Ngày nay với sự phát triển của công nghệ, hoạt động của chiếc xe ngày càng êm dịu hơn mang đến sự thoải mái cho người sử dụng ô tô. Những hệ thống treo hiện đại mà ta thường nghe những anh nhân viên bán hàng quảng cáo như hệ thống treo khí nén điện tử, hệ thống treo Macpherson thì đôi khi bạn cũng chỉ nghe và hỏi xem công dụng như thế nào mà không biết được nó hoạt động như thế nào và dựa trên yếu tố gì? Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu thêm về công dụng của hệ thống treo, những bộ phận cơ bản cấu thành nên hệ thống treoCông dụng: Hệ thống treo tạo điều kiện cho bánh xe dao động theo phương thẳng đứng với thân xe một cách êm dịu. Giảm cái cảm giác cưỡi ngựa khi đi trên ô tô. Do đó cần có độ cứng thích hợp để xe chuyển động êm dịu và có khả năng có thể dập tắt nhanh dao động đặc biệt là những dao động có biên độ dao động lớn. Tính năng hệ thống treo của mỗi loại xe bao giờ cũng là kết quả dung hoà giữa hai lựa chọn: độ an toàn và độ êm dịu.Hệ thống treo được phân loại theo: Bộ phận đàn hồi, bộ phận dẫn hướng và bộ phận giảm chấn1. Bộ phận đàn hồi: Tạo điều kiện cho bánh xe dao động, có tác dụng đưa tần số dao động của xe phù hợp với vùng tần số thích hợp với người sử dụng, đảm bảo độ êm dịu khi xe chuyển động. Nhíp (Chủ yếu trên các xe tải) Lò xo (Chủ yếu trên xe con) Thanh xoắn (Xe con) Khí nén (Xe con hạng sang như Merc S class, BMW 7... xe bus) Cao su (Ít gặp)Bó nhíp (càng nhiều lá nhíp thì khả năng chịu tải càng cao nhưng độ êm dịu sẽ giảm xuống)2. Bộ phận giảm chấn: Có tác dụng dập tắt dao động của bánh xe và thân xe để đảm bảo cho bánh xe bám đường tốt hơn,tăng tính êm dịu và ổn định Giảm chấn thủy lực (Đa số các xe hiện nay đều sử dụng loại này) Ma sát cơ (các lá nhíp trên hệ thống treo cũng đóng 1 phần vai trò giảm chấn nhờ ma sát giữa các lá nhíp )Ống giảm chấn thủy lực3. Bộ phận dẫn hướng: Có tác dụng xác định tính chất chuyển động của bánh xe đối với khung vỏ xe, Tiếp nhận và truyền lực, momen giữa bánh xe với khung vỏ xe.Đây là những cụm từ hệ thống treo ta thường nghe đến nhất Treo độc lập: 2 bánh xe dao động độc lập với nhau,ko có dầm cầu nối giữa 2 bánh Treo phụ thuộc: dầm cầu liên kết 2 bánh xe với nhauHệ thống treo phụ thuộc: Các bánh xe được nối trên 1 dầm cầu liền ,các chi tiết hệ thống treo sẽ nối dầm cầu với thân xeSo với hệ thống treo độc lập thì các chi tiết ít và đơn giản hơn, độ bền cao và phù hợp với các loại ô tô tải. Do khối lượng phần không được treo lớn nên kém êm dịu và ổn định, xe dễ bị rung động,…Hệ thống treo kết nối với cầu xeHệ thống treo độc lập: các bánh xe được gắn với thân xe một cách độc lập nên chúng có thể dịch chuyển độc lập với nhauSo với hệ thống treo phụ thuộc phần không được treo nhỏ nên khả năng bám đường của bánh xe cao, tính êm dịu chuyển động cao. Do không có dầm cầu liền nối thân xe nên có thể bố trị trọng tâm xe thấp đi, nhưng ngược lại hệ thống treo độc lập có cấu trúc phức tạp hơn,…Ngoài ra còn có các hệ thống treo độc lập 2 đòn ngang, hệ thống treo khí nén, hệ thống treo MacPherson... hoạt động dựa trên nguyên tắc và những bộ phận cơ bản ở trên với công nghệ và độ phức tạp cao hơn mang lại sự thoải mái, tính êm dịu cho người dùng...
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2phát triển nhằm tăng cường tính an toàn và tính tiện nghi cho phương tiện Gương chiếu cạnh là cụm chi tiết nhằm nâng cao tính an toàn Nó
là cụm chi tiết nhỏ nhưng rất quan trọng, nó giúp người lái quan sát được hai bên và phía sau xe Điều này rất quan trong khi xe quay vòng, khi lùi Hơn nữa , với mật độ phương tiện giao thông đông đúc gương chiếu cạnh càng trở lên quan trọng hơn
Trên thế giới, Gương chiếu cạnh đã phát triển đến trình độ cao, cácloại gương thuần túy cơ khí nay đã được thay thế bằng các loại gương điện Gương điện có nhiều những ưu điểm vượt trội hơn gương cơ khí như : việc điều chỉnh gương rất dễ dàng, có thể áp tự động hóa, có tínhnăng ghi nhớ vị trí mặt gương đối với mỗi người lái khác nhau, có thể
tự động xoay gương đến vị trí mong muốn khi cài số lùi … từ đó tạo ra tính tiện nghi cho phương tiện
Trên cơ sở đó , em được giao đề tài:
“ thiết kế hệ thống gương chiếu cạnh tích cực cho ô tô”
Nội dung bao gồm:
- Tìm hiểu kết cấu cơ cấu quay cụm gương chiếu cạnh
- Thiết kế tính toán cơ cấu quay cụm gương chiếu cạnh
- Thiết kế chế tạo mô hình
- Tìm hiểu về hệ thống điều khiển
Đề tài được tiến hành tại bộ môn Ô tô trường Đại học Bách Khoa
Hà Nội Sau hơn ba tháng thực hiện, với sự cố gắng, nỗ lực của bản
Trang 3thân em đã hoàn thành công việc yêu cầu của đồ án tốt nghiệp Em xin
chân thành cảm ơn thầy giáo Hồ Hữu Hải cùng các thầy trong bộ môn
đã tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để em hoàn thành đồ
án tốt nghiệp của mình
Hà Nội, Ngày 30 tháng 5 năm 2010
Sinh viên thực hiện
Lê Mạnh Cường
Trang 4CHƯƠNG 1 GƯƠNG CHIẾU CẠNH TRÊN Ô TÔ
- Gương chiếu cạnh được lắp ở bên ngoài giúp người láiquan sát nhưng phương tiện giao thông khác ở phía sau
và hai bên của xe khi nhìn qua gương chiếu cạnh Từ đó
Trang 5giảm thiểu tai nạn giao thông khi người lái muốn chuyểnhướng hoặc khi muốn vượt phương tiện khác.
- Gương chiếu hậu giúp người lái quan sát được bánh xephía sau khi lùi mà không phải quay đầu lại
Theo TCVN – 6769 : 2001, ta có thể phân loại gương chiếuhậu thành 5 loại :
• Loại I : là loại gương được lắp bên trong của
phương tiện có tầm nhìn được thể hiện như dướihình vẽ sau :
Hình 1 : Tầm nhìn của gương lắp trong loại I
Tầm nhìn của gương sao cho người lái có thể quan sát đượcphần đường nằm ngang, phẳng có chiều rộng là 20m ở giữa đườngdọc theo mặt phẳng trung tuyến dọc phương tiện bắt đầu từ khoảngcách 60m phía sau điểm quan sát của người lái (xem hình 1) Tầmnhìn có thể bị giảm xuống do sự cản trở của đệm tựa đầu và các cơcấu khác như chắn nắng, gạt mưa của kính sau, bộ phận sấy kính,đèn phanh trên cao với
loại phương tiện S3, nhưng tất cả các chi tiết này cũng không
Trang 6”chính” , có tầm nhìn được biểu diễn như hình 2 dưới đây :
Hình 2 : Tầm nhìn của gương chiếu hậu loại II và IIIGương lắp ngoài bên trái cho các phương tiện điều khiển đibên phải đường giao thông và gương lắp ngoài bên phải cho cácphương tiện điều khiển đi bên trái đường giao thông
Tầm nhìn sao cho người lái có thể quan sát được phần đườngnằm ngang, phẳng có chiều rộng là 2,5m mà giới hạn ở bên phải(đối với phương tiện đi bên phải) hay bên trái (đối với nhữngphương tiện đi bên trái) bởi mặt phẳng song song với mặt phẳngtrung tuyến theo chiều dọc phương tiện đi qua điểm ngoài cùng ởbên trái phương tiện (đối với phương tiện đi bên phải) hay bênphải phương tiện (đối với phương tiện đi bên trái) và bắt đầu từkhoảng cách 10m phía sau điểm quan sát của người lái (hình 2)
Trang 7Gương lắp ngoài bên phải đối với những phương tiện đi bênphải và lắp bên trái đối với những phương tiện đi bên trái.
rộng , tầm nhìn được mô tả như hình 3 dưới đây :
Hình 4 : tầm nhìn của gương loại IVTầm nhìn sao cho người lái có thể quan sát được phầnđường nằm ngang, phẳng rộng 12,5 m được giới hạn ở bên trái(đối với phương tiện đi bên phải) hay ở bên phải (đối vớiphương tiện đi bên trái) bởi mặt phẳng song song với mặt phẳngtrung tuyến theo chiều dọc phương tiện và đi qua điểm ngoàicùng ở bên phải phương tiện (đối với trường hợp phương tiện đibên phải) hay ở bên trái phương tiện (đối với phương tiện đi bêntrái) và bắt đầu từ khoảng cách ít nhất 15m-25m sau điểm quan
Trang 8• Loại V : Gương chiếu hậu lắp ngoài nhìn gần, tầm
nhìn được mô tả như hình 5 dưới đây :
Hình 5 : tầm quan sát của gương loại 5Tầm nhìn sao cho người lái có thể quan sát được phầnđường nằm ngang, phẳng dọc theo bên cạnh phương tiện, giớihạn bởi các mặt phẳng thẳng đứng sau
Mặt phẳng song song với mặt phẳng trung tuyến theo chiềudọc phương tiện đi qua điểm nhô ra 0,2m so với điểm ngoàicùng ở bên phải buộng lái của phương tiện (đối với phương tiện
đi bên phải) hay ở bên trái ( đối với phương tiện đi bên trái),
Trang 9chiều rộng toàn bộ của buồng lái phương tiện được đo trong mặtphẳng thẳng đứng cắt ngang điểm quan sát của người lái
Về cơ bản, gương chiếu hậu lắp trên phương tiện giao thôngđường bộ phải đáp ứng được các yêu cầu chính sau đây:
– Tất cả các gương chiếu hậu đều phải điều chỉnh được mộtcách dễ dàng quanh cán gương nhưng cũng không quá runglắc, lỏng lẻo khi xe chuyển động
– Phải đảm bảo bền khi bị chèn ép hoặc va chạm Khi bị vỡthì các mảnh kính văng ra phải hạn chế tối đa việc gây sátthương cho người điều khiển phương tiện cũng như nhữngngười khác
– Bề mặt phản xạ của gương phải có hình dạng phẳng hoặccầu lồi tuỳ theo các loại gương Diện tích cũng như dạng bềmặt của gương phải giúp cho người lái xe dễ dàng quan sátqua gương phía trước bánh xe, xung quanh xe, phía sau xecũng như phía sau ở trong xe
– Mép biên của bề mặt phản xạ phải nằm trong vỏ bảo vệ (giágương ) và trên toàn chu vi của mép vỏ đó phải có bánkính cong "c" = 2,5 mm tại mọi điểm và theo mọi hướng.Nếu bề mặt phản xạ nhô ra khỏi vỏ bảo vệ thì bán kính cong
"c" của mép biên của phần nhô ra không được nhỏ hơn
Trang 10– Giá lắp gương trên phương tiện phải được thiết kế sao chomột hình trụ có bán kính 50 mm có trục quay ở chính tâmhoặc trục quay là tâm của chốt hoặc khớp quay đảm bảo chogương chiếu hậu dịch chuyển theo hướng va chạm tới sátgần bề mặt lắp giá gương.
Để đánh giá xem gương có đáp ứng được các yêu cầu nêutrên hay không, trong tiêu chuẩn kỹ thuật đều có các nội dungkiểm tra độ bền cũng như thị trường của gương Theo đó khikiểm tra độ bền va đập và độ bền uốn gương không bị vỡ trongquá trình thử Tuy nhiên cho phép có chỗ vỡ của gương nếuthoả mãn một trong các điều kiện sau:
- Gương được làm từ kính an toàn( là loại kính khi bị vỡ sẽ
vỡ vụn theo định dạng trước của nhà sản xuất hoặc cácmảnh vỡ vẫn bám dính vào lớp chất dẻo trong suốt PVBtrung gian);
- Mảnh vỡ của kính vẫn bám vào vỏ bảo vệ hoặc nếu cómảnh vỡ rời khỏi vỏ bảo vệ thì các cạnh của mảnh vỡ nàykhông được vượt quá 2,5mm
Trang 11CHƯƠNG 2 LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN THIẾT KẾ
Trang 122.1 Đặc điểm cấu tạo chung của gương chiếu cạnh.
1. Mặt gương phản xạ : mặt phản xạ là một gương cầu lồi hìnhvuông, mặt gương là gương cầu lồi lên thị trường của gương rộngnhưng lại làm cho người lái có cảm giác vật ở xa hơn thực tế
2. Vỏ bao của gương chiếu cạnh : được làm bằng nhựa, có độ cứngphù hợp ( theo tiêu chuẩn TCVN-6769-2001 thì bộ cứng khôngđược quá 60 shore A) Ngoài ra hình dạng khí động học của vỏbao phải phù hợp để tạo ra lực cản thấp nhất
Hình 6 : Gương chiếu cạnh1: Mặt gương phản xạ 2: Vỏ cao su bao mép gương 3: Đế gắngương 4 : Phần gắn với vỏ xe 5 : Vỏ bao của gương
Trang 133. Đế gắn gương :
Hình 7 : Đế gắn gương
Phần đế được gắn cố định với xe , Trục gập gương được gắn cố địnhtrên đế, gương quay quanh trụcnày
4. Cơ cấu gập gương:
+ Cơ cấu gập gương bằng tay :
Trang 14Hình 8 : Cơ cấu gập gương bằng tay1,4: Đế gương , 2: trục xoay gương , 3: vít , 5 : phần kéodài của tấm gắn mặt gương , 6 : Vòng giữa bi , 7 : bi ,
8 : Vòng ép bi , 9 :Lò xo 10 : vòng chặn lò xo 11: tấm
chặn chữ C 12 : vỏ bao
12 : vỏ bao gương
Nguyên lí hoạt động : Khi ta dùng tay tác dụng một lực
vào vỏ bao gương 13 thì vỏ bao 13 cùng với tấm gắn mặt gương
5 quay quanh trục 2 làm cho gương gập vào hay mở ra Lò xo 9tạo ra lực ép ép tấm 5 vào đế cố định để khi xe di chuyển thìdưới tác dụng của lực cản không khí không làm cho gương tựgập và giữ cho gương không bị rung xóc
Ưu điểm : cơ cấu quay đơn giản
Trang 15Nhược điểm : Gập gương và mở gương phải thao tác bằng
tay , trước khi vào trong xe ta phải tự mình dùng tay mở gương
ra và sau khi đỗ xe ta lại phải dùng tay để gập gương vào điều
đó tạo ra sự bất tiện Và nếu quên không gập gương khi đỗ xengoài đường có thể dẫn đến va chạm làm hỏng gương hoặc gâytai nạn
+ Cơ cấu gập gương bằng điện :
Cơ cấu gập gương bằng điện có rất nhiều kiểu kết cấukhác nhau nhưng bao gồm các bộ phận tương tự nhau : gồm mộtđộng cơ dẫn động ( động cơ này có thể là động cơ một chiều DChoặc động cơ bước ), mạch điều khiển động cơ điện, hệ dẫnđộng từ động cơ để làm cho gương quay quanh trục cố định ( hệdẫn động này có tác dụng giảm tốc – tăng mômen) Sau đây làmột kiểu kết cấu :
Trang 16Hình 9 : cơ cấu gập gương bằng điện1,4: Đế gương 3: trục gập gương 5 : hệ dẫn động
6,7 : khung gắn mặt gương, động cơ, hệ dẫn động ( bộ phận di
động)
8 :Động cơ điện 9,13: Vỏ bao 10 : bản mạch 11: giắc cắm điện
12 : dây dẫn 14: lò xo 15 : bánh răng cố định 16: bi
17 : vỏ bao gương 18: mặt gương
Nguyên lí hoạt động : Khi ta cung cấp điện cho động cơ 8
làm cho động cơ quay làm cho hệ dẫn động quay lăn trên bánhrăng cố định 15, hệ dẫn động gắn trên khung 6 khung này gắntrên vỏ bao gương làm cho gương quay theo
Nhược điểm : kết cấu phức tạp
Ưu điểm :
5. Gương được duỗi ra tự động khi người lái bật khóa điện ở vị trí
“on” và tự động gập lại khi khóa điện không ở vị trí “on” Do đó
Trang 17người lái không phải tác động gì để mở hoặc gập gương lại , làmtăng tính tiện nghi cho xe.
6. Khi xe dừng đỗ ở lề đường, việc gập gương tự động giúp tránhđược và chạm vào gương Đối với các loại gương phải gập bằngtay, người lái có thể quên gập gương lại khi chỉ dừng ở lề đườngtrong thời gian ngắn nên dễ gây ra va chạm
+ Cơ cấu điều chỉnh góc quay mặt gương:
Để điều chỉnh góc mặt gương ta điều chỉnh mặt gương quayquanh trục thẳng đứng và quanh trục nằm ngang trên một khớpcầu Việc điều chỉnh có thế bằng tay qua các cơ cấu truyềnđộng cơ khí hoặc có thế điều khiển động cơ điện làm quay các
cơ cấu truyền động để điều chỉnh mặt gương
Cơ cấu điều chỉnh góc mặt gương bằng điện :
Hình 10 : nguyên lí điều chỉnh góc mặt gương
Nguyên lí : ta dùng 2 động cơ điện để điều chỉnh góc của mặt
gương theo 2 chiều quay nằm ngang và thẳng đứng Động cơ 1làm mặt gương quay quanh trục ox , động cơ 2 làm cho mặtgương quay quanh trục oy, từ đó góc mặt gương được thay đổi
Trang 18trí của mặt gương ta có một hiệu điện thế đưa vào IC.
+ Lựa chọn phương pháp gập gương : Gập gương bằng điện ,
tự động gập và duỗi gương khi có tín hiệu từ khóa điện
+ Lựa chọn phương pháp điều chỉnh góc quay mặt gương : tadùng hai động cơ điện để điều khiển mặt gương Động cơđiện được điều khiển thông qua một vi xử lí Đồng thời ta
có thể lưu được vị trí của mặt gương và lấy lại vị trí đã lưukhi cần thiết Để có thế lưu được vị trí của mặt gương tacần phải xác định được vị trí của mặt gương,
Trang 19+ Phương án xác định vị trí của mặt gương ( xác định gócmặt gương) : để xác định vị trí mặt gương ta dùng hai cảmbiến vị trí là cảm biến điện trở, một cảm biến góc nghiêngtrái – phải , một cảm biến góc nghiêm lên - xuống Vớimỗi vị trí của mặt gương cảm biến cho ra một giá trị củahiệu điện thế tương ứng.
CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ TÍNH TOÁN CÁC CƠ CẤU QUAY CỤM
GƯƠNG CHIẾU CẠNH
Trang 203.1. Sơ đồ bố trí của cơ cấu quay cụm gương chiếu hậu
3.1.1 Cơ cấu gập gương
Trang 211 2
3
4 5 6
7 8
9 10 11
Hình 11 : sơ đồ bố trí cơ cấu gập gương bằng điện
1: Động cơ dẫn động 2 : trục vít trên trục động cơ 3: bánh vít ăn khớp với trục vít 2 4: trục vít
5: bánh răng 6: trục 7: bánh răng cuối cùng
Bộ truyền thứ nhất : trục vít 2 – bánh vít 3
Bộ truyền thứ hai : trục vít 4 – bánh răng 5
Trang 22Hình 11 : Cơ cấu điều chỉnh góc mặt gương
1: động cơ 2: khớp cầu 3 : thanh răng 4: bánh răng
Động cơ quay dẫn động bánh răng 4 quay làm cho thanhrăng 3 chuyển động tịnh tiến Thanh răng gắn vào phần di độngcủa khớp cầu làm cho phần di động của khớp cầu di chuyển, từ
đó làm cho góc của mặt gương thay đổi
3.2.1. Tính chọn cơ cấu gập gương.
a, Chọn động cơ điện gập gương.
Mômen cần thiết để gập gương là : Mgg = 0,25 Nm
Chọn tỉ số chuyền dẫn động là : Udd = 60
Vậy động cơ cần có mômen là:
Suy ra ta chọn động cơ điện một chiều như sau :
Trang 23Hiệu điện thế 12VTốc độ không tải 10500 Vòng /phút
b, Phân phối tỉ số truyền dẫn động
Tỉ số truyền của cả bộ truyền là : U = 60
U = U1.U2.U3Trong đó :
U1 : tỉ số truyền của cặp trục vít - bánh vít thứ nhất
U2 : tỉ số truyền của cặp trục vít - bánh răng thứ 2
U3 : tỉ số truyền của cặp bánh răng cuối cùng
Ta có U1 = 7,
Ta chọn số răng trục vít là : Z11 = 5Suy ra số răng bánh vít là : Z22 = U1 Z1 = 7.5 = 35 răngChọn môđun bánh răng theo tiêu chuẩn m = 0,55
Hệ số đường kính trục vít chọn theo tiêu chuẩn : q = 8( Tính toán thiết kế hệ dẫn động cơ khí ,tập 1 – Trịnh Chất)
Trang 24suy ra số răng bánh răng là : Z22 = Z21.U2 = 5.3 =15 răng.
Chọn môđun theo tiêu chuẩn : m= 0,75
Chọn hệ số đường kính trục vít theo tiêu chuẩn : q= 8 (( Tính toán thiết kế
hệ dẫn động cơ khí, tập 1 – Trịnh Chất)
Suy ra khoảng cách trục là :
mm
Thông số của bộ truyền
d, Xác định các thông số cơ bản của bộ truyền bánh răng cuối cùng
Ta có bánh răng nhỏ như đã tính chọn ở trên có :
Trang 25Số răng : Z31 = 15 , mô đun m= 0,75 mm, bề rộng b = 5 mm
Tỉ số truyền của bộ truyền cuối cùng U 3= 2,86
Suy ra số răng bánh răng bị động là: Z32 = U3 Z31 = 2,86.15 ≈ 42 răngChọn bề rộng bánh răng bị động b= 5 mm
Thông số của bộ truyển:
3.2.2. Tính chọn cơ cấu điều chỉnh góc quay mặt gương.
a, Chọn động cơ điều khiển
Ta chọn động cơ điều khiển mặt gương giống như động cơ dùng để gập gương
Ta có mômen trên trục động cơ là : Mdc = 0,00445 Nm
b, Xác định thông số truyền động
Bộ truyền gồm có một cặp bánh răng – thanh răng
Vật liệu chế tạo bánh răng : NYLATRON GSM
Chọn môđun bánh răng theo tiêu chuẩn : m= 0,5 mm
Chọn số răng bánh răng chủ động : z1 = 5 răng
Đường kính vòng chia bánh răng :
d1 = z1 m = 0,5.6 = 3 mm
Đường kính đỉnh răng :
da = d1 + m = 3+ 0,5 = 3,5 mmChọn chiều dài thanh răng : l = 20mm
Chọn bề rộng bánh răng và thanh răng : b= 5 mm
Thông số của bộ truyền
Số răng bánh
Trang 274.1. HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN.S4.1.1. Sơ đồ bộ điều khiển gương điện
Trang 28Hình 11 : Sơ đồ bộ điều khiểnCác tín hiệu vào vi xử lí :
- Tín hiệu từ khóa điện
- Tín hiệu số lùi
- Tín hiệu từ các công tắc điều khiển gương ( bao gồm tín hiệu từ các nút điểu khiển trái, phải, lên, xuống, gập gương)
- Tín hiệu từ công tắc lưu vị trí, xóa vị trí
- Tín hiệu từ càm biến vị trí mặt gương
4.1.2. Nguyên lí hoạt động của bộ điều khiển
Bộ điều khiển được cung cấp nguồn điện khi khóa điệnchuyển sang mức “on” Bộ điều khiển tự động điều khiển chođộng cơ gập gương quay để mở gương ra một góc 900 Khi khóađiện chuyển sang “off” thì nguồn điện được dự trữ( có thể trong
Trang 29tụ điện ) được cung cấp cho bộ điều khiển điều khiển động cơgập gương vào 900 .
Khi người lái tác động vào công tắc điều khiển gương đểđiều chỉnh mặt gương thì tín hiệu từ công tắc điều khiển gươngđược truyền đến Vi xử lí, Vi xử lí điều khiển khối công suấtđộng cơ điều khiển các động cơ trái- phải và động cơ lên –xuống theo tín hiệu từ công tắc điều khiển gương làm cho mặtgương nghiêng trái , nghiêng phải , lên xuống theo tín hiệu từcông tắc điều khiển gương tao ra góc của mặt gương theo ýmuốn của người lái
Với mỗi vị trí của mặt gương, các cảm biến vị trí đều đưa vềmột giá trị hiệu điện thế nhất định Khi có tín hiệu của người láiyêu cầu lưu vị trí hiện tại của mặt gương thì giá trị hiệu điện thếcủa cảm biến tương ứng với vị trí đó được lưu vào bộ nhớ của Vi
xử lí Khi có tín hiệu gọi nhớ thì Vi xử lí điều khiển động cơ làmcho mặt gương thay đổi, giá trị hiệu điện thế từ cảm biến đưa vềđược so sánh với giá trị đã lưu trong bộ nhớ của vi điều khiển,khi 2 giá trị này bằng nhau thì vi xử lí dừng hoạt động của độngcơ
Khi cần số cài sang vị trí số lùi, công tắc số lùi được bật Bộđiều khiển điều khiển động cơ điều khiển lên – xuống làm chomặt gương nghiêng xuống một góc và dừng lại khi giá trị điện ápcủa cảm biến đã đạt được một giá trị định trước Khi cần sốđang từ số lùi chuyển sang số tiến thì bộ xử lí lại điều khiển