thay sách lần này không phải là cải cách giáo dục mà chỉ sự đổi mới chương trình sách giáo khoa
5 MÔ HÌNH PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ:
6 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU:
1 Giáo viên hai vùng không thiếu những phương pháp mà thiếu những điều kiện để vận dụng những phương pháp ấy
2 Sách giáo khoa mới, làm khối lượng công việc giảng dạy và sau giảng dạy của GV cả 2 vùng tăng lên
3 Giáo viên nông thôn gặp nhiều khó khăn khi đổi mới phương pháp hơn giáo
Chương trình SGK mới
Phương pháp dạy học mới phù hợp
Công việc giảng dạy và ngoài giảng dạy
Bồi dưỡng giáo
viên
Thuận lợi và khó khăn của GV
Hiệu quả giảng dạy
Đồ dùng dạy học
Trang 18CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM
1 Vài nét về cuộc thực nghiệm
2 Kết quả nghiên cứu
2.1 công việc giảng dạy và ngoài giảng dạy trước và sau khi thay sách của giáo viên tại bốn trường khảo sát
Trang 19CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI BỐN TRƯỜNG THCS
1 VÀI NÉT VỀ CUỘC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM:
Địa bàn của cuộc nghiên cứu:
Địa bàn tiến hành thực nghiệm của đề tài này bao gồm bốn trường Trung học
cơ sở (THCS) ở hai khu vực thành thị và nông thôn Bốn trường đó gồm trường THCS Ngô Quyền (Quận Tân Bình), trường THCS Lữ Gia (Quận 11), trường THCS Thăng Long và trường THCS Gia Kiệm (Gia Kiệm – Thống Nhất – Đồng Nai)
Sở dĩ chọn hai khu vực là thành thị và nông thôn cũng không nằm ngoài mục tiêu của đề tài muốn đi tìm hiểu ở hai khu vực khác nhau, với những khác biệt về kinh tế xã hội, thì liệu rằng với cùng một chương trình chung như thế những người giáo viên họ có thấy những khó khăn hay thuận lợi giống nhau
Trường THCS Ngô Quyền có thể gọi là trường lớn của Q Tân Bình và ngay khi triển khai đại trà chương trình sách mới thì trường được chuyển từ trường hệ bán công thành trường công lập Được thành lập trước 1975 và mỗi năm có khả năng nhận khoảng 500 học sinh vào học lớp 6 Trong khi đó trường THCS Lữ Gia là trường tương đối nhỏ của quận 11, mỗi năm tiếp nhận khoảng 200 học sinh mới và là một trường giỏi của quận nhiều năm liền Được xây dựng năm
1963 và cho tới 1975 là trường cấp 1 và chỉ đến 1993, trường chuyển thành trường THCS Lữ Gia như hiện nay
Hai trường ở thành phố tương đối là đầy đủ về cơ sở vật chất nhưng chỉ cách đó chỉ khoảng 80km thì hai vùng đã quákhác nhau Gia Kiệm chỉ là một vùng dân
cư thuần nông, chủ yếu là những người bắc di cư 1954 và sống bằng nghề làm vườn và buôn bán tập trung xung quanh, trải dài theo quốc lộ Cũng thế, trường THCS Gia Kiệm là trường được thành lập trước 1975 và cho tới hiện nay là một trường tương đối lớn và chất lượng trong vùng Ngược lại, trường THCS Thăng Long mới được tách từ trường Cấp 1-2 Quang Trung năm học 1992 – 1993 còn thiếu thốn rất nhiều về cơ sở vật chất cũng như nguồn giáo viên chất lượng Ngoài ra, Thăng Long là trường thuộc diện không tuyển chọn đầu vào nên mặt bằng chung của học sinh không cao
Mẫu của cuộc nghiên cứu:
Khi tiến hành thực nghiệm đề tài: “Những thuận lợi và khó khăn của giáo viên trong chương trình sách giáo khoa lớp 6” tại 4 trường THCS Các phiếu thăm dò
Trang 20ý kiến được phát ra và thu về 75 phiếu Mỗi trường tiến hành 3 cuộc phỏng vấn sâu gồm Hiệu phó chuyên môn, giáo viên trẻ và giáo viên lâu năm nhằm lấy thông tin sâu hơn về vấn đề này
Cuộc khảo sát thực nghiệm được tiến hành từ 1.4 – 20.5.2004 với các giáo viên lớp 6 Cỡ mẫu lớn hay nhỏ phụ thuộc vào số giáo viên lớp 6 mỗi trường là nhiều hay ít Mẫu được chọn là mẫu thuận tiện theo tiêu chí là giáo viên đang dạy lớp 6, giáo viên trẻ và giáo viên lâu năm và chỉ những giáo viên đang giảng dạy những bộ môn chính gồm: Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Lịch sử, Địa lý, Ngữ văn, Ngoại ngữ (tiếng Anh) và Giáo dục công dân
Bảng 1:Thâm niên công tác:
Ngô quyền Lữ gia Thăng long Gia kiệm Tổng
Như vậy, theo bảng kết quả trên thì số giáo viên trẻ ở 4 trường chiếm khoảng hơn 1/2 và giáo viên lâu năm chiếm khoảng 1/2 Trong đó, đặc biệt là số giáo viên có thâm niên công tác trên 20 năm thì trường lg và tl không có ai Liên quan với thâm niên công tác là độ tuổi của những giáo viên Tại 4 trường khảo sát thì số giáo viên có độ tuổi dưới 30 tuổi chiếm 53.3%, 41% là giáo viên có
Trang 21độ tuổi trên 30 và số giáo viên trên 50 không đáng kể (xem bảng 1, pl 2b) Mỗi
trường có yêu cầu riêng với giáo viên, riêng trường nq là “không nhận những giáo viên mới ra trường mà chỉ nhận những giáo viên có kinh nghiệm dạy từ 3 –
4 năm trở lên” (xem HP1, pl 1b)
Về trình độ chuyên môn thì 2/3 giáo viên lớp 6 trả lời đều tốt nghiệp từ trường Cao đẳng sư phạm (76%), trong khi đó số ít những giáo viên tốt nghiệp từ Trung học sư phạm và Đại học sư phạm rất ít (23,6%) Nếu so sánh hai khu vực thì hai trường ở nông thôn hầu như không có giáo viên có trình độ tốt nghiệp đại học Đây cũng là điều không khó hiểu, trong phạm vi thành phố HCM, thì những giáo viên tốt nghiệp cao đẳng dễ dàng tiếp tục chương trình Đaị học hoá ngay
sau đó và đây cũng là điều bắt buộc với những giáo viên THCS: “trước đây, học đại học hoá là tự nguyện, còn bây giờ là bắt buộc với mọi giáo viên, ai chưa học phải lo tranh thủ phải học” và học để mà: “thứ nhất là kiến thức ngày càng mới, giáo viên phải luôn học hỏi và trau dồi, không học là tụt hậu rồi Kế tiếp là học để nâng cao nghề”.(xem HP1, pl1b) có giáo viên thì cho rằng: “học đại học hoá giống như cái nợ phải trả”(xem )
Bảng 2:Trình độ chuyên môn:
Ngô quyền Lữ gia Thăng long Gia kiệm Tổng
“trường cũng không bắt buộc”(xem GVnam 3, pl1b)
như vậy, trong khi những giáo viên thành thị phải tiếp tục học lên cao như một
“nghĩa vụ” thì những giáo viên ở nông thôn thì không có điều kiện và suy nghĩ học lên cao tiếp